Tag Archives: văn học Mỹ

Nhật ký đọc sách: “Beloved” (Toni Morrison)

leahhoelscher_beloved

1. Nhà văn Nga Mikhail Prishvin từng có một suy tư làm tôi ngỡ ngàng vì độ sâu sắc của nó. Ông bảo, chúng ta vẫn hay nghĩ trên đời này còn có gì xinh đẹp hơn, tự do hơn một chú chim. Ta vẫn ngước nhìn với niềm ngưỡng vọng hình ảnh một con chim sải cánh giữa bầu trời khoáng đạt kia như là sự phóng chiếu của khát khao lớn nhất trong ta. Nhưng có ai để ý rằng dưới đôi cánh của con chim ấy là những chỗ sưng u đau đớn. Tự do, để có nó, phải trải qua đau đớn, phải chấp nhận giá của nó luôn là cái giá nghiệt ngã nhất. Và bởi thế lựa chọn tự do của con người luôn là sự lựa chọn nhọc nhằn và đồng thời cao cả hơn hết thảy.

Văn chương không chỉ ngợi ca tự do, nó tìm cách để ta thấy được nỗi đau đớn để được tự  do và cả sự can đảm tột cùng khi dám đau đớn, thậm chí, dám chết, để tự do.

2. Có đến ba bản dịch Beloved (1988) của Toni Morrison ở Việt Nam với cách đặt tựa khác nhau ít nhiều: Người yêu dấu (bản dịch sớm nhất, của Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Thanh Tâm), Thương (bản dịch của Hồ Như) và Yêu dấu (bản dịch của Thiên Nga). Đáng ra sự xuất hiện của bà ở Việt Nam cũng là một đề tài thú vị cho giới nghiên cứu: hình ảnh người da đen trong văn chương Mỹ được dịch, được dẫn nhập như thế nào vào trong ngữ cảnh Việt Nam hẳn hàm chứa những tự sự nhỏ, thú vị, và đương nhiên phức tạp, về cách mà người Việt chúng ta hình dung về lịch sử nước Mỹ. Nhưng câu chuyện học thuật luôn là câu chuyện không thể nói đôi ba câu trên mạng là xong xuôi.

Ở lần đọc lại thứ hai cuốn tiểu thuyết này, sau khi nghe tin nhà văn qua đời, tôi mới thật sự có cảm xúc về nó, chứ không chỉ dừng lại ở việc có thêm một ý niệm về Toni Morrison. Beloved là thứ văn chương coi việc gây nhức nhối cho người đọc là trách nhiệm của nó. Nó là thứ văn chương nhìn thấy những tình huống khốc liệt nhất mà con người – hay đúng hơn, theo tôi nghĩ, việc làm người – bị đặt vào. Ở trong tác phẩm này, câu hỏi đó không phải là sự lựa chọn giữa sống và chết, cũng không phải là sự lựa chọn giữa việc phải sống thế nào – xét đến cùng, khi còn bị đối diện với những câu hỏi như thế, con người còn chưa bị chạm đến đáy của sự thống khổ của việc làm người. Câu hỏi đặt ra ở đây, cay đắng hơn nhiều, bởi nó là câu hỏi về sự lựa chọn “Con người được chết như thế nào?”. Nói như lời của Sethe – nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết – với đứa con gái mà chị từng giết: “Nếu mẹ không giết con thì con sẽ chết ra sao?” Câu hỏi nghịch lý ấy là câu hỏi buốt nhói nhất khi tôi đọc Beloved, ở cả lần thứ nhất lẫn lần thứ hai này.

3. Beloved, như chia sẻ của Toni Morrison, là cuốn tiểu thuyết khởi sinh từ nỗi ám ảnh của nhà văn về một câu chuyện có thật, về  Margaret Garner, một người phụ nữ da đen đã giết chết con gái mình còn hơn để nó quay trở lại với thân phận nô lệ. Câu chuyện có thật rất khốc liệt này là chất liệu để văn chương đặt ra câu hỏi về khả năng cảm thông của chúng ta. Và câu hỏi mà “Beloved” buộc độc giả của mình phải đối diện là câu hỏi không hề dễ dãi. Cả trong Mắt biếc (The Bluest Eye) và Beloved – hai cuốn tiểu thuyết của Toni Morrison được dịch ở Việt Nam tính đến thời điểm này – đều cho thấy Morrison là ngòi bút lách rất sâu vào những mặc cảm tội lỗi của con người: những ám ảnh, những sự rối trí,  sự kiệt quệ khi con người không thể cắt đứt quá khứ để sống trong hiện tại. Nỗi quằn quại khổ đau ấy là trạng thái vực thẳm tinh thần mà Morrison không cho phép ngòi bút của mình được khoan nhượng. Và  nghệ thuật kể chuyện của bà còn phức tạp hơn những gì tưởng như đã rất hợp lý trong kết luận của tòa án về vụ việc của Garner, theo đó, việc Garner được miễn tội trong vụ giết đứa con hàm ý bà đã bị xử không phải như một con người kèm theo những trách nhiệm của mình. Nhưng thực chất khó thể coi đó là một phiên tòa công lý bởi xét đến cùng, dù thế nào Garner cũng chết: “chết sớm như một kẻ giết người hoặc chết chậm như một nô lệ bị đổi xử tàn ác” (trích Nguồn gốc của ngoại tộc, Toni Morrison, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Tiến Văn, Tao Đàn, & NXB Hội nhà văn 2018). Phiên tòa ấy, trên thực tế, cũng ném trả Garner về lại kiếp sống nô lệ cho đến khi bà bị qua đời vì bệnh thương hàn vào năm 1858. Điều mà Morrison muốn làm gợn lên ở người đọc còn là liệu có chăng khả năng cảm thông nào dành cho Beloved – đứa bé bị giết chết, quay trở lại ám mẹ nó, vắt kiệt mẹ nó, và bị cộng đồng da đen ấy nhìn như một hình tượng nghịch dị, một con quỷ “trần truồng”, “khoác lấy hình hài của một phụ nữ có thai”, “mỉm cười tươi rói”…

Nhưng Beloved không chỉ là một tác phẩm đào sâu vào thế giới tinh thần của những thân phận thống khổ. Điều làm nó là cuốn tiểu thuyết đáng để đọc lại để nghĩ cùng với những câu hỏi mà Toni Morrison nêu lên thông qua số phận của Sethe đấy chính là sự chất vấn lịch sử. Nước Mỹ vốn được hình dung là xứ tự do, song thứ tự do đã trở thành biểu tượng của đất nước này phải chăng luôn làm mờ đi những dấu tích bạo lực trong lịch sử đã hằn lên thân phận người da đen? Như tấm lưng của Sethe mà trên đó những vết đòn roi tra tấn đã tượng hình thành một cái cây kỳ lạ. Có một thứ mà cái giá trị của văn hóa trung tâm luôn cố gắng tích trữ và bơm vào tâm trí của con người hiện thời, nhờ đó, những bóng ma của quá khứ có thể bị đuổi xua, bị gạt mãi ra bên lề là sự quên lãng. Tiểu thuyết của Toni Morrison làm tôi nhớ đến Những đứa con của nửa đêm của Salman Rushdie khi cả hai tác phẩm đều chia sẻ nỗi lo âu trước nguy cơ lịch sử bị giản lược bởi sự lãng quên. Tiểu thuyết, trong tình thế này, phải coi chống quên lãng như một trách nhiệm của mình.

Sự kéo dài của tình trạng phân biệt chủng tộc ở nước Mỹ cho đến giữa thế kỷ XX và việc bạo lực tái phát từ nguyên nhân này trong những năm gần đây cho thấy đây chính là vết thương chưa bao giờ được chữa lành trong lịch sử quốc gia này. Trong “Nguồn gốc của ngoại tộc” – cuốn tiểu luận của Morrison vừa được dịch sang tiếng Việt gần đây, có thể thấy rõ hơn cái nhìn thấu đáo của nhà văn về một “truyền thống”  phi nhân hóa “Kẻ khác” là nguồn cơn của bạo lực được duy trì trên đất nước vốn được xem là biểu tượng của quốc gia tự do. Thiết nghĩ, với Beloved, Toni Morrison đã không chỉ đứng ngoài các đại tự sự về lịch sử quốc gia, bà còn điềm tĩnh tách khỏi đại tự sự của cộng đồng da đen về lịch sử của mình. Không phải vô cớ, “Beloved” – tên của đứa bé bị mẹ giết, hồn ma ấy mới trở thành tên của cuốn tiểu thuyết, thay vì Sethe – nhân vật có nguyên mẫu trong lịch sử. Câu chuyện về Beloved có thể cũng bị cộng đồng da đen lãng quên như một cơn ác mộng cần phải quên, song nhà tiểu thuyết vẫn phải là kẻ điềm tĩnh hơn cả. Để trụ lại. Nhìn xuyên qua cơn ác mộng ấy. Lắng nghe một tiếng nói có vẻ như rất dễ chìm dần theo thời gian. Một tiếng nói cầu xin một nụ hôn. Cho Yêu Dấu.

Nhật ký đọc sách: “Moby Dick” – cuốn tiểu thuyết huy hoàng

whale_crop_2_1050x700

Tôi đọc “Moby Dick” trong những ngày cao điểm nắng nóng ở Hà Nội. Trước đó, tôi không có ý định quay lại cuốn tiểu thuyết này của Herman Melville mà mình đã bỏ dở mùa hè năm ngoái. Có lẽ cái nắng nóng có một tác dụng tích cực khi nó làm giảm bớt đáng kể những mối phân tâm của tôi. Nó làm tôi nhận ra việc mình vẫn thích làm hơn cả mỗi khi đóng cửa với thế giới bên ngoài vẫn cứ là đọc sách. Không ngờ ngọn gió hư cấu trong văn chương Melville đã cuốn tôi đi miệt mài, đến mức trong mấy ngày ấy, tôi gần như không muốn làm công việc nào khác ngoài việc đọc sách. Tôi bỏ qua những việc đến hạn phải hoàn thành, bởi nghĩ như thế là mình xây đập chắn trước dòng chảy dào dạt của văn chương Melville.

“Moby Dick” đưa tôi trở lại khoái cảm đọc văn chương sử thi mà đã lâu rồi mình không trải nghiệm lại. (Có lẽ từ thời sinh viên, khi tôi có thể dành cả tuần để đọc trọn Ramayana, Mahabharata hay “Chiến tranh và hòa bình” – pho tiểu thuyết mà tôi luôn nghĩ mình cần phải đọc lại thêm ít nhất một lần nữa khi còn trẻ.) Đọc “Moby Dick” là trải nghiệm không gian vũ trụ hoành tráng, là đi vào những trường đoạn mô tả tỉ mỉ về loài cá voi, về những vật dụng trên tàu – những mô tả không khỏi làm ta nhớ đến cách Homer khắc họa tấm khiên của Achilles trong sử thi Hy Lạp cổ đại, và tất nhiên, những cảnh tượng săn đuổi con quái vật của đại dương. Ở những trường đoạn ấy, Melville cho thấy ngôn từ văn chương có sức mạnh biểu đạt phi thường như thế nào: không một chi tiết nào được miêu tả chung chung, từ vựng của cuốn tiểu thuyết phong phú và giàu sắc thái. Nói như vậy cũng để thấy sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết này ở Việt Nam xứng đáng được coi là kỳ tích dịch thuật. Ấn bản của Nhã Nam, theo tôi biết, là ấn bản in lại (có biên tập và hiệu đính lại) bản dịch “Moby Dick” đã được dịch toàn văn ở Sài Gòn từ trước 1975. Tôi nghĩ bản thân đây đã là một đề tài nghiên cứu hay: trong ngữ cảnh nào, “Moby Dick” lại được chọn và dịch ở Việt Nam? Sự hiện diện ấy tại sao lại được ít nhắc đến trong nghiên cứu lịch sử dịch thuật ở Việt Nam? Các dịch giả ở đây làm cách nào có thể chuyển hóa một vùng ngôn ngữ cực kỳ phức tạp và phong phú gắn với biển cả, với sinh vật học, hải dương học – những lĩnh vực mà ngôn ngữ của chúng có lẽ chưa được vun đắp nhiều trong tiếng Việt? Văn phong dịch thuật của Moby Dick với tôi gợi được cái uy nghi của một thông điệp sử thi, cái trác tuyệt của cảm thức vũ trụ, cái trữ tình trong suy tưởng. Nói như ý của Melville, nước luôn là không gian nuôi dưỡng những trầm tưởng của con người.

“Moby Dick” là một tiểu thuyết sử thi không phải chỉ vì chiều kích hoành tráng của không gian và tính chất phổ quát của xung đột trong tác phẩm: xung đột giữa con người với tự nhiên, xung đột giữa con người với khát vọng vượt lên những giới hạn của bản thể con người. Tính sử thi của nó còn thể hiện rõ ở phẩm chất bách khoa thư. Đọc “Moby Dick” làm tôi nhớ về thời kỳ mà tiểu thuyết không giấu tham vọng có thể phơi bày được toàn cảnh hiện thực cũng như đi vào tận ngóc ngách những gì vi mô nhất của đời sống, thời Victor Hugo còn có thể đem vào tiểu thuyết cả một chương sách dài về hệ thống cống ngầm hay Leo Tolstoy đã dành cả phần cuối “Chiến tranh và hòa bình” đã biện luận cho quan điểm triết học của mình về lịch sử. Một thứ tham vọng như thế của tiểu thuyết có vẻ như ít bắt gặp hơn trong ngữ cảnh hậu hiện đại bây giờ khi câu chuyện của tiểu thuyết bị phân mảnh hóa, chỉ còn là những vi tự sự. “Moby Dick” không chỉ là một từ điển dưới dạng thức tự sự về cá voi, nó còn là một ngụ ngôn về chính trị trong đó những suy tư về dân chủ của Melville có tính chất thấu thị thực sự, điển hình là ở chương “Con cá bị cột lại và con cá tuột dây.” Thuyền trưởng Ahab trong tác phẩm cũng là biểu tượng của một thủ lĩnh cuồng tín và lôi cuốn tất cả mọi người vào trong tham vọng báo thù của mình. Những suy tư về khả năng cộng hưởng văn hóa, về tham vọng bá quyền… là những nội dung chính trị trong cuốn tiểu thuyết đến giờ vẫn còn sức vang vọng. Không hề vô cớ khi “Moby Dick” được nhiều người tìm đọc lại sau sự kiện 11/9.

Nhưng với tôi, “Moby Dick” còn đích thực là một trường ca huy hoàng. Nó là một cuốn tiểu thuyết vừa dữ dội, khốc liệt, vừa sâu lắng, trầm tĩnh. Ngôn ngữ của tiểu thuyết là một thể trùng phức đặc biệt: luôn có những tín hiệu làm ta buộc phải tìm ra những quy chiếu về các biểu tượng, các điển tích trong Kinh Thánh và các huyền thoại trong kho tàng văn hóa nhân loại. Văn bản cuốn tiểu thuyết vì thế vẫn cứ là một câu đố kỳ vĩ luôn thách thức mọi khả thể diễn giải, đến nỗi có cả một tạp chí ra thường niên chỉ tập trung nghiên cứu về “Moby Dick” – tạp chí “Leviathan”.  Cá nhân tôi khi đọc tiểu thuyết đã thật sự nghĩ mình cần phải viết một nghiên cứu nào đó về cuốn tiểu thuyết này và rồi lập tức bị phát ngợp trước khối tư liệu mênh mông xung quanh nó.

Vậy thì trong lúc tôi chưa thể phác thảo được một ý tưởng nghiên cứu cụ thể nào, tôi chép lại đây một trích đoạn mà tôi đã phải dừng lại một lúc để ngẫm về nó trong nỗi hàm ơn sâu sắc:

“… Mặt trời không che được đại dương, là phía tăm tối của quả đất, chiếm mất hai phần ba quả đất. Vậy nên, kẻ phàm trần nào kia tự thấy nơi mình nhiều vui hơn buồn, kẻ ấy không thể nào thành thực – không thành thực hay còn là ngu dốt. Với sách vở cũng vậy. Thành thực nhất trong mọi con người là Con người của Đau buồn, quyển sách thành thực nhất trong mọi quyển sách là cuốn sách của Solomon, và Ecclesiastes là chất thép của sự đau buồn đã được tinh rèn. “Tất cả là phù phiếm.” TẤT CẢ…”

 

 

 

 

 

Stephen Dunn – Sisyphus và cái nhẹ đột nhiên

Stephen Dunn (1939) là nhà thơ Mỹ. Ông từng được giải Pulitzer về Thơ ca năm 2001 cho tuyển tập Different Hours. Ngoài ra ông còn nhận được một số giải thưởng thơ ca uy tín khác của Mỹ. Tôi dịch bài thơ này, như để đáp lại những câu hỏi, những chia sẻ từ những người bạn trẻ mà may mắn, tôi đã được lắng nghe họ.

napleskrater20156_sisyphus-1300x920

 

Cứ như thể ông có cánh và gió mát rượi sau lưng.

Thậm chí trên đỉnh đồi,

tảng đá dường như tự lăn theo ý chí riêng của nó.

 

Mọi con đường đều chỉ như một lối tắt.

 

Sisyphus, đương nhiên, lo lắng;

ông dường như phụ thuộc vào gánh nặng mình mang,

ông không chắc mình là ai nếu không còn nó.

 

 

Tay không biết làm gì, ông bèn bóc trái cam

Và dừng lại cho chó ăn một múi.

Nhưng rồi ông lại tiếp tục đi, đi mãi

Ông sợ những hậu quả của việc đứng im.

 

Ông không còn muốn cả việc nhếch môi cười.

 

Đó là lúc Sisyphus nhận thấy

hẳn mọi thần linh đã biến mất rồi,

rằng đôi cánh của ông

là gì đâu  – ngoài cảm giác về sự không hiện hữu ấy.

 

Ông cả gan giơ nắm đấm về phía trời.

Chẳng có gì xảy ra, chẳng có hào quang nào lấp lánh

 

Rồi chiếm lĩnh tâm trí ông là một cơn sợ hãi khác.  

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Stephen Dunn, “Sisyphus and the Sudden Lightness”,  Poetry, October, 2002.

 

John Clellon Holmes – Triết học của thế hệ Beat

Tôi vẫn nghĩ nếu có điều gì thú vị nhất trong công việc chữ nghĩa mà tôi đã cố gắng theo đuổi nó một cách bền bỉ trên blog (kể từ thời Yahoo 360) thì đó là ngoài việc được chia sẻ, tôi đã có cơ hội để gặp gỡ, để kết nối và học hỏi. Tôi đã gặp dịch giả của bài viết này, dù trước đó, tôi đã đọc thơ, nghe ca từ của ông, đọc các tiểu thuyết mà ông dịch và rồi gần đây được trò chuyện với ông. Một cuộc trò chuyện mà nỗi xúc động vẫn còn trở lại trong suy nghĩ của tôi. Bài dịch này, ông gửi cho tôi và tôi nghĩ nó như một món quà đầy ý nghĩa. Tôi muốn chia sẻ món quà ấy với mọi người qua blog này.

 

on_the_road.cover_by_kerouac

*

Tháng Chín năm 1957, người ta cho xuất bản một cuốn tiểu thuyết mà tờ New York Times đã gọi là “lời tỏ bày quan trọng nhất, rõ ràng nhất và được xử lý điệu nghệ nhất” nhưng lại do một nhà văn rất trẻ viết ra; một cuốn sách dường như đại diện cho cả thế hệ lúc bấy giờ, như cuốn Mặt trời vẫn mọc đã đại diện cho thế hệ những năm Hai Mươi. Cuốn sách mang tựa đề On the Road (Trên đường) của Jack Kerouac, mô tả những kinh nghiệm và thái độ của một nhóm thanh niên Mỹ hiếu động, “Cuồng lên vì sống, cuồng lên vì nói, và cuồng lên vì cứu rỗi”, những kẻ mà dường như sự quan tâm chủ yếu của họ là xe hơi tốc độ cao, những bữa tiệc điên rồ, nhạc jazz hiện đại, tình dục, ma túy, và những “thú vui” linh tinh khác. Kerouac nói rằng họ là những thành viên của Thế hệ Beat. Là người phát ngôn của thế hệ mình, Kerouac bỗng kinh ngạc thấy mình đứng giữa một cuộc tranh luận nảy lửa. Báo chí lần theo dấu vết của anh; giới phê bình, tiếp theo bài bình luận tóm tắt đầu tiên, bắt đầu nhạo báng những lời của anh hoặc ca tụng anh; và trên một cuộc phỏng vấn truyền hình, đám khán giả mê mẩn của New York được nghe những mẩu đối thoại không đầu không đuôi, gần như không thể hiểu nổi, đại loại như sau:

Phóng viên : “Anh đã nói – nửa đùa nửa thật – rằng anh say xỉn đã hai ngày nay”.
Kerouac : “Ồ, không phải tôi đã say xỉn hai ngày nay mà là tôi đã uống rượu suốt hai ngày”.
Và một đoạn nữa :
Phóng viên : “Thế hệ Beat được mô tả như một thế hệ kiếm tìm. Vậy anh đang tìm cái gì ?
Kerouac : “Thượng đế. Tôi muốn Thượng đế cho tôi gặp Ngài”.

Có lẽ không ai thực sự hiểu Kerouac định nói gì, và thực tế, một số nhà phê bình còn khẳng định rằng những kẻ theo chủ nghĩa khoái lạc này không đại diện cho cái gì cả, ngoài “tính đồng bóng”, đó là “những gã khùng cả về tinh thần lẫn đạo đức” và là “những cuộc khởi nghĩa tư sản”. Dù sao đi nữa, có những điều về cuốn sách đó, về những ngôn từ đó, không thể bị gạt bỏ dễ dàng. Cuốn sách đã trở thành đề tài của một cuộc tranh luận nóng bỏng, hệ quả đương nhiên là bán rất chạy, và những lời nói bị tắc nghẹn, ít nhất là trong cổ họng những kẻ chối rằng không có gì đáng lưu tâm.

Những gì mà Kerouac đã tặng cho chúng ta có lẽ là một cái nhìn thấu vào bên trong thái độ của cả một thế hệ đã khiến cho cha anh của họ phải kinh ngạc. Nhạc rock and roll, ma túy, tội phạm vị thành niên, thái độ phi luân lý về tình dục và tất cả những hiện tượng tương tự đã phác họa những đặc điểm riêng ở những thái cực của thanh niên Mỹ hiện đại dường như là mối bận tâm chủ yếu của các nhân vật của Kerouac.

Đưa ra một từ ngữ có thể kết tinh tính cách của cả một thế hệ luôn luôn là một công việc bạc bẽo. Nếu thế hệ sau chiến tranh dường như đòi hỏi một cái gì đó hơn những kẻ khác, có lẽ đó là vì những thành viên của thế hệ sau chiến tranh có chung một kinh nghiệm sống thống nhất đến mức khác thường được chia sẻ trong một thời kỳ đầy ấn tượng. Nhưng để tìm được một từ có thể mô tả nhóm người từ 18 đến 28 tuổi của Thế hệ Beat (có thể xê dịch hai giới hạn này thêm 1 tuổi nữa) còn khó hơn nhiều, vì nhóm này bao gồm những cựu chiến binh của ba loại chiến tranh hiện đại khác nhau : chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh, và một cuộc chiến mà người ta ngoan cố không gọi là chiến tranh, mà là hoạt động của cảnh sát.

Vài năm trước, tờ tạp chí Time đã gọi họ là Thế hệ Câm lặng (Silent Generation), nhưng có lẽ đó là vì Time đã không chịu lắng nghe. Một số người khác thử gọi họ là Thế hệ Chờ đợi (Waiting Generation), một số khác là Thế hệ Ra đi (Go Generation) nhưng dường như tất cả đều không thỏa đáng. Giờ đây, với từ “Beat”, cuối cùng chúng ta có thể có biệt hiệu của họ. Bất cứ ai đã từng sống qua một cuộc chiến, bất kỳ loại chiến tranh nào, đều biết rằng từ “Beat” không hàm nghĩa “sự mỏi mệt” bằng nghĩa “sự non nớt về nghị lực”, không hàm nghĩa “đầy ứ đến tận cổ” mà là “trống rỗng từ bên trong”. Nó mô tả một trạng thái tinh thần mà mọi vấn đề không thiết yếu đều bị tước bỏ, khiến cho nó có thể tiếp nhận mọi thứ xung quanh, nhưng lại thiếu kiên nhẫn trước những trở ngại tầm thường. To be Beat – bị đánh bại – nghĩa là xuống đến đáy nhân cách của chính mình và nhìn lên; nghĩa là tồn tại theo Kierkegaard, chứ không phải theo Jean-Paul Sartre.

Cái đã khiến những nhân vật của On the Road trở thành khác biệt, từ những tên tội phạm ở khu ổ chuột đến những người Digan du cư đập tan mọi biểu tượng thần thánh, tất cả đều là thứ nguyên liệu thô chủ yếu của tiểu thuyết Mỹ hiện đại – cái đã khiến họ trở thành Beat – đó là điều chọc tức các phê bình gia nhiều nhất. Chính Kerouac nhất quyết khẳng định rằng thực ra họ đang tìm kiếm, và mục tiêu cụ thể của cuộc săn lùng ấy thuộc về tâm linh. Mặc dù họ chạy tới chạy lui khắp nước Mỹ với những cớ nhỏ nhất, sưu tập mọi thú vui trên đường đi, cuộc hành trình thật sự của họ là ở trong tâm hồn; và nếu như họ có xâm phạm gần như tất cả mọi ranh giới cấm, cả luật pháp cũng như đạo đức, thì cũng là vì họ hy vọng tìm thấy đức tin ở phía bên kia ranh giới ấy. Kerouac nói: “Thế hệ Beat cơ bản là một thế hệ tín ngưỡng”. Và sau đó trong một cuộc phỏng vấn, Kerouac bình luận thêm: “ Thế hệ đó bao gồm tất cả những kẻ từ 15 đến 55 tuổi thích đào bới mọi thứ. Hãy nhớ rằng chúng ta không phải dân Digan. Beat có nghĩa là Điều Phúc Lớn (Beatitude) chứ không phải Bị Đánh Bại (Beat up). Bạn cảm nhận được điều đó, cảm nhận trong một tiết tấu nhạu jazz – thứ jazz đích thực và buồn bã – hay một số bản nhạc rock chân chính”.

Mặt ngoài của vấn đề, thật kỳ lạ khi thấy rằng các bậc cha mẹ, các nhà lãnh đạo, các nhân viên chính phủ và thậm chí cả các nhà phê bình văn học cũng phải phì cười, nổi giận, hoặc nhảy dựng lên kinh ngạc trước những hành vi ứng xử của thế hệ này. Trong những năm sau đó, họ nhận thấy có nhiều kẻ tội phạm, nhiều sự thái quá và vô trách nhiệm về mặt xã hội họ ở thế hệ này hơn bất cứ thế hệ nào khác; đồng thời họ cũng ít thấy sự quan tâm đến chính trị, hoạt động cộng đồng và những tín điều chính thống hơn. Họ cảm thấy bị xúc phạm vì sự suy đồi của James Dean, thấy trong đó dấu hiệu của một tinh thần ốm yếu. Họ cũng bị xúc phạm không kém vì sự suy đồi của Elvis Presley, thấy trong đó dấu hiệu của nhục dục đầy nguy hiểm. Họ đọc những con số thống kê về nạn tiêm chích ma túy, tình trạng lộn xộn về tình dục và con số tổng kết nạn nghiện rượu của thanh niên – rồi tái mặt đi. Họ than thở cho sự kiện là “tác phẩm (văn học) trinh nguyên nhất của đất nước này đã đi đến chỗ dựa vào cái dị thường và kỳ quặc để có được những kích thích sáng tạo”, và họ bày tỏ nỗi kinh sợ trước loại tội phạm vị thành niên – đầy bạo lực và không có đối tượng – đã bùng nổ ở hấu hết các thành phố lớn nước Mỹ.

Họ đã không thấy những dấu hiệu của một cuộc tìm kiếm các giá trị tinh thần trong một thế hệ mà những anh hùng của họ hoàn toàn là sự đảo ngược của truyền thống cổ điển bao gồm nhạc sĩ jazz Charlie Parket, diễn viên điện ảnh James Dean và nhà thơ Dylan Thomas; một thế hệ mà sự quan tâm trải rộng từ nhạc bebop đến rock and roll, từ phép thôi miên đến Thiền của Phật giáo, từ dược phẩm gây ảo giác đến xảo thuật điện ảnh. Người ta nói rằng đó là một thế hệ có mối quan tâm gần như độc nhất là việc khám phá ra một điều gì đó mà để tin tưởng, dường như họ phải công khai chống đối những bằng chứng của chính điều đó.
Nhưng dù rằng, bất cứ ai đọc báo, xem ti-vi hay xem phim, cũng có thể trở nên quá quen thuộc với hành vi của Thế hệBeat, hầu như không người nào quan tâm đến thái độ ẩn giấu sau những hành vi đó, bất chấp sự thật là không chỉ những gì họ làm, mà cả những gì họ nghĩ, cũng cho ta một cái nhìn vào bên trong con người họ.

Có lẽ mọi thế hệ đều cho rằng mình được kế thừa “thế giới tồi tệ nhất trong mọi thế giới”, nhưng chỉ có Thế hệ Beat là những kẻ gào lên nhất cái cảm giác đó so với mọi thế hệ trước. Hoàn cảnh lịch sử đã hình thành thái độ đó đầy bạo lực, và nó cũng tạo ra vô số bạo lực trong các ý tưởng cũng như trong những con người tin vào các ý tưởng ấy. Người ta không cần phải nhận thức rõ ràng sự hủy hoại này mới cảm thấy nó. Những tín điều chính thống về cái xấu và cái tốt ngày càng không thoải đáng để giải thích một thế giới mà khoa học viễn tưởng trở thành hiện thực, kẻ thù trong quá khứ trở thành bạn tri kỷ, và những hoạt động ngoại giao đầy thân thiện bỗng trở thành bờ vực của chiến tranh. Những thế hệ trước có thể đau buồn, mỉa mai cay độc hay thờ ơ với thế giới, hoặc có thể điều chỉnh quan niệm của mình về thế giới, nhưng Thế hệ Beat chính là sản phẩm của thế giới này, và đây chính là thế giới duy nhất mà họ được biết.

Đó là thế hệ đầu tiên trong lịch sự nước Mỹ đã lớn lên với chương trình huấn luyện quân sự được chấp nhận như một nền tảng của cuộc sống. Đó là thế hệ đầu tiên mà đối với họ, những lý luận suông của môn tâm lý học đã trở thành món ăn tinh thần quen thuộc đến nỗi họ dám cho rằng chúng chưa phải là thước đo cuối cùng của tâm hồn con người. Đó là thế hệ đầu tiên, mà tội diệt chủng, phương pháp tẩy não, điều khiển học, nghiên cứu hành vi – và giới hạn khái niệm về ước muốn của con người – cũng trở nên quen thuộc như khuôn mặt của chính họ. Đó là thế hệ đầu tiên mà khả năng một cuộc hủy diệt thế giới bằng vũ khí nguyên tử trở thành câu trả lời cuối cùng cho mọi câu hỏi.

Nhưng thay vì sự cay độc hay thờ ơ thường đến cùng với kết cục của những thần tượng, và đã đem cho Thế hệ Lạc lõng một bản tính hơi già cỗi nhưng thơ mộng, thế hệ Beat lại quá mãnh liệt, quá căng thẳng, quá cường tráng và quá tò mò để có thể đi theo cha anh. Không có gì có thể thỏa mãn hay hấp dẫn họ ngoài những thái cực. Ở bất cứ đâu, thế hệ Beat cũng bị chiếm lĩnh bởi việc đưa ra những lời giải đáp – đôi khi gây kinh hoàng, đôi khi ngu ngốc – cho một câu hỏi duy nhất: Chúng ta phải sống như thế nào? Và nếu như điều đó không dễ dàng nhận ra trong những tay đua mô-tô mặc áo khoác da, hay những thanh niên hippie đang “đào bới phố phường”, là vì chúng ta cho rằng chỉ có những lời giải đáp có thể nhận diện một con người – là một sinh vật sống cộng đồng – mới có giá trị, mà chúng ta không chịu nhận ra rằng thế hệ này không thể hiểu được câu hỏi đó bằng cách nào khác ngoài cách diễn giải của riêng mỗi người, và họ chỉ biết rằng câu trả lời duy nhất được chấp nhận sẽ nảy sinh từ đêm tối của tâm hồn mỗi cá thể.

Nếu Hemingway và Fitzgerald viết sách về Thế hệ Lạc lõng, họ cũng đã sống cuộc sống của thế hệ họ (cuộc sống lưu vong nghiện ngập, của những trò vui nhộn tuyệt vọng và sự cay độc khắc nghiệt) thì Kerouac cũng đã từng trải không ít với thế hệ mình. Nhiều năm trước, khi cuốn sách đầu tiên của anh được xuất bản và trước khi anh hội nhập vào đời sống văn học ở New York một thời gian, anh đã nói với vẻ ghê tởm : “tôi phải quyết định chọn lựa giữa cái này và những chiếc xe tải xộc xệch trên các xa lộ nước Mỹ. Và tôi nghĩ rằng tôi sẽ chọn những chiếc xe tải, nơi tôi không phải giải thích gì cả, và nơi không có gì phải giải thích thì chỉ có sự thật”. Anh đã bám chặt vào quyết định đó. Tiếp theo là một kiểu tồn tại nay đây mai đó – nhảy tàu xe, những công việc lặt vặt, vài đoạn văn viết ở San Francisco, Denver, New York và Mexico (“Enest Hemingway viết đúng hay sai làm sao chúng ta biết được, nếu chưa bao giờ tận mắt xem một trận đấu bò?”). Tiếp theo đó là khám phá về một thái độ sống mới mà giới trẻ mọi nơi cùng chia sẻ ở một mức độ nào đó.

Vào khoảng thời gian cuốn On the Road được xuất bản, anh đã hiểu thấu cái nửa chìm khuất của nước Mỹ (những xa lộ và đám trẻ hippie), trong khi có lẽ không nhà văn nào trước anh từng biết điều đó, và bây giờ anh không còn bận tâm vào việc “giải thích” thế hệ mình bằng những ngôn ngữ tâm lý học và xã hội học lạnh lùng nữa. Anh biết rằng sự thật về nó nằm ở một nơi khác. Anh đã nghe những câu chuyện nóng bỏng trong những chiếc xe chạy hết tốc lực, đã thấy những khuôn mặt non choẹt đỏ bừng căng thẳng hướng về phía tay kèn saxophone tenor và anh có thể nói về thái độ của giới văn chương đàn anh: “Cuộc sống vẫn tiếp diễn… Trong những ngõ sau ở Philadelphia, đàn ông lắng nghe những ngón tay của Phillies rồi về nhà giết vợ mình. Trên các con phố Baltimore, rất cả đều giống nhau, người ta hấp hối một cách nghiêm chỉnh và chân thành… Và những trò viết lách của chúng ta đang khuấy động bão táp trong một tách trà, chứ không phải trên thế giới”.

Trên đường lang thang, anh đã gặp những kẻ chuyên đi nhờ xe đang viết “những cuốn tiểu thuyết điên rồ”, và những nhà thơ đeo ba lô lao đầu đến “một bờ biển khác” để đọc cho bạn bè nghe những bài thơ của họ, và anh cảm thấy rằng, văn học, nằm ngoài sự nhận thức của họ, cuối cùng sẽ đến. Và khi nó đến, đó sẽ là nền văn học của Thế hệ Beat.

Trước khi xem xét một số lời giải đáp mà văn học đã cố gắng đưa ra, tốt nhất chúng ta hãy nhớ lại điều Norman Mailer đã nói trong một bài báo về giới hippie, về ngôn ngữ của họ : “Cái gì đã khiến cho nó trở thành một ngôn ngữ đặc biệt là ở chỗ nó không thể được truyền thụ – nếu người ta không chia sẻ một chút kinh nghiệm về sự phấn chấn và sự kiệt quệ mà nó được dùng để diễn tả, thì dường như nó chỉ có vẻ tinh quái thô tục và chọc tức người khác”. Điều đó cũng đúng với phần lớn mảng thực tế mà trong đó thế hệ Beat đã lớn lên. Nếu bạn không thể nhìn nó theo cách của họ, bạn cũng không thể hiểu được hành động của họ. Một cách nhìn có thể là cách dễ nhất, đó là nghiên cứu hình ảnh mà họ hình dung về chính bản thân họ.

Một tỷ lệ lớn trong thế hệ này sống tiếp cho quãng đời ngắn ngủi và sôi động của diễn viên điện ảnh James Dean. Anh ta là thần tượng của họ theo kiểu mà Valentino đã từng là thần tượng của thế hệ những năm 20, và Clark Gable trong những năm 30. Nhưng có một sự khác biệt, và đó là tất cả sự khác biệt. Ở Dean, họ nhìn thấy không phải một Lothario mơ mộng và hấp dẫn hơn, bí ẩn và giàu có hơn họ, cũng không phải một người hùng hành động mà họ có thể đồng nhất hóa trong trí tưởng tượng để xóa bỏ cảm giác bất lực của mình, mà chính là một gã trai trẻ thầm lặng khôn ngoan, nhìn qua vực thẳm ngăn cách anh ta với những người lớn với đôi mắt buồn bã ngang tàng: sống căng thẳng giữa những bùng nổ luân phiên của bạo lực và sự dịu dàng; khao khát tình yêu và cảm giác có mục đích, nhưng chỉ có thể chấp nhận chúng theo điều kiện thực tế như anh ta quan niệm : bản thân chúng cũng ngắn ngủi.

Đối với nhiều người, kiểu nói nhát gừng, những phút im lặng kéo dài, và những điệu bộ kịch tính của Dean có vẻ như là những điểm cơ bản của thói kiểu cách rởm rỗng tuếch, nhưng thế hệ trẻ cho rằng không phải do anh ta không biết ăn nói hay bị ức chế mà là do anh ta không thể tin vào một số điều mà kịch bản phim đòi hỏi anh ta phải nói. Anh ta nói với họ qua những sản phẩm hàng triệu đôla đầy tính thuyết phục, nói bằng những tiếng thở dài, và kiểu đứng chuyển trọng tâm từ chân nọ sang chân kia một cách chậm rãi : “Phải, tôi cho rằng không có cách nào thoát khỏi những rắc rối này, nhưng chúng ta đều biết nó thực sự như thế nào…” Họ biết rằng anh ta cô độc, họ biết rằng anh ta không hoàn thiện, họ biết rằng anh ta lúng túng. Nhưng họ cũng biết rằng anh ta đã “đào bới” và thế là họ sung sướng trước bộ đồ luộm thuộm, mái tóc không cắt tỉa, cả sự thờ ơ với công danh của anh ta. Anh ta không phải là người mà họ muốn trở thành; anh ta là chính họ. Anh ta sống khó khăn và không hề ta thán; và anh ta chết như anh ta đã từng sống, rất nhanh. Hay như Kerouac diễn đạt: “Chúng ta phải đi và không bao giờ ngừng đi cho đến khi chúng ta tới”.
“ Chúng ta đi đâu, anh bạn?”
“Tôi không biết, nhưng chúng ta phải đi”.

Đối với tôi, chỉ có kẻ cận thị nhất mới thấy được nhu cầu chuyển dịch đó (và đây là một đặc tính để phân biệt Thế hệ Beat) như một cuộc dạo chơi chứ không phải một cuộc kiếm tìm.
Dean là sản phẩm của một cung cách đóng phim được dạy ở New York. Nó có sức hấp dẫn không cưỡng được đối với các diễn viên trẻ, và nó từng lấp đầy các màn ảnh và sân khấu Mỹ bằng hình ảnh các chàng trai ít nói và có vẻ lừng khừng, bỗng nhiên nổ bùng với những năng lực cảm xúc tuôn ra như suối, khiến cho đám khán giả ngây ngất xúc động như đang nghe một lời xưng tội. Điều quan tâm chủ yếu của cung cách này là tìm ra cái “lõi” của nhân vật, và diễn viên được khuyến khích làm điều đó bằng cách sử dụng những cảm xúc chính mình đã trải qua phù hợp với kịch bản. Những diễn viên không theo cung cách này chỉ trích rằng những môn đồ của nó chỉ dạo chơi trong phần lớn vai diễn và để dành nguồn xúc cảm cho những cảnh cao trào. Để đáp lại, những diễn viên tuân thủ cung cách thì nói rằng, chỉ có những cảnh cao trào mới chứa đựng những sự thật sâu sắc về con người, còn lại là những đối thoại trống rỗng dàn trải chờ đến khi nhân vật bộc lộ mình.

Một ví dụ về điều này có thể là bộ phim On the Waterfront (Trên bến cảng) mà tác giả kịch bản Budd Schulberg và đạo diễn Elia Kazan cùng cho rằng đó là một màn trình diễn đặc sắc của xã hội vùng duyên hải nước Mỹ, tập trung vào hình ảnh một cựu võ sĩ quyền Anh đấu tranh với một công đoàn tham nhũng. Diễn xuất đầy kích thích của Marlon Brando trong vai này đã tập trung mô tả nội tâm nhân vật đến nỗi bối cảnh xã hội dường như vô nghĩa bên cạnh luồng ánh sáng từ một con người bị kẹt giữa những mâu thuẫn nội tâm và sự phi lý của cuộc sống hiện đại. Như thể Brando đã nói trong từng cảnh một: “Con người không chỉ là một sinh vật sống cộng đồng, một nạn nhân, hay một sản phẩm. Tự đáy sâu, con người là một linh hồn”. Đó là lý thuyết chủ đạo cho cung cách điện ảnh, đồng thời cũng là phong cách hành động của Thế hệ Beat.

Các nhà phê bình liên tục biểu lộ kinh ngạc trước sự tự nguyện, thậm chí sung sướng mà thế hệBeat bày tỏ khi chấp nhận những gì là hình ảnh không tâng bốc của chính mình. Ví dụ, người ta nhận thấy rằng những kẻ ca ngợi lớn tiếng nhất của phim The Wild Ones (Những kẻ hoang dã), bộ phim đã thống kê những con số tàn bạo về các vụ cướp phá ở California do một băng đua môtô cầm đầu, chính là những tay đua môtô đó. Đa số các tội phạm thiếu niên xem và công nhận hình ảnh của chính mình thể hiện trong Rebel Without a Cause (Cuộc nổi loạn vô nguyên cớ) mặc dù chúng cười vào những động cơ xã hội mà kịch bản gán cho chúng. Người ta chỉ có thể đi đến kết luận rằng cái chúng thấy và cái người lớn thấy ở bộ phim đó là hai thứ hoàn toàn khác nhau.

Người lớn luôn luôn phạm sai lầm khi kết luận rằng, đằng sau tất cả những cái đó là sự thờ ơ với mọi giá trị bất kể loại nào, trong khi điều ngược lại mới là sự thật. Ngay cả thành viên vô chính phủ và ngạo ngược nhất của Thế hệ Beat, một gã du thủ du thực ở khu ổ chuột, cũng có mối quan tâm mạnh mẽ đến vấn đề đức tin, dù là vô thức : Điều kỳ lạ là dường như không ai thấy rằng cách duy nhất để liên hệ những tội phạm giết người vị thành niên với nhau là hiểu rõ rằng, đó là loại tội ác đặc biệt. Cậu thiếu niên đã đâm một thiếu niên khác mùa hè trước đã nói với nạn nhân rằng: ”Cảm ơn nhiều, tôi chỉ muốn biết cảm giác đó như thế nào”, không điên cũng không thật sự đồi bại. Không có lời bào chữa nào cho tội ác đó dù là hy vọng vào cái thiện hay trong cơn thù hận điên cuồng, hay thói tự cao tự đại. Tội ác đó là loại đã được Marquis de Sade chỉ rõ chân tướng từ 150 năm trước – một tội ác mà sự vắng mặt của Thượng đế đã bắt buộc một con người phải chứng minh rằng anh ta là một con người chứ không phải một mớ vật chất đơn giản. Loại tội ác đó, giờ đây không phải hiếm và đều do những kẻ dưới hai mươi lăm tuổi thực hiện. Sẽ không thể hiểu nổi nếu chúng ta cứ tiếp tục nêu lên các nguyên nhân cũ rích được lặp lại mãi, nào là gia đình tan vỡ, môi trường nghèo đói, nào là bạn bè xấu lôi kéo… Bởi vì đó là tội ác về tinh thần, tội ác để chống lại sự đồng hóa với kẻ khác, loại tội ác đã để lộ, với sự rõ ràng đến mức kinh hoàng, quãng đường mà nhu cầu tuyệt vọng về những giá trị cuộc sống có thể đẩy một thanh niên bước vào. Bởi vì trong thực tế, chính lòng khao khát những giá trị được thể hiện trong tội ác đó, chứ không phải sự căm thù những giá trị. Đó là lòng khao khát được làm hay cảm thấy một điều gì đó có ý nghĩa, và nó đem lại một ý niệm về việc những biến cố của thế kỷ XX đã quét sạch đến mức nào quan điểm nhân văn và hợp lý về Con người mà trên đó xã hội hiện đại được dựng lên.

Phản ứng trước vấn đề này của giới trẻ, ngay cả trong những bè đãng vị thành niên, không phải là thói vô đạo đức có tính toán, mà là sự trở về với một bộ luật đạo đức cổ xưa hơn, con người hơn, nhưng không kém phần khắc nghiệt – bao gồm sự bất khả xâm phạm của tình đồng đội, sự kính trọng đối với đức tự tin và sự quan tâm gần như bí ẩn đến lòng dũng cảm – tất cả đều là đạo đức của các bộ lạc; bộ luật của một nhóm liên kết nhỏ sống trong một môi trường thù nghịch hoặc lạnh lùng, mà nó tìm kiếm không phải để chinh phục hay thay đổi, mà chỉ để tránh né.

Ở độ tuổi lớn hơn một chút, nguyện vọng gần như thời nguyên thủy này đã gây ra phong trào hippie, kẻ lang thang qua các thành phố như những thành viên bí ẩn và chối bỏ bạo lực của Thế giới ngầm, không âm mưu gì cả, chỉ nuôi dưỡng một triết lý không được phổ biến, giống như những môn đồ Thiên Chúa giáo ở thế kỷ thứ Nhất. Anh ta tìm thấy trong một loại ma túy nhẹ, thứ ngôn ngữ bí ẩn của mình. Chính đêm tối và sự khẳng định chủ nghĩa cá nhân (càng ngày càng bị vây hãm bởi sự tuân thủ cuộc sống) đôi khi chỉ được biển hiện bằng thói lập dị bề ngoài. Nhưng mục đích của anh ta là được hòa đồng vào xã hội, chứ không phải chống đối xã hội; kiểu “đào bới” như mộng du của anh ta trong nhạc jazz, tình dục và ma túy là một nỗ lực để giải phóng bản thân anh ta, chứ không phải để sử dụng quyền lực với kẻ khác. Trong tâm trạng phấn khích nhất, chàng hippie cảm thấy rằng: gây hấn, bạo lực và sự tính toán cạnh tranh là những sai lầm về cơ bản, và anh ta nói:” Ngay cả các nguyên lý của đạo Phật cũng nói rằng mọi nỗi thống khổ của con người đều đến từ những xúc cảm đó”. Tôi đã có lần nghe một chàng hippie trẻ tự bảo mình một cách mệt mỏi, sau một cuộc cãi cọ ầm ĩ: “Ồ, anh bạn, anh đâu có liên quan gì đến ông ta?”.

Ở mức độ này, những hippie này tỏ sự kháng cự một cách thụ động với xã hội tiền trao cháo múc mà anh ta chung sống, và chương trình vĩ đại anh ta đưa ra chỉ là thay thế mọi sự gò bó tri thức và xã hội bằng sự biểu lộ và hưởng thụ cái chủ nghĩa cá nhân duy nhất của anh ta, và những “thú vui” của việc “đào bới” cuộc sống với nó. Và như Norman Mailer đã nói :” Sự khẳng định ẩn trong đều nghị đó là: con người phải sáng tạo chứ không phải chém giết, và như thế sẽ không tự hủy hoại mình”. Sau hết, đó chính là một quan niệm mang nhiều tính tôn giáo, thậm chí đạo lý hơn, về bản chất của con người, so với quan niệm của nhiều kẻ nhìn vào Thế hệ Beat này chỉ thấy những sự thái quá của họ.

Sức thuyết phục của năng lực sáng tạo của những tâm hồn tự do đứng sau bất cứ điều gì mà các thành viên của thế hệ này cảm thấy thích thú. Ví dụ, nếu họ quan tâm đến ma túy, lý do đầu tiên có thể là mong ước được khám phá thế giới chưa biết đến bên trong họ cũng như thoát khỏi thế giới không sao chịu nổi bên ngoài. Họ sẽ nói: “Đêm qua tôi đã bay lên cao đến nỗi tôi biết tất cả. Ý tôi muốn nói là tôi biết rõ tại sao”.

Về nghệ thuật, nhạc Jazz gần như là thứ âm nhạc riêng của Thế hệ Beat, cũng như thơ là văn học của họ (ít ra cũng cho đến khi Kerouac xuất bản tiểu thuyết). Nếu những thành viên này lắng nghe một cây kèn sax than thở theo cung cách người ta đã lắng nghe những lời nói và cử chỉ của bậc hiền triết, đó là vì nhạc jazz trước hết là thứ âm nhạc của tự do nội tâm, của khả năng ứng tác, của một cá nhân sáng tạo hơn là của một tập thể thông hiểu nhau. Đó là âm nhạc của những con người ở đáy xã hội, những kẻ cảm thấy tự do, và đó chính là những gì lớp thanh niên đang cảm thấy. Vì lý do đó, cuộc đời ngắn ngủi mãnh liệt của nhạc sĩ kèn sax-alto Charlie Parker (cùng với Dean và Dylan Thomas) tạo ra một sức hút mạnh mẽ đối với thế hệ này, bởi vì cả ba người đều có cung cách không thỏa hiệp của riêng mình, luôn lắng nghe con người bên trong của họ, tưởng niệm bất cứ thứ gì họ có thể tìm thấy để tưởng niệm, và rồi vui lòng trả giá bằng sự tự hủy hoại. Nhưng nếu thế hệ trẻ tôn họ làm thần tượng, họ cũng không ảo tưởng mình là những thánh tử đạo, vì họ biết (và chấp nhận một cách kiên cường) rằng một trong những mạo hiểm khi đi quá nhanh, và quá xa, là cái chết.

Nhưng có lẽ chính trong thơ ca, thái độ của Thế hệ Beat và khát khao cháy bỏng của họ là được thể hiện rõ nhất, ở San Francisco (nơi được coi là Paris của Thế hệ Beat theo nhiều nghĩa) cả một trường phái các nhà thơ trẻ đã đoạn tuyệt với những bậc tiền bối sang trọng bị giam cầm trong các trường Đại học. Một số người theo học phép tu Thiền của Phật giáo, một kiểu tụ tập bí ẩn cho đến lúc đạt được satori (giác ngộ). Một số khác là tín đồ Thiên Chúa giáo, thậm chí là tu sĩ và luôn cầu nguyện cho thế giới được cứu rỗi. Nhiều người trong số họ giống như những thầy tu khất thực, hay những người kể truyện thơ thời Trung cổ, mang theo mọi tài sản của mình trên lưng, kể cả bản đánh máy những bài thơ của họ, bỏ chúng vào các phòng trưng bày mỹ thuật hay nhà xí, như một người đã từng làm. Tất cả bọn họ đều tin rằng chỉ những gì kêu gào đòi được tốt lên, bất kể nó “không thi vị” đến mức nào, chỉ những gì là sự thật bất di bất dịch đối với người nói, và bật ra từ miệng anh ta như thác lũ, tự tìm thấy hình dạng khi trào vọt, là đáng được nói ra. Những quan điểm văn chương, ngữ pháp và vần luật, tất cả những giả tạo đã chia rẽ văn học và đời sống (họ nói vậy) phải cuốn gói ra đi. Và kết quả là những buổi đọc thơ trước công chúng của họ giống như những cuộc tụ họp ngạt thở với áo ngắn tay, các nhạc công kèn sax, rượu và những tiếng gào thét từ phía thính giả. Một trong bọn họ, Allen Ginsberg, người mà tạp chí Life gọi là nhà thơ trẻ đặc sắc nhất của nước Mỹ, đã viết một bài thơ dài, rực rỡ và lộn xộn tựa đề: Howl (Tiếng hú). Nó chứa đựng rất nhiều kinh nghiệm sống và cách diễn tả chưa từng xuất hiện ở bất cứ nhà thơ nào trước đó. Tuy vậy mục đích của bài thơ rõ ràng là sự tự vệ của tinh thần con người trước nền văn minh có ý định hủy diệt nó, và âm hưởng của bài thơ hoàn toàn tinh khiết. “Howl là một lời xác nhận kinh nghiệm của một cá nhân về Thượng đế, tình dục, ma túy và sự vô lý”, Ginsberg tuyên bố.

Cũng có thể nói như thế về cuốn On the Road. Đa số các nhà phê bình đã bỏ ra quá nhiều thời gian để thể hiện nỗi căm ghét lịch sự của họ đối với sự bẩn thỉu trong một số đoạn văn, đến nỗi họ hoàn toàn không nhắc đến việc Kerouac đã tìm thấy trong thế giới này, thế giới của Thế hệ Beat, sự dịu dàng, tính khiêm nhường, niềm vui và cả sự tôn kính, và mặc dù sống trong một thế giới mà các nhà phê bình gọi là khu rừng hoang trong ác mộng của cảm giác trống rỗng, những nhân vật của anh vẫn có thể lặp đi lặp lại rằng :

“Không ai có thể bảo chúng ta là không có Thượng đế. Chúng ta đã trải qua mọi hình thái đời sống. Tất cả đều tốt đẹp. Thượng đế vẫn tồn tại, chúng ta hiểu rõ thời đại này. Hơn nữa chúng ta hiểu rõ nước Mỹ, chúng ta đang ở nhà mình. Chúng ta cho đi và lấy lại, và ra đi trong sự ngọt ngào phong phú đến kỳ lạ…”

Bất kể họ là con người thế nào, đây cũng không phải là lời nói của một thế hệ đang héo hon vì tủi thân trước sự đổ vỡ những ảo tưởng của mình; cũng không phải lời nói của một thế hệ tiều tụy vì lòng căm thù đối với một thế giới mà họ không tạo dựng. Có lẽ đúng hơn đó là lời nói của một thế hệ đang dò dẫm tìm niềm tin trong nỗi tuyệt vọng về tinh thần và sự hỗn loạn về đạo đức mà họ đã từ chối đánh mất mình. Họ sẽ làm kinh ngạc nhiều người khi những lời nói bật ra, một cách tự nhiên như nó phải thế, từ đôi môi một thanh niên ngồi sau tay lái chiếc xe chạy hết tốc lực, vun vút lao qua màn đêm nước Mỹ, như câu trả lời có vẻ lạ lùng của Kerouac với phóng viên John Wingate của tờ Nightbeat khi được hỏi anh cầu khấn ai. “Tôi cầu khấn em trai nhỏ của tôi đã qua đời, cha tôi, Đức Phật, Jesus Christ và Maria Đồng trinh”. Rồi anh nói thêm : “Tôi cầu khấn năm người đó…”

Nhưng nếu việc gộp một vị thánh, một nhà hiền triết, và những người thân có vẻ lạ lùng đối với người Mỹ ở thế kỷ Hai mươi, đó chính là vì nhiều người trong chúng ta đã quên (hoặc chưa bao giờ biết) rằng kinh nghiệm về tâm linh có thể trở nên gần với sự thực đến mức nào khi những kinh nghiệm khác không thỏa mãn. Một gợi ý, ít ra cũng là theo cuốn sách của Kerouac, là ngoài bạo lực, ma túy, nhạc jazz và nhiều “thú vui” khác mà trong đó thế hệ này điên cuồng tìm kiếm nhân dạng của mình, họ còn đang tìm đức tin và họ sẽ trở thành, một cách có ý thức – Kerouac tin rằng hiện nay còn trong vô thức – một thế hệ tín ngưỡng.
Cũng có thể là như thế, và có những dấu hiệu chỉ rằng Thế hệ Beat không chỉ là một hiện tượng Mỹ. Nước Anh có các chàng Teddy, nước Nhật có các Bộ lạc Mặt trời, và ở các nước khác cũng có những hippie theo kiểu nào đó. Khắp nơi, thanh niên phản ứng lại những hiểm họa của đời sống hiện đại đang lớn dần và sự đe dọa liên tục của các chết tập thể với bước đường cùng đầy nhiễu nhương của chủ nghĩa cá nhân. Khắp nơi, dường như họ đang nói với lớp người lớn hơn : “Chúng tôi khác với các người, và chúng tôi không thể tin vào những gì các người tin – nếu chỉ vì đây là thế giới mà các người đã tạo dựng”. Khắp nơi, họ đang đi tìm lời giải đáp cho riêng mình.

Đối với nhiều người trong số họ, câu trả lời có thể là tù đày, sự điên loạn hay cái chết. Họ có thể không bao giờ tìm thấy niềm tin mà Kerouac tin rằng nó nằm ở cuối con đường. Nhưng có một điều tất cả bọn họ đều đồng tình: cái vực thẳm vô giá trị của cuộc sống hiện đại là không thể chịu đựng nổi. Và nếu các thế hệ khác đã than khóc rằng thế giới của họ “tồi tệ nhất trong tất cả các thế giới”, thì lớp trẻ ngày nay dường như hiểu rõ đây là thế giới duy nhất mà họ có và chính là con người ta sống như thế nào chứ không phải vì sao, là cái tạo nên mọi sự khác biệt. Sự thừa nhận của họ – rằng nền tảng của mọi hệ thống đạo đức hay xã hội chính là cái đơn vị cá thể không thể bị hủy hoại – có thể không là gì cả ngoài một cuộc nổi loạn chống lại một thế kỷ trong đó ý tưởng này bị phủ nhận. Nhưng nhận thức của họ rằng cái chống đỡ cho mỗi cá nhân chính là đức tin – và họ càng ngày càng bị thuyết phục rằng chỉ có những đức tin thuộc về tâm hồn mới có giá trị vĩnh cửu trong một thế giới như thế giới của chúng ta – sẽ đặt những hành vi điên rồ của họ trong một ánh sáng mới, và chắc chắn đức tin ấy sẽ có chỗ đứng trong tương lai, bất kể nó như thế nào đối với họ.

Phan Linh Lan dịch
Nguồn: The Philosophy of The Beat Generation – “THE BEATS” GoldMedal Books – Fawcett Publications Inc.

Chimamanda Ngozi Adichie – Vật quấn quanh cổ mi

Truyện ngắn này tôi dịch cách đây gần 10 năm (đăng trên Yahoo 360 ngày 24-7-2007),  khoảng thời gian mà cuộc sống riêng của tôi trải qua một biến cố rất lớn. Tôi đã luôn nghĩ nhiều về khoảng thời gian ấy, về việc tại sao lúc ấy mình vẫn có thể dành thời gian để dịch những câu chuyện như thế này, dù nó không đem lại tiền bạc hay uy tín gì (mà khi ấy thật ra tôi rất cần tiền). Tôi vẫn tự cho phép mình dành một quỹ thời gian trong ngày, tìm đọc và dịch những nhà văn mà ở Việt Nam khi đó rất ít người biết đến, với một cảm giác khoái thú của một kẻ chơi một trò chơi ít người biết. Vậy thôi. Giờ, nghĩ lại, tôi thấy tôi đã mất đi nhiều sự trong sáng của mười năm ấy.

Bản dịch truyện ngắn này khi đó được đăng trên Da Màu. Cũng không mấy ai chú ý. Nhưng  Chimamanda Ngozi Adichie (sinh năm 1977), nhà văn gốc Nigeria này, thì  đã trở thành một cái tên khá nổi bật của văn chương Mỹ đương đại, khi tác phẩm của cô đã được nhận nhiều giải thưởng uy tín. Tiểu thuyết “Half a Yellow Sun” của cô cũng đã được dịch sang tiếng Việt, mà chính tôi cũng là người đề xuất một nhà sách mua bản quyền dịch cuốn sách này. Cuốn tiểu thuyết này giờ đây cũng rất khó tìm.

Hôm nay trên facebook nhắc lại một sự kiện làm tôi cảm động. Cách đây một năm, khi giới thiệu bài hùng biện của Chimamanda Ngozi Adichie trên TED, anh Lê Hồng Lâm có nhắc đến truyện ngắn mà tôi đã dịch này. Khi đó, tôi rất xúc động và giờ vẫn thế. Trò chơi văn chương với tôi giống như một thứ trò chơi một mình; tôi luôn hoài nghi mình làm điều gì đó có ý nghĩa với ai khác ngoài bản thân. Nhưng vì thế khi được một người chưa từng gặp ngoài đời nhắc đến nó, tôi đã thật sự thấy hạnh phúc. Tôi đã khóa lại blog cũ nên hôm nay giới thiệu lại truyện ngắn này ở đây. Thực sự tôi cũng mong mình có thể vứt bỏ nhiều thứ đi, những nợ nần, áp lực, để tiếp tục những trò chơi một mình. Như tôi đã chơi,trong hoàn cảnh tưởng chừng không thể chơi nổi, cách đây 10 năm.

18733444-African-women-isolated-over-white-background-Stock-Vector-african-art-africa

*

Mi nghĩ ở Mỹ ai cũng có một chiếc xe hơi và một khẩu súng ngắn, các ông cậu bà mợ của mi cũng nghĩ vậy. Sau khi mi nhận được tấm thẻ xanh, cô dì, chú bác, anh em họ của mi bảo rằng, chỉ trong một tháng, mi sẽ có được một chiếc xe hơi. Rồi chẳng mấy chốc, một ngôi nhà. Nhưng đừng có mua một khẩu súng giống như bọn Mỹ.

Họ lũ lượt kéo đến ngôi nhà lụp xụp của gia đình mi ở Lagos, họ phải đứng dựa vào những bức tường kẽm đóng đinh vì nhà không đủ ghế. Họ chào tạm biệt mi rất to nhưng lại nhỏ giọng nói với mi, rằng họ muốn mi gửi cho họ những gì. So với một chiếc xe hơi lớn và một ngôi nhà, (và có lẽ một khẩu súng nữa), những thứ họ muốn quả là nhỏ – túi xách, giày dép, nước hoa, quần áo. Mi bảo được, không vấn đề gì.

Ông cậu ở Mỹ nói mi có thể ở cùng với nhà ông ta cho đến khi nào tự lập được. Ông đón mi ở sân bay và mua cho mi một cái hot dog1 với mù tạt vàng khiến mi thấy buồn nôn. Giới thiệu với mi về nước Mỹ, ông ta cười lớn. Ông sống tại một thị trấn nhỏ của dân da trắng ở Maine, trong ngôi nhà nằm bên một cái hồ. Ông ta bảo với mi rằng cái công ti mà ông ta làm việc trả cho ông hơn ngàn đô la, thêm cả cổ phiếu vì họ muốn công ti mình trông có vẻ đa dạng văn hóa. Họ đưa hình ảnh của ông ta vào tất cả những cuốn sách quảng cáo của công ti, kể cả những cuốn chẳng dính dáng gì đến công việc kỹ sư. Ông ta cười phớ lớ, bảo rằng cái việc chỗ đó tốt, cũng đáng để sống trong một thị trần toàn bọn trắng, cho dù vợ ông ta phải mất một tiếng đồng hồ để tìm tiệm làm đầu chăm sóc cho người da đen. Bí quyết để hiểu nước Mỹ là: hãy nhớ, Mỹ là đất nước sòng phẳng. Mi phải từ bỏ nhiều nhưng thu nhận về cũng lắm.

Ông ta hướng dẫn mi làm thế nào để xin được chân thu ngân ở một tram gas ở Maine Street và ghi danh cho mi vào một trường đại học cộng đồng, nơi mà mấy đứa con gái cứ trố mắt ra nhìn tóc của mi: Tóc mày có dựng lên khi mày tháo những sợi dây tết ra không? Dựng hết cả lên hả? Như thế nào? Sao lại thế? Mày có dùng lược không?

Mi mím miệng cười khi người ta đặt những câu hỏi ấy. Ông cậu bảo mi cứ chờ đợi điều đó đi; một pha trộn giữa sự ngu ngốc và ngạo mạn, ông ta gọi điều đó như thế. Rồi ông ta kể với mi chuyện những người hàng xóm đã đồn rằng từ khi ông ta chuyển nhà đến đây, lũ sóc bắt đầu biến mất. Họ nghe đâu bọn Phi châu ăn thịt tất cả những loài thú hoang.

Mi cười với ông cậu và cảm thấy thoải mái như ở nhà mình khi ở trong nhà của ông; vợ của ông ta gọi mi là nwane, em gái, hai đứa con đang độ tuổi đi học của ông ta gọi mi là cô. Họ nói tiếng Igbo và ăn trưa với món garri2, như ở quê nhà vậy. Cho đến khi ông ta mò vào tầng hầm chật chội, nơi mi nằm ngủ với những chiếc hộp cũ và sách vở, rồi vạch ngực mi ra, như thể đang vặt những trái xoài và rên rỉ. Ông ta thực ra không phải là cậu mi, mà là một người anh em họ xa của ông chồng bà mợ mi, không có liên hệ ruột thịt.

Đêm đó, khi mi gói ghém hành lý, ông ta ngồi trên giường mi, mìm cười bảo rằng giờ mi chẳng có nơi nào để đi cả. Nếu mi chiều ông ta, ông ta sẽ làm nhiều thứ cho mi. Những phụ nữ thông minh bao giờ cũng làm thế. Mi nghĩ thế nào về những người phụ nữ trở về Lagos với những nghề nghiệp thu nhập rất khá cũng đã làm cái việc đó? Kể cả phụ nữ ở New York nữa?

Mi khóa chặt mình trong phòng tắm và sáng hôm sau, mi ra đi, bước trên con đường dài quanh co, mi ngửi thấy mùi những con cá con trong hồ. Mi nhìn thấy ông ta lái xe qua, trước đó, bao giờ ông ta cũng thả mi xuống ở Maine Street, và giờ thì ông ta chả buồn bóp còi. Mi băn khoăn không hiểu ông ta sẽ gì với vợ mình, rằng vì sao mi lại bỏ đi. Và mi nhớ ông ta đã từng nói, Mỹ là đất nước sòng phẳng.

Rồi thì mi dừng lại ở Connecticut, lại một thị trấn nhỏ nữa, bởi vì đó là điểm dừng cuối cùng của chuyến xe bus mà mi đi. Mi bước vào một nhà hàng gần đó và nói với ông chủ nhà hàng rằng mi sẵn sàng làm việc với mức lương thấp hơn hai đô la so với những người bồi bàn khác. Ông chủ tên Juan, có mái tóc đen như mực, mỉm cười để lộ một chiếc răng vàng chóe. Ông ta bảo ông chưa từng có một nhân viên nào là người Nigeria nhưng bọn dân di cư, thằng nào cũng làm việc chăm chỉ cả. Ông ta hiểu, ông ta cũng đã từng ở đó. Ông ta trả mi ít hơn một đô la so với các nhân viên khác nhưng một cách bí mật, ông ta không thích tất cả những thứ thuế má mà người ta bắt ông phải đóng.

Mi không đủ tiền để đến trường, vì bây giờ mi phải trả tiền thuê căn phòng nhỏ như lỗ mũi với tấm thảm dơ dáy. Hơn thế, cái thị trấn nhỏ ở thị trấn Connecticut không có đại học cộng đồng, mà một tín chỉ ở trường đại học của bang lại quá đắt. Vì vậy, mi đến thư viện công cộng, tìm kiếm những chương trình học trên mạng của các trường và đọc vài cuốn sách. Đôi khi, mi ngồi trên chiếc giường đơn trong phòng, chiếc giường có trải tấm nệm nhiều chỗ đã phồng lên, mà nghĩ về quê nhà, cha mẹ, cô chú, anh em họ, bạn bè. Những người chẳng kiếm được là bao gì từ những trái xoài và món akara3 mà họ phải đến từng nhà để chào mời, nhà của họ chỉ được làm bằng những tấm kẽm được ghép tạm thời bằng cách vít đinh vào, cứ mùa mưa là lại vỡ thành từng mảnh. Những người đã đến để chia tay mi, để chúc mừng mi và để thú nhận sự ghen tị thèm muốn vì mi đã có được tấm thẻ xanh. Những người đã gửi con cái mình đến những trường phổ thông mà ở đó, giáo viên sẽ cho điểm A nếu như có ai đó giúi cho họ những chiếc phong bì màu nâu.

Mi chưa bao giờ phải đút lót để có điểm A, chưa bao giờ phải dấm dúi chiếc phong bì màu nâu cho một ông thầy nào ở trường. Tuy nhiên, mi vẫn chọn một chiếc phong bì dài màu nâu để gửi về cho cha mẹ mi một nửa số tiền mà mi kiếm được trong tháng; bao giờ mi cũng dùng những tờ bạc mà Juan đưa cho mi, vì chúng là những tờ bạc còn mới cứng, không giống như những tờ tiền boa. Mi không viết thư. Mà có gì để viết.

Nhưng những tuần đầu tiên thì mi muốn viết, vì mi có những câu chuyện muốn kể. Mi muốn viết về sự thoải mái đáng ngạc nhiên của những người Mỹ, họ đã cởi mở như thế nào khi kể về người mẹ đang phải chống chọi với bệnh ung thư của họ, về đứa bé bị đẻ non của bà chị dâu – những chuyện mà người ta nên giấu hay chỉ nên tiết lộ với người trong nhà mà thôi, những người mong mọi sự sẽ tốt đẹp. Mi muốn viết về cái cách người ta để thừa lại quá nhiều thức ăn trên đĩa và vò mấy tờ đô la để xuống dưới, như thể đấy là món tiền để biếu, để chuộc lỗi vì chỗ thức ăn thừa. Mi muốn viết về đứa trẻ chỉ vừa mới khóc và dứt mái tóc vàng của mình thì cha mẹ nó đã cuống quýt dỗ dành, nài nỉ nó đừng khóc, rồi tất cả đứng lên và rời khỏi nhà hàng.

Mi muốn viết về những người Mỹ giàu có nhưng lại mặc những bộ quần áo tồi tàn và đi những đôi giày đế mềm đã tã tời, trông không khác những người gác đêm trước những khu vực rộng lớn có hàng rào vây quanh ở Lagos. Mi muốn viết về những người nghèo béo phì và những người giàu gày nhom. Và mi muốn viết rằng ở Mỹ không phải tất cả mọi người đều có nhà lớn, xe to, dù mi vẫn không chắc về những khẩu súng bởi biết đâu họ để chúng trong túi xách hay túi quần.

Không phải mi chỉ muốn viết cho cha mẹ mình, mà còn cho cả những người bạn, anh em họ, cô dì chú bác. Nhưng mi vẫn không đủ tiền để mua nước hoa, áo quần, túi xách cho tất cả và vẫn phải làm cái nghề bồi bàn để trả tiền thuê nhà, vì thế mi không viết cho ai cả.

Không ai biết mi đang ở đâu vì mi không nói với ai hết. Đôi lúc, mi cảm thấy mình vô hình và cố gắng xuyên qua bức tường trong phòng để ra phòng trước rồi mi vập vào tường, việc đó để lại trên tay mi những vết bầm tím. Một lần, Juan hỏi mi có phải mi có một anh chàng nào đó và gã ta đã đánh mi không, Juan hỏi vậy vì ông có thể coi chừng gã kia cho mi và mi đã cười lớn, một tiếng cười bí ẩn. Đêm đêm, có một vật gì đó quấn quanh cổ mi, một vật gì đó gần như thít chặt lấy cổ mi cho đến khi mi choàng dậy.

Một vài người cứ nghĩ mi đến từ Jamaica vì họ cho rằng mọi đứa da đen nói nhấn trọng âm đều là dân Jamaica hết. Hoặc cũng có vài người đoán mi là dân Phi thì hỏi mi có biết cái này cái kia ở Kenya hay ở Zimbabwe không bởi vì họ nghĩ châu Phi là một xứ sở mà mọi người đều biết lẫn nhau.

Vì thế lúc hắn hỏi mi, trong không gian mờ tối của nhà hàng sau khi mi đọc bản tin đặc biệt hàng ngày, rằng mi đến từ nước châu Phi nào, mi trả lời: Nigeria và chờ đợi hắn hỏi tiếp xem mi có biết người bạn nào mà hắn đã quen ở Senegal hay Botswana không. Nhưng hắn lại hỏi mi là người Yoruba hay Igbo, vì khuôn mặt mi trông không giống người Fulani. Mi ngạc nhiên – mi nghĩ hắn phải là giáo sư ngành nhân chủng học, hơi trẻ một chút, nhưng biết đâu đấy? Igbo, mi đáp. Hẳn hỏi tên mi và khen cái tên Akunna của mi đẹp. Hắn không hỏi cái tên ấy có ý nghĩa gì, may thay, vì mi đã mệt bởi cái kiểu người ta hỏi, Con gái rượu của cha à? Thế có nghĩa là cha cô thật sự sẽ bán cô cho một anh chồng nào đó hả?

Hắn đã từng đến Ghana, Kenya và Tazania, hắn đã đọc về tất cả các nước châu Phi khác, về lịch sử cũng như những vấn đề phức tạp của những quốc gia ấy. Mi có cảm giác khinh bỉ, mi muốn biểu thị điều đó cho hắn thấy khi mang món hắn gọi ra, vì những kẻ da trắng cực kỳ mê châu Phi và những kẻ da trắng chả ưa nó đều như nhau cả – đều mang một thái độ hạ cố của kẻ bề trên mà thôi. Nhưng hắn không tỏ ra là mình biết nhiều, không lắc đầu kiểu trịch thượng như ông giáo sư ở đại học cộng đồng Maine một lần khi nói về Angola, hắn không có chút gì tỏ ra hạ cố cả. Ngày hôm sau, hắn lại đến, vẫn ngồi ở cái bàn cũ và khi mi hỏi hắn thấy món gà thế nào, hắn đã hỏi mi điều gì đó về Lagos. Ngày thứ ba, hắn đến và nói chuyện rất lâu – thỉnh thoảng hắn lại hỏi mi chẳng lẽ mi không nghĩ tiếng Mobutu và Idi Amin là giống nhau? – mi đã phải nhắc hắn nói chuyện lâu với thực khách như thế này là trái với quy định của nhà hàng. Hắn chạm nhẹ bàn tay mi khi mi đặt tách cà phê xuống. Sang đến ngày thứ tư, mi nói với Juan mi không muốn phục vụ cho cái bàn ấy nữa.

Sau cái ngày mi đổi ca đó, hắn đứng đợi mi ở bên ngoài, dựa người vào cột đèn, hắn mời mi đi chơi vì tên mi vần với “hakuna matata”4 và “Vua sư tử” là bộ phim sướt mướt duy nhất mà hắn thích. Mi thì không biết “Vua sư tử” là cái gì. Mi nhìn hắn trong ánh đèn sáng rõ và nhận ra mắt hắn có màu của một thứ dầu ô liu cực kỳ tinh khiết, một màu vàng pha lục. Thứ dầu ô liu cực kỳ thuần khiết ấy là thứ duy nhất mà mi yêu thích, yêu thích thật sự ở cái nước Mỹ này.

Hắn là sinh viên lớn tuổi ở trường đại học của bang. Hắn nói với mi tuổi của hắn và mi hỏi hắn tại sao vẫn chưa tốt nghiệp. Xét cho cùng, đây là nước Mỹ, không phải như đất nước của mi, nơi các trường đại học thường xuyên đóng cửa đến nỗi người ta phải thêm ba năm vào một khóa học bình thường và các giảng viên thì bãi công liên tục mà vẫn không được thanh toán tiền lương. Hắn kể rằng hắn đã dừng học một hai năm sau khi xong trung học để khám phá bản thân mình và đi du lịch, chủ yếu là đến châu Phi và châu Á. Mi hỏi hắn, vậy thì cuối cùng hắn đã tìm thấy mình ở đâu. Hắn cười. Mi thì không cười. Mi không biết những người có thể lựa chọn việc không đến trường một cách đơn giản, những người có thể bắt cuộc đời này viết theo những gì mà họ đọc ra. Mi thì đã quen với việc chấp nhận những gì mà đời cho mình, và viết theo những gì mà cuộc đời đọc cho mình.

Ba ngày sau, mi vẫn nói không với lời mời của hắn, vì mi không nghĩ làm thế là đứng đắn, vì mi thấy không thoải mái với cái cách hắn nhìn mi, với cái kiểu bật cười dễ dàng của mi trước những gì hắn nói. Rồi đến đêm thứ tư, mi bỗng thấy hoang mang khi không thấy hắn đứng đợi trước cửa nhà hàng sau ca làm của mi. Mi đã cầu nguyện một hồi lâu cho đến khi hắn xuất hiện từ phía sau mi, chào một tiếng “hey”, và mi, mi đã nói, vâng, tôi muốn đi với anh, thậm chí trước cả khi hắn ngỏ lời mời.

Ngày hôm sau, hắn đưa mi đến chỗ của Chang và trong chiếc bánh quy may mắn của mi có kẹp hai dải giấy. Cả hai đều không có gì.

Mi biết, mi đã thấy thoải mái hơn ở bên hắn khi mi thú thật với hắn lý do thực sự mi xin Juan chuyển sang phục vụ bàn khác chính là vì chương trình Jeopardy5. Khi xem chương trình Jeopardy qua chiếc ti vi trong quán, bao giờ mi cũng cổ vũ người chơi theo thứ tự ưu tiên này: trước hết là phụ nữ da màu, rồi đến đàn ông da đen, phụ nữ da trắng và cuối cùng là đàn ông da trắng – nghĩa là mi không bao giờ ủng hộ đàn ông da trắng cả. Hắn cười và bảo mi: hắn đã quen không được ủng hộ rồi, mẹ của hắn dạy ngành Phụ nữ học.

Và mi biết, mi đã trở nên thân thiết với hắn khi mi nói với hắn rằng cha của mi không phải là thầy giáo ở Lagos, ông chỉ là một người lái taxi. Và mi đã kể cho hắn về câu chuyện trên đường ở Lagos ngày hôm ấy, khi mi ngồi trong chiếc xe của cha mi; hôm đó, trời mưa và chỗ của mi bị ướt bởi nước mưa dột xuống qua những lỗ thủng trên mái xe do gỉ sắt ăn mòn tạo thành. Đường sá ở Lagos rất lầy lội, lúc nào cũng lầy lội, và khi mưa xuống thì thật kinh hoàng. Hệ thống tiêu thoát nước ở đây tệ hại tới mức vài chiếc xe ô tô bị mắc kẹt trong những ổ gà ngập bùn và mấy người anh em họ của mi phải trả tiền để người để đẩy xe ra khỏi chỗ ổ gà đó. Cơn mưa và con đường ngập ngụa bùn ấy – mi nghĩ – đã làm cho cha mi hôm đó nhấn phanh quá muộn. Mi nghe thấy một tiếng va đụng mạnh trước khi cảm thấy nó. Chiếc xe của cha mi đã đâm vào một chiếc xe to, ngoại nhập, màu xanh sẫm, có đèn pha màu vàng như mắt mèo. Cha của mi đã khóc lóc trước cả khi chui ra khỏi xe và nằm phủ phục trên đường, khiến giao thông bị đình lại. Xin lỗi ngài, xin lỗi ngài, ngài có bán tôi và cả gia đình tôi cũng không đủ tiền mua một cái lốp xe của ngài đâu ạ, cha mi khẩn nài như thế. Xin lỗi ngài.

Người đàn ông to béo ở đằng sau xe vẫn ngồi yên, chỉ có gã tài xế của ông ta bước ra, xem xét chiếc xe hư bị hỏng thế nào, gã nhìn trộm cha mi đang nằm rạp trên đường như thế lời cầu xin của cha mi là một bài hát mà gã phải ngượng ngùng thú thực là mình thích nghe. Cuối cùng, gã tha cho cha mi. Vẫy tay xua ông đi. Các xe khác bóp còi và tài xế thì chửi. Khi cha mi chui vào xe, mi đã không muốn nhìn ông vì ông chẳng khác gì những con lợn vẫn hay lạch bạch ở những chỗ lầy bùn quanh chợ. Cha của mi trông như một cục phân. Mẹ kiếp! Sau khi mi nói với ông điều đó, ông nắm lấy bàn tay mi và bảo ông hiểu. Mi giằng tay mình ra khỏi tay ông, bực bội, bởi ông nghĩ thế giới này là thế, hẳn đầy những người như ông. Mi bảo ông rằng chẳng có gì để hiểu cả, thế giới này là thế đấy.

Hắn không ăn thịt, vì hắn nghĩ cái cách người ta giết thú vật là sai, hắn bảo người ta đã phun những độc tố đáng sợ vào các con thú và những độc tố này, đến lượt chúng, sẽ khiến con người ta mắc chứng hoang tưởng. Ở quê, miếng thịt mi ăn, khi mà có thịt để ăn, chỉ bé bẳng nửa ngón tay. Nhưng mi không nói điều đó với hắn. Mi cũng không nói với hắn mẹ của mi đã nấu tất cả các món với hột dawadawa6, bởi vì cà ri và cỏ xạ hương quá đắt, cái hột đó có chứa chất MSG7, chúng chính là chất MSG. Hắn bảo chất MSG gây ung thư, đó là lý do hắn thích quán của Chang; Chang không dùng chất MSG khi nấu ăn.

Một lần, ở quán Chang, mi nói với người bồi bàn mi đã từng sống ở Thượng Hải một năm, rằng mi có thể nói được vài câu tiếng Quan thoại. Người bồi bàn nhiệt tình hẳn và bảo hắn món soup nào là ngon nhất, rồi hỏi hắn: anh có bạn gái ở Thượng Hải à? Hắn mỉm cười, không nói gì.

Mi đã mất cảm giác thèm ăn, vùng bên dưới ngực mi như bị tắc lại, ở bên trong. Đêm ây, mi không cất tiếng rên rỉ khi hắn vào trong cơ thể mi, mi cắn chặt môi và giả vờ như mi không đến trạng thái cực khoái vì mi biết, làm thế, hắn sẽ thấy lo lắng. Cuối cùng, mi nói với hắn vì sao mi buồn, bởi cái gã người Hoa ấy cho rằng mi không thể trở thành người yêu của hắn được, và khi ấy hắn đã cười, không nói gì. Trước khi hắn xin lỗi, hắn chằm chằm nhìn mi với ánh mẳt trống rỗng, và mi biết hắn không hiểu.

Hắn mua tặng mi những món quà và khi mi hỏi về giá tiền, hắn bảo hắn có một khoản ngân quỹ được ủy thác, thế nên không có vấn đề gì cả. Những món quà của hắn làm mi bối rối. Một quả cầu bằng nắm tay mà khi mi lắc nó, mi thấy cảnh tuyết rơi xuống một ngôi nhà nhỏ hoặc một vũ nữ ballet xoay tròn. Một hòn đá sáng bóng. Một chiếc khăn đắt tiền của Mexico có hoa văn được vẽ bằng tay mà mi không bao giờ dám quàng vì màu của nó. Cuối cùng, mi bảo hắn, dài giọng ra tỏ ý mỉa mai, rằng ở các nước thứ ba, quà tặng bao giờ cũng phải là thứ hữu ích. Viên đá, chẳng hạn, có ích nếu người ta dùng nó để nghiền thứ gì đó, hay có thể đem mài nó. Hắn cười dài và nặng nề nhưng mi thì không cười. Mi nhận ra trong đời hắn, hắn có thể mua những mòn quà thuần túy là quà, chứ không phải là cái gì khác. Khi hắn bắt đầu mua tặng mi giày dép, áo quần, sách vở, mi đã bảo hắn đừng làm thế nữa, mi không muốn bất kỳ một thứ quà tặng nào cả.

Tuy nhiên, mi không tranh cãi. Thực ra thì cũng không phải vậy. Mi tranh cãi rồi mi lại làm hòa, và làm tình với hắn, mi lùa tay vào tóc mình và tóc hắn, mái tóc vàng mềm mại lòa xòa như cờ ngô mới trổ, còn tóc của mi thì sẫm và đàn hồi như thứ để nhồi gối. Mi cảm thấy an tâm trong vòng tay hắn, giống như cảm giác mà mi có được khi còn ở nhà, trong ngôi nhà lụp xụp được ghép lại bằng những tấm kẽm của gia đình mi, như khi mi nhận ra da của hắn bởi rám nắng quá nhiều đã ngả sang màu dưa hấu chín, mi đã hôn lưng hắn trước khi thoa kem lên đó. Hắn tìm thấy một cửa hàng Châu Phi trên Những trang vàng trong danh bạ điện thoại Hart Ford và lái xe chở mi đến đó. Chủ cửa hàng, một người Ghana, hỏi hắn có phải là người châu Phi không, giống như những người da trăng ở Kenya hay Nam Phi, hắn cười lớn, bảo: phải, nhưng hắn đã ở Mỹ một thời gian dài rồi và giờ thì hắn nhớ những món ăn thuở nhỏ của mình. Hắn không nói với người chủ rằng hắn nói đùa. Mi nấu cho hắn, hắn thích món cơm trộn jollof8 nhưng sau khi ăn garri và súp onugbu9, hắn đã ọe ra trong bồn rửa của mi. Nhưng mi không bận tâm, bởi vì giờ mi đã có thể nấu súp onugbu với thịt.

Cái vật quấn quanh cổ mi, gần như lúc nào cũng muốn thít chặt lấy cổ mi trước khi mi ngủ ấy, đã bắt đầu nới lỏng ra, buông mi ra.

Mi biết, người ta cho mi là một đứa không bình thường, qua cách mà họ phản ứng, xử sự với mi- những kẻ đê tiện thì quá đê tiện còn những người tử tế lại quá tử tế. Những phụ nữ da trắng già nhìn hắn trừng trừng và lầm bầm, những người đàn ông da đen nhìn mi lắc đầu, còn đàn bà da đen thì tỏ ra đau lòng vì sự thiếu tự trọng của mi. Lại có những người phụ nữ da đen nhìn mi nhoẻn cười kín đáo thể hiện một sự gắn kết, những người đàn ông da đen phải hết sức cố gắng để có thể tha thứ cho mi, chào hắn bằng một tiếng “hi” rõ ràng, hay những người phụ nữ da trắng nhìn mi và hắn nói to: một cặp xứng đôi vừa lứa đấy, như thể muốn chứng tỏ sự độ lượng của họ với chính bản thân mình.

Nhưng cha mẹ của hắn thì khác; họ gần như khiến mi nghĩ tất cả đều rất bình thường. Mẹ hắn nói hắn chưa từng giới thiệu một cô gái nào với cha mẹ cả, ngoại trừ một cuộc hò hẹn trong một buổi dạ hội ở trường trung học, hắn cười một cách không tự nhiên lắm và nắm lấy tay mi. Tấm khăn trải bàn che bàn tay mi đang nắm chặt. Hắn siết lấy tay mi và mi cũng siết tay hắn, mi băn khoăn không hiểu vì sao cặp mắt có màu dầu ô liu cực kỳ tinh khiết của hắn trở nên tối lại khi hắn nói chuyện với cha mẹ mình. Mẹ hắn hỏi những vỏ ốc màu được xâu qua những sợi dây tết tóc trên đầu mi có phải là vỏ ốc thật không và mi đã đọc Simone Beauvoir và Nawal El Saadawi10 chưa. Bố hắn thì hỏi mi thức ăn Ấn Độ giống thức ăn Nigeria như thế nào, ông nói đùa, bảo mi thanh toán khi người ta đưa hóa đơn đến. Mi nhìn họ với một nỗi hàm ơn khi họ đã không săm soi mi như một đồ lưu niệm ngoại lai hay một chiếc ngà voi.

Sau buổi đó, hắn có tâm sự với mi những vấn đề của hắn với cha mẹ mình, rằng họ đã chia phần tình yêu như người ta cắt một chiếc bánh sinh nhật và hắn sẽ nhận được phần lớn hơn chỉ khi nào hắn theo học trường luật. Mi muốn cảm thông. Nhưng thay vào đó, mi lại nổi giận.

Mi càng giận dữ hơn khi hắn kể hắn đã từ chối đi Canada cùng với cha mẹ mình một hai tuần, đến ngôi nhà nghỉ hè của họ ở miền nông thôn Quebec. Thậm chí họ đã bảo hắn đưa mi đi cùng. Hắn cho mi xem bức ảnh chụp ngôi nhà của gia đình hắn và mi không hiểu nổi tại sao nó lại được gọi là ngôi nhà thôn dã cơ chứ, trong khi ở quê mi những tòa nhà lớn xung quanh chỗ mi sống đều là các ngân hàng và nhà thờ. Mi đánh rơi chiếc ly cầm trên tay, chiếc ly đập xuống nền gỗ cứng của nhà hắn, vỡ tan. Hắn thảng thốt hỏi mi có chuyện gì và mi nói, không, không có gì hết, mặc dù mi nghĩ có quá nhiều điều sai lầm. Tất cả thế giới của mi đều sai lầm, tất cả.

Rồi sau đó, dưới vòi tắm, mi bắt đầu khóc, mi nhìn thấy nước từ vòi tắm làm loãng đi nước mắt của mình và mi không hiểu vì sao mi lại khóc.

Cuối cùng thì mi viết thư gửi về nhà, khi cái vật quấn quanh cổ mi gần như đã tự tháo bỏ hoàn toàn. Gần như thế. Một lá thư ngắn ngủi gửi cho bố mẹ, anh chị em, kẹp vào giữa là thư là những đồng bạc còn mới cứng, và mi cũng ghi luôn địa chỉ của mình. Chỉ mấy ngày sau, mi nhận được hồi âm qua người đưa thư. Mẹ của mi đã tự viết thư, mi nhận ra điều ấy qua lối văn phong rối rắm, qua những từ ngữ sai chính tả.

Cha mi đã chết; ông ấy đã đập đầu vào bánh lái của chiếc taxi. Chuyện xảy ra cách đây năm tháng, mẹ của mi viết như thế. Gia đình mi đã sử dụng một phần số tiền mi gửi về để làm một đám tang tử tế cho ông ấy. Họ đã giết một con dê để mời khách khứa và chôn ông trong một tấm quan tài đàng hoàng chứ không phải mấy tấm gỗ ghép lại.

Mi cuộn mình trên giường, áp đầu gối thật chặt lên ngực và khóc. Hắn ôm lấy mi khi mi đang khóc, hắn vuốt tóc mi và ngỏ ý muốn đi cùng mi, trở về Nigeria. Mi bảo không, mi cần đi một mình. Hắn hỏi mi liệu có trở lại và nhắc mi rằng mi có thể mất tấm thẻ xanh hạn nếu không quay lại trong một năm, hiểu chứ? Mi có trở lại, có trở lại không?

Mi quay đi, không nói gì và khi hắn chở mi ra sân bay, mi đã ôm hắn thật chặt, mi ghì lấy cơ lưng hắn cho đến khi mi thấy đau nơi mạn sườn. Và mi nói: Cảm ơn.

Chú thích:

  1. hot dog: xúc xích nóng kẹp với bánh mì.
  2. garri: một món ăn phổ biến ở Tây Phi, đặc biệt là ở Nigeria và Ghana, được làm từ sắn.
  3. akara: món ăn của người Nigeria được làm từ đậu đen nghiền, nặn thành cục và đem chiên với dầu cọ.
  4. hakuna matata: một thành ngữ của người Swahili, có nghĩa đen là: “Ở đây không có nỗi lo lắng nào”, “không có gì phải lo”, “không vấn đề gì”. Cụm từ này trở nên phổ biến khi bộ phim hoạt hình của Walt Disney “Vua Sư tử” được công chiếu rộng rãi. Trong phim, hai chú cầy bốn ngón và lợn lòi là đã dùng cụm từ này để khuyên chú sư tử Simba quên đi những ký ức đau buồn trong quá khứ, chỉ cần sống cho hiện tại. Cụm từ này trong bộ phim còn hàm ý nói đến một cuộc sống vứt bỏ mọi tham vọng. “Hakuna matata” còn là tên một bài hát trong phim do Elton John viết nhạc, lời của Tim Rice.
  5. Jeopardy: một show game đố vui kiến thức trên truyền hình rất nổi tiếng của Mỹ.
  6. dawadawa: một loại hạt phơi khô cho lên men được lấy từ một từ một loại bồ kết của châu Phi có tên khoa học là Parkia biglobosa
  7. MSG: chất dùng làm mì chính, bột ngọt.
  8. cơm jollof: một món ăn phổ biến ở Tây Phi gồm có cơm, cà chua, cà chua xay, hành, muối, hạt tiêu và một số rau, gia vị khác trộn lẫn với nhau.
  9. súp onugbu: một loại súp rau ở Tây Phi (chưa tra cứu được chính xác).
  10. Simone de Beauvoir (1908-1986): nhà văn Pháp, nhà đấu tranh cho nữ quyền tiên phong. Nawal El Saadawi (1931): nhà văn theo chủ trương nữ quyền người Ai Cập.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Chimamanda Ngozi Adichie, “The Thing Around Your Neck”, Prospect Magazine, Issue 99, September, 2004.

(Dịch trong những ngày rất nhiều điều phải lo nghĩ. Dịch chỉ để quên đi ý nghĩ của mình bằng cách nhìn vào ý nghĩ của người khác)