Tag Archives: tiểu luận

Thanh Viet Nguyen – Những tư tưởng sẽ không qua khỏi đại dịch Coronavirus

Thanh Viet Nguyen (1971), nhà văn, học giả người Mỹ gốc Việt. Ông từng nhận giải thưởng Pulitzer về Văn học cho tiểu thuyết The Sympathizer (2015), giải Rene Wellek của Hiệp hội Nghiên cứu văn học so sánh Hoa Kỳ cho chuyên luận Nothing Ever Dies: Vietnam and The Memory of War (2016).

*

Thỉnh thoảng người ta lại hỏi tôi: cần phải làm gì để trở thành nhà văn? Việc duy nhất bạn phải làm, tôi nói với họ, là đọc liên tục; viết cả nghìn giờ; và có một năng lực – dám chấp nhận ở mức độ rất lớn sự chối từ của người đời cũng như sự cô lập. Hóa ra, những phẩm chất này đã giúp tôi ứng phó rất tốt với cuộc đời trong thời kỳ coronavirus hoành hành.

Sự thật là tôi hầu như tận hưởng thời kỳ cô lập này – ngoại trừ có những lúc tưởng tượng về cái chết chực chờ và phẫn nộ trước sự thiếu năng lực của lãnh đạo đất nước – và điều này làm tôi ý thức sâu sắc về đặc quyền mình có. Chỉ thông qua những tin tức trên mạng xã hội của mình tôi mới có thể thấy những sự tàn phá trút xuống những người đã mất việc và đang lo lắng căng thẳng về tiền thuê nhà. Những câu chuyện đáng sợ nối nhau hiện lên từ những bác sĩ, y tá, từ những người bị nhiễm Covid-19 và những người đã mất đi người thân của mình bởi bệnh dịch này.

Nhiều người trong chúng ta thoáng nhìn thấy một thế giới phản không tưởng. Những người khác thì đang sống trong đó.

Nếu có bất cứ thứ gì tốt đẹp nảy sinh từ thời kỳ này thì có lẽ đó là sự thức tỉnh về những bệnh tật có sẵn trong thân thể của nền chính trị. Chúng ta không khỏe mạnh như mình tưởng. Thứ virus sinh học lây nhiễm đến mỗi cá nhân đồng thời cũng là một thứ virus xã hội. Triệu chứng của nó – sự bất bình đẳng, sự nhẫn tâm, tính ích kỷ và động cơ vụ lợi coi rẻ đời sống con người trong khi đề cao vật chất – từ rất lâu đã bị che đậy bởi niềm lạc quan và kiêu hãnh về chủ nghĩa ngoại lệ Mỹ, giống như sắc diện hồng hào của một người sắp sửa bị lên cơn đau tim.

Ngay cả khi nước Mỹ mà chúng ta biết vượt qua được đại dịch coronavirus này, nó cũng khó có thể trỗi dậy mà không mang trên mình những tổn thương. Nếu ảo tưởng về sự bất khả chiến bại đã bị vỡ vụn đối bất kỳ bệnh nhân nào nếm trải kinh nghiệm cận tử, vậy thì cái có thể chết sau Covid-19 là huyền thoại về việc chúng ta là đất nước tốt đẹp nhất trên trái đất, một niềm tin phổ biến ngay cả trong những người nghèo, những người bên lề, những người sống trong tình trạng bấp bênh, những người phải tin vào tính cách Mỹ của họ, nếu như không còn gì khác để tin.

Có lẽ cảm giác về sự cầm tù trong thời kỳ cách ly có thể khiến chúng ta hình dung được bị cầm tù thực sự là như thế nào. Dĩ nhiên có những nhà tù thực sự nơi chúng ta giam giữ những người không có bất cứ sự bảo vệ nào trước hiểm họa của coronavirus. Có những trại tị nạn và những trung tâm câu lưu nơi thực chất là những nhà tù. Có những sự cầm tù về kinh tế với đói nghèo và bấp bênh, nơi mất tiền lương cũng có nghĩa là vô gia cư, nơi ốm đau mà không có bảo hiểm thì ắt sẽ chết.

Nhưng đồng thời, nhà tù và trại tập trung lại thường đóng vai trò là những nơi chốn nơi những ý thức mới được khai sinh, nơi các tù nhân trở nên cực đoan, trở thành các nhà hoạt động, thậm chí, nhà cách mạng. Có phải tôi đang hy vọng quá nhiều hay không khi nghĩ rằng tình trạng bị cô lập bắt buộc của nhiều người Mỹ và tình trạng lao động bắt buộc của những người khác có thể thúc đẩy những hành động triệt để của sự tự phản tư, tự nhìn lại mình và cuối cùng là sự đoàn kết?

Một khủng hoảng thường khơi dậy sợ hãi và tâm lý thù địch. Chúng ta đã nhìn thấy những cuộc tấn công xuất phát từ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc nhắm vào những người châu Á và những người Mỹ gốc Á vì thứ được gọi là “virus Tàu” này. Nhưng chúng ta một lựa chọn: Liệu chúng ta sẽ chấp nhận môt thế giới của sự phân chia và khan hiếm, nơi chúng ta phải đánh nhau để tranh giành tài nguyên và cơ hội hay tưởng tượng về một tương lai nơi xã hội của chúng ta được đánh giá theo mức độ nó chăm sóc cho những người ốm đau, những người nghèo, người cao tuổi và đơn độc như thế nào?

Là một nhà văn, tôi biết một lựa chọn như thế sẽ nằm ở giữa một câu chuyện. Đó là điểm bước ngoặt. Một nhân vật – trong trường hợp này là chính trị nước Mỹ, không nói đến tổng thống – sẽ phải đối mặt với một quyết định quan trọng và điều này sẽ phát lộ ông ta/bà ta về bản chất là người thế nào.

Chúng ta vẫn còn chưa đi đến nửa đường tấn kịch của mình. Chúng ta mới chỉ đến đoạn kết của hồi thứ nhất, khi chúng ta dần nhận ra hiểm họa đang trên đường tấn công và hiểu rằng chúng ta cần thiết phải hành động. Hành động này, giờ đây, đơn giản là chúng ta phải chiến thằng Covid-19 và sống sót như một đất nước, dù yếu đi nhưng phải sống.

Điểm giữa của tấn kịch chỉ xuất hiện khi nhân vật giáp mặt với một đối thủ đáng giá – không phải một người ốm yếu, bên lề hay đơn độc mà là một ai đó hay một cái gì đó thật sự tàn bạo. Covid-19, dẫu khủng khiếp, thì vẫn cứ chỉ là một nhân vật phản diện trong phim. Kẻ thù thực sự của chúng ta không đến từ bên ngoài, mà từ bên trong. Kẻ thù thực sự của chúng ta không phải là virus mà là phản ứng của chúng ta đối với virus – một phản ứng đã trở nên thoái hóa và biến chất bởi những bất bình đẳng mang tính cấu trúc của xã hội chúng ta.

Nước Mỹ có một lịch sử của quá trình thuộc địa định cư và của chủ nghĩa tư bản vốn bóc lột nguyên thiên nhiên và con người, điển hình là những người nghèo, dân nhập cư, da màu và da nâu. Lịch sử đó biểu hiện rõ nét ở ngày hôm nay trong động cơ tích trữ của chúng ta, với ý thức rằng chúng ta đang sống trong một nền kinh tế dựa vào nỗ lực của bản thân và sự khan hiếm; trong sự phụ thuộc của chúng ta vào lao động giá rẻ của phụ nữ và của những người thiểu số về chủng tộc; và trong việc chúng ta thiếu những hệ thống chăm sóc sức khỏe, phúc lợi xã hội, thu nhập cơ bản và giáo dục phổ cập đầy đủ để có thể lo cho những người cần đến chúng nhất trong chúng ta.

Điều mà cuộc khủng hoảng này phát lộ là, dù hầu như tất cả chúng ta đều có thể bị tổn thương – ngay kể cả các tập đoàn và những người giàu có – thì chính quyền chúng ta đang ưu tiên bảo vệ những người ít bị tổn thương nhất.

Nếu đây là một bộ phim Hollywood cổ điển thì người anh hùng Mỹ ngoại lệ, vốn miễn cưỡng và do dự trong hồi đầu tiên, sẽ đưa ra lựa chọn đúng đắn tại bước ngoặt này. Con virus Covid-19 quái ác sẽ bị tiêu diệt, trật tự sẽ lại được phục nguyên về một xã hội giống như trước lúc thế lực tà ác xuất hiện.

Song nếu xã hội của chúng ta vẫn cứ như thế sau khi đánh bại Covid-19, đó sẽ là một chiến thắng thật chẳng bõ. Chúng ta có thể mong đợi tập tiếp theo, không chỉ một tập, mà nhiều tập, cho đến khi chúng ta tới đoạn kết: thảm họa khí hậu. Nếu cách đối phó vụng về với coronavirus này lại là cảnh xem trước cho thấy Hoa Kỳ ứng biến như thế nào với thảm họa ấy thì coi như chúng ta tận số.

Nhưng giữa những sự vụng về này, cũng có những dấu hiệu của sự hy vọng và lòng can đảm: những người lao động bãi công phản đối việc bị bóc lột; những người tặng khẩu trang, tiền bạc, thời gian; nhũng nhân viên y tế và bệnh nhân bày tỏ sự bức xúc đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe bất cập của chúng ta; một đại tá Hải quân hy sinh sự nghiệp của mình để bảo vệ những thủy thủ của mình; thậm chí những người lạ nói chào nhau với những người lạ trên đường ở thành phố tôi sống, Los Angeles, tạo nên một hành động đoàn kết đang đi đến cao độ.

Tôi biết mình không phải là người duy nhất có những ý nghĩ như thế này. Có lẽ việc bị cô lập cuối cùng cũng đem cho mọi người cơ hội để làm những gì mà các nhà văn làm: tưởng tượng, cảm thông, mơ mộng. Có thời gian và sự xa xỉ để làm những việc này tức là đã sống bên bờ của thế giới không tưởng, cho dù việc mà các nhà văn thường làm ở đó lại là tưởng tượng về thế giới phản không tưởng. Tôi viết không chỉ vì nó đem đến cho tôi niềm vui mà còn từ nỗi sợ hãi – rằng nếu tôi không kể một câu chuyện mới, tôi không thể sống đúng nghĩa được.

Nước Mỹ cuối cùng sẽ qua khỏi thời kỳ này và kiểm điểm lại những gì đã mất, cả về con người và những tư tưởng đã không sống qua được cuộc khủng hoảng này. Và rồi chúng ta sẽ quyết định câu chuyện nào sẽ để cho những người sống sót được sống đúng nghĩa.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Thanh Viet Nguyen, “The Ideas That Won’t Survive the Coronavirus”, https://www.nytimes.com/2020/04/10/opinion/coronavirus-america.html

Olga Tokarczuk – Một thế giới mới qua cửa sổ nhà tôi

Olga Tokarczuk (1962), nhà văn Ba Lan, chủ nhân giải thưởng Nobel Văn học 2018 là một tiếng nói quan trọng nữa của văn chương thế giới hôm nay nói về một thế giới không thể còn như cũ sau đại dịch COVID-19. Có lẽ đó cũng là điều chắc chắn duy nhất chúng ta có thể nói được về biến cố này.

*

Từ cửa sổ nhà mình, tôi có thể nhìn thấy một cây dâu trắng, thứ cây mà tôi mê đắm – đó là một trong những lý do khiến tôi quyết định chọn nơi này để sống. Cây dâu là một loài cây hào phóng – suốt cả mùa xuân và mùa hạ, nó tặng cho hàng chục gia đình chim chóc những trái cây ngọt ngào và tốt lành. Ngay lúc này, cây dâu vẫn chưa trổ lá trở lại, vì thế, tôi nhìn thấy trước mắt mình một con phố tĩnh lặng, hiếm hoi lắm mới có người trên đường đi đến công viên. Thời tiết ở Wroclaw gần như đang sang hè: mặt trời sáng lóa, bầu trời xanh ngắt, không khí sạch trong. Hôm nay, khi đang dắt chó đi dạo, tôi nhìn thấy hai con ác là đang xua đuổi một con cú khỏi tổ của nó. Chỉ cách đôi ba bước chân, con cú và tôi nhìn chằm chằm vào mắt nhau. Có lẽ các con vật cũng vậy, dường như đang chờ đợi một cách hy vọng, băn khoăn không biết chuyện gì xảy ra tiếp theo.

Đã từ rất lâu rồi, tôi luôn có cảm giác thế giới có quá nhiều thứ. Quá nhiều, quá nhanh, quá ồn. Vì vậy mà tôi không nếm trải cảm giác “chấn thương trong tình trạng cô lập” và với tôi, chẳng có gì khó khăn khi không được thấy con người. Tôi chẳng lấy làm buồn vì rạp chiếu phim không được mở; tôi hoàn toàn thờ ơ với việc các trung tâm mua sắm cũng phải đóng cửa. Tất nhiên, tôi có lo lắng khi nghĩ đến tất cả những người bị mất việc. Nhưng khi tôi nghe tin về tình trạng cách ly vì dịch bệnh đang diễn ra, tôi lại có cảm giác như tìm thấy một sự nhẹ nhõm. Tôi biết nhiều người cũng cảm thấy tương tự, kể cả khi họ đồng thời cũng cảm thấy ngượng ngùng vì điều ấy. Lối sống thu mình lại của tôi, vốn từ lâu bị đè nén và lạm dụng bởi những kẻ hướng ngoại thái quá, giờ đây đã có thể bước ra phòng kín và chải chuốt cho mình.

Tôi quan sát người hàng xóm của mình qua cửa sổ, một luật sư miệt mài, mẫn cán mà mới trước đó thôi, tôi còn thấy anh cắm đầu đi làm vào buổi sáng với tấm áo choàng của luật sư vắt vội qua vai. Giờ thì trong bộ đồ thể thao thùng thình, anh đánh vật với cây chổi trên sân; dường như anh đang cố gắng sắp đặt mọi thứ theo trật tự. Tôi nhìn thấy một đôi trẻ đưa một con chó già mà từ mùa đông trước hầu như không thể lê bước đi dạo ngoài trời. Con chó bước đi nhọc nhằn trong khi đôi bạn thì kiên nhẫn đi cùng với nó, bước đi với tốc độ chậm nhất có thể. Gây ra tiếng ồn lớn là chiếc xe chở rác đang làm công việc của nó.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn, mà còn hơn thế nữa chứ, nhưng với một nhịp điệu hoàn toàn khác. Tôi dọn dẹp phòng riêng của mình, soạn ra những tờ báo mà chúng tôi đã đọc, đặt chúng vào thùng rác. Tôi thay chậu cho những chậu hoa. Tôi nhận lại xe đạp của mình từ tiệm sửa xe nơi tôi đã gửi nó lại. Tôi bắt đầu thích thú việc nấu nướng.

Những hình ảnh thời thơ ấu cứ trở về với tôi. Thời ấy, thật nhiều thời gian và hoàn toàn có thể để “lãng phí” hay “giết” nó, khi ta có thể ngồi hàng giờ đăm đăm nhìn ra cửa sổ, quan sát bầy kiến hay nắm dưới bàn ăn mà tưởng tưởng đó là con thuyền lánh nạn của Noah. Rồi đọc bách khoa toàn thư.

Đó chẳng phải là việc ta được trở lại với nhịp điệu bình thường của đời sống sao? Rằng không phải virus là một sự phá vỡ cái bình thường mà chính xác hơn là ngược lại – cái thế giới náo động trước khi virus xuất hiện mới là bất bình thường?

Sau cùng thì virus nhắc chúng ta về những gì mình đã phủ định nhiệt thành: rằng chúng ta là những tạo vật mong manh, được tạo nên bởi những chất liệu mong manh bậc nhất. Rằng chúng ta sẽ chết – chúng ta là những thân phận tất tử. Rằng chúng ta không tách biệt với phần còn lại của thế giới bởi cái gọi là “nhân tính”của chúng ta, bởi bất kỳ sự biệt lệ nào, mà thế giới, thay vào đó, là một mạng lưới vĩ đại trong đó chúng ta dính líu, kết nối với những tồn tại khác theo những đường dây vô hình của sự liên thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau. Rằng bất kể chúng ta đến từ những xử sở cách xa nhau thế nào, ngôn ngữ nào mà chúng ta nói, hay màu da của chúng ta là gì thì chúng ta đều cùng có nguy cơ mắc một thứ bệnh giống nhau, mang những nỗi sợ hãi giống nhau và chết cũng giống nhau.

Nó làm chúng ta nhận ra bất kể chúng ta cảm thấy yếu đuối hay dễ tổn thương như thế nào khi đối mặt với nguy hiểm thì xung quanh ta vẫn còn những người còn dễ bị tổn thương hơn, những người mà sự giúp đỡ của ta là cực kỳ cần thiết đối với họ. Nó nhắc chúng ta rằng cha mẹ, ông bà của mình mong manh như thế nào và họ cần sự chăm sóc của chúng ta đến mức nào. Nó cho chúng ta thấy những phong trào điên rồ của chúng ta đã đẩy thế giới đi đến lụi tàn. Nó khơi dậy câu hỏi mà chúng ta hiếm khi có can đảm để chất vấn chính mình: thực sự thì chúng ta đang kiếm tìm điều gì vậy?

Nỗi sợ bị ốm nhắc chúng ta về những tổ ấm mà ta sinh ra từ đó và cảm thấy an toàn khi ở đó. Trong một tình huống như vậy, ngay cả những lữ khách miệt mài nhất cũng sẽ tha thiết muốn về một nơi gọi là nhà. Đồng thời, những sự thật buồn bã cũng phát lộ trước ta – rằng khi rơi một khoảnh khắc nguy hiểm, ý nghĩ của chúng ta một lần nữa lại phải nương vào những phạm trù mang tính giới hạn và độc quyền: ý niệm về các quốc gia và biên giới. Trong thời điểm khó khăn này, chúng ta đã thấy trên thực tế, ý niệm về một cộng đồng châu Âu thực ra mới yếu làm sao. E.U đã để mất mình trong cuộc chiến đấu này, phó mặc cho các nhà nước quốc gia ra quyết định trong tình thế khủng hoảng. Chủ nghĩa sô vanh cũ đã quay lại, mang theo sự phân chia giữa “chúng ta” và “ngoại quốc” – nói cách khác, nó đem về lại chính những gì chúng ta đã chiến đấu trong suốt ba thập niên qua với hy vọng nó sẽ không bao giờ có thể định dạng đầu óc chúng ta được nữa. Nỗi sợ hãi virus đã làm nảy sinh một niềm tin được “lại giống”, rằng phải có những kẻ ngoại quốc để đổ lỗi, chính những kẻ đó gây ra hiểm họa. Ở châu Âu, virus được xem là “đến từ một nơi nào đó.” Tại Ba Lan, mọi người trở về từ nước ngoài đều bị nghi ngờ. Virus nhắc chúng ta: các biên giới tồn tại và chúng đang làm tốt chức năng của nó.

Tôi cũng sợ rằng thứ virus này sẽ cảnh báo chúng ta về sự thật cũ nữa: rằng chúng ta rất không bình đẳng. Trong khi một vài người có thể bay trên những máy bay riêng đến những ngôi nhà trên đảo hay trong rừng để cách ly, những người khác vẫn phải ở lại thành phố, làm công việc liên quan đến điện nước. Và vẫn có những người phải chấp nhận rủi ro về sức khỏe khi làm việc ở các cửa hàng hay trong các bệnh viện. Một số sẽ kiếm được tiền từ đại dịch trong khi những người khác sẽ mất tất cả những gì mình có. Cuộc khủng hoảng đang đến sẽ làm xói mòn tất cả những nguyên lý mà chúng ta dường như đều cảm thấy đúng đắn, nhiều quốc gia không thể xoay sở nổi và đối mặt với sự suy sụp, những trật tự mới sẽ được dựng lên, như thường thấy sau nhiều cuộc khủng hoảng.

Chúng ta nghĩ rằng mình đang ở nhà, đọc sách, xem ti vi nhưng trên thực tế, chúng ta đang chuẩn bị cho một cuộc chiến với một thực tại mới mà chúng ta thậm chí không thể hình dung nổi, chúng ta đang từ từ hiểu ra mọi thứ không thể còn như cũ. Hoàn cảnh cách ly bắt buộc đòi hỏi chúng ta phải ở yên trong nhà có thể làm chúng ta nhận thức được những gì mà mình không mong phải thừa nhận: rằng gia đình đã vắt kiệt chúng ta, rằng những mối dây ràng buộc hôn nhân của chúng ta từ lâu đã buông chùng. Những đứa trẻ sẽ ra khỏi thời kỳ cách ly trong tình trạng nghiện Internet và nhiều người trong chúng ta sẽ tự ý thức được sự vô nghĩa và vô dụng của những điều kiện mà chúng ta, theo quan tính, gắn mình vào chúng một cách cơ giới. Và sẽ thế nào nếu con số của những vụ giết người, tự tử và những chứng bệnh tinh thần gia tăng?

Trước mắt chúng ta, hệ hình của nền văn minh đã nhào nặn nên chúng ta hơn hai trăm năm qua đang bốc khói, hệ hình đã trao cho chúng ta niềm tin rằng con người là những bậc thầy tạo tác, có thể làm bất cứ thứ gì, và thế giới thuộc về con người. Một thời đại mới đang đến gần.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Olga Tokarczuk, “A New World Through My Window”, bản dịch từ tiếng Ba Lan của Jennifer Croft. https://www.newyorker.com/books/page-turner/a-new-world-through-my-window

Stephen Greenblatt – Những viên đạn vô hình: Những gì mà Lucretius dạy chúng ta về đại dịch

Trong đại dịch thì có gì khỏe mạnh? Có – đó là tư tưởng. Tai họa bất ngờ giáng xuống nhân loại trong những tháng đầu tiên của năm 2020 là một thách thức hiện sinh mời gọi con người không chỉ hành động mà còn phải hành động đi cùng với suy tư. Đây là thời điểm mà hầu hết các nhà nhân văn quan trọng trong thế giới đương đại đều cất tiếng nói thúc đẩy sự phản tỉnh của con người về những giá trị, về những hình thái tổ chức xã hội, và về ý nghĩa của chính mình.

Stephen Greenblatt (1943) là nhà nghiên cứu ngữ văn có ảnh hưởng lớn bậc nhất hiện nay. Ông là một đại diện xuất sắc của trường phải Tân Duy Sử luận, một học giả hàng đầu về Shakespeare, là tác giả của những công trình được cả giải thưởng Pulitzer và National Book Award của Mỹ. Bài viết này của ông, với tôi, là một góc nhìn điềm tĩnh và mang nhiều hy vọng cho tình thế của nhân loại.

800px-Start_of_Lucretius_DRN_manuscript

*

Năm 1585, nhà khoa học vĩ đại nhất thời Elizabeth, Thomas Harriot, được nhà bảo trợ của mình, Sir Walter Raleigh cử đến vùng thuộc địa mới lập của Anh ở Virginia để đánh giá các nguồn tài nguyên thiên nhiên, quan sát cư dân Algonquian và xem xét khả năng sinh sống của những người Anh đi khai hóa ở đây. Harriot, người đã rất tích cực để học ít nhất một chút ngôn ngữ của người Algonquin ở Carolina và để thiết lập cái mà ông gọi là “sự thân mật cần thiết với một số tu sĩ trong cộng đồng của họ”, đã bị ấn tượng bởi phần lớn những gì mà mình quan sát được. Ông ngưỡng mộ những kỹ thuật của người bản xứ trong nông nghiệp, săn bắn, chài lưới, những vị lãnh đạo có sức ảnh hưởng và được tôn kính trong cộng đồng; những mối liên kết bền vững trong gia đình và thị tộc của họ.

Người Anh đến khai hóa chỉ là một nhóm nhỏ đàn ông lam lũ – Raleigh không đưa phụ nữ đến vùng đất ở mới ở giai đoạn đầu khai phá này – sống giữa một vùng đất rộng lớn, còn chưa có tên trên bản đồ vốn lại nơi định cư của những người dân được tổ chức tốt, làm ăn thịnh vượng và kiêu hãnh. Harriot thấy họ không phải là những người dễ dàng chịu khuất phục. Song, như những gì ông viết trong “Một báo cáo ngắn gọn và chân thực về vùng đất mới lập ở Virginia” từ năm 1588, ông tự tin rằng những người Anh khai phá thuộc địa sẽ thu hoạch được nhiều kết quả tốt ở đây nhờ ưu thế thượng phong về kỹ thuật của mình: “súng, sách vở, chữ viết và khả năng đọc, đồng hồ lò xo dường như đi cùng với họ,” v.v… Và những người mới đế, dẫu số lượng còn nhỏ, lại còn có thêm lợi thế. Hễ người Anh đi đến đâu, Harriot thuật lại, nếu bất cứ người bản địa nào định chống lại họ, thì “chỉ trog vài ngày sau khi chúng tôi xuất phát,  từ mọi thị trấn, người dân bắt đầu chết rất nhanh và nhiều trong một khoảng cách ngắn về không gian; ở một số thị trấn là 20 người, có nơi là 40 người, có nơi là 60, có nơi đến 1/6 số dân tử vong, có nghĩa là, tỉ lệ người chết là rất lớn… Bệnh dịch cũng lạ kỳ, nghĩa là họ chẳng biết đó là bệnh gì, cũng như làm sao để chữa trị, những bậc lão niên trong cộng đồng cho hay chuyện như thế xưa nay chưa từng xảy ra trên xứ của mình.”

Harriot, cố nhiên, chứng kiến những hậu quả hãi hùng của virus – đậu mùa, sởi, cúm, và nhiều thứ bệnh tương tự – đối với một cộng đồng mà trước đó chưa hề phải hứng chịu những thảm họa như thế, nhưng ông lại diễn dịch những hậu quả này là sự trừng phạt do trời giáng đối với những người bản địa “đã tìm cách để chống lại chúng ta.” Về phần mình, những người Algonquian cũng nghĩ rằng có một mối liên hệ giữa dịch bệnh và những người mới đến, nhưng, như Harriot ghi chép, họ có cách giải thích rất khác về những gì đang xảy ra khi đó. Họ suy diễn rằng một nhóm những kẻ thực dân đi khai thá thuộc địa chỉ mới chỉ là những gì khởi đầu. Họ sợ rằng cò có những thứ khủng khiếp hơn nữa sẽ xảy đến “giết họ và lấy đất của họ.” “Những thứ đấy đến ngay sau chúng ta [những người Anh đầu tiên], “ Harriot viết, “họ tưởng tượng rằng nó ở trong không khí, tuy nhiên vô hình và không có cơ thể, rằng, nhờ những lời khẩn cầu và tình yêu của chúng ta, chúng sẽ khiến người dân của họ chết… bằng việc bắn những viên đạn vô hình vào họ.”

“Những viên đạn vô hình”: người Algonquian đã biến thứ kỹ thuật giết người mà người Anh mang vào xứ sở của họ thành một ẩn dụ xuất sắc về bệnh dịch mà chính thực dân cũng đã đem đến nơi này, một thứ bệnh dịch mà họ đã hoàn toàn đúng khi sợ rằng nó sẽ tạo đà cho sự phá hủy xã hội của họ. Việc Harriot cố công ghi lại ẩn dụ này là một dấu hiệu thể hiện tài năng đặc biệt của ông trong tư cách một nhà dân tộc chí, nhưng nó cũng có thể phản ánh những hứng thú suy tư của cá nhân ông. Thực ra mà nói, chính ông là người đã sáng tạo nên ý niệm ấy, để củng cố niềm tin cho độc giả Anh rằng thứ dịch bệnh ấy đã giáng xuống những kẻ âm thầm chống lại những người đi khai phá thuộc địa, do đó, nó là “một công việc đặc biệt của Thượng đế.” (Theo một logic vòng tròn vốn luôn là đặc trưng của những lối kiến giải như vậy, bằng chứng cho sự tồn tại của những âm mưu như thế chính là cái chết của những kẻ được coi là chủ mưu.) Nhưng trong suốt sự nghiệp của mình, Harriot vẫn luôn bị nghi ngờ là một kẻ vô thần, đặc biệt hơn nữa là một môn đồ của triết gia cổ đại theo trường phái Epicureanism[1] – Lucretius. Và Lucretius[2], như ta đã biết, dành sự chú ý đặc biệt đến các dịch bệnh.

Trong kiệt tác triết học của mình, “On the Nature of Things” (Bàn về bản chất của các sự vật) được viết vào khoảng năm 50 trước Công nguyên, Lucretius đã trình bày những luận điểm để biện hộ cho một tư tưởng duy vật chủ nghĩa triệt để. Con người, theo đó, không nên co rúm lại trong nỗi sợ hãi sự trừng phạt của thần linh, ông viết, hay thực hiện những nghi lễ hiến sinh mang tính chất nô lệ với hy vọng nhận được sự ban thưởng của thần thánh. Vũ trụ không phải thứ đồ chơi bí ẩn của các vị thần hay các quỷ dữ: nó được cấu tạo bởi các nguyên tử và sự trống rỗng, ngoài ra thì chẳng có gì cả. Nguyên tử – Lucretius gọi chúng là semina rerum, “những hạt giống của sự vật” – luôn ở trong trạng thái chuyển động, không ngừng đổi hưởng, va đụng, kết hợp, chia tách và tái kết hợp trong những khuôn mẫu mới, chưa từng thấy trước đó. Trong tất cả sự chuyển động này, không có một khuôn mẫu cố định, không có một chủ ý bao quát toàn bộ, cũng chẳng có dấu vết của một thiết kế thông minh, Thay vào đó, trong sự mở rộng không biên giới của thời gian và không gian, chỉ có những sự hoán chuyển không ngừng, ngẫu nhiên. Những hình thức cũ liên tục chết đi; những hình thức mới không ngừng xuất hiện.

Đối với Lucretius, nhãn quan này mang đến niềm an ủi lớn: thay vi khổ sở bởi các vị thần hay âu lo về kiếp sau, ta nên chú mục vào chính thế giới này, cái thế giới duy nhất mà ta thực sự nếm trải, và  bình tâm tìm cách nâng cao những hoan lạc cho mình và cho mọi người quanh mình. Nhưng ông biết rằng nhận thức mới mà ông đem đến này không được bảo đảm chắc chắn. Nếu các bệnh tật không phải do các vị thần nổi giận gây ra cho chúng ta thế thì chúng phải đến từ đâu đó, nói thẳng ra là chúng bắt nguồn từ những vòng xoáy không ngừng của các nguyên tử vốn sinh ra mọi thứ khác. Những hạt giống của sự vật, như ông viết (theo bản dịch của Rolfe Humphries):

Cần thiết để nâng đỡ sự sống của chúng ta

Cũng tương tự như vậy, điều hiển nhiên là

Mọi thứ xung quanh ta, những hạt độc hại

Cũng đang bay, những hạt bụi của ốm đau và chết chóc

Khi những hạt độc hại đối với chúng ta bắt đầu chuyển động,  sự hỗn loạn được khuấy động theo, “và những đổi thay phát huy hiệu lực/ trong những góc thân quen của chúng ta.” Ở những thời điểm như thế,  có điều gì đó rất lạ lùng xảy ra đối với thê giới mà ta vốn nghĩ mình biết rõ về nó. Bầu trời trên đầu ta dường như cùng lúc vừa là nó, vừa không phải là nó, tất cả sự vật tồn tại dường như đều trở nên dáng sợ. Bệnh dịch, như Lucretius viết,

Rơi xuống nước hay xuống cánh đồng

Rơi xuống những nguồn nuôi dưỡng cả quỹ dữ lẫn con người

Hay lơ lửng trong chính không khí

Mà ta hít vào theo hơi thở của mình, rồi đưa nó xuống

Khắp cơ thể của ta

Chẳng có gì ngạc nhiên khi  sự ảm đạm toát lên trên khuôn mặt người và tâm trí thì xáo động bởi nỗi sầu muộn và sợ hãi. Trong “Bàn về bản chất của các sự vật”, Lucretius kết thúc bằng những mô tả đau lòng về trận đại dịch có sức tàn phá khủng khiếp đã giáng xuống người Athen trong cuộc chiến Peloponnesian. Việc bài khép lại đột ngột với những dòng u ám như thế đã khiến nhiều học giả kết luận hẳn Lucretius đã chưa hoàn tất tác phẩm này. Thậm chí còn có cả một giai thoại cho rằng ông chết bất ngờ vì một loại chất độc mà vợ ông đưa cho ông.

Có lẽ là thế thật. Nhưng cuộc chiến đấu hiện giờ của chúng ta với đại dịch COVID-19 đã khiến ta có thể đọc lại đoạn kết bài thơ này trong một thứ ánh sáng mới. Một trận dịch, sau cùng, đã kiểm tra chúng ta theo những cách thức độc đáo. Nó lạnh lùng đánh giá lại các giá trị của chúng ta, chất vấn những giả định quen thuộc của chúng ta, rọi một thứ ánh sáng vô cảm vào trật tự xã hội, chính trị và tôn giáo của chúng ta. Khi tôi đang ngôi đây trong tình trạng “tự cách ly tự giác” – vì tôi vừa mới từ nước Ý trở về Hoa Kỳ, tôi đã băn khoăn rằng liệu đoạn kết của bài thơ với hình ảnh của trận đại dịch được vẽ ra bằng ngôn từ này có thật sự hoàn toàn nằm trong chủ định của tác giả? Đây chính xác là một thách thức hiện sinh, Lucretius nghĩ thế, mà bất cứ xã hội nào đáng sống và bất cứ thứ triết học nào đáng giá phải hướng đến. Khi mọi thứ vận hành tốt đẹp, rất dễ để suy tư về vị trí của chúng ta trong thế giới vật chất. Song nếu mọi thứ không vận hành tốt đẹp – nếu sự chuyển động của những hạt mầm sự vật đem đến bệnh tất và chết chóc thì sao? Chỉ khi ta có thể đối mặt với những viên đạt vô hình lúc nào cũng có xung quanh ta mà vẫn giữ được sự bình tâm, tỉnh táo và theo cách nào đó, tìm thấy hoan lạc trong đời sống, ta mới thật sự nhận thức được bài học mà bài thơ của Lucretius muốn dạy.

Nếu nhìn vào tin tức, hầu hết chúng ta dường như đang ở rất xa kinh nghiệm này của chủ nghĩa Epicurus. Nhưng những tường thuật mới đây từ Ý,  mô tả chi tiết cảnh nhiều người đồng bào của Lucretius hiện đang sống trong các khu vực cách ly đứng ở ngoài ban công ca hát giữa bệnh dịch trao cho tôi hy vọng. Họ nhắc chúng ta, cùng với khoa học, một lãnh địa khác nơi sự kiên cường và sáng tạo của con người đạt đến đỉnh cao là nghệ thuật. Ở Lucretius, hai lĩnh vực này khớp nối với nhau: những luận bàn triết học của ông về các nguyên tử, về lạc thú, về bệnh dịch mang hình thức của một bài thơ, một bài ca để hát lên.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Stephen Greenblatt, “Invisble Bulltes: What Lucretius Taught Us about Pandemics?”,  https://www.newyorker.com/culture/culture-desk/invisible-bullets-what-lucretius-taught-us-about-pandemics?utm_medium=social&utm_brand=tny&utm_source=facebook&utm_social-type=owned&mbid=social_facebook&fbclid=IwAR225NXmW4oK00m3hfmG7ow4e5DE9y_SvTcL9CDs7GemNrNc7MUpvanMBSU

[1] Epicurus (341-270 trước Công nguyên), triết gia cổ đại Hy Lạp. Ông là người sáng lập nên trường phái Epicureanism có sức ảnh hưởng lớn trong lịch sử triết học. Đối lập với truyền thống triết học Plato trước đó và các nhà khắc kỷ sau đó, triết học của trường phái Epicureanism theo khuynh hướng duy vật và đề cao khoái lạc trong đời sống trần thế của con người.

[2] Lucretius (99-55 trước Công nguyên), nhà thơ và triết gia người La Mã. Tác phẩm “Bàn vế bản chất của các sự vật” của ông là một bài thơ, đồng thời là công trình diễn giải tư tưởng triết học của trường phái Epicureanism cho công chúng La Mã đương thời.

Michael Marder – Coronavirus là chính chúng ta

Michael Marder là giáo sư triết học tại Đại học xứ Basque. Tôi chú ý đến ông khi quan tâm đến những động hướng phát triển của phê bình sinh thái. Ông là một học giả được nhắc đến nhiều trong nhánh nghiên cứu Critical Plant Studies với các chuyên luận như Plant-Thinking: A Philosophy of Vegetal Life (2013), The Philosopher’s Plant: An Intellectual Herbarium (2014), Through Vegetal Being: Two Philosophical Perspectives (đồng tác giả với Luce Irrigaray). Bài viết này của ông có lẽ mới là một phác thảo ý tưởng nhưng tôi cho rằng ông có tiếp thu tư tưởng của Gilles Deleuze về tồn tại: tồn tại tức là đang trở thành. Marder nhận thấy xã hội loài người trên thực tế đang ở trong quá trình trở thành virus. Và nhận thức này đòi hỏi con người trước hết phải nghĩ khác đi về chính mình và xã hội loài người.

ary3d-post-apocalyptic-cit-1-a618068b-1a58

 

*

Sự bùng phát của virus corona chủng mới (COVID-19), giờ đang có nguy cơ trở thành đại dịch chính thức, đã bắt đầu gây ra hỗn loạn trên phạm vi toàn cầu, khiến một số quốc gia phải ban bố tình trạng báo động. Nó đã gieo rắc nỗi hoảng sợ, bóp thắt các thị trường tài chính, và đau đớn hơn cả, dẫn đến những tổn thất về sinh mạng. Cho đến lúc này, hầu như chúng ta chẳng có thời gian để suy tư và rất ít người dừng lại băn khoăn, rằng khủng hoảng này có thể nói điều gì về chính chúng ta – về thân thể, cộng đồng, hệ thống chính trị của chúng ta, về bản chất của tính kết nối tương thuộc giữa chúng ta vốn ngày càng tăng cường và vượt qua các biên giới. Nhưng tôi tin thứ virus này có những điều rất quan trọng để nói với chúng ta.

Ngay trước khi bệnh dịch này bùng phát, việc dựng nên những bức tường, phong tỏa các biên giới – giữa Hoa Kỳ và Mexico, Israel và Palestine, Hungary và Serbia cùng với Croatia, và ở nhiều nơi khác nữa – đang trở thành một xu thế toàn cầu. Sự hồi sinh của chủ nghĩa dân tộc vốn kích động xu thế này đã nuôi dưỡng chính mình trên nỗi sợ những kẻ di dân và định kiến xã hội, trong khi lại xưng tụng những lý tưởng bất khả về sự thuần khiến bên trong những tổ chức xã hội được xây thành đắp lũy bao quanh.

Việc đóng biên giới, hạn chế du lịch và các phương thức cách ly đang được áp dụng để đối phó với virus, trên bề mặt, là những biện pháp y tế, nhưng đồng thời chúng cũng mang ý nghĩa tượng trưng, theo cùng một logic cơ bản với việc dựng nên những bức tường vật chất vì những lý do chính trị. Cả hai kiểu hành động này đều nhằm đảm bảo an toàn cho công dân, trao cho họ một cảm giác về sự an toàn “giả”.  Cùng lúc đó, chúng không quan tâm đến vấn đề chính yếu – tình trạng tệ hại của việc quản trị và đưa ra các quyết định trên phạm vi xuyên quốc gia, điều cực kỳ quan trọng để giải quyết vấn đề như biến đổi khí hậu, khủng hoảng nhập cư, bệnh dịch lan tràn và tội phạm kinh tế như trốn thuế.

Thuyết sinh tồn lúc nào cũng đi theo một quỹ đạo song song với chủ nghĩa dân tộc virus (virulent nationalism). Cốt lõi của nó là sự hư cấu về con người cá nhân tự lực, hoàn toàn độc lập và tự trị giống như Robinson Crusoe, một gã đủ thông minh và mạnh mẽ để có thể tự cứu mình và có lẽ gia đình của anh ta (việc dùng đại từ chỉ nam giới ở đây hoàn toàn không ngẫu nhiên). Theo lối mòn của học thuyết thần học về sự cứu rỗi vốn chỉ dành cho số ít được lựa chọn, ý hướng này trừu tượng hóa loài người, tách biệt loài người khỏi môi trường, cộng đồng, kinh tế và những bối cảnh khác của đời sống của họ.

Khi hoảng loạn bắt đầu phát sinh ở một chốn nào đó, việc đóng cửa biên giới của bản thân giống như một động thái chính trị bảo thủ: thực phẩm và thuốc men dược tích trữ trong khi đó một số ít những kẻ giàu có nhất thì chuẩn bị cho mình boong-ke xa xỉ chờ ngày tận thế. Song những gì mà chủng virus mới này cho thấy, trái ngược với những hư cấu về khả năng sinh tồn, các biên giới theo định nghĩa thông thường đều bị xốp, dù có được kiên cố hóa thế nào đi nữa, chúng vẫn giống như những màng sống hơn là những bức tường vô cơ. Cá nhân hay nhà nước nào càng cố gắng tìm cách cắt đứt mình với bên ngoài thì lại càng khốn đốn.

Còn hơn cả những sự bùng phát thi thoảng đe dọa chân trời toàn cầu tưởng như bình lặng, virus chính là sự hình tượng hóa thế giới chính trị và xã hội đương đại. (Ta có thể nói đùa theo kiểu dân lập trình rằng: virus không phải là virus mà là một tính năng.) Và trong trường hợp này, một biểu tượng mới, tinh tế hơn bức tường đã xuất hiện – vương miện.

COVID-19 thuộc nhóm virus RNA có thể truyền giữa người và động vật. Như thế, nó không tuân theo hệ thống phân loại tự nhiên và ranh giới giữa các loài. Con virus có bề mặt hình cầu, đầu nhọn giống như cây trùy này được đặt tên là corona, vốn xuất phát từ chữ Latin có nghĩa là “crown” (vương miện), còn trong tiếng Hy Lạp, korōnē, thì có nghĩa là “vành hoa”, “vòng hoa”. Đó hoàn toàn là một hình ảnh hoàn hảo về quyền uy tối thượng: một chiếc vương miện được trao cho một thực thể vi mô, xóa nhòa sự phân định giữa các lớp sinh thể khác nhau cũng như phạm vi của sự sống và cái chết. Vượt qua những biên giới cũ, thứ virus này trở thành hình tượng về quyền uy tối thượng trong thời đại của sự phân tán quyền lực. Để hiểu được nó hoạt động thế nào, ta phải nhìn vào cơ chế mà quyền lực hiện nay đang vận hành.

Một khía cạnh trong hoạt động của virus là nó có thể thâm nhập vào và sao chép lại các tế bào chủ và các chương trình máy tính. Một khía cạnh khác là nó có thể tự nhân mình lên càng rộng càng tốt. Trong thế giới của truyền thông xã hội, cả hai khía cạnh này đều thực sự gây thèm muốn: Khi một bức ảnh, một đoạn video, một chuyện cười hay một câu chuyện được chia sẻ và nhanh chóng lan tỏa giữa những người dùng internet và điện thoại di động, người ta nói nó đang trở thành “viral” (tính từ của virus). Một nội dung mang tính viral cao không chỉ cần đến sự nhân rộng với tỉ lệ cao, nó còn cần phải gây ra một tác động, có thể hình dung như khả năng nó sao chép văn bản xã hội mà nó đã thâm nhập vào được. Mục tiêu cuối cùng là phải khẳng định được ảnh hưởng của ai đó thông qua một hình ảnh hay câu chuyện được phát tán rộng khắp và chiếm lĩnh quyền lực ấy. Việc trở thành viral phản ánh một mức độ đáng kể của sự phức tạp trong mối quan hệ gần gũi giữa chúng ta với virus: nó là thứ vừa làm chúng ta sợ hãi khi có thể trở thành mục tiêu và vật chủ của nó; nó làm chúng ta thèm khát khi trở thành công cụ để khiến chúng ta có thể nhắm đến công chúng với quy mô lớn. Đem so sánh việc trở thành viral trên Internet với dịch bệnh do virus corona đang gây ra không phải là phép tu từ cường điệu. Quy mô toàn cầu của những dịch bệnh gần đây là hệ quả từ sự di chuyển ngày càng gia tăng và các mối liên kết tương thuộc theo ý nghĩa rất vật chất giữa các bộ phận của nhân loại khi tham gia vào các hoạt động như du lịch đại trà, trao đổi giáo dục và lao động, các mối quan hệ đường dài, các sự kiện văn hóa, thể thao quốc tế… Chính trên những du thuyền như trường hợp tàu Diamond Princess, trên máy bay, tàu xe, khách sạn, virus mới phát tán bên ngoài điểm nóng của nơi phát sinh – nói khác đi, trong những trường hợp như thế, virus lan tỏa khi chúng ta tự gửi chính mình đi, chứ không chỉ là hình ảnh hay thông điệp, ra đâu đó.

Dù thích nó hay không, tất cả chúng ta đều là vật chủ của những yếu tố vốn xa lạ với mình trên mọi cấp độ của tồn tại. Hơn nữa, vật chủ luôn nguy cơ bị làm hại bởi những gì mà nó chứa. Nguy cơ này là thứ không loại bỏ được. Thay vì dựa vào bóng ma của những nhà nước-quốc gia toàn quyền và những cá nhân tự trị, chúng ta phải học để sống trong một thế giới nơi tính chất kết nối của nó không chỉ mang tính chất “ảo” hay lý tưởng thông qua các công nghệ truyền thông mà còn mang tính vật chất, thông qua những tiếp xúc hiện thân. Nói tóm lại, chúng ta phải sống trong một thực tại mà ở bất cứ khoảnh khắc nào, nó cũng có thể trở thành viral.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Michael Marder, “The Coronavirus is Us”, https://www.nytimes.com/2020/03/03/opinion/the-coronavirus-is-us.html

Sandy Grant – Trò chơi ngôn ngữ của Wittgenstein có thể giải phóng chúng ta như thế nào?

Sandy Grant là nữ giáo sư triết học tại Đại học Cambridge. Tôi dịch bài viết ngắn này của bà như một khởi động cho một số việc mình muốn làm trong năm tới. Mong rằng là mình có thể biến những ý nghĩ ấp ủ thành một cái gì đó có hình hài…

la-danza-1910-1140x762

*

Chúng ta sống đời mình trong một thế giới của ngôn ngữ, ở đó, chúng ta dùng ngôn ngữ để làm các thứ. Thông thường, chúng ta không để ý điều này; chỉ là chúng ta đã quen với nó. Nhưng cách chúng ta sử dụng ngôn ngữ ảnh hưởng đến cách chúng ta sống như thế nào và con người mà chúng ta có thể trở thành. Chúng ta cứ như thể bị bỏ bùa bởi các hoạt động nói năng cấu thành nên những cách chúng ta can dự vào thế giới này. Nếu chúng ta muốn thay đổi tình trạng của mọi thứ thì việc chúng ta cần làm là thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Song liệu trò chơi ngôn ngữ có thể giải phóng chúng ta?

Chính Ludwig Wittgenstein, triết gia không thuộc trường phái nào, là người đặt ra thuật ngữ “trò chơi ngôn ngữ”. Ông cho rằng ngôn ngữ thụ nghĩa thông qua cách sử dụng chúng và ông muốn tìm hiểu làm thế nào cách sử dụng ngôn ngữ lại ràng buộc với những hoạt động xã hội mà chúng là một phần trong đó. Vì vậy, ông sử dụng “trò chơi ngôn ngữ” để thu hút sự chú ý không chỉ vào bản thân ngôn ngữ mà còn vào những hành động mà ngôn ngữ được đan dệt vào. Hãy thử xét những câu cảm thán sau: “Giúp tôi với!”, “Cháy!”, “Không!” Những câu này đều gắn với hành động: khẩn cầu, cảnh báo, cấm cản. Nhưng Wittgenstein muốn cho thấy “ngôn ngữ là hành động” như thế nào, rằng mỗi lần chúng ta sử dụng từ ngữ là mỗi lần chúng ta làm gì đó. Mà hơn nữa, những gì ta làm, ta làm trong thế giới với những người khác.

Đây không phải là sự ám ảnh thái quá về ngôn từ. Điều mà Wittgenstein muốn làm rõ là làm thế nào mà “nói” một ngôn ngữ là một phần của hành động, hay hình thức của đời sống”. Trong Philosophical Investigations [Những nghiên cứu triết học, 1953], ông đã lấy thí dụ về hai người thợ xây. Một anh thợ nề kêu: “Cho một viên gạch!” và người phụ việc sẽ đem đến cho anh ta. Chuyện gì xảy ra ở đây? Người phụ việc không phản ứng lại giống như một con chó nghe theo lệnh. Chúng ta là con người, là những kẻ sống cùng nhau trong ngôn ngữ theo cách đặc thù, hàm chứa trong đó những hoạt động xã hội đặc thù.

Khi nhấn mạnh vào trò chơi ngôn ngữ, Wittgenstein muốn người đọc cố gắng nhận ra mình đang làm gì. Nhưng nếu ta bị mê hoặc bởi những hoạt động ngôn ngữ của mình, liệu ta thậm chí có thể nhận thức mình đang làm gì không? Nỗ lực muốn nhìn thấy của Wittgenstein vấp phải phê phán, rằng ông đã ngăn chúng ta nhìn thấy bất cứ cái gì khác, nhìn thấy những khả thể mới: ám ảnh ngôn ngữ của ông là sự xao lãng khỏi những vấn đề chính trị thực sự. Người đưa ra cáo buộc quan trọng này là Herbert Marcuse, người trong tác phẩm trụ cột của mình One-Dimensional Man (Con người một chiều kích, 1964) đã kết luận tác phẩm của Wittgenstein là giản lược và hạn chế. Nó không mang tính khai phóng, vì việc chú mục vào cách chúng ta sử dụng ngôn ngữ sẽ làm ta quên mất chuyện gì đã thật sự diễn ra.

Những phản đối này rất nghiêm túc. Song chúng có thành công?

Marcuse khẳng định Wittgenstein đã quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ nhìn vào ngôn ngữ, và cái nhìn ấy cũng tệ hại. Wittgenstein thì cố gắng làm rõ cái gọi là trò chơi-ngôn ngữ: Marcuse nói đó là việc làm ngớ ngẩn. Phải thế chăng? Đúng và không. Trong Culture and Value [Văn hóa và giá trị, 1987], Wittgenstein thừa nhận: “Tôi thấy thật khó biết bao để nhìn thấy cái gì ngay trước mắt mình.” Chúng ta thường xuyên – ông nói – bỏ lỡ cái hiển nhiên. Cái gần gũi hóa ra là cái khó nhìn thấy hơn cả. Khi sử dụng ngôn ngữ tức là chúng ta đã tham gia vào những sự thông hiểu hàng ngày và những hành vi chưa được ý thức. Wittgenstein chú ý đến những cách sử dụng ngôn ngữ trong đời sống thường nhật và phân tích chúng.

Một phân tích mà Marcuse châm biếm là thí dụ của Wittgenstein, “Cây chổi của tôi ở góc nhà…”. Marcus hết sức mai mỉa về nó và kết án nó là “sự quy giản lời nói theo phương thức gần giống như khổ dâm về cái thông thường và xoàng xĩnh.” Thế nhưng trong khi phô trương sự chế nhạo, Marcuse đã nhầm lẫn. Cái ví dụ tầm thường lại cho thấy những thực hành hàng ngày có vấn đề. Hơn nữa, nếu quan sát kỹ, thậm chí một phát ngôn tầm thường cũng không hẳn là như vậy. Có nhiều ví dụ khác của Wittgenstein mà Marcuse không để ý, chẳng hạn những ví dụ về sự đọc hay mùi hương cà phê.

Tất cả những sự ngớ ngẩn rất đỗi con người này lại là những thứ cắm rễ rất sâu. Wittgenstein muốn kêu gọi sự chú ý đến những cách mà chúng ta tự đẩy bản thân vào bẫy bằng trò chơi ngôn ngữ hàng ngày của mình. Vì vậy, ông chú mục vào những gì mình làm và mình nói. Ông coi triết học như một phương thức trị liệu, tức như “một lao động trên chính bản thân mình”.  Trong Philosophical Investigations, có cảm giác về một sự tự săm soi chính mình một cách tỉ mẩn. Thực sự rất có ý nghĩa khi chất vấn cách chúng ta dùng ngôn ngữ để làm những việc nhỏ nhặt như thông báo giờ giấc, làm tính, thể hiện hy vọng ai đó sẽ đến. Đây không phải là những việc đã thành thói quen của ta. Chúng ta có thể kháng cự, không muốn nhìn mọi sự vật như thể chúng vốn dĩ vậy. Có phải đấy là một trạng thái “khổ dâm” không? Đấy là sự tự buộc bản thân vào hành động soi xét chính mình, một hành động chỉ đau đớn hay xấu hổ đối với những ai không thừa nhận sự thật rằng mình không hề thông minh. Bởi thế, nếu ta muốn thay đổi, trước hết, ta phải sẵn sàng đón nhận mệnh lệnh: “Hãy trở nên khờ khạo!” và “Hãy biết chính mình.” Marcuse hẳn sẽ thích tinh thần này, vì ông đã chứng minh chính trong những sinh hoạt thường nhật, chúng ta bị phụ thuộc một cách không chủ ý như thế nào: “các pháp thuật, phép phù thủy, những sự buông xuôi đầy khoái cảm được thực hành trong những sinh hoạt thường nhật ở gia đình, cửa hàng, cơ quan.” Tóm lại, Marcuse đã cãi cố mà thôi.

Nhưng phản bác thứ hai của Marcuse có khá hơn không? Đó chính là luận điểm cho rằng Wittgenstein đang nhìn vấn đề hẹp, chỉ cho phép ta loanh quanh trong địa hạt ngôn ngữ. Marcuse cho rằng quan điểm của Wittgenstein về ngôn ngữ là quan điểm một chiều. Song đây không phải là điều rút ra được từ việc đọc tác phẩm của Wittgenstein, nơi ta thấy một quan điểm về tính đa chiều kích không thể giản lược được của ngôn ngữ. Wittgenstein rất chịu khó cho thấy nền tảng cho những gì mà chúng ta sử dụng như là ngôn ngữ được cung cấp theo những mô thức dịch chuyển của hoạt động công cộng như thế nào. Ngôn ngữ mang tính ngẫu nhiên và ngẫu hứng, vì vậy, trò chơi ngôn ngữ không còn cách nào khác là phải mở ra cho sự biến đổi theo vô số cách. Một cách nảy sinh từ việc nhận ra chúng ta có thể chọn nhìn một sự vật hiện tượng nào đó theo cách này hay theo cách khác. Một trong những đoạn nổi tiếng nhất của Wittgenstein liên quan đến bức tranh đố này.

Duck-Rabbit_illusion

Nhìn vào hình, bạn có thể thấy đó là một con vịt. Nhìn lại lần nữa, bạn thấy nó là con thỏ. Bởi trò chơi ngôn ngữ do con người chơi nên chúng ta có thể để ý chuyện gì diễn ra khi ta nhìn sự vậy thế này hay thế khác. Một ví dụ đương đại khác là tranh cãi xung quanh các sự kiện mà diễn giả toàn nam giới. Bạn có thể nhìn vào đội hình này mà bảo “một tiểu ban gồm toàn các chuyên gia”; hoặc bạn cũng có thể nhận xét, “một hội đàn ông ngồi họp với nhau”. Nhưng đó có phải chỉ là một “hội đàn ông” nếu bạn chọn nhìn hiện tượng này theo cách ấy? Những thí dụ này khơi dậy câu hỏi cái gì chúng ta được cho sẵn trong cách hàng ngày ta sử dụng ngôn ngữ. Nhưng Marcuse đã không đề cập đến bức tranh vịt-thỏ hay thảo luận về những ngụ ý cả nó.

Vì thế, cách sử dụng ngôn ngữ cho phép sự thách thức và thay đổi bởi đó là bản chất của nó. Marcuse, ngược lại, từ chối nhìn nhận điều này, thậm chí còn nói rằng các quá trình xã hội đã đóng lại thế giới của diễn ngôn. Chúng ta không rút ra được từ ông một nhận định nào như gợi mở của Wittgenstein, rằng trong bản thân cách sử dụng ngôn ngữ luôn có một cái gì đó muốn cãi lại tính cố định.

Thực chất, lập trường của Wittgenstein cực đoan hơn những gì Marcuse nhận ra. Ông nói rằng “một cái gì đó mới mẻ (bộc phát, “đặc trưng”) luôn là một trò chơi ngôn ngữ.” Nhận định bí hiểm này có thể gợi ý rằng chúng ta cần phải chơi trò chơi ngôn ngữ khác đi nếu ta muốn thay đổi bất kỳ cái gì. Triển vọng của điều này là gì? Đáng lưu ý, theo Wittgenstein, chúng ta không chơi trò chơi ngôn ngữ một mình. Các trò chơi ngôn ngữ được nảy sinh từ những cách sử dụng ngôn ngữ mà nhiều người cùng chia sẻ. Một trò chơi là polari, thứ ngôn ngữ bí mật được dân đồng tính nam sử dụng vào thời của Wittgenstein. Các trò chơi ngôn ngữ, với những cạm bẫy tinh vi của chúng, buộc ta phải nghĩ đến vấn đề hành động tập thể. Chúng ta không thể gỡ mình ra khỏi chúng nếu hành động một mình. Nhưng điều này dẫn đến câu hỏi xa hơn, trên cơ sở ý thức được mình đã bị kẹt trong bẫy tinh vi thế nào. Đó là một điều mà Wittgenstein đã dự đoán:

[T]hứ ngôn ngữ này lớn lên theo cách vốn dĩ của nó bởi vì con người đã và vẫn có xu hướng suy nghĩ theo cách này. Vì thế ta chỉ có thể thành công trong việc gỡ con người ra khỏi cái bẫy ngôn ngữ nếu người ấy có một sự nổi loạn mang tính bản năng chống lại ngôn ngữ; ta không thể nào giúp được những người mà toàn bộ bản năng của họ là sống trong bầy đàn, những người đã tạo nên thứ ngôn ngữ này như là phương thức biểu đạt hợp thức của riêng họ.

Những kẻ nổi loạn sống trong trạng thái bất mãn với ngôn ngữ. Họ cảm thấy sự xa lạ của mình, họ cắt rời mình khỏi những kẻ khác và với chính bản thân bên trong ngôn ngữ. Song những kẻ hài lòng thì không bị phiền não, và con người thì có xu hướng suy nghĩ như thế. Đọc Wittgenstein đem đến cho chúng ta những câu hỏi như thế.

Do đó, những phản bác của Marcuse là thiếu cơ sở. Ông không chứng minh được việc Wittgenstein săm soi đến kinh ngạc vào các trò chơi ngôn ngữ hoặc là ngu ngốc vô mục đích hoặc mang tính ràng buộc, nô dịch. Thực chất, những cố gắng phản bác của ông chỉ càng làm nổi bật sự thích đáng của Wittgenstein trong thời đại tăm tối này.

Sử dụng ngôn ngữ là một phần tất yếu của việc làm người. Ta sống bên trong ngôn ngữ, nhưng đời sống chúng ta lại là thứ mà ta khó thấy. Wittgenstein không đi bán dạo những câu trả lời có sẵn cho tình thế khó khăn này. Thực ra, chừng nào còn ngôn ngữ, nó sẽ còn bỏ bùa mê ta, ta luôn có nguy cơ hiểu nhầm. Và không có lợi thế nào bên ngoài nó cả. Không có sự trốn thoát khỏi các trò chơi ngôn ngữ, nhưng ta có thể “chế tác” được một kiểu tự do nào đó từ bên trong nó. Mà muốn thế, trước hết, chúng ta cần “khờ khạo” cái đã!

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Sandy Grant,”How Playing Wittgensteinian Language-Games Can Set Us Free?”,  https://aeon.co/ideas/how-playing-wittgensteinian-language-games-can-set-us-fr