Category Archives: Dạy học

Agnes Callard – Ngành nhân văn làm gì trong thời khủng hoảng?

Bài viết này của Agnes Callard đến đúng lúc với tôi, trong thời gian chính tôi cũng rơi vào khủng hoảng của thời kỳ dịch bệnh. Rất nhiều những suy nghĩ về việc mình chẳng thể làm được điều gì đã làm tôi rơi vào trạng thái trầm uất mà tôi khó có thể chia sẻ với những người thân nhất. Đọc và quyết định dịch bài này như là một sự giải tỏa cần thiết đối với bản thân tôi lúc này.

*

Các trường đại học là những khu vườn ẩn dật. Lớp học là chốn thiêng liêng sâu thẳm nhất của không gian ẩn dật ấy, nơi những đòi hỏi thế tục có thể bị gạt ra đủ lâu để một nhóm người – một vài người trong đó không có mối quan tâm nào trước đó – cùng chia sẻ một bài thơ của Horace, hay một luận điểm của Aristotle. Trong mấy tuần qua, khi các trường cho sinh viên về nhà, không gian thiêng ấy bị phá vỡ. Chuyển sang hình thức học trực tuyến cũng có nghĩa là thay thế không gian sạch sẽ, nơi mọi người cùng chia sẻ của lớp học bằng những căn phòng riêng lộn xộn, nhiều tạp âm. Cho dù chúng ta không thể nhìn thấy những chồng bát đĩa, những đống quần áo hay nghe thấy tiếng trẻ con la hét, song những mối bận tâm ẩn ở hậu cảnh đã làm chúng ta phân tán, bận tâm. Nhiều trường đại học đã phải mở rộng tiêu chí đánh giá đạt/không đạt vì hiểu rằng thật khó để bắt coronavirus đứng ngoài lớp học – cũng như để giữ Horace và Aristotle trong đó.

Đối với một số người, những vấn đề này dường như thật phù phiếm. Chẳng phải chúng ta có những mối bận tâm khác ở thời điểm này quan trọng hơn chuyện các nhà thơ, các triết gia thời cổ đại hay sự khác biệt giữa điểm B + và A – hay sao? Thậm chí ở trong những thời điểm tốt đẹp, các trường nhân văn cũng đã bị chế giễu như là một chiếc bánh xe cứ quay mà chẳng đi đến đâu; trong tình thế khẩn cấp, khi các bác sĩ, các nhân viên làm công việc giao hàng, hay những công nhân làm những nhiệm vụ thiết yếu đang mệt nhoài lao động để giữ cho sự vận hành xã hội không bị ảnh hưởng, không ai đủ kiên nhẫn với đòi hỏi của cái bánh xe cứ muốn quay. Vai trò của Aristotle, và của người nghiên cứu ông là gì, trong một cuộc khủng hoảng?

Có lẽ câu trả lời bi quan nhất cho câu hỏi này có thể nằm trong những tiểu luận của Jean Améry, một người Áo gốc Do thái, tên khai sinh là Hanns Mayer, người đã viết thật cảm động về việc học hành ngành nhân văn đã không thể giúp được ông điều gì trong thời kỳ Thế chiến II. Đối mặt với sự tàn bạo mang tính vật chất thuần túy của các trại tập trung, Améry đi đến chỗ nhận thấy đời sống trí thức là một trò chơi, và các trí thức “chẳng là gì khác hơn những homines ludentes,” những người chơi. Ông so sánh mình, với thái độ tự nghiệt ngã với bản thân, và những tù nhân khác, những người có một lý tưởng chính trị hay tôn giáo để gắn bó – những người Marxist, những tín đồ của dòng Chứng nhân Jehovah hay của Công giáo, những người trung thành với bản sắc và lý tưởng Do Thái. Trở thành một phần của cuộc đấu tranh rộng lớn hơn ấy khiến họ “vững vàng, bình tĩnh, mạnh mẽ,” ông viết. Lý tưởng của họ đóng vai trò như một nền tảng khiến đời sống trong trại vẫn tiếp nối với đời sống trước và sau khi ở trại, trong khi đó, những người như ông – những nhà nhân văn, những triết gia, những người theo chủ nghĩa hoài nghi – rơi vào tuyệt vọng, và trong khi đối mặt với sự tàn bạo, họ “không còn tin được nữa vào hiện thực của thế giới tinh thần.”

Améry sẵn sàng công nhận những trí thức với nhiệm vụ thực tế, những người biện hộ cho lý tưởng đạo đức, là những người mang phẩm chất anh hùng. Chúng ta có thể nói đến những Frederick Douglass và Martin Luther King, Jr.; Marx và Gandhi; Jesus và Muhammad, Mary Wollstonecraft và Susan B. Anthony là những tên tuổi thuộc nhóm này. Những trí thức này đã chiến đấu cho công bằng, phẩm giá và sự cao cả của đời sống con người. Jean Améry không tự nhận mình là một trong số đó.

Améry cũng bị Gestapo tra tấn: ông thú nhận ông sẵn sàng phản bội những đồng chí của mình nếu như ông có bất kỳ một thông tin nào để tiết lộ. Bởi vậy, ông phân biệt mình với những anh hùng trí thức khác – những người có đủ sự kiên cường để từ chối nói khi bị tra tấn, hoặc cứ nhất định lên tiếng bất kể những trấn áp buộc họ phải im lặng. Galileo là một ví dụ kinh điển về một trí thức tử đạo. Người ta cũng có thể dẫn ra những tên tuổi khác nữa như Socrates, Giordano Bruno, Thomas More và Spinoza. Hai hình mẫu anh hùng trí thức này hoàn toàn có thể giao nhau: có những người vừa bị buộc phải im lặng vừa phụng sự cho lý tưởng. Nhưng nhiều trí thức trong ngành nhân văn thì không thuộc về hình mẫu nào cả – họ không có lý tưởng nào để chiến đấu cho nó, cũng chẳng có kẻ thù nào để chiến đấu chống lại nó. Những trí thức không lý tưởng, không tử vì dạo này là những người mà Améry cảm thấy không làm được việc. Ông không chỉ mô tả sự yếu đuối về thể chất của họ – họ không biết vặn tay kẻ móc túi, họ không chịu đựng được một cú đấm móc, thậm chí dọn giường cũng không xong – mà còn cho thấy họ yếu kém như thế nào trong các mối quan hệ xã hội, họ không thể giao tiếp với những người đồng chí không phải giới trí thức. Améry đặt hy vọng vào những người như thế, bao gồm cả những người bị lấy đi phần lớn sức mạnh thể chất, rằng họ có thể chứng tỏ sự quá cảm của mình trong mọi thảm họa. Nếu chúng ta, thay cho định kiến phổ biến, đặt câu hỏi liệu họ có làm được thế trong bất kỳ thảm họa nào, có lẽ quan điểm của chúng ta về trí thức ngành nhân văn sẽ thay đổi. Trên thực tế, nếu như có một khủng hoảng nào chứng tỏ được giá trị của trí thức ngành nhân văn, thì đó chính là tình thế đặc biệt mà chúng ta đối mặt hôm nay.

Đối với phần lớn chúng ta, coronavirus là một lời kêu gọi tất cả hãy ngừng hoạt động. Nó đặt đời sống vào chế độ tạm ngưng, thu nhỏ nơi chốn của chúng ta trong thế giới và buộc chúng ta phải hướng vào bên trong.  Để đáp lại, chúng ta chia sẻ một số cách thức đối phó với tình huống. Những người không đóng vai trò thực tế trong việc cải thiện tình hình khủng hoảng, nếu họ được tự do – không có con cái làm phiền hay có thể kiếm tiền được từ nhà – sẽ vùi mình vào công việc. Còn sức mà làm việc – ấy là một điều may mắn, là dấu hiệu của khả năng thích nghi. Người ta cũng có thể đắm mình vào trong những thú tiêu khiển: trò chơi điện tử đội lốt những việc ta không thể làm, phim ảnh đem đến một thế giới hư cấu thay cho cái thế giới dường như đang sụp đổ quanh ta, rượu còn thể làm tê lịm những nỗi đau và sợ hãi. Sức làm việc làm ta quên đi thực tại theo cách này, sự tiêu khiển làm ta ngoảnh mặt khỏi thực tại ấy theo cách khác, và khi cả hai con đường đều không thể đem đến những hệ quả mong muốn, ta lại trở về lo âu dõi theo dòng tin tức.

Trạng thái tê lịm hay lo âu: đó có phải là lựa chọn của chúng ta? Chủ nghĩa nhân văn chỉ ra một khả thể khác. Aristotle từng phân biệt giữa xả hơi/thả lỏng (anapausis), tức sự nghỉ ngơi, ngừng hoạt động để rồi sau đó hoạt động trở lại, và nghỉ ngơi/thư giãn thực sự (scholē), theo đó, ngừng hoạt động để hướng tới một mục đích cao hơn – theoria, hay suy tưởng. Trường học tồn tại vì mục đích nuôi dưỡng sự suy tưởng này. (Trên thực tế, trong tiếng Anh, từ “school” [trường học] bắt nguồn từ từ scholē.) Suy tưởng không được xem là một niềm tin để người ta chiến đấu cho nó, và những nỗ lực vắt kiệt giá trị của nó thành ngôn ngữ của sự công bằng hay phẩm giá hay quyền cơ bản của con người sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Tốt hơn nên hình dung nó như một đối tượng của tình yêu và sự sùng kính, là nguồn cội tạo nên sự mãn nguyện. Đối với các nhà nhân văn, suy tưởng không phải là một lý tưởng. Nó là một tiếng gọi.

Ở thời điểm này, nếu ai đó có thể dành những khoảng thời gian rỗng để hướng tới một tiếng gọi cao hơn, người ấy thực ra đang biến rơm thành vàng. Theo đó, người ta cho rằng các nhà nhân văn sẽ thấy mình được chuẩn bị tốt để trở nên mạnh mẽ trong những tình huống như thế này. Giờ là lúc thích hợp để suy tư về thực tế, rằng làm người là sống dưới bóng tử thần. Giờ là lúc thích hợp để định vị hiện tại trong tầm nhìn rộng lớn của lịch sử. Khi bị lấy đi mối kết nối giữa con người với con người, ít nhất chúng ta ở trong vị thế có thể hiểu sâu sắc ý niệm về điều này. Và đối với giáo viên chúng ta, vốn được coi là những người có khả năng giao tiếp với những người khác, chúng ta được kỳ vọng có thể đem đến cho họ một lối thoát khỏi tình trạng tê liệt và lo lắng. Bởi có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một thảm họa toàn cầu đã buộc một số lượng lớn những người có học, thạo internet phải ngồi trong nhà. Tuy nhiên, nếu đây là bài kiểm tra mà chúng tôi, những nhà nghiên cứu ngành nhân văn chờ đợi thì cá nhân tôi cảm thấy mình khó lòng mà thi qua bài kiểm tra này.

Trong mấy tuần qua, tôi thường có một huyễn tưởng trở đi trở lại. Tôi thiếp đi và tỉnh dậy thì thấy đại dịch đã qua. Để làm dịu đi nỗi hối hận khi không giúp đỡ được người khác, tâm trí tôi muốn giấc ngủ cứ mở rộng mãi ra, bao khắp xứ sở, như trong truyện cổ tích. Ai nấy đều mạnh khỏe và không cần phải lo ốm đau bệnh tật, họ chỉ cần nằm đó, bình yên, hết năm này sang tháng khác. Rồi họ tỉnh dậy hạnh phúc, mọi thứ lại trở về như trước đây.

Trên thực tế, tôi không mơ ngủ. Tôi đang thức, theo dõi tin tức không ngừng, cảm thấy khó chịu bởi những bất tiện và những cản trở nhỏ nhất. Jean Améry bị Gestapo tra tấn; Tôi rơi vào hoảng loạn khi không thể vào văn phòng của mình trong trường. Người ngoài kia đang thở hổn hển vì thiếu không khí, họ đang chết dần; trong khi đó phòng ngủ bừa bãi khiến tôi không thể nào làm việc. Thứ làm tôi trầm uất nhất chính là sự uể oải, trì trệ của chính mình. Rồi đột nhiên, mọi thứ O.K, thôi thì để con chơi điện tử, mặc lại bộ quần áo của hôm qua, làm bữa tối một cách tối giản, hàng đêm thì đọc, viết, nghĩ ít hơn bình thường. Việc tôi tha thứ cho chính mình giống như hình thức của nỗi tuyệt vọng – nó đối lập hoàn toàn với tâm thế đối mặt thử thách vốn đòi hỏi con người ta phải tuân theo những chuẩn mực cao hơn. Chưa bao giờ tôi thấy mình thiếu can đảm như thế này.

Biết rằng có thể có những nhà nghiên cứu nhân văn khác đang xoay sở tốt hơn thế nhưng tôi phải thú nhận những gì mình học ở ngành nhân văn đã không thể chứng minh được giá trị của nó trong một cuộc khủng hoảng dường như được thiết kế để nó phô diễn được sức mạnh của mình. Nó không sinh ra ý nghĩa, mục đích, sự mạnh mẽ về tâm lý, cho tôi và cho người khác.

Có phải đây là đòn đánh vào chủ nghĩa nhân văn? Tôi không nghĩ vậy. Tôi cho rằng đây là đòn đánh vào những khủng hoảng. Jean Améry từng nghĩ chính Holocaust đã phơi bày bản ngã đích thực của ông: “không ở đâu trên thế giới này mà hiện thực là có quyền năng lớn như ở trong trại tập trung, không ở đâu khác hiện thực lại thực đến thế.” Sự bạo tàn và hãi hùng mà Améry chịu đựng mang tính thuyết phục. Nó thuyết phục ông về đời sống trước đó của mình, khi còn là một sinh viên theo ngành văn chương và triết học ở Vienna, khi cuốn tiểu thuyết ông viết được đón nhận tích cực, khi ông tin vào đời sống của tâm trí – tất cả những thứ đó là ảo ảnh, là giả vờ, là trò chơi ngôn từ. Nhưng không phải thế. Sự bạo tàn không phải là một luận đề, và thật bi kịch khi việc cảm giác bị tổn thương, bị hành hạ bởi cái ác, đối với những người trải qua kinh nghiệm tàn bạo này, lại giống như sự bừng thức để nhận ra bản chất đúng nghĩa của hiện thực.

Chịu đựng một cuộc khủng hoảng nhẹ nhàng hơn nhiều, thế giới quan của tôi ít bị xô lệch hơn Améry. Tôi chưa bao giờ chắc chắn về giá trị của scholē – về uy lực của việc dành thời gian để hướng đến một tiếng gọi cao hơn – hơn lúc này, lúc tôi không thể làm được việc ấy và ao ước có thể. Một vài thứ tốt đẹp nhất vốn dĩ mong manh. Việc chúng có thể bị nghiến nát không phải là một luận đề chống lại giá trị của chúng mà thực tế ấy nhắc ta cần phải bảo vệ chúng trong sự rào chắn. Phải, có thể biến một cọng rơm thời gian trống rỗng thành vàng, nhưng một mong muốn như thế đòi hỏi nhiều hỗ trợ. Tôi có thể dạy để bạn thấy được điều gì đó trong những luận điểm khó hiểu chống lại thuyết nguyên tử luận mà Aristotle trình bày trong “On Generation and Corruption” (“Về thế hệ và sự tha hóa”) – khiến bạn phấn khích bởi chúng, bị cuốn hút bởi các nhà vật lý cổ đại – nhưng mọi thứ cần phải đặt đúng chỗ. Tôi cần một lớp học vật chất, có bảng đen, có một nhóm sinh viên mà tôi đã có ba tháng để quen thân. Tôi cần thế giới bên ngoài yên tĩnh. Việc hoàn cảnh hiện thời phá vỡ bối cảnh ấy không phải là một sự bác bỏ đối với triết học. Nó là bằng chứng cho thấy chúng ta cần phải cố gắng nhiều thế nào để mọi thứ trở lại bình thường, khiến mọi người lại có thể giúp nhau để nhìn thấy thế giới tinh thần ở nơi đẹp đẽ, diệu kỳ mà nó thuộc về.

Có lẽ nguy hiểm đặc biệt của một cuộc khủng hoảng khiến người ta phải mất nhiều thời gian để nghĩ là ở chỗ người ta phải cố gắng để học quá nhiều bài học khi ở trong đó. Các khủng hoảng, ít nhất lúc chúng xảy ra, không phải là những cơ hội giáo dục. Đó là những sự kiện rơi xuống đầu ta, gây tổn hại cho chúng ta. Chúng nhắm tới mọi thứ thuộc về ta, trong đó có năng lực học tập.

Ta có nên tin vào chủ nghĩa anh hùng trí thức – thậm chí ở cả những người không mục đích, không tử đạo? Dĩ nhiên. Nhưng thay vì tìm kiếm nó giữa thời điểm khủng hoảng, chúng ta có thể hướng chú ý của mình vào thế giới bên trong khu vườn và nhớ lại lần gần nhất trong lớp học, một sinh viên vốn chất chứa trong đầu bao ý nghĩ sâu sắc chưa nói ra thành lời cuối cùng đến một ngày giơ tay phát biểu. Chúng ta thử hình dung xem chuyện gì xảy ra sau đó: từ ngữ tuôn chảy từ cô sinh viên ấy thế nào, cô ấy đã thoát khỏi vỏ bọc của nỗi sợ hãi và tự ngờ vực bản thân ra sao, cả lớp đã lắng nghe, chăm chú và học hỏi từ người bạn của mình thế nào… Tất cả giáo viên đều biết rằng những người hùng trí thức là có thật. Chúng ta cũng biết đôi điều về họ: biết truyền đạt, có khả năng sư phạm và thường vô hình với người say mê họ. Và bài học này đưa ta trở lại với câu chuyện về Jean Améry.

Améry viết một cuốn sách về tự sát và vài năm sau khi viết nó, ông cũng tự kết liễu cuộc đời mình. Ông hiẻu những trải nghiệm thời chiến là một bài kiểm tra đối với tất cả những gì làm nên con người ông – một nhà tư tưởng, một nhà duy mỹ, một người đọc, một cá nhân – và ông tự phán xét chính mình như một kẻ thất bại. Ông viết về việc bị Gestapo tra tấn: “Nó vẫn chưa xong xuôi. Hai mươi năm sau, tôi vẫn ở trong tư thế lủng lẳng trên mặt đất với hai cánh tay trật khớp, thở hổn hển và tự kết án chính mình.” Nhưng điều mà Améry không thể thấy trước là hiệu ứng của những trang viết của ông, vốn nhạy cảm sâu sắc với đau đớn, với tình trạng bị nhục mạ, bị tước đoạt và mất mát. Ông nói về sự thống khổ bằng giọng điệu của một người không thể tự bảo vệ được mình trước bất kỳ điều gì và ông đem trải nghiệm về khả năng bị tổn thương này tới độc giả bằng lối phân tích cẩn thận, điềm tĩnh và chính xác. Giọng điệu của ông chừng mực, uyên bác và thấu suốt. Ông là một con người, một người phàm như bao người.

Tiểu luận của Améry nói sự thật, nhưng không phải toàn bộ sự thật. Chúng kể câu chuyện về sự thất bại của những tri thức nhân văn khi chúng không giúp được ông điều gì ở trong trại tập trung, nhưng chúng đã không kể câu chuyện của chính chúng  – rằng làm thế nào mà người ta có thể truyền đạt một kinh nghiệm dường như bất khả truyền đạt. Câu trả lời là: chính nhờ vào những tri thức nhân văn. Không tự buông tha mình khỏi nỗi dằn vặt hổ thẹn, Améry cho chúng ta nhìn vào con người bị hủy hoại của ông, từ đó chúng ta có thể biết về một sự thật mà chúng ta từ chối muốn biết: “ai từng bị tra tấn sẽ luôn bị tra tấn.” Trong tay ông, những từ ngữ như “trại tập trung”, “tàn bạo”, “lưu đày” – phơi bày đúng những gì đã diễn ra; từ miệng người khác, chúng là những ký hiệu cho một tri thức mà chúng ta luôn hy vọng sẽ không cần đến nó. Tôi nói điều này trong tư cách của một đứa cháu trong gia đình có bốn người từng sống sót qua trại tâọ trung. Ông bà tôi không bao giờ có thể – mà có lẽ không bao giờ muốn – truyền đạt cho tôi những gì mà Améry đã tái hiện trên trang viết. Nếu tôi từng nói về “sự tra tấn” trước khi đọc Améry thì tôi chỉ là một homo ludens, một người chơi, đang chơi trò chơi ngôn ngữ mà thôi.

Ông, người muốn nói về sự phá hủy thế giới tinh thần của con người, không thể kỳ vọng sẽ có công chúng đón nhận dễ dàng. Ông hiểu độc giả của mình; ông biết mình đang đối mặt với điều gì. Ngôn ngữ của ông dong buồm qua biển thời gian, không gian và văn hóa – và vùng vịnh sâu thẳm nhất, giữa những người đã từng bị tra tấn và những người chưa trải qua nó – để tìm đến độc giả, kẻ đọc ông bằng ngôn ngữ tinh thần của chính mình. Cuối cùng, độc giả ấy không có cách nào khác hơn là để ông thâm nhập vào tâm trí. Đây chính là thắng lợi kinh ngạc về phương diện giao tiếp: người ta không nghĩ là tri thức nhân văn làm được bài kiểm tra này. Nhưng Jean Améry đã chứng minh điều đó. Ông là một anh hùng. Ông là một thầy giáo.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Agnes Callard, “What Do the Humanities Do in a Crisis?”, https://www.newyorker.com/culture/annals-of-inquiry/what-do-the-humanities-do-in-a-crisis

Huyền thoại và giải huyền thoại

Tôi sẽ cố gắng dành thời gian để dịch các thuật ngữ văn học và nghiên cứu văn hóa trên blog cá nhân của mình.

Hai mục từ dưới đây được dịch để hỗ trợ dự án “Những huyền thoại” mà tôi làm cùng với các bạn trẻ sinh hoạt trong nhóm đọc sách – “Nhóm thứ 6” – một hoạt động do Sakedemy tổ chức. Càng làm, càng thấy dự án liên quan đến nhiều thuật ngữ. Đây là hai thuật ngữ then chốt trong dự án này.

andy-warhol-monroe

*

HUYỀN THOẠI (MYTH)

Huyền thoại là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong phê bình văn học, đặc biệt trong những giải thích theo khuynh hướng phê bình lịch sử về những huyền thoại mà các nhà văn thường khai thác và trong những miêu tả của phê bình cổ mẫu về những cách thức qua đó những hình ảnh, kiểu nhân vật và mô hình tự sự phổ biến tái diễn xuyên suốt sự phát triển của văn học. Northrop Frye coi huyền thoại như là nền móng cấu trúc của văn học và phân tích phương thức tu từ của huyền thoại – một cách tiếp cận gần gũi với cách Tzvetan Todorov phân tích ngữ pháp của biểu đạt thi ca. Còn có nhiều cách sử dụng khái niệm huyền thoại theo lối phi văn chương, có lẽ nổi bật hơn cả là cách của Claude-Levi Strauss trong nghiên cứu của ông về hệ huyền thoại của thổ dân da đỏ châu Mỹ theo phương pháp cấu trúc luận.

Theo nghĩa thông thường nhất, một huyền thoại là một câu chuyện về một thần linh hay một thực thể siêu nhiên nào khác; đôi khi nó liên quan đến một con người được phong thánh hoặc một kẻ trị vì có dòng dõi thiêng liêng. Tập hợp những huyền thoại truyền thống trong một nền văn hóa cụ thể tạo nên một hệ huyền thoại minh họa hoặc giải thích nguồn cội của thế giới, tại sao thế giới từng như thế này hay thế khác, nó đã biến đổi làm sao và tại sao có những sự việc nào đó xảy ra. Mỗi huyền thoại đều đảm nhiệm chức năng mô tả hay giải thích bằng cách quy chiếu về những ý nghĩ, ham muốn và hành động của thần linh hay nhưng thực thể siêu nhiên khác. Từ những câu chuyện về tổ tiên hay huyền thoại, con người thuộc một nền văn hóa hay một xã hội cụ thể học được cách mình phải sống như thế nào và những ý nghĩa gì được gắn cho cuộc đời của họ.

Bởi vì nhiều nhà văn sử dụng những chuyện cũ hay những huyền thoại từ nền văn hóa của mình hay nền văn hóa khác, nên phê bình đã rất cố gắng để nhận diện những hiện tượng trở đi trở lại này và lý giải những phương thức mà chúng hoạt động trong tác phẩm văn học. Có khi huyền thoại xuất hiện trong văn học chỉ đơn thuần như một câu chuyện được dội về mạnh mẽ; lại có khi chúng chỉ cung cấp một âm bội có tính trang sức. Tuy nhiên, như trong nghĩa từ nguyên trong tiếng Hy Lạp, mythos (vốn có nghĩa là cốt truyện, chuyện kể, trần thuật), huyền thoại là bản thân cấu trúc tự sự của tác phẩm văn chương.

Từ góc độ phê bình cổ mẫu, các huyền thoại là nguyên tắc cấu trúc của văn học làm cho hoạt động giao tiếp bằng lời và ý nghĩa của tự sự/truyện kể trở thành khả thi và khả hữu. Dựa vào mối quan tâm của nhân học văn hóa về nghi lễ và mối quan tâm của tâm lý học phân tích đến những giấc mơ, phê bình văn học xem huyền thoại như là thể hợp nhất của nghi lễ và giấc mơ trong hình thức ngôn từ mà nếu không có nó, cả hai yếu tố này vẫn cứ ở trong tình trạng không thể diễn tả rõ ràng. Nghi lễ không thể giải thích cho chính nó còn giấc mơ chỉ là một tập hợp những quy chiếu được mã hóa về đời sống của kẻ nằm mơ. Việc ngôn từ hóa huyền thoại cấp ý nghĩa cho nghi lễ và hình thức tự sự cho giấc mơ, do đó làm cho giao tiếp xã hội trở thành khả thể.

Trong thế giới của huyền thoại, nhà văn tìm được một nhà kho trừu tượng hay mang tính văn chương thuần túy của những mô hình hư cấu và đề tài không chịu ảnh hưởng bởi những điển phạm về sự mô phỏng đáng tin những kinh nghiệm thông thường của con người. Huyền thoại cấp cho nhà văn một thế giới của ẩn dụ tổng thể trong đó mọi thứ đều có thể đồng thời là tất cả những thứ khác. Khi nhà văn rời khỏi việc sử dụng trực tiếp huyền thoại, những tác phẩm đậm hiện thực hơn sẽ xuất hiện.

Một khái niệm hoàn toàn khác về hiện thực được Roland Barthes đưa ra trong cuốn “Những huyền thoại” (1957), trong đó, ông xem xét các “huyền thoại” hay các tạo tác văn hóa của văn hóa đại chúng Pháp, bao gồm sự viết lách, thể thao, phim ảnh, quảng cáo, thức ăn. Coi ngôn ngữ không phải như một phương tiện giao tiếp trong suốt mà như một phương tiện tạo ra sự trấn áp bởi giai cấp tư sản, Barthes đã lập luận để thấy ngôn ngữ củng cố một ý thức hệ nhất định. Nghiên cứu một loạt những văn bản khác nhau, Barthes đã đề nghị một lối đọc “nghịch lý” (paradoxical), theo đó, người đọc phải đi tìm ý nghĩa “huyền thoại” hay mới mẻ xung đột với logic bề mặt của ngôn ngữ một văn bản. Người đọc phải phá bỏ những giá trị xã hội truyền thống có vẻ như là “tự nhiên” và phải lấy lại những quan điểm mang tính đa nguyên hơn.

ALVIN A. LEE

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Encyclopedia of Contemporary Literary Theory – Approaches, Scholars and Terms, do Irena M. Makaryk chủ biên, University of Toronto Press, 1995, trang 596-7

*

GIẢI HUYỀN THOẠI (DEMYTHOLOGIZING)

Được gợi ý từ những học giả theo đường lối cánh tả tại Pháp và trường phái Frankfurt, các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa duy vật văn hóa đã nêu lên luận điểm, theo đó, trong xã hội có một khuynh hướng cho rằng có những thứ mang bản chất cố hữu, tự nhiên, “theo cách chúng vốn vậy”, và được hiểu như những mặc định, mà không thừa nhận tính “tự nhiên” ấy thực tế là một tạo tác hoặc là một quá trình của ý thức hệ văn hóa, phụ thuộc vào tập quán xã hội. Dù với lý do đi nào đi nữa (và những nhà Marxist, những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thần bí hóa” [mystification], đã mặc định rằng những lý do này được gắn kết với chủ nghĩa tư bản), văn hóa vẫn cứ muốn hình dung một sự vật, hoạt động hay quá trình nào đó là cái gì đó mang tính tự nhiên hơn là mang tính văn hóa và thần bí hóa nó lên. Hơn thế, những gì được huyền thoại hóa lại thường chiếu theo những quan điểm nhân văn – duy lý về các giá trị tuyệt đối, các nền văn hóa bao trùm và những bản ngã thống nhất, ổn định – những thứ mà Jacques Derrida gọi là “cái được biểu đạt siêu nghiệm” và Paul de Man gọi là “những biểu tượng tự huyền thoại hóa” dựa trên những ý niệm mạch lạc về Thượng đế, bản ngã và ngôn từ. Trên thực tế, các huyền thoại trong Kinh Thánh nằm trong số những đối tượng đầu tiên bị xem xét dưới cái nhìn của một học giả người Đức, Rudolf Bultmann, người sử dụng thuật ngữ Entmythologisierung (giải huyền thoại) để chỉ quá trình thông diễn học mà qua đó, các diễn dịch quy phạm về Thiên Chúa giáo có thể được định giá lại theo những phạm trù hiện sinh. Do đó, một trong những nhiệm vụ của các nhà nhân học, ký hiệu học và chủ nghĩa duy vật văn hóa là khám phá những cách thức mà ý nghĩa được cấu trúc và thể hiện trong một nền văn hóa cụ thể, xem xét cách mà các ký hiệu lan khắp mọi bình diện của đời sống và chứng minh xem làm thế nào mà những ký hiệu này có thể được coi là những sáng chế văn hóa hay những huyền thoại và hệ quả là, chúng có thể được “giải huyền thoại”, “giải thần bí” như thế nào.

Những cặp khái niệm như văn hóa/tự nhiên, huyền thoại hóa/ giải huyền thoại hóa (thần bí hóa), vốn liên hệ với nhau ràng rịt, đã được một số học giả xem xét kỹ lưỡng, trong đó có Claude Lévi-Strauss, người coi các cặp đối lập này như là bộ phận của một cấu trúc quan hệ hay hệ thống những khác biệt và khám phá tầm quan trọng phổ biến của chúng, phân loại chúng và đánh giá những kết hợp tượng trưng của chúng bên trong hệ thống ấy.

Có lẽ nhà giải huyền thoại gây ảnh hưởng lớn nhất là Roland Barthes, người nhận thấy ngôn ngữ là một phương tiện xã hội mà giai cấp tư sản sử dụng để tạo ra sự trấn áp và tha hóa hơn là một công cụ để tự biểu đạt và giao tiếp. Cho rằng ngôn ngữ duy trì cấu trúc của quyền lực trong một khoảng thời gian không xác định và hệ quả là, nó giúp củng cố một ý thức hệ nhất định, ông nêu lên quan điểm: nhiệm vụ của nhà phân tích là phải đưa ra được một lối đọc đối lập với lịch sử và văn hóa, từ đó, phơi bày quá trình sản xuất ý nghĩa, phê phán những huyền thoại văn hóa, “phá bỏ” (unlearn) những giá trị văn hóa chính thống, thiết lập những quan điểm mang tính đa nguyên hơn. Mặc dù ở mức độ nào đó, tất cả các công trình của ông đều theo đuổi nhiệm vụ này nhưng hai tác phẩm sớm nhất của ông dành cho nó là “Độ không của lối viết” (1953) và “Những huyền thoại” (1957). Trong cuốn đầu, ông bàn về lối viết tư sản hay lối viết cổ điển của văn chương Pháp từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX. Tính khả đoán của lối viết này khiến nó trở nên dễ đọc hay, nói như Barthes, làm nó có vẻ “tự nhiên”. Việc giải tính tự nhiên của nó bằng việc nghiên cứu xem lối viết này được tạo ra thế nào sẽ làm suy giảm quyền năng vốn có và sự kiểm soát của nó. Ở cuốn sách thứ hai, ông quan sát những loại huyền thoại xã hội trong văn hóa đại chúng (mà lối viết là một huyền thoại trong đó) để giải mã phương thức mà chúng tác động lên con người. Huyền thoại này bao gồm thể thao, phim ảnh, thức ăn đồ uống, quảng cáo, xe ô tô, nhiếp ảnh và nhiều thứ khác – tất cả đều không phải là những sản phẩm phụ ngây thơ của nền văn hóa chúng ta mà là những cách thức nhờ đó ý thức hệ thống trị tự khẳng định nó.

Jacques Derrida đã khám phá hệ thống ngôn ngữ, cách lập luận và logic để giải huyền thoại hay giải cấu trúc các thực hành văn hóa và các niềm tin. Theo ông, nói chung, các niềm tin của văn hóa phương Tây thường chụm quanh những khái niệm siêu nghiệm nguyên thủy mà ông gọi là tinh thần trung tâm luận (logocentric), chẳng hạn một lời nói nào đó được xem là tối hậu, sự hiện diện (presence), trung tâm, cội nguồn cố định, chân lý hay hiện thực. Để giải huyền thoại chúng, ông xem xét một số văn bản quan trọng đã tạo nên siêu hình học phương Tây, gồm có “Phaedrus” của Plato, “Bài giảng ngôn ngữ học đại cương” của Ferdinand de Saussure, “Sống và Chín” của Lévi- Strauss. Bằng việc thẩm định lại nhưng giả định được xem là vững chắc của chúng, những cấu trúc mạch lạc và giá trị nền tảng của chúng, ông phát hiện ra những khoảnh khắc khó xử mà ở đó các văn bản lộ ra những khiếm khuyết, những điểm yếu của mình; ông nhận thấy chính những nứt rạn, đứt gãy của chúng và mở chúng ra cho những diễn giải mới. Ông cho rằng những văn bản và những quan niệm này thực ra không nhất quán mà đúng hơn, chúng bao hàm nhiều điểm tự mâu thuẫn, những đối chọi không được nhận thấy, những nhận định xung đột lẫn nhau. Derrida gợi ý: mọi thứ đều tự mâu thuẫn và tự bất đồng (différence), bởi thế sẽ không bao giờ chịu đầu hàng trước một kết luận đơn nhất và được xã hội chấp nhận.; cái ý nghĩa cuối cùng, giả sử nó có tồn tại, sẽ là thứ luôn bị trì hoãn vĩnh viễn (différance).

Giống như Barthes và Derrida, Michel Foucault cũng mạo hiểm đi vào địa hạt ngôn ngữ và các thực hành biểu nghĩa trong xã hội để khám phá những gì cấu thành nên tri thức, ai kiểm soát nó, nó được mã hóa thế nào, ý thức hệ cất giấu nó ở đâu trong các diễn ngôn và thực hành diễn ngôn. Vai trò của ông và những người khác khi khám phá quan hệ của ngôn ngữ và ý thức hệ văn hóa là phát hiện phả hệ (cội rễ) của những mục đích, những nguyên lý văn hóa được đóng vào ngôn ngữ và giải trung tâm chúng. Vì “ham muốn và quyền lực” lúc nào cũng dính chặt vào diễn ngôn nên giải huyền thoại luôn là việc khó khăn, song những khó khăn có thể vượt qua được một phần bằng việc chấp nhận tính võ đoán của ngôn ngữ và tất cả các quy phạm xã hội. Tất cả các phương thức diễn ngôn đều là kiến tạo văn hóa, đều được hệ thống hóa, đưa vào trật tự và trao chức năng cũng như giá trị trong một nền văn hóa và thời đại cụ thể.

Mặc dù Jacques Lacan được biết đến nhiều hơn về sự “trở lại” với Freud hơn là những phát biểu của ông về giải huyền thoại song phân tích của ông về sự phát triển nhân cách phụ thuộc vào một khái niệm về bản ngã được cấu trúc theo những hình ảnh về kẻ khác. Quan điểm của Lacan là khi những hình ảnh này cũng như văn hóa thay đổi thì bản ngã cũng sẽ thay đổi. Khi một đứa bé bước vào giai đoạn hậu-gương (post-mirror) lúc khoảng 18 tháng và gia nhập Luật của Người Cha [Law-of-the-Father] (những mã xã hội và ngôn ngữ cấu thành nên một xã hội cụ thể), nó nhận ra sự cần thiết của việc phải thích nghi với những điều kiện và hệ hình biến đổi. Bản ngã, bởi vậy, luôn liên tục lưu chuyển. Đối với Lacan, qquan điểm về một bản ngã nhất quán, siêu nghiệm là một huyền thoại; chủ thể bị tự phân chia, bị tách giữa một bên là ước muốn về cái toàn thể (cái Tưởng tượng [Imaginary]) và một bên là thực tại phân mảnh (cái Tượng trưng [Symbolic]); hệ quả là, nó cũng võ đoán, cũng tùy tiện như các chuẩn mực và thiết chế văn hóa khác. Tuy nhiên, bởi văn hóa gắn chặt với nhãn quan về một bản ngã siêu nghiệm, mạch lạc, thống nhất nên quan điểm ấy cũng cần bị giải huyền thoại.

Huyền thoại, như thế, bao trùm khía cạnh của hiện sinh, bao gồm ngôn ngữ, các quan niệm về bản ngã, các khuôn mẫu và thiết chế văn hóa. Theo các nhà cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận, tất cả đều cần được giải thần bí hóa và được xem là võ đoán và được cấu thành trong những điều kiện đặc thù của một xã hội cụ thể tại một thời điểm nhất định. Một số nhà phê bình, tuy vậy, lại thấy khái niệm võ đoán tự nó cũng võ đoán. Chủ nghĩa tương đối luận nằm dưới quá trình giải huyền thoại không hấp dẫn cũng không dễ chấp nhận đối với những ai tin vào những giá trị vĩnh viễn hay nhu cầu về những kiến tạo văn hóa có tính thống nhất.

GORDON E. SLETHAUG

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Encyclopedia of Contemporary Literary Theory – Approaches, Scholars and Terms, do Irena M. Makaryk chủ biên, University of Toronto Press, 1995, trang 529-530

 

Trần Hoàng Kiều Trang – Văn học có thể nói với chúng ta về những sự thật nào? (bài 2)

Bài viết này của Trần Hoàng Kiều Trang (Khoa Ngữ văn K68, năm 1) là bài tập giữa kỳ của em, cũng xoay quanh chủ đề “Văn học có thể nói với chúng ta về những sự thật nào của đời sống?”  Sinh viên được chọn một trong ba văn bản để thảo luận về đề tài này bao gồm một trích đoạn trong Những nhân chứng cuối cùng của Svetlana Alexeivich, truyện ngắn “Hoa cúc xanh” của Karel Capek và “Có một người nằm trên mái nhà” của Phan Triều Hải. Mỗi văn bản có thể gợi ra những khía cạnh khác nhau để sinh viên suy tư về câu hỏi được nêu lên.

Bài viết của Kiều Trang chính là một thứ văn chương tôi luôn trân quý khi được đọc từ sinh viên. Bởi ở bài viết này, tôi cảm nhận được người viết có một sự khoáng đạt trong cảm nhận và nhất là một niềm hứng thú với sự biểu đạt bằng ngôn ngữ. Đấy là điều rất hiếm gặp ở sinh viên bây giờ. Khác với các tiếp cận của Dương Phương Anh ở một đôi điểm, bài viết của Kiều Trang có một cách nhìn nhận truyện ngắn Phan Triều Hải nhẹ nhõm hơn. Và đó cũng là cái hay của sự đọc văn chương, rằng văn chương đúng nghĩa luôn gợi ra nhiều khả thể cho tưởng tượng và suy tư.

 

hale_bopp_morning

*

Ngày 23 tháng 7 năm 4385.

Đó sẽ là khoảng thời gian sao chổi Hale-Bopp bay ngang qua Trái Đất sau khi hoàn thành quỹ đạo dài hơn hai nghìn bốn trăm năm của mình. Vào những năm 2000, Hale-Bopp đã từng ghé qua bầu trời hành tinh này – lạnh lùng, thờ ơ như đi qua bao hành tinh cằn cỗi khác, nhưng lại khiến cả thế giới điêu đứng với vẻ lộng lẫy của mình.

Truyền thông thế giới rạo rực vì chuyện ấy, còn tôi biết đến Hale-Bopp qua một truyện ngắn viết cách đây cũng lâu – “Có một người nằm trên mái nhà”- Phan Triều Hải.

Đó là một truyện ngắn không có bối cảnh thành phố cụ thể, không một cái tên nhân vật, không những tình tiết phiêu lưu, không nhân vật phản diện, không tính cách phản trắc.

Thế giới ấy chỉ có những mái nhà và bầu trời.

“Có một người nằm trên mái nhà” là những dòng tự sự thuật lại quá trình nhân vật “tôi” chờ đến ngày được ngắm Hale-Bopp. “Tôi” sống cùng bố và vợ trong một căn nhà có mái nghiêng hai mươi ba độ. Người mẹ không được nhắc đến. Nội thất trong nhà không được kể đến đến. Tất cả những gì tác giả chú ý nhiều là chiếc mái có độ nghiêng trùng với trục của Trái đất. Từ chiếc mái tôn, hai hiện thực hiện ra: hiện thực nhìn từ dưới lên và hiện thực nhìn từ trên xuống.

1. Người bố và chiếc mái tôn

Người bố của nhân vật “tôi” – như bao người tin vào trải nghiệm, cảm tính hơn là khoa học, đã tự xây nhà ”từ từ, chậm rãi” theo cách riêng của mình, không bám theo bất kì một tính toán, nguyên tắc nào. Vật lý, hoá học, kiến trúc đều “không lay chuyển được ông”. Lí lẽ ông dùng để bác bỏ những bản vẽ kiến trúc là “Tao đã ở cái nhà này hai mươi năm nay”, sự gắn bó, thấu hiểu đó không thể được thay thế bằng thông số kĩ thuật. Căn nhà được xây hiên ngang và vững chãi. Người đàn ông không nghĩ nhiều đến thiết kế ngôi nhà, ông chỉ thực sự nghĩ ngợi một lần khi người đội trưởng hỏi về chiếc mái tôn:“Tất cả mọi người trên trái đất này đều phải sống dưới những mái nhà. Làm mái nhà là một việc quan trọng”. Người cha – vốn cứng rắn, chủ động, muốn nắm kiềm quyển soát, đã hỏi ngược lại vị đội trưởng và quyết định xây mái ở góc hai mươi ba độ – trùng với trục nghiêng của trái đất. Ông lăn ra ngủ ngay sau đó. Mọi người vẫn thường nói rằng những người dễ ngủ là những người ít lo nghĩ. Cũng có thể. Có lẽ họ nghĩ nhiều vào buổi sáng và trời đêm với họ chỉ có một chức năng duy nhất: ngủ để nạp năng lượng.

Cũng có lẽ vì vậy mà trong suốt câu chuyện, người cha đều không xuất hiện vào buổi đêm.

Chiếc mái nhà được xây nhanh chóng ấy trở thành dải phân tách không gian. Từ đây trở đi, câu chuyện chỉ có hai thế giới – thế giới nhìn từ mái nhà xuống và từ mái nhà lên bầu trời.

  2. Người vợ và căn bếp

Người vợ xuất hiện với vai trò là người “đem đến hơi người” cho căn nhà.

Người phụ nữ ấy rất cố gắng trong việc tạo bầu không khí gia đình. Chị hào phóng mua những chậu hoa – thứ chỉ xuất hiện ở những căn nhà có hi vọng, có người chăm chút. Chị mua lồng chim – loài vật xuất hiện kèm những tiếng kêu yêu đời và tạo cảm giác bình an. Sau cùng, vì “một vài sai lầm” của chị, những chậu hoa bị chết và chú chim tội nghiệp thoi thóp được đem tặng vội cho cậu bé nhặt rác.

Cố gắng biến ngôi nhà thành “nhà” ấy của chị đã khiến mọi người nhận ra được một điều thú vị về cuộc sống này: “cái hơi người cần có chính là kỉ niệm, không gì gần gũi với người hơn là kỉ niệm”. Căn nhà giờ đây ngập tràn kỉ niệm, góc này chị đã chăm cây, góc kia chị đã nấu nướng và yêu thương chú chim.

Người vợ xuất hiện chủ yếu gắn với căn nhà và hẹp hơn là căn bếp. Nếu có lần chị đi xa hơn thì đó cũng chỉ là khi chị nói những lời từ dưới bếp vọng lên mái. Nếu chuyển thể thành điện ảnh và quay chị dưới góc nhìn từ trên mái xuống, chị lúc nào cũng sẽ chỉ được nhìn qua một ô vuông hẹp mà người ta xây để đặt thang từ tầng dưới lên tầng mái.

Khá bí bức và chật hẹp.

Có lẽ thế thật, dù tác giả không tả điều đó nặng nề. Thường thường khi chồng ở trên mái thì chị ngồi “tù túng ở dưới nhà trong tiếng choang choang của bình luận viên”, hay xuất hiện trong bếp, “làm những việc vặt vãnh của một phụ nữ bận rộn”, “la hét con mèo với nhiệt tình không đổi”, “loay hoay với chiếc chảo nghi ngút”. Có lần chị được tả khác đi là khi đang đếm tiền – chị “tỉ mẩn buộc từng sợi chun vào từng tờ mười nghìn và năm nghìn”, cảm ơn chồng vì số tiền anh mang về và cắn nhẹ vào tai anh. Chị xuất hiện trong tất bật và cơm áo gạo tiền.

Hiện thực cuộc sống được nhìn theo chiều phẳng trong căn nhà là hiện thực khá gần gũi. Đó là hiện thực với những sự thật phổ biến: người phụ nữ chăm chút cho căn nhà, người phụ nữ loay hoay với căn bếp, với con mèo, người phụ nữ vui khi kinh tế khá khẩm, người phụ nữ không mong gì hơn ngoài một mái ấm an yên. Đây là một không gian rất đầm ấm và tình cảm, được quan sát nhẹ nhàng dưới góc nhìn của nhân vật tôi.

3. Nhân vật tôi, bầu trời và thời gian

Anh chưa đến ba mươi tuổi, làm nghề bán khung tranh. Hồi còn nhỏ, anh thích ở truồng và tắm ở ngoài trời. Lớn lên, anh mới khái quát được những điều nhỏ bé ấy thành một mệnh đề khẳng định: anh không thích những bức tường, anh thích không gian mở, thích lắm.

Bố anh cho rằng làm người là một việc vô cùng đáng quý và người bình luận viên trên truyền hình cũng ca ngợi một nhà thơ rằng: “Ông không chỉ là một nhà thơ mà còn là một Con Người”. Là một con người. Mọi người nghĩ rằng hẳn rất cao sang khi được làm con người và để được coi là người thì phải làm nhiều điều đúng đắn lắm. Anh thì lại cho rằng tất cả đều là người, dù tốt, dù xấu, dù đáng quý hay đáng ghét bởi làm người là một việc nhọc nhằn, ê ẩm. Nó không đáng để ngợi ca nhiều vậy.

Anh hay nghĩ và có một đời sống khá “thơ”, anh gọi vợ là “nàng” và thích màu bạc. Trong tất cả các màu giấy thủ công được nhận khi còn bé, anh chỉ thích màu ấy. Anh thấy nắng chỉ thật sự đẹp khi nó óng ánh trên màu giấy bạc, màu lá cây cũng lóng lánh như suối nếu nó được đặt trên nền bạc.

Màu bạc là màu sáng của những vì sao.

Là màu đuôi sao chổi Hale-Bopp.

Anh xuất hiện khi bầu trời xuất hiện. Tác giả nhắc đến anh khi nhắc đến bầu trời sao. Anh đã hình thành thói quen ở ngoài trời trong suốt thời gian xây nhà và thường ngắm sao hằng đêm. Anh thích cảm giác sung sướng vì xung quanh không có những bức tường, chỉ có một bầu trời mênh mông của riêng mình. Anh thích trò tìm những ngôi sao bởi mỗi đêm chúng lại “có một bố cục khác nhau”, không thích trăng bởi nó sỗ sàng, to quá, tròn quá. Mái tôn trở thành nơi liên kết của anh với bầu trời và mỗi buổi sáng anh lại chờ mong đến tối để được tìm bố cục các vì sao. Một ngày của đời anh như chia làm hai hiện thực: nửa sáng và nửa tối. Sáng, anh đi giao khung tranh cho khách hàng. Về đến nhà, anh mệt chỉ muốn nằm dài ra, không thiết gì nữa nhưng lại bật dậy khi nghĩ đến những ngôi sao trên mái nhà.

Mái nhà đưa anh đến nửa tối của mình. Ở đó, anh “hay nghĩ”,”nghĩ nhiều”- anh sẽ làm gì năm mình ba mươi tuổi, bốn mươi tuổi, rồi năm mươi? Đó là những lời tự vấn mà chỉ không gian trời sao cho anh được tự hỏi mình. Dù không lần nào anh tìm được câu trả lời cho những điều mông lung đó nhưng anh vẫn “sung sướng” mỗi khi nhìn bầu trời bởi anh được nghĩ. Điểm nhìn từ mái nhà xuống đã giúp anh quan sát được hiện thực về đêm nhiều hơn. Anh để ý làn khói nhẹ toả ra từ mái nhà, chiếc lá khô trượt từ trên xuống, những căn nhà đóng cửa sổ mỗi đêm. Từ mái tôn, anh biết rằng những người được giao trọng trách đóng cửa thường là những người trụ cột gia đình, họ kết thúc một ngày bằng việc đóng cửa. Cửa có thể đóng sớm hoặc đóng muộn nhưng không bao giờ là không đóng. Trước trời ngàn sao, anh thổ lộ với những vì tinh tú: “Suốt một ngày sống trong khói bụi, trong tiếng động cơ xe máy, trong tiếng nói cười của những đám đông thì đêm về tôi chỉ muốn yên lặng. Mà yên lặng thì không nơi đâu yên lặng bằng bầu trời.”

Có thể có mấy hiện thực? Có phải chỉ có hai hiện thực cuộc sống – khi trời sáng và khi đêm đến? Sáng, con người lo toan cuộc sống mưu sinh của mình, như anh đi giao tranh, như những người mải miết trên đường phố. Tối, con người mới đối diện với chính mình – như anh tự vấn bản thân, như anh thổ lộ với bầu trời, như cách anh nhìn những khung cửa sổ. Tối, những góc khuất mới từ từ lộ ra, như ở ngoài kia có bao nhiêu người có cuộc sống về đêm, bao nhiêu trẻ em lang thang cơ nhỡ ngoài đường.

Có phải chỉ có hai hiện thực – nhìn từ trên xuống và nhìn từ dưới lên? Nhìn từ dưới lên, người bố thấy hành động chờ sao chổi Hale-Bopp của anh sẽ “chẳng làm được gì ra hồn cả”, người vợ thấy đó là một sự bỏ rơi mình. Còn anh, nhìn từ trên xuống và nhìn từ trên lên cao nữa, anh thấy đó là một may mắn cả đời người.

Vì đã trót yêu một không gian mở, không gian rộng lớn của vũ trụ nên anh tất yếu sẽ bị ám ảnh bởi thời gian. Đó là những gì những người yêu thiên văn và các nhà thiên văn học cảm thấy khi nhìn lên bầu trời: thấy rằng vũ trụ có quá nhiều điều bí ẩn còn năng lực và thời hạn của mình quá ít ỏi để có thể giải đáp được chúng.

Thời gian dường như trở thành một nỗi ám ảnh của anh.

Việc ngôi sao chỉ quay lại sau hai ngàn bốn trăm năm nữa khiến anh trăn trở. Anh nghĩ về qúa khứ :”tôi không hình dung được hai ngàn bốn trăm năm trước có những ai là ai, có tên tuổi gì, có địa vì gì, có những vinh quang hay thống khổ gì. Tôi cũng không biết hai ngàn bốn trăm năm sau thì những ai là người sẽ là gì.” Vì bị thời gian chi phối, anh nhìn mọi vật dưới góc độ thời gian. Dường như chỉ có sự vật là đứng yên còn con người thì luôn thay đổi bởi họ không có nhiều thời giờ: công việc đóng cửa ở những ngôi nhà không bao giờ thay đổi, chỉ có người đóng cửa là thay đổi, khi họ chết đi sẽ có những thế hệ tiếp theo kế tục, trưởng thành. Từ đó dẫn đến sự ám ảnh về hữu hạn của đời người và cũng trân trọng tất cả những gì xung quanh : “từ nhà tôi đến nhà bạn là một trăm mét mà chúng ta gặp nhau mỗi năm chỉ có một lần”.

Câu chuyện kết thúc với hình ảnh sao chổi Hale-Bopp vụt qua bầu trời đêm – anh đã nhìn thấy nó, “nó đẹp thật”. Anh đã nhìn thấy nó. Người cha cũng nhìn lên trời và người vợ cũng nhìn nhưng cha anh “chẳng thấy cái mẹ gì” còn vợ thì gọi anh xuống nhà. Anh nhìn bức tường mới sơn màu, rạo rực với niềm hạnh phúc, dẫu không biết mình sẽ làm gì vào ngày mai dưới căn phòng này, nhưng anh đã nhìn thấy nó rồi.

Câu hỏi bỏ ngỏ cuối sách là: Anh có thật sự nhìn thấy Hale-Bopp không? Hay đó chỉ là sự tưởng tượng của người quá khao khát được nhìn thấy sao chổi? Tất cả là hiện thực hay chỉ là tưởng tượng? Nếu anh nhìn thấy thật, tại sao người bố và người vợ lại không thấy? Rồi anh sẽ làm gì những ngày tháng sau này? Không ai có thể trả lời câu hỏi đó. Sao chổi Hale-Bopp đã đi qua rồi.

Nếu có điều gì đó tác giả Phan Hải Triều muốn đặc biệt nhấn mạnh thì đó chính là yếu tố không gian và thời gian trong tác phẩm. Không gian khác nhau và thời gian khác nhau có thể tạo ra những góc nhìn khác nhau, những sự thật khác nhau, thế giới khác nhau. Đó là thế giới nơi con người mải mê lo toan cho gia đình, đời sống, cơm áo nhưng cũng là một thế giới cao hơn, rộng hơn: thế giới của vũ trụ, của những cuộc trò chuyện với bản thân, nơi con người được sống là mình, được thoát ra khỏi mặt đất. Đó là hiện thực của những điều khả nhiên – khi tất cả mọi người nghĩ rằng không thể thì anh vẫn tiến lên để chạm lấy. Cũng có thể chẳng có một sự thật nào cả, bởi mỗi chúng ta có một niềm tin khác nhau.

Vậy nếu không có sự thật nào, hoặc có nhưng tất cả chỉ là sách vở thì ý nghĩa của những điều này là gì? Hiện thực trong văn chương được lấy từ đời sống, nhưng cao hơn đời sống, có lẽ vì vậy mà văn chương gieo vào ta một niềm tin. Niềm tin vào những sự thật, rằng tất cả là thật đấy, đã từng có một người đàn ông hay leo lên mái nhà, anh ta làm vậy hàng tuần liền và đã nhìn thấy sao chổi bằng mắt thường. Tất cả những điều xảy ra trong những cuốn truyện khác cũng đều là thật. Văn chương nhen nhóm trong ta một niềm tin, để ta có thêm vững chãi đi tìm những điều tốt đẹp ở cuộc đời, tìm những điều tốt đẹp ở trong ta.

***

Khi tôi sinh ra đời, Hale-Bopp đã đi qua trái đất được ba năm rồi. Điều đó có nghĩa là nếu chót yêu ngôi sao ấy, tôi phải đợi gần hai nghìn bốn trăm năm nữa.

Nhân vật tôi đã đúng. Không phải ai cũng có may mắn được thấy sao chổi, hàng triệu tỉ người chỉ có vài người có diễm phúc ấy. Nhưng cũng có những người, sao chổi ở ngay trên đầu họ mà họ không biết, không quan tâm, không nhận ra rằng mình là người may mắn. Cũng có những người nhìn lên trời rồi – như ông bố, như chị vợ, nhưng lại không nhìn thấy gì cả. May mắn vụt qua họ mà họ không ý thức được. Và có những người không có may mắn gì để mà mong chờ như chúng tôi – tận hai ngàn bốn trăm nữa.

Nhưng có lẽ hai ngàn bốn trăm năm nữa mọi người cũng không thể nhìn thấy nó bởi các nhà khoa học nói rằng Hale-Bopp đang chết dần. Nó có dấu hiệu của một ngôi sao chết từ năm 2007. Có lẽ lần đi ngang qua trái đất đó là lời chào cuối cùng của Hale-Bopp với nhân loại. Hai ngàn năm nữa, Hale-Bopp sẽ chỉ là một huyền thoại, một câu chuyện mà người ta không biết đúng sai, thực giả, một truyền thuyết – như loài rồng mà thôi.

Nhưng có một sự thật cuốn sách này và tất cả những cuốn sách khác chưa từng lừa dối mọi người, đó là sự thật hiển nhiên: cuộc đời con người là hữu hạn, là quá nhỏ bé so với thời gian vĩnh cửu của vũ trụ. Người đàn ông kia sẽ làm gì khi tỉnh dậy lúc sớm mai? Đợi chờ hơn hai ngàn năm nữa chăng?

Có lẽ anh ta sẽ trân trọng hiện tại, bởi thứ anh ta nhận được từ quá trình chờ đợi sao chổi là sự ý thức sâu sắc về kiếp người ngắn hạn.

Có lẽ thay vì nghĩ về một vì sao còn lâu mới quay lại, tôi sẽ lên các nóc nhà. Tôi nhận ra mình đã lên nóc nhà của nhiều trường đại học khác và nhìn cảnh vật từ trên cao, nhưng tôi chưa bao giờ làm vậy với trường đại học của mình.

Phải trân trọng hiện tại. Phải yêu hơn những thứ gần gũi.

Dương Phương Anh – Văn học có thể nói với chúng ta về những sự thật nào? (bài 1)

Câu hỏi “Văn học có thể nói với chúng ta về những sự thật nào?” là một trong những đề tài mà tôi muốn mời gọi sinh viên của mình suy nghĩ. Rất có thể văn chương chỉ là những câu chuyện hư cấu và do đó thật ngây thơ khi nghĩ rằng có thể tìm thấy ở đó sự thật nào. Rất có thể nếu có sự thật nào mà văn chương có thể nói đến thì đó hẳn lại là thứ ta ngại phải nhận diện. Bởi đó là sự thật của chính mình, bởi nó bóc trần tấm mặt nạ của một đời sống bình thường, yên ổn mà nhiều người đang sống và ta vẫn đang sống. Rõ ràng đây chỉ là câu hỏi gây bất an? Lấy gì để biện hộ cho ý nghĩa của văn chương khi nó chỉ không ngừng gây bất an cho con người? Khi nó, nói như lời Nguyễn Huy Thiệp, chỉ làm đúng cái việc rất vô nghĩa, “bắt người ta day đi dứt lại”… Hoặc cái sự thật văn chương nói với ta luôn là điều gì đó mỉa mai, như một ý nghĩ của nhân vật trong văn Phan Triều Hải: “Có những người mà tôi rất ghét, nhưng tôi cũng sẽ nói với họ như thế, bởi tôi thấy làm con người tưởng cao ráo lắm, nhưng ê ẩm có thừa”

Trong kỳ học này, tôi thật mừng khi các bạn SV lớp mình dạy không ngại đối mặt với những câu hỏi khó mà văn chương gợi ra. Bài viết dưới đây của bạn Dương Phương Anh (SV Khoa Tiếng Anh, k67), tuy còn ít nhiều cảm tính, nhưng tôi tin nó chứa đựng suy tư thực của người viết. Truyện ngắn “Có một người nằm trên mái nhà” của Phan Triều Hải được lựa chọn chất liệu để các bạn sinh viên cùng suy nghĩ. Nếu thực sự những gì tôi gợi mở được các bạn tiếp nhận và thể hiện trên bài viết thế này, tôi nghĩ mình đã có một kỳ dạy học may mắn.

Hale-Bopp-Cherie-Benoit

Với tôi, văn học có khi là chốn tỏ bày của những tâm hồn cô đơn trong thế giới hiện thực. Bỏ qua mọi quy chuẩn, kì vọng của xã hội, khoác trên mình chiếc lốt vô danh, tâm tư sâu kín nhất của loài người cứ thế được bộc lộ. Ở thế giới ấy, con người thoải mái với bản ngã chân thật nhất của mình, họ thoải mái với những khát khao sâu thẳm, thậm chí dị biệt nhất của mình. Trong xã hội hiện đại, dường như con người đang dần yếu đuối đi dưới sự áp chế của những quy chuẩn ngột ngạt. Những con người sống những cuộc đời đóng khung, chới với, chông chênh nhưng vẫn mơ về “một cái gì riêng đặc biệt cho riêng mình”. “Có một người nằm trên mái nhà” là câu chuyện về một chàng trai như thế, loay hoay với những sở thích kì lạ, loay hoay tìm cách lấp đầy những khoảng trống tâm hồn.

Văn học mở ra những tầng sâu của sự thật đời sống, chạm đến những trăn trở và day dứt bản thể, gieo vào ta những câu hỏi thường trực về sự tồn tại của chính chúng ta giữa vũ trụ này. “Có một người nằm trên mái nhà” là câu chuyện về một chàng trai bình thường với một sở thích kì lạ. Chàng trai sống cùng và vợ và cha, công việc mỗi ngày là giao hàng, mười lăm ngàn một vòng, cứ thế giao nhiều nhất có thể rồi về đưa tiền cho vợ. Chẳng có điều gì đặc biệt ở cuộc đời ấy lắm, cho đến một ngày anh nhận ra bỗng trở nên thật bức bối  mình “không quen ở mà trên đầu bị che bởi một mái nhà, và chung quanh là những bức tường có cửa sổ trổ ra lưng những tường nhà hàng xóm”. Cứ thế, tối nào cũng vậy, chàng nằm trên mái nhà nghiêng hai mươi ba độ rưỡi ngắm nhìn bầu trời của riêng mình, sung sướng với niềm vui được đếm sao. Chàng trai ấy ám ảnh với những gì đặc biệt. Trong suốt thiên truyện, rất nhiều lần chàng trai đã giới thiệu chiếc mái nhà nghiêng hai mươi ba độ rưỡi, tự hào như một lời khẳng định về điều riêng chỉ nhà anh có. Anh thích ngắm sao dường như cũng bởi nó cho anh một thế giới riêng: “một bầu trời lớn mênh mông, và không hề bị chia sẻ”. Anh nâng niu những điều kì lạ như vậy, có lẽ bởi chúng là những cái riêng anh khát khao mà không thể có ở cuộc sống đời thường, là khoảng thời gian ít ỏi mà chàng trai thấy mình được sống. Đáng buồn là chẳng ai hiểu chàng trai ấy cả. Chẳng hạn, người vợ của anh thì nghĩ: “Đối với nàng, tất cả những lí do tôi đưa ra đều không thể biện minh được cho một hành động điên rồ như thế, dù cho là một lối thoát cho một công việc cụ thể mà đơn điệu, hay nhằm chống đỡ những thứ rỗng tuếch mơ hồ cứ ngày lại ngày gặm mòn hết ý chí muốn được suy nghĩ một cái gì thật riêng đặc biệt cho riêng mình”.

Chúng ta có thể cũng đã từng giống như chàng trai này, ngày nào đó mỏi mệt, chợt giật mình nhận ra mình đang dần trống rỗng, tự hỏi mình đang sống vì ai, vì điều gì, tự hỏi mình có đang thấy hạnh phúc nữa không? Cái cảm giác mơ hồ ấy bám riết lấy những tâm hồn mỏi mệt, làm ta nghi ngờ cái vỏ ổn định của cuộc đời. Những lúc ấy, liệu ai dám đứng lên đi tìm một lối đi khác, hay sẽ như chàng trai trong truyện ngắn này chới với trên chiếc mái nhà ngắm sao để chạy trốn thực tại? Hai lần chàng trai bày tỏ: “Tôi không biết là nếu không leo lên mái nhà nữa thì sẽ làm gì ở dưới mái nhà”, là lời tóm gọn của một cuộc đời đang lâm vào cảnh chơi vơi, trống rỗng. Sau một ngày giao hàng như cái máy, hoàn thành nghĩa vụ kiếm tiền với vợ, anh tìm đến bầu trời đêm nở rộ ánh sao sa, những ánh sao bé nhỏ như những con người vô danh vẫn âm thầm tỏa sáng, có lẽ anh cần những ánh sao ấy thay anh nở rộ mỗi ngày… Mở ra một cuộc đời như thế dưới ngòi bút của mình, Phan Triều Hải phá tan cái vỏ đời sống mà ta vẫn tin là rất ổn, là bình thường, để lộ ra cái đời sống tinh thần thực sự phía sau nó. Sau cái đời sống tưởng chừng thanh thản của anh giao hàng đêm xuống lại lên nóc nhà ngắm sao ấy là một tâm hồn dậy sóng trước sự vô nghĩa và hữu hạn của đời mình. Anh chàng đếm sao ấy, đơn độc trên chiếc mái nhà nghiêng hai mươi ba độ rưỡi, lạc điệu trong cái nhịp sống nghìn năm vẫn thế của cái xã hội này, cái nhìn của bên lề về nhịp sống thường ngày ấy làm ta phải suy nghĩ về sự tồn tại ở vũ trụ này: “Những người đóng cửa luôn là bậc trụ cột trong nhà, phải cẩn thận, phải trách nhiệm. Khi họ chết đi sẽ có những thế hệ tiếp theo trưởng thành hơn kế tục công việc đó, đóng cửa và mở cửa” . Trong cái vòng xoay không ngừng ấy,chúng ta là ai, là ai trong hàng vạn hàng người sống rồi chết giữa vũ trụ này.

Điều tuyệt vời nhất của văn học đó là không đặt con người lên vị trí cao nhất để xưng tụng. Nó phá tung những mệnh đề ca ngợi vẻ đẹp, sức mạnh, sự thống trị của con người. Có lẽ chẳng ở đâu như trong văn chương, con người hiện lên vỡ vụn, yếu đuối đến thế. Trong xã hội hiện đại, con người ngột ngạt trong những thành phố lớn, dưới những căn nhà vuông vức, hối hả trên những con đường ngạt mùi khói bụi. Tất cả đều được nhào nặn dưới đủ mọi tiêu chuẩn từ những danh hiệu học sinh giỏi thời bé, đến bậc lương nghề nghiệp khi đã lớn lên. Loài người thường tự hào mình là loài thống trị thế giới, tự cho mình cái quyền năng chi phối muôn loài, chúng ta thích xếp hạng những loài vật theo trí thông minh, và cũng tự xếp hạng nhau bằng các quy chuẩn tự mình áp chế. Anh chàng nằm trên mái nhà ngược lại có một cái nhìn đầy mỉa mai về loài người: “Có những người mà tôi rất ghét, nhưng tôi cũng sẽ nói với họ như thế, bởi tôi thấy làm con người tưởng cao ráo lắm, nhưng ê ẩm có thừa”. Ê ẩm thật, khi cứ mãi phải chui trong những cái khung chật hẹp của xã hội, ê ẩm thật, khi ngẩng lên nhìn hai chữ Con Người viết hoa, chẳng thấy mình có gì xứng đáng. Ngòi bút của nhà văn thật sự  không ngần ngại mở ra những mảng tối tăm, ích kỉ, hèn mọn nhất vẫn tồn tại trong mỗi người. Không có con người văn chương nào đơn thuần là một Người viết hoa, nó là những người bình thường mang trong mình những mảng sáng tối, bối rối trên con đường đi vào bản thể, mỗi ngày vẫn mải mê tìm câu trả lời cho sự tồn tại của mình giữa vũ trụ. Tất cả chúng ta đều là những con người đúng nghĩa mang trong mình những điều cao cả và hèn mọn,cả phần Con và phần Người, và trong văn chương, thế giới ấy thừa nhận cả hai mảng sáng tối ấy, công bằng và tự nhiên. Có thể nói, đứng trước văn chương, mỗi chúng ta đều bình đẳng, đều đang đứng trong những hành trình riêng đi tìm định nghĩa về chính mình.

Văn học thúc đẩy mỗi chúng ta đi tìm ý nghĩa của đời sống. Văn học cùng với sự thật nó phản ánh là động lực thôi thúc để chúng ta vươn tới những giấc mơ, gieo vào trong ta những ý niệm về một cuộc đời thực sự có ý nghĩa, về cái gì đó vĩnh cửu, cao hơn cái hữu hạn và nhỏ bé của loài người. Với chàng trai nằm trên mái nhà ấy, động lực cuả anh là ngôi sao chổi Hale – bopp – ngôi sao hai ngàn bốn trăm năm mới tỏa sáng một lần. Cái lung linh,lấp lánh của những ngôi sao nhỏ bé vô danh đối lập với cái đời sống dưới nóc nhà của anh vốn là đời sống thật thực ra chỉ là đời sống tạm. Đó là đời sống ngột ngạt chẳng thể thỏa mãn được khát khao được có một cái gì đó cho riêng mình. Cái đời sống trống rỗng, chơi vơi ấy buộc độc giả phải nghĩ, phải nhìn lại đời sống của bản thân, phải bắt đầu hành trình đi vào bản thể, bắt đầu hành trình đi tìm định nghĩa bản thân, phải tìm ra điều ý nghĩa trong sự tồn tại vốn đã mong manh của loài người. Cái nhợt nhạt của đời sống ấy khơi dậy trong độc giả cái khát khao được sống căng tràn, sống tuyệt đối trong cả niềm vui và nỗi buồn, cả những niềm đau và cái chết.

Văn chương còn tìm trong sự thật đời sống cơ hội cho những giấc mơ, bởi hiện thực trong văn chương luôn là hiện thực chứa đựng những cái khả nhiên, những cơ hội mở đón chờ những kẻ dám mơ ước những điều điên rồ nhất. Anh chàng chỉ thích đếm sao ấy sợ phải xuống dưới nhà chắc bởi “Đến một lúc nào đó nhà chợt hóa chật hẹp như một cái khuôn, bước vào đó là bị ép vào những hình thù định sẵn”. Vậy mà nghe đến Hale – Bopp – ngôi sao chổi chỉ xuất hiện sau hai ngàn bốn trăm năm đã đồng ý với vợ, nếu anh được nhìn thấy sao chổi này một lần thôi, anh sẽ không bao giờ đòi ngắm sao nữa. Chỉ cần một lần thấy được ngôi sao hai nghìn bốn trăm năm mới tỏa sáng một lần, anh chấp nhận ở dưới mái nhà, dù trống rỗng, dù chơi vơi. Cái trống rỗng của chàng trai sau khi nhìn sao chổi lướt qua, đẹp đẽ và ngắn ngủi: “cái sao chổi ấy, nó đẹp thật đấy, và thiệt tình tôi chẳng biết còn phải đợi chờ điều gì hơn thế nữa”. Cái khát khao được có gì đó cho riêng mình, được sống một đời ý nghĩa đã biến thành việc theo đuổi sự hoàn hảo của Hale – bopp, ngưỡng mộ sự vĩnh hằng và kì diệu của nó. Và khi cái đẹp ấy lụi tàn, anh lại quay về với trống rỗng, về với cái sự thật đã đóng khung của đời sống, không còn ở trên mái nhà đếm sao nữa, chỉ còn cái cuộc sống rỗng tuếch, chẳng biết phải làm gì. Với bạn đọc, cái hiện thực mà Phan Triều Hải đã mở ra, khi nào đó bỗng làm ta nhìn lại mình và tự hỏi mình có đang sống trong những cái khung, một đời hữu hạn, nhỏ bé là thế, liệu có nên tiếp tục trong những trách nhiệm và thói quen? Câu chuyện có thể kết thúc ở những day dứt về ngày mai của chàng trai nhưng nó đã gieo vào lòng bạn đọc khát khao và dũng khí để tiến bước trên hành trình đi tìm chính bản thân mình.

Sự thật mà văn học phản ánh cũng là cánh cửa để chúng ta nhìn vào tâm hồn của kẻ khác, những kẻ mà cả xã hội chúng ta vẫn thường nhìn như khác người, lập dị, ngu ngốc hay dở hơi. Những người đi ngược đường với xã hội ấy, trăn trở với những điều chẳng ai muốn quan tâm, mải mê với những điều ai cũng đã vội quên mất. “Có một người nằm trên mái nhà” là chúng ta, là những người trẻ lạc hướng, trống rỗng trong những tháng ngày mưu sinh xô bồ, mỏi mệt, tự nhận ra có gì đó vô nghĩa trong những ngày tháng tưởng như đã ổn này. Tìm hiểu những tâm hồn của những kẻ bị đẩy ra ngoài vòng cương tỏa của quy chuẩn, trật tự, kì vọng xã hội, văn chương dạy ta cách bao dung và rộng mở, cũng dạy ta cách suy ngẫm cuộc đời mình qua cuộc đời kẻ khác, để cảm thông, tôn trọng và đổi thay.

Dấu ấn của chủ nghĩa lãng mạn trong văn hóa trẻ đương đại (bài 2)

Bài viết của Trần Nguyễn Lan Nhi, sinh viên lớp CLC K65 là bài viết thứ hai tôi muốn giới thiệu trong chủ đề “Dấu ấn của chủ nghĩa lãng mạn trong văn hóa trẻ đương đại.” Sau khi đăng bài viết đầu tiên của bạn Vũ Thị Kiều Chinh, chúng tôi đã nhận được những phản hồi rất thú vị. Mới đây, tạp chí “Văn nghệ quân đội” đã giới thiệu bài viết của Chinh. Nhờ đó, những suy nghĩ, những cách đặt vấn đề của Chinh có thể tiếp cận với công chúng rộng hơn nữa. Tôi hy vọng, đúng hơn, tôi tin rằng, bài viết dưới đây của Lan Nhi cũng có thể nhận được nhiều chia sẻ.

Bouquet with Flying Lovers c.1934-47 by Marc Chagall 1887-1985

*

1. Không biết có phải do đọc thơ Xuân Diệu suốt những năm 17, cho nên, có một điều lạ, tôi luôn cho rằng từ “trẻ” thực chất là cách viết giản quy của sự lãng mạn. Ngày mẹ tôi cầm đàn ghita và hát ở tuổi 47 (điều mà tôi chưa từng nhìn thấy ở bà bao giờ), tôi đã nói “Mẹ trẻ quá!”. Ý tôi là, với tư cách một đứa con, tôi nghĩ tâm hồn mẹ theo thời gian đã khô cằn đi nhiều bởi sự khó tính quá mức với đời sống gia đình cũng như bộn bề của công việc mưu sinh, nhưng, hóa ra cô sinh viên của 27 năm về trước vẫn còn: lãng mạn, sôi nổi và cũng điên rồ lắm. Thế nên, có lý gì mà không thể kết luận chủ nghĩa lãng mạn vẫn còn để lại những ảnh hưởng về cảm quan và thẩm mỹ trong văn hóa trẻ đương đại? Tôi hai mươi mốt và tôi trả lời “Có. Lúc nào cũng có.”

Chủ nghĩa lãng mạn bắt rễ vào nhiều khía cạnh của đời sống hiện đại. Những quán tính của văn học đôi khi trong những va đập của lịch sử không dủ khả năng để ngăn lại. Đến chừng nào, con người vẫn còn cần đến xúc cảm như một năng lực nhân tính, lãng mạn sẽ không mất đi. Nhất là ở thời kì này, cảm quan lãng mạn thực sự là một thứ sức mạnh tinh thần lớn. Nó trao cho con người một chiều kích để dám bình thường và một chiều kích để vĩ đại mà “dấn thân.”

“Một bài thơ cũ” của Lu hay “Đưa nhau đi đốn” của Đen được xem như là những tuyên ngôn, là mã hóa của đời sống giới trẻ đương đại. Tại sao những bài nhạc và phong cách thơ theo kiểu như thế lại trở thành trào lưu cho những tự sự của tuổi trẻ? Mà kiểu như thế là kiểu thế nào?

2. Mỹ học của thời đại mới trước hết là mỹ học nảy sinh từ đô thị. Đô thị lấp lánh thơm tho với cấu trúc bên trong như một cái máy say sinh tố vừa cắm điện, nuốt chửng và nhào nát từng cá thể bởi vô vàn những guồng quay của trách nhiệm, của mặc định xã hội, của tham vọng và của ước mơ “đầy tạm bợ”. Trong bước chân đầu tiên “gia nhập” vào cộng đồng ấy, những “gã trẻ” thấy lạc lõng và cô đơn khủng khiếp. Nó nhận ra thứ mình muốn và thứ người ta cần là sự vênh lệch quá lớn. Trong những đoạn dốc treo leo hướng đến lý tưởng của mình, nó bỗng chùn chân và muốn được “bình thường”. Nó ngại vội vã. Nó sợ ganh đua. Nó muốn được lắng nghe. Nhưng “ai cũng” là một lý do thỏa đáng. Thế giới đầy tính tự trị và quân chủ của một cá thể khiến cho phần còn lại của thế giới vẫn mãi là những “người lạ” không thể đồng điệu. Chính lúc này, nó tìm đến những hình thức biểu hiện khác nhau để giải phóng. Và viết, luôn là một sự an ủi lớn.

Chính nhà thơ Lu cũng chia sẻ anh chỉ viết khi cảm xúc đẩy anh phải viết. Anh viết rất tự nhiên. Anh viết về những gì anh cảm thấy, anh nhìn thấy. Anh viết về những người quanh anh, về anh, về Hà Nội. Những câu thơ bài hát trở thành lời tự thuật. Hiện thực mang tính phê phán bị dư thừa. Con người cần đến một sự lãng mạn để nhịp sống chậm hơn, để lắng nghe những cảm xúc và cảm giác bị xã hội tốc độ tua đi quá nhanh. “Anh về giữa Bùi Thị Xuân/ uống hai mươi cốc nhân trần cho say/thế thôi là hết một ngày”. Hai mươi cốc cơ mà. Ấy là những tự sự đầy mộc mạc, chân thật và “phản” đời thường khiến bài thơ tạo ra một sức hấp dẫn rất kì lạ. Như thể nó mở đường cho cái tinh thần “chống đối” đang nhen nhóm trong nhiều tâm hồn trẻ đang bị kìm chặt đến bí bách, ngột ngạt: “Bố anh thì đi lại/ Còn mẹ anh gọi điện thoại đến từng nhà/ Nhiều ngày rồi mình không về/ không liên lạc được gì cả/ chỉ vỏn vẹn lại mảnh giấy/ đừng lo đêm nay con đi chơi xa.

Xã hội đương đại đem đến cho người ta cảm nhận về một sự không ổn không thể gọi tên.Và văn hóa của giới trẻ là cách họ đối thoại lại với những sự không ổn ấy. “Ôi những thứ chán chường/ Không tẹo nào háo hức/ Mình rời thành phố chật chội náo nức/ Nơi mà việc thở cũng làm ta lao lực”; “đời cuốn xô ta/cả khi ta trống trong phòng ngủ/ âu lo theo về/ dù ta đã khóa ba lần cửa”. Họ không hề ổn với những bổn phận, ngay cả khi họ lựa chọn nó. Sự nâng đỡ về mặt đạo đức nay trở thành những gánh nặng.

3. Nếu như chủ nghĩa lãng mạn ghi dấu vào lối tư duy của người trẻ theo cách như thế thì cũng thật thú vị khi một vài những nguyên tắc mỹ học của nó cũng đi vào kết cấu nghệ thuật của các loại hình văn hóa giới trẻ.

Nếu trong chủ nghĩa lãng mạn cổ điển, con người đi vào thế giới của tôn giáo để thể hiện suy tư và niềm tin của mình, thì nay giới trẻ tạo lập cho mình một thế giới riêng – một thế giới có anh em,  một thế giới song song. Ngọt vẽ ra thế giới màu xanh: “Con đường màu xanh/ xanh màu lá, xanh đại dương/ không còn nhớ không còn thương/ em là nắng, anh là sương/ thiên đường màu xanh”. Với Vũ: “và xin đưa tôi về một nơi rất xa loài người, về một nơi phía sau mặt trời”. Ấy là thế giới lý tưởng đối với họ – nơi họ được sống là mình.

Hoặc thảng khi, họ quay về tìm lại quá khứ để trốn chạy hiện thực bất toàn và thiếu chắc chắn. “Ngày mai vẫn đến gió hát ngang trời/Còn mình nhắm mắt không nói một lời / lại được thấy mùa hè ta gặp nhau, lại được sống mùa hè ta gặp nhau”. Giống như Huy Cận cô đơn, lạc lõng tìm về với vần thơ Đường cổ kính, “Nhắm mắt thấy mùa hè” hình như cũng mượn giai điệu nhạc Hoa cổ để hoài niệm về những thứ xa xăm đã đi qua.

Nếu như ngày trước, Nguyễn Tuân – một cây bút lãng mạn được xem là nhà văn của chủ nghĩa xê dịch; thì nay, giới trẻ cũng “ngả mũ” học hỏi lối sống ấy. Xê dịch, quả thực, đem lại cho người ta những cảm giác thuộc về trải nghiệm cá nhân. Cảm giác bạn thuộc về nó nhưng cũng chẳng thuộc về nó; cảm giác về những tri nhận với mây trời, thiên nhiên thay vì là tòa nhà cao trọc trời, cảm giác được buông bỏ những bổn phẩn để “một lần được sống như những đứa nhóc không nhà/ sớm thức dậy ở một nơi xa”,… chưa bao giờ lại đáng đến thế.

Đặc biệt, vận dụng và quay về với các chất liệu dân gian “Em đừng xanh quá khổ anh/ khổ thân con cáo hóa thành cây si” hay ngôn ngữ bình dân, kiểu thơ con cóc “anh đứng đầu Hồ Đắc Di/ ngóng Lương Đình Của lầm lì gọi em/ em đừng lạnh lùng giống que kem/ để trong ngăn đá bỏ quên một tuần” cũng là một trong những biểu hiện của chủ nghĩa lãng mạn. Hay thậm chí cách phối nhạc với những làn điệu dân ca như trong “Ai chờ ai” (Linh Cáo) hay kết cấu tự sự kiểu Bolero trong “Ừ thì” khiến cho âm nhạc giới trẻ ngày nay bàng bạc những dấu vết của một thời ông cha. Nhiều người của thế hệ đi trước hay đánh giá tuổi trẻ bây giờ không sâu sắc, nông cạn. Bắt từ một mạch cũ để tạo ra một thứ riêng như thế có gọi là nông cạn được nữa không?

4. Những nghệ sĩ trẻ đem tâm trạng rất đời của mình để làm chất liệu cho những sản phẩm nghệ thuật. Và đúng như quan điểm của chủ nghĩa lãng mạn: “Khờ khạo thay nếu cho rằng tôi không phải là anh” (Victor Hugo). Mỗi tự sự của họ, tôi thấy mình trong đó. Và mỗi đêm về tôi vẫn lải nhải: “Vì sao lại khóc. Vì sao lại buồn? Vì sao mưa không về. Tôi nằm giữa mênh mông tôi thẫn thờ. Tôi nằm giữa căn nhà nhìn lên nắng.” dẫu rằng đông đã sang và chẳng còn nắng. Nhưng giống như thời cha mẹ tôi thích nghe nhạc Bolero vì họ tìm thấy mình trong ấy thì tôi cũng thế. Tôi nghe trong những loại hình văn hóa của thế hệ tôi những câu chuyện của mình. Tôi thích nó vì tôi tìm thấy một sự lắng nghe trong ấy – thứ mà đời thực không cho tôi quá nhiều. Tôi cảm giác mình được hiểu. Và thế là “ngày nắng đẹp rạng ngời hay gió về hay bão táp mưa rơi”, tuổi trẻ vẫn tiến lên một cách thật điên rồ và huy hoàng. Cái lý tưởng đẹp đẽ và sự vươn lên của con người trước hoàn cảnh như thế, phải chăng chính là điều còn lại của chủ nghĩa lãng mạn?

Trần Nguyễn Lan Nhi

SV lớp CLC K65, Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội