Tag Archives: văn học Mỹ

Thanh Viet Nguyen – Những tư tưởng sẽ không qua khỏi đại dịch Coronavirus

Thanh Viet Nguyen (1971), nhà văn, học giả người Mỹ gốc Việt. Ông từng nhận giải thưởng Pulitzer về Văn học cho tiểu thuyết The Sympathizer (2015), giải Rene Wellek của Hiệp hội Nghiên cứu văn học so sánh Hoa Kỳ cho chuyên luận Nothing Ever Dies: Vietnam and The Memory of War (2016).

*

Thỉnh thoảng người ta lại hỏi tôi: cần phải làm gì để trở thành nhà văn? Việc duy nhất bạn phải làm, tôi nói với họ, là đọc liên tục; viết cả nghìn giờ; và có một năng lực – dám chấp nhận ở mức độ rất lớn sự chối từ của người đời cũng như sự cô lập. Hóa ra, những phẩm chất này đã giúp tôi ứng phó rất tốt với cuộc đời trong thời kỳ coronavirus hoành hành.

Sự thật là tôi hầu như tận hưởng thời kỳ cô lập này – ngoại trừ có những lúc tưởng tượng về cái chết chực chờ và phẫn nộ trước sự thiếu năng lực của lãnh đạo đất nước – và điều này làm tôi ý thức sâu sắc về đặc quyền mình có. Chỉ thông qua những tin tức trên mạng xã hội của mình tôi mới có thể thấy những sự tàn phá trút xuống những người đã mất việc và đang lo lắng căng thẳng về tiền thuê nhà. Những câu chuyện đáng sợ nối nhau hiện lên từ những bác sĩ, y tá, từ những người bị nhiễm Covid-19 và những người đã mất đi người thân của mình bởi bệnh dịch này.

Nhiều người trong chúng ta thoáng nhìn thấy một thế giới phản không tưởng. Những người khác thì đang sống trong đó.

Nếu có bất cứ thứ gì tốt đẹp nảy sinh từ thời kỳ này thì có lẽ đó là sự thức tỉnh về những bệnh tật có sẵn trong thân thể của nền chính trị. Chúng ta không khỏe mạnh như mình tưởng. Thứ virus sinh học lây nhiễm đến mỗi cá nhân đồng thời cũng là một thứ virus xã hội. Triệu chứng của nó – sự bất bình đẳng, sự nhẫn tâm, tính ích kỷ và động cơ vụ lợi coi rẻ đời sống con người trong khi đề cao vật chất – từ rất lâu đã bị che đậy bởi niềm lạc quan và kiêu hãnh về chủ nghĩa ngoại lệ Mỹ, giống như sắc diện hồng hào của một người sắp sửa bị lên cơn đau tim.

Ngay cả khi nước Mỹ mà chúng ta biết vượt qua được đại dịch coronavirus này, nó cũng khó có thể trỗi dậy mà không mang trên mình những tổn thương. Nếu ảo tưởng về sự bất khả chiến bại đã bị vỡ vụn đối bất kỳ bệnh nhân nào nếm trải kinh nghiệm cận tử, vậy thì cái có thể chết sau Covid-19 là huyền thoại về việc chúng ta là đất nước tốt đẹp nhất trên trái đất, một niềm tin phổ biến ngay cả trong những người nghèo, những người bên lề, những người sống trong tình trạng bấp bênh, những người phải tin vào tính cách Mỹ của họ, nếu như không còn gì khác để tin.

Có lẽ cảm giác về sự cầm tù trong thời kỳ cách ly có thể khiến chúng ta hình dung được bị cầm tù thực sự là như thế nào. Dĩ nhiên có những nhà tù thực sự nơi chúng ta giam giữ những người không có bất cứ sự bảo vệ nào trước hiểm họa của coronavirus. Có những trại tị nạn và những trung tâm câu lưu nơi thực chất là những nhà tù. Có những sự cầm tù về kinh tế với đói nghèo và bấp bênh, nơi mất tiền lương cũng có nghĩa là vô gia cư, nơi ốm đau mà không có bảo hiểm thì ắt sẽ chết.

Nhưng đồng thời, nhà tù và trại tập trung lại thường đóng vai trò là những nơi chốn nơi những ý thức mới được khai sinh, nơi các tù nhân trở nên cực đoan, trở thành các nhà hoạt động, thậm chí, nhà cách mạng. Có phải tôi đang hy vọng quá nhiều hay không khi nghĩ rằng tình trạng bị cô lập bắt buộc của nhiều người Mỹ và tình trạng lao động bắt buộc của những người khác có thể thúc đẩy những hành động triệt để của sự tự phản tư, tự nhìn lại mình và cuối cùng là sự đoàn kết?

Một khủng hoảng thường khơi dậy sợ hãi và tâm lý thù địch. Chúng ta đã nhìn thấy những cuộc tấn công xuất phát từ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc nhắm vào những người châu Á và những người Mỹ gốc Á vì thứ được gọi là “virus Tàu” này. Nhưng chúng ta một lựa chọn: Liệu chúng ta sẽ chấp nhận môt thế giới của sự phân chia và khan hiếm, nơi chúng ta phải đánh nhau để tranh giành tài nguyên và cơ hội hay tưởng tượng về một tương lai nơi xã hội của chúng ta được đánh giá theo mức độ nó chăm sóc cho những người ốm đau, những người nghèo, người cao tuổi và đơn độc như thế nào?

Là một nhà văn, tôi biết một lựa chọn như thế sẽ nằm ở giữa một câu chuyện. Đó là điểm bước ngoặt. Một nhân vật – trong trường hợp này là chính trị nước Mỹ, không nói đến tổng thống – sẽ phải đối mặt với một quyết định quan trọng và điều này sẽ phát lộ ông ta/bà ta về bản chất là người thế nào.

Chúng ta vẫn còn chưa đi đến nửa đường tấn kịch của mình. Chúng ta mới chỉ đến đoạn kết của hồi thứ nhất, khi chúng ta dần nhận ra hiểm họa đang trên đường tấn công và hiểu rằng chúng ta cần thiết phải hành động. Hành động này, giờ đây, đơn giản là chúng ta phải chiến thằng Covid-19 và sống sót như một đất nước, dù yếu đi nhưng phải sống.

Điểm giữa của tấn kịch chỉ xuất hiện khi nhân vật giáp mặt với một đối thủ đáng giá – không phải một người ốm yếu, bên lề hay đơn độc mà là một ai đó hay một cái gì đó thật sự tàn bạo. Covid-19, dẫu khủng khiếp, thì vẫn cứ chỉ là một nhân vật phản diện trong phim. Kẻ thù thực sự của chúng ta không đến từ bên ngoài, mà từ bên trong. Kẻ thù thực sự của chúng ta không phải là virus mà là phản ứng của chúng ta đối với virus – một phản ứng đã trở nên thoái hóa và biến chất bởi những bất bình đẳng mang tính cấu trúc của xã hội chúng ta.

Nước Mỹ có một lịch sử của quá trình thuộc địa định cư và của chủ nghĩa tư bản vốn bóc lột nguyên thiên nhiên và con người, điển hình là những người nghèo, dân nhập cư, da màu và da nâu. Lịch sử đó biểu hiện rõ nét ở ngày hôm nay trong động cơ tích trữ của chúng ta, với ý thức rằng chúng ta đang sống trong một nền kinh tế dựa vào nỗ lực của bản thân và sự khan hiếm; trong sự phụ thuộc của chúng ta vào lao động giá rẻ của phụ nữ và của những người thiểu số về chủng tộc; và trong việc chúng ta thiếu những hệ thống chăm sóc sức khỏe, phúc lợi xã hội, thu nhập cơ bản và giáo dục phổ cập đầy đủ để có thể lo cho những người cần đến chúng nhất trong chúng ta.

Điều mà cuộc khủng hoảng này phát lộ là, dù hầu như tất cả chúng ta đều có thể bị tổn thương – ngay kể cả các tập đoàn và những người giàu có – thì chính quyền chúng ta đang ưu tiên bảo vệ những người ít bị tổn thương nhất.

Nếu đây là một bộ phim Hollywood cổ điển thì người anh hùng Mỹ ngoại lệ, vốn miễn cưỡng và do dự trong hồi đầu tiên, sẽ đưa ra lựa chọn đúng đắn tại bước ngoặt này. Con virus Covid-19 quái ác sẽ bị tiêu diệt, trật tự sẽ lại được phục nguyên về một xã hội giống như trước lúc thế lực tà ác xuất hiện.

Song nếu xã hội của chúng ta vẫn cứ như thế sau khi đánh bại Covid-19, đó sẽ là một chiến thắng thật chẳng bõ. Chúng ta có thể mong đợi tập tiếp theo, không chỉ một tập, mà nhiều tập, cho đến khi chúng ta tới đoạn kết: thảm họa khí hậu. Nếu cách đối phó vụng về với coronavirus này lại là cảnh xem trước cho thấy Hoa Kỳ ứng biến như thế nào với thảm họa ấy thì coi như chúng ta tận số.

Nhưng giữa những sự vụng về này, cũng có những dấu hiệu của sự hy vọng và lòng can đảm: những người lao động bãi công phản đối việc bị bóc lột; những người tặng khẩu trang, tiền bạc, thời gian; nhũng nhân viên y tế và bệnh nhân bày tỏ sự bức xúc đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe bất cập của chúng ta; một đại tá Hải quân hy sinh sự nghiệp của mình để bảo vệ những thủy thủ của mình; thậm chí những người lạ nói chào nhau với những người lạ trên đường ở thành phố tôi sống, Los Angeles, tạo nên một hành động đoàn kết đang đi đến cao độ.

Tôi biết mình không phải là người duy nhất có những ý nghĩ như thế này. Có lẽ việc bị cô lập cuối cùng cũng đem cho mọi người cơ hội để làm những gì mà các nhà văn làm: tưởng tượng, cảm thông, mơ mộng. Có thời gian và sự xa xỉ để làm những việc này tức là đã sống bên bờ của thế giới không tưởng, cho dù việc mà các nhà văn thường làm ở đó lại là tưởng tượng về thế giới phản không tưởng. Tôi viết không chỉ vì nó đem đến cho tôi niềm vui mà còn từ nỗi sợ hãi – rằng nếu tôi không kể một câu chuyện mới, tôi không thể sống đúng nghĩa được.

Nước Mỹ cuối cùng sẽ qua khỏi thời kỳ này và kiểm điểm lại những gì đã mất, cả về con người và những tư tưởng đã không sống qua được cuộc khủng hoảng này. Và rồi chúng ta sẽ quyết định câu chuyện nào sẽ để cho những người sống sót được sống đúng nghĩa.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Thanh Viet Nguyen, “The Ideas That Won’t Survive the Coronavirus”, https://www.nytimes.com/2020/04/10/opinion/coronavirus-america.html

Agnes Callard – Tại sao lúc này tôi lại đọc tiểu thuyết về đề tài tận thế?

Agnes Callard là phó giáo sư ngành Triết học tại Đại học Chicago. Cuốn tiểu thuyết “The Road” của Cormac McCarthy được nhắc đến trên bài từng được dịch sang tiếng Việt với nhan đề “Cha và con”. Tác phẩm này cũng đã được chuyển thể thành bộ phim cùng tên do John Hillcoat đạo diễn vào năm 2009. Hình minh họa trong bài được lấy từ bộ phim này.

Một người đàn ông cùng con trai của mình lê bước qua vùng đất hoang vốn đã từng là nền văn minh của nhân loại. Hàng đêm, họ cùng run rẩy trong đói khát, giá lạnh và sợ hãi. Nếu gặp ai đó yếu hơn hạn – một người đàn ông bị thương, một đứa trẻ bị bỏ rơi – họ không biết làm gì để giúp, còn nếu gặp kẻ nào mạnh hơn, bạo lực chắc chắn xảy ra. Người đàn ông sống cho đứa bé, còn đứa bé thì thường xuyên thể hiện sự muốn chết.

Tôi đang nói đến tiểu thuyết The Road [Con đường] của Cormac McCarthy. Lần cuối cùng tôi nhớ mình bị chấn động bởi một tác phẩm hư cấu cách đây đã nhiều thập niên, khi tôi đọc Anh em nhà Karamazov lúc mình đang sốt cao: Tôi như cảm thấy sự hiện hữu của các nhân vật. Tôi vẫn còn nhớ Ivan và Alyosha dường như bồng bềnh trong không gian bên cạnh gường mình. Tuy nhiên, lần này tôi không ốm, cũng như không ảo giác.

Như nhiều người khác, tôi tìm thấy hứng thú trong những cuốn sách và bộ phim về đề tài tận thế. Tôi cũng thấy mình thường khó để giữ sự gián cách an toàn giữa những câu chuyện hư cấu ấy với bản thân hơn. Người cha kia là tôi. Đứa bé kia là cậu con trai 11 tuổi của tôi. Câu chuyện của họ như xuyên thấu qua lớp vỏ mà người ta vẫn bảo “chuyện tưởng tượng ấy mà”, thôi thúc tôi dặt câu hỏi, “Đây có là sự bắt đầu của cảnh tượng rồi sẽ trông giống thế hay không?”. Tôi cảm giác hoang mang. Và không thể nào ngủ được.

Tại sao lại tự tra tấn bằng những cuốn sách như thế cơ chứ? Tại sao lại dùng văn chương hư cấu để làm trầm trọng hơn những vết thương của ta, thay vì xoa dịu chúng hay, nếu không thể, thì để chúng yên? Người ta cũng có thể đặt câu hỏi tương tự về những thực hành phi hư cấu của tưởng tượng: Giả sử tôi ngẫm về một điều gì đó tôi đã làm sai và sau đó trải qua những dằn vặt tội lỗi về nó. Triết gia Spinoza nghĩ rằng hình thức hoạt động này là một sai lầm: “Sự hối hận không phải là một đức hạnh, nghĩa là, nó không trỗi dậy từ lý trí. Đúng hơn, kẻ hối hận cho những gì y làm phải trải qua hai lần khốn khổ.”

Nghe thế thì còn có vẻ điên rồ hơn cả việc phạm lỗi. Chúng ta, những kẻ đang đắm mình trong một nền văn hóa mà công luận luôn đòi hỏi sự xin lỗi, cần phải thận trọng để hiểu rằng Spinoza chỉ đưa ra một mệnh đề đơn giản về nền kinh tế tâm lý, rằng chẳng có lý gì để thêm một trạng thái tâm lý tiêu cực vào bất kể những gì tệ hại đã xảy ra. Khổ sở nhiều hơn không làm cho thế giới trở thành nơi tốt đẹp hơn. Hành động tinh thần khơi dậy sự hối hận hay tiếc nuối – hay đơn giản là nỗi buồn – là một hình thức tự trừng phạt trong tưởng tượng, và Spinoza muốn chúng ta phải tránh “những nỗi đau nảy sinh từ nỗi giày vò khôn khuây của con người về sự yếu đuối của y.”

Người ta có nên đọc những tiểu thuyết về đề tài tận thế giữa thời tận thế chăng? Còn có thể nói gì để nói cho việc ta bắt ta chịu đựng những khổ đau về cảm xúc không cần thiết? Tôi nghĩ là có.

Chúng ta không lựa chọn một cách tự ý thức về việc giằng xé lương tâm hay tiếc nuối ân hận, theo cách chúng ta chủ động chọn cuốn tiểu thuyết nào để động. Tuy nhiên, chúng ta có thể đánh đồng hai trường hợp này nếu ta thử xét giả thiết này: Tưởng tượng có người đưa cho ta một viên thuốc có thể làm ta miễn nhiễm với những suy nghĩ tiếc nuối hay dằn vặt. Bạn có chọn nó không? Nếu bạn nghĩ những suy tư đó là cần thiết để giúp bạn không sai lầm trong tương lai, thì bạn hãy yên tâm,  tôi đã tích hợp chức năng đó vào viên thuốc ấy. Bạn sẽ không ứng xử tệ hơn nếu đã dùng nó. Bạn sẽ chấm dứt những suy nghĩ tiêu cực.

Tôi có thể tưởng tượng những tình huống mà mọi thứ tồi tệ đến mức tôi sẽ sẵn sàng dùng viên thuốc trong giả thiết trên ấy. Thực tình phần lớn chúng đã đều đã dùng những phiên bản của viên thuốc này, với rượu, với chất kích thích hay đơn giản là xao lãng mọi sự. Nhưng không phải lúc nào và ngay lập tức, chúng ta sẽ chọn một viên thuốc như thế, nghĩa là chúng ta sẽ lựa chọn, một cách đầy ý thức và phản tỉnh, nuôi giữ nỗi khổ sở của mình, ít nhất là trong một khoảng thời gian nào đó. Và điều này thú vị. Tôi nghĩ “sự đáng khao khát” của những cảm xúc tiêu cực sẽ góp phần lý giải vì sao chúng ta lại đọc những cuốn tiểu thuyết mang đến nỗi hoang mang và niềm tuyệt vọng.

Nếu tôi có điều gì để dằn vặt, tôi muốn được dằn vặt. Nếu có chuyện gì đó đáng sợ xảy ra, tôi muốn được sợ hãi. Nghĩa là: khi mọi thứ tệ hại, tôi muốn đau khổ, lựa chọn sự đau khổ, thậm chí kiếm tìm sự đau khổ. Tại sao? Bởi vì đôi khi thứ lựa chọn khác duy nhất đối với sự khổ đau lại là một sự xa lạ và tê liệt, điều mà trên thực tế, còn tệ hơn cả việc cảm thấy tồi tệ – ngay cả khi sự xa lạ và tê liệt ấy đem đến cảm giác tốt hơn là việc cảm thấy tồi tệ.

Có thể hiểu điều này trong mối liên hệ với những điều tốt lành trong đời sống chúng ta, như một đứa con chào đời, dự đám cưới một người bạn, kỷ niệm một thành tựu. Những dịp như thế, ta đều muốn có mặt ở đó để trải nghiệm trực tiếp và rồi trải nghiệm lại chúng thông qua ký ức tưởng tượng. Việc biết một đứa bé chào đời không thể thay thế cho việc ta được trực tiếp nhìn ngắm và chạm vào đứa bé, và việc nhớ lại rằng  đứa bé đã được chào đời không thay thế được những cảm giác cụ thể khi ta ẵm đứa bé lần đầu trên tay. Chúng ta muốn trải nghiệm những gì được coi là tốt – song chúng ta cũng khát khao được nếm trải những gì là tệ hại nữa.

Khi chúng ta trong tình trạng bị cách ly, chúng ta muốn được giải trí, tiêu khiển hay quên mọi sự đời. Chúng ta nên biết ơn những người giúp ta làm được điều ấy; họ sẽ khiến tình trạng bị cô lập, sợ hãi và bất an của ta trở nên dễ chịu đựng hơn. Nhưng khi tình thế của ta không thể chịu đựng hơn được nữa, chúng ta cũng muốn đối mặt với nó, muốn can dự trọn vẹn vào những gì đang xảy đến với ta. Chúng ta sử dụng những tưởng tượng của mình về những sự tồi tệ để tạo nên một tấm gương bên trong của những sự dữ bên ngoài: chỉ khi những sự dữ ấy thâm nhập vào sân khấu tâm trí của chúng ta, chúng ta mới thật sự “thấy” chúng.

Nỗi đau mà ta có thể chấp nhận hầu như không phải là nỗi đau; nỗi đau mà ta không thể chấp nhận – ta gọi nó là sự chịu đựng hay nỗi thống khổ. Trong The Road, người đàn ông và con trai của mình đã trải qua quá nhiều mất mát và đau đớn đến nỗi họ đã quen với trạng thái buồn bã thẳm sâu của đời sống; họ hoàn toàn chấp nhận sự sụp đổ của nền văn minh đến mức, theo những cách nào đó, họ dường như rời khỏi tấn bi kịch đang bao vây và muốn nhấn chìm họ xuống. Nhưng độc giả thì chưa quen được – ta có thể nói, người đọc cảm nhận tình trạng ấy qua nhân vật. The Road là một cuốn tiểu thuyết mời gọi sự tham dự của người đọc: Các nhân vật trong đó lê bước qua vùng đất hoang trong sự tê liệt và lãnh đạm với toàn bộ thế giới; còn chúng ta, những người đọc, có nhiệm vụ cảm nhận nỗi đau của họ.  Cuộc khủng hoảng do đại dịch corona đã trang bị cho độc giả những tiền đề tốt để có thể thấu cảm với những nỗi đau không dễ cảm thấy ấy. Chúng ta hoang mang với những gì xảy ra cho người cha và đứa con vì ta e sợ rằng điều đó có thể cũng xảy ra đối với mình. Nỗi sợ ấy lửng lơ trong không khí quanh ta, chúng ta dùng những cuốn sách hay bộ phim mang nó vào nhà, hít thở nỗi thống khổ thật sâu vào ta nhiều nhất có thể.

Tại sao chúng ta lại đọc những tiểu thuyết về đề tài tận thế? Xem những bộ phim về đề tài tận thế?

Vì chúng ta không muốn chạy trốn. Chúng ta muốn ở đây, bây giờ. Ngay cả khi điều này gây đau đớn.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Agnes Callard, “Why am I Reading Apocalyptic Novels Now?”, https://www.nytimes.com/2020/03/31/opinion/coronavirus-apocalyptic-novels.html

Đọc “Vết nhơ của người” (Philip Roth)

Mọi năm, tôi đều khai bút bằng một bài dịch nào đó. Dịch thuật vẫn là công việc chữ nghĩa tôi muốn theo đuổi nhất nhưng mấy năm nay đều không có tiến triển gì.

Năm nay, tôi khai bút bằng một bài đọc sách. Tôi viết về cuốn sách như một người đọc bình thường. Tôi nghĩ, điều tôi muốn làm nhất năm nay là trở thành một người đọc chuyên cần, cố gắng viết ra những gì mình nghĩ về tác phẩm mình đã đọc, cố gắng thoát khỏi những cách nghĩ, cách diễn đạt mà bản thân tôi giờ cũng thấy sáo.

Làm người đọc không dễ. Vẫn mong viết được hay dịch được cái gì. Nhưng viết lại sự đọc của mình là việc tôi muốn làm hơn cả vào ngày đầu năm này.

 

Vết-nhơ-của-người-T5-1024x1024

Nguồn ảnh: Nhã Nam

*

Cảnh tượng đầu tiên gây ám ảnh đối với tôi khi đọc cuốn tiểu thuyết này là cảnh ông giáo sư ngữ văn 71 tuổi Coleman Silk ngắm nhìn Faunia Lesley – cô lao công 34 tuổi, không biết đọc, người tình bí mật của ông, lặng lẽ, cần mẫn vắt sữa bò trong ánh sáng và hơi nóng của buổi chiều hè chạng vạng. Đó cũng là cảnh tượng gây băn khoăn cho Nathan Zuckerman – người kể chuyện được xây dựng một cách đặc biệt trong “Vết nhơ của người”, một dạng người kể chuyện biết hết nhưng không mang thẩm quyền của Thượng đế. Nathan Zuckerman thấy gì? Sự bất tương xứng, sự lệch lạc của một cặp đôi đang cùng phải lãnh nhận một mệnh lệnh: phải sống: “phải tiếp tục nhận, cho, vắt sữa, chấp nhận hết lòng, cái bí ẩn như nó vốn thế, sự ý nghĩa đến vô nghĩa của việc sống…”. Cảnh tượng ấy là ma lực để khiến tôi không thể bỏ cuốn sách lại, dù văn chương của Roth thật sự không là thứ văn chương an ủi khi con người gặp khủng hoảng.

Tôi cho rằng tiêu điểm của nghệ thuật tiểu thuyết chính là những cảnh tượng ngỡ như vặt vãnh như thế. Những cảnh tượng ấy làm ngôn ngữ mô tả của chúng ta thường xuyên bất lực bởi sự dễ sáo mòn và cằn nghĩa của nó. Tiểu thuyết phơi bày sự sống, túm lấy những gì ngoại biệt, làm ta từ bỏ việc muốn nhìn nhận nó trong tính chất dễ chịu và dễ phân loại. Tiểu thuyết thật ra dành cho một phần nhân loại thường rơi vào trạng thái “khó ở”.

Hạt nhân sự kiện của “Vết nhơ của người” là một bí mật mà Coleman Silk – nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết – đã cố giấu chặt: gốc gác da màu của bản thân. Từ bí mật của một cá nhân, lịch sử của những thân phận riêng lẻ, tiểu thuyết của Philip Roth là một sự nhìn lại với ý thức chất vấn riết róng về lịch sử nước Mỹ, nơi vấn đề căn tính luôn ràng rịt với chính trị. Để xác lập một vị trí được thừa nhận trong xã hội Mỹ, giáo sư Coleman đã tự thanh tẩy gốc gác của mình bằng một nỗ lực duy ý chí đến mức sẵn sàng bước ra khỏi luân lý qua việc từ chối liên hệ đối với người mẹ da màu của mình. Từng bước khẳng định mình là từng bước Coleman cố gắng thích ứng với những chuẩn xã hội Mỹ, để rồi vươn lên vị thế có thể thách thức lại nó bằng hệ giá trị cá nhân của mình. Nói như bình luận của Nathan, con người ấy đâu chỉ vừa lòng với việc làm người da trắng. Coleman muổn trở thành con người do chính mình tạo nên. Theo nghĩa ấy, Roth đã tạo nên một hình tượng hiện sinh, một cá nhân dám thách thức định mệnh. Đó có lẽ cũng là chủ đề bề sâu kết nối tiểu thuyết này với bi kịch “Oedipes làm vua” của Sophocles mà Roth có trích lại làm lời đề từ cho “Vết nhơ của người”.

Định nghĩa “mình là ai?”, trên thực tế, là một nỗ lực quẫy đạp đúng tinh thần Sisyphus trong mạng lưới chằng chịt của những diễn ngôn lịch sử và căn tính tập thể. Không chỉ Coleman, các nhân vật khác trong tiểu thuyết này đều rơi vào tình thế quẫy đạp ấy. Căn tính của Les Farley – người chồng cũ của Faunia – bị đập vỡ bởi những chấn thương dai dẳng sau cuộc chiến Việt Nam, cuộc chiến mà nước Mỹ dấn thân vào với tham vọng xác lập biểu tượng về chính mình. Thường xuyên bị kích động bởi bạo lực, lẫn lộn quá khứ và hiện tại, Les sống trong hoang tưởng dai dẳng với một bản thể vỡ vụn (khác với Coleman, người chủ động chặt đứt quá khứ khỏi đời mình, tự ý thức đưa bản thân vào một quá trình gần giống như “cải đạo”). Ở một khía cạnh khác, nữ giáo sư Delphine Roux cũng tự thanh tẩy chính mình khi cố gắng cải biến bản thân để thích nghi với môi trường học thuật nước Mỹ, một nỗ lực giúp cô củng cố địa vị trong giới hàn lâm song cũng làm cô không tránh khỏi cảm giác tự phản bội chính mình, phản bội truyền thống học thuật của châu Âu lục địa. Với cá nhân tôi, những mâu thuẫn bên trong Delphine là điều làm tôi đồng cảm: Delphine hồ nghi vào việc soi mói văn chương từ những góc độ lý thuyết thời thượng như nữ quyền hay chủng tộc, song cô lại cũng không thể tiếp nối truyền thống ngữ văn học của Coleman, người tiền nhiệm của mình. Faunia tương phản với những nhân vật này ở chỗ cô từ chối thanh tẩy mình. Cô nổi giận khi Coleman đọc cho cô nghe câu chuyện về scandal liên quan đến tổng thống Bill Clinton, cô từ chối học đọc: người phụ nữ bị lạm dụng, bị bỏ rơi khi còn nhỏ, bị bạo hành, bị khinh miệt, trải qua những chấn thương khốc liệt chỉ còn sống với phần bản năng hoang dã, trần trụi nhất của mình. Cô chỉ tìm thấy sự cảm thông với loài vật, thay vì con người. Trường đoạn Faunia vắt sữa bò và nói chuyện với quạ có lẽ những trường đoạn mà văn chương của Roth giảm thiểu tối đa sự khắc nghiệt của mình trong những miêu tả về con người.

“Trần truồng” có thể xem là một từ khóa của cuốn tiểu thuyết này. Hẳn đây là một dụng ý của Roth: đó là trạng thái đối lập với “vết nhơ”. “Vết nhơ” tưởng như là thứ ngoại hiện, nằm trên màu da, thân xác, giới tính của con người. Nhưng hóa ra chính những ý nghĩa được gán cho nó, được củng cố bởi những giá trị văn hóa trung tâm, từ đó trở thành những diễn ngôn thao túng con người mới là vết nhơ thực sự. Vết nhơ ấy là thứ lịch sử nước Mỹ vốn giấu che, khỏa lấp và tiểu thuyết thì tin rằng nhiệm vụ của nó là bóc trần bí mật ấy của lịch sử. Bởi thế, những cảnh tượng xác thân trần trụi giữa Coleman và Faunia, theo tôi nghĩ, lại là những cảnh tượng không hề xấu hổ hay trơ trẽn, dù Roth mô tả rất phản thi vị, gần với khiêu dâm. Đó, đơn giản, là những cảnh tượng của sự sống. Cũng như cảnh Coleman nhìn Faunia vắt sữa bò.

Những quy chiếu liên văn bản tới “Oedipus làm vua” hiển lộ rõ nét trong “Vết nhơ của người”. Điểm quy chiếu quan trọng nhất có lẽ nằm ở chỗ: Nếu Oedipus trong bi kịch của Sophocles cưỡng lại định mệnh để đi tìm nguồn gốc của mình, để biết mình là ai thì Coleman Silk cũng cưỡng lại thứ định mệnh tưởng như gắn liền với màu da của mình, khước từ gốc gác. Cả hai sau khi tưởng như có thể bướng bỉnh thách thức được định mệnh cuối cùng vẫn mắc vào bẫy mà định mệnh giăng ra. Oedipus giết cha và lấy mẹ ruột; Coleman bị cáo buộc là phân biệt chủng tộc – một cáo buộc thể hiện rõ sự đạo đức giả của giới học thuật nước Mỹ, bị con trai của mình cự tuyệt khi nó muốn truy nguyên nguồn cội của mình, bị xa lánh bởi mối quan hệ người ta khó hình dung được giữa một ông giáo sư và một cô gái thất học… Nhưng cũng như nhân vật trong bi kịch cổ đại, ta đều không thể coi những kẻ phạm lỗi ấy như là những nhân vật phản diện hay để phê phán. Tham vọng trở thành con người do chính mình tạo nên của Coleman trong tiểu thuyết này (mà người ta có thể nghĩ đó là ngông cuồng, kiêu mạn, thế nào cũng được) thực ra là điều chúng ta vẫn thầm ấp ủ. Dám đi đến cùng cái tham vọng đó phải trả giá. Nghĩ đến điều ấy, ta đành bỏ cuộc. Chẳng phải chúng ta đều che đậy vết nhơ của người theo những cách khác nhau đó sao? Và trong những khoảnh khắc nào đó, khi sống theo những chuẩn tắc nào đó của đời sống để được công nhận mình thuộc về nó, ta bỗng mệt mỏi, ta muốn tung hê, ta lại chỉ có thể mở tiểu thuyết ra để nhận ra có những người đã can đảm trả giá hơn ta. Họ không đáng để nhạo báng hay phê phán, cũng chẳng cần ta thương xót: họ ở đó để nói với ta về toàn bộ sự khốc liệt của việc làm người. Thế thôi.

Nhật ký đọc sách: “Beloved” (Toni Morrison)

leahhoelscher_beloved

1. Nhà văn Nga Mikhail Prishvin từng có một suy tư làm tôi ngỡ ngàng vì độ sâu sắc của nó. Ông bảo, chúng ta vẫn hay nghĩ trên đời này còn có gì xinh đẹp hơn, tự do hơn một chú chim. Ta vẫn ngước nhìn với niềm ngưỡng vọng hình ảnh một con chim sải cánh giữa bầu trời khoáng đạt kia như là sự phóng chiếu của khát khao lớn nhất trong ta. Nhưng có ai để ý rằng dưới đôi cánh của con chim ấy là những chỗ sưng u đau đớn. Tự do, để có nó, phải trải qua đau đớn, phải chấp nhận giá của nó luôn là cái giá nghiệt ngã nhất. Và bởi thế lựa chọn tự do của con người luôn là sự lựa chọn nhọc nhằn và đồng thời cao cả hơn hết thảy.

Văn chương không chỉ ngợi ca tự do, nó tìm cách để ta thấy được nỗi đau đớn để được tự  do và cả sự can đảm tột cùng khi dám đau đớn, thậm chí, dám chết, để tự do.

2. Có đến ba bản dịch Beloved (1988) của Toni Morrison ở Việt Nam với cách đặt tựa khác nhau ít nhiều: Người yêu dấu (bản dịch sớm nhất, của Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Thanh Tâm), Thương (bản dịch của Hồ Như) và Yêu dấu (bản dịch của Thiên Nga). Đáng ra sự xuất hiện của bà ở Việt Nam cũng là một đề tài thú vị cho giới nghiên cứu: hình ảnh người da đen trong văn chương Mỹ được dịch, được dẫn nhập như thế nào vào trong ngữ cảnh Việt Nam hẳn hàm chứa những tự sự nhỏ, thú vị, và đương nhiên phức tạp, về cách mà người Việt chúng ta hình dung về lịch sử nước Mỹ. Nhưng câu chuyện học thuật luôn là câu chuyện không thể nói đôi ba câu trên mạng là xong xuôi.

Ở lần đọc lại thứ hai cuốn tiểu thuyết này, sau khi nghe tin nhà văn qua đời, tôi mới thật sự có cảm xúc về nó, chứ không chỉ dừng lại ở việc có thêm một ý niệm về Toni Morrison. Beloved là thứ văn chương coi việc gây nhức nhối cho người đọc là trách nhiệm của nó. Nó là thứ văn chương nhìn thấy những tình huống khốc liệt nhất mà con người – hay đúng hơn, theo tôi nghĩ, việc làm người – bị đặt vào. Ở trong tác phẩm này, câu hỏi đó không phải là sự lựa chọn giữa sống và chết, cũng không phải là sự lựa chọn giữa việc phải sống thế nào – xét đến cùng, khi còn bị đối diện với những câu hỏi như thế, con người còn chưa bị chạm đến đáy của sự thống khổ của việc làm người. Câu hỏi đặt ra ở đây, cay đắng hơn nhiều, bởi nó là câu hỏi về sự lựa chọn “Con người được chết như thế nào?”. Nói như lời của Sethe – nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết – với đứa con gái mà chị từng giết: “Nếu mẹ không giết con thì con sẽ chết ra sao?” Câu hỏi nghịch lý ấy là câu hỏi buốt nhói nhất khi tôi đọc Beloved, ở cả lần thứ nhất lẫn lần thứ hai này.

3. Beloved, như chia sẻ của Toni Morrison, là cuốn tiểu thuyết khởi sinh từ nỗi ám ảnh của nhà văn về một câu chuyện có thật, về  Margaret Garner, một người phụ nữ da đen đã giết chết con gái mình còn hơn để nó quay trở lại với thân phận nô lệ. Câu chuyện có thật rất khốc liệt này là chất liệu để văn chương đặt ra câu hỏi về khả năng cảm thông của chúng ta. Và câu hỏi mà “Beloved” buộc độc giả của mình phải đối diện là câu hỏi không hề dễ dãi. Cả trong Mắt biếc (The Bluest Eye) và Beloved – hai cuốn tiểu thuyết của Toni Morrison được dịch ở Việt Nam tính đến thời điểm này – đều cho thấy Morrison là ngòi bút lách rất sâu vào những mặc cảm tội lỗi của con người: những ám ảnh, những sự rối trí,  sự kiệt quệ khi con người không thể cắt đứt quá khứ để sống trong hiện tại. Nỗi quằn quại khổ đau ấy là trạng thái vực thẳm tinh thần mà Morrison không cho phép ngòi bút của mình được khoan nhượng. Và  nghệ thuật kể chuyện của bà còn phức tạp hơn những gì tưởng như đã rất hợp lý trong kết luận của tòa án về vụ việc của Garner, theo đó, việc Garner được miễn tội trong vụ giết đứa con hàm ý bà đã bị xử không phải như một con người kèm theo những trách nhiệm của mình. Nhưng thực chất khó thể coi đó là một phiên tòa công lý bởi xét đến cùng, dù thế nào Garner cũng chết: “chết sớm như một kẻ giết người hoặc chết chậm như một nô lệ bị đổi xử tàn ác” (trích Nguồn gốc của ngoại tộc, Toni Morrison, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Tiến Văn, Tao Đàn, & NXB Hội nhà văn 2018). Phiên tòa ấy, trên thực tế, cũng ném trả Garner về lại kiếp sống nô lệ cho đến khi bà bị qua đời vì bệnh thương hàn vào năm 1858. Điều mà Morrison muốn làm gợn lên ở người đọc còn là liệu có chăng khả năng cảm thông nào dành cho Beloved – đứa bé bị giết chết, quay trở lại ám mẹ nó, vắt kiệt mẹ nó, và bị cộng đồng da đen ấy nhìn như một hình tượng nghịch dị, một con quỷ “trần truồng”, “khoác lấy hình hài của một phụ nữ có thai”, “mỉm cười tươi rói”…

Nhưng Beloved không chỉ là một tác phẩm đào sâu vào thế giới tinh thần của những thân phận thống khổ. Điều làm nó là cuốn tiểu thuyết đáng để đọc lại để nghĩ cùng với những câu hỏi mà Toni Morrison nêu lên thông qua số phận của Sethe đấy chính là sự chất vấn lịch sử. Nước Mỹ vốn được hình dung là xứ tự do, song thứ tự do đã trở thành biểu tượng của đất nước này phải chăng luôn làm mờ đi những dấu tích bạo lực trong lịch sử đã hằn lên thân phận người da đen? Như tấm lưng của Sethe mà trên đó những vết đòn roi tra tấn đã tượng hình thành một cái cây kỳ lạ. Có một thứ mà cái giá trị của văn hóa trung tâm luôn cố gắng tích trữ và bơm vào tâm trí của con người hiện thời, nhờ đó, những bóng ma của quá khứ có thể bị đuổi xua, bị gạt mãi ra bên lề là sự quên lãng. Tiểu thuyết của Toni Morrison làm tôi nhớ đến Những đứa con của nửa đêm của Salman Rushdie khi cả hai tác phẩm đều chia sẻ nỗi lo âu trước nguy cơ lịch sử bị giản lược bởi sự lãng quên. Tiểu thuyết, trong tình thế này, phải coi chống quên lãng như một trách nhiệm của mình.

Sự kéo dài của tình trạng phân biệt chủng tộc ở nước Mỹ cho đến giữa thế kỷ XX và việc bạo lực tái phát từ nguyên nhân này trong những năm gần đây cho thấy đây chính là vết thương chưa bao giờ được chữa lành trong lịch sử quốc gia này. Trong “Nguồn gốc của ngoại tộc” – cuốn tiểu luận của Morrison vừa được dịch sang tiếng Việt gần đây, có thể thấy rõ hơn cái nhìn thấu đáo của nhà văn về một “truyền thống”  phi nhân hóa “Kẻ khác” là nguồn cơn của bạo lực được duy trì trên đất nước vốn được xem là biểu tượng của quốc gia tự do. Thiết nghĩ, với Beloved, Toni Morrison đã không chỉ đứng ngoài các đại tự sự về lịch sử quốc gia, bà còn điềm tĩnh tách khỏi đại tự sự của cộng đồng da đen về lịch sử của mình. Không phải vô cớ, “Beloved” – tên của đứa bé bị mẹ giết, hồn ma ấy mới trở thành tên của cuốn tiểu thuyết, thay vì Sethe – nhân vật có nguyên mẫu trong lịch sử. Câu chuyện về Beloved có thể cũng bị cộng đồng da đen lãng quên như một cơn ác mộng cần phải quên, song nhà tiểu thuyết vẫn phải là kẻ điềm tĩnh hơn cả. Để trụ lại. Nhìn xuyên qua cơn ác mộng ấy. Lắng nghe một tiếng nói có vẻ như rất dễ chìm dần theo thời gian. Một tiếng nói cầu xin một nụ hôn. Cho Yêu Dấu.

Nhật ký đọc sách: “Moby Dick” – cuốn tiểu thuyết huy hoàng

whale_crop_2_1050x700

Tôi đọc “Moby Dick” trong những ngày cao điểm nắng nóng ở Hà Nội. Trước đó, tôi không có ý định quay lại cuốn tiểu thuyết này của Herman Melville mà mình đã bỏ dở mùa hè năm ngoái. Có lẽ cái nắng nóng có một tác dụng tích cực khi nó làm giảm bớt đáng kể những mối phân tâm của tôi. Nó làm tôi nhận ra việc mình vẫn thích làm hơn cả mỗi khi đóng cửa với thế giới bên ngoài vẫn cứ là đọc sách. Không ngờ ngọn gió hư cấu trong văn chương Melville đã cuốn tôi đi miệt mài, đến mức trong mấy ngày ấy, tôi gần như không muốn làm công việc nào khác ngoài việc đọc sách. Tôi bỏ qua những việc đến hạn phải hoàn thành, bởi nghĩ như thế là mình xây đập chắn trước dòng chảy dào dạt của văn chương Melville.

“Moby Dick” đưa tôi trở lại khoái cảm đọc văn chương sử thi mà đã lâu rồi mình không trải nghiệm lại. (Có lẽ từ thời sinh viên, khi tôi có thể dành cả tuần để đọc trọn Ramayana, Mahabharata hay “Chiến tranh và hòa bình” – pho tiểu thuyết mà tôi luôn nghĩ mình cần phải đọc lại thêm ít nhất một lần nữa khi còn trẻ.) Đọc “Moby Dick” là trải nghiệm không gian vũ trụ hoành tráng, là đi vào những trường đoạn mô tả tỉ mỉ về loài cá voi, về những vật dụng trên tàu – những mô tả không khỏi làm ta nhớ đến cách Homer khắc họa tấm khiên của Achilles trong sử thi Hy Lạp cổ đại, và tất nhiên, những cảnh tượng săn đuổi con quái vật của đại dương. Ở những trường đoạn ấy, Melville cho thấy ngôn từ văn chương có sức mạnh biểu đạt phi thường như thế nào: không một chi tiết nào được miêu tả chung chung, từ vựng của cuốn tiểu thuyết phong phú và giàu sắc thái. Nói như vậy cũng để thấy sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết này ở Việt Nam xứng đáng được coi là kỳ tích dịch thuật. Ấn bản của Nhã Nam, theo tôi biết, là ấn bản in lại (có biên tập và hiệu đính lại) bản dịch “Moby Dick” đã được dịch toàn văn ở Sài Gòn từ trước 1975. Tôi nghĩ bản thân đây đã là một đề tài nghiên cứu hay: trong ngữ cảnh nào, “Moby Dick” lại được chọn và dịch ở Việt Nam? Sự hiện diện ấy tại sao lại được ít nhắc đến trong nghiên cứu lịch sử dịch thuật ở Việt Nam? Các dịch giả ở đây làm cách nào có thể chuyển hóa một vùng ngôn ngữ cực kỳ phức tạp và phong phú gắn với biển cả, với sinh vật học, hải dương học – những lĩnh vực mà ngôn ngữ của chúng có lẽ chưa được vun đắp nhiều trong tiếng Việt? Văn phong dịch thuật của Moby Dick với tôi gợi được cái uy nghi của một thông điệp sử thi, cái trác tuyệt của cảm thức vũ trụ, cái trữ tình trong suy tưởng. Nói như ý của Melville, nước luôn là không gian nuôi dưỡng những trầm tưởng của con người.

“Moby Dick” là một tiểu thuyết sử thi không phải chỉ vì chiều kích hoành tráng của không gian và tính chất phổ quát của xung đột trong tác phẩm: xung đột giữa con người với tự nhiên, xung đột giữa con người với khát vọng vượt lên những giới hạn của bản thể con người. Tính sử thi của nó còn thể hiện rõ ở phẩm chất bách khoa thư. Đọc “Moby Dick” làm tôi nhớ về thời kỳ mà tiểu thuyết không giấu tham vọng có thể phơi bày được toàn cảnh hiện thực cũng như đi vào tận ngóc ngách những gì vi mô nhất của đời sống, thời Victor Hugo còn có thể đem vào tiểu thuyết cả một chương sách dài về hệ thống cống ngầm hay Leo Tolstoy đã dành cả phần cuối “Chiến tranh và hòa bình” đã biện luận cho quan điểm triết học của mình về lịch sử. Một thứ tham vọng như thế của tiểu thuyết có vẻ như ít bắt gặp hơn trong ngữ cảnh hậu hiện đại bây giờ khi câu chuyện của tiểu thuyết bị phân mảnh hóa, chỉ còn là những vi tự sự. “Moby Dick” không chỉ là một từ điển dưới dạng thức tự sự về cá voi, nó còn là một ngụ ngôn về chính trị trong đó những suy tư về dân chủ của Melville có tính chất thấu thị thực sự, điển hình là ở chương “Con cá bị cột lại và con cá tuột dây.” Thuyền trưởng Ahab trong tác phẩm cũng là biểu tượng của một thủ lĩnh cuồng tín và lôi cuốn tất cả mọi người vào trong tham vọng báo thù của mình. Những suy tư về khả năng cộng hưởng văn hóa, về tham vọng bá quyền… là những nội dung chính trị trong cuốn tiểu thuyết đến giờ vẫn còn sức vang vọng. Không hề vô cớ khi “Moby Dick” được nhiều người tìm đọc lại sau sự kiện 11/9.

Nhưng với tôi, “Moby Dick” còn đích thực là một trường ca huy hoàng. Nó là một cuốn tiểu thuyết vừa dữ dội, khốc liệt, vừa sâu lắng, trầm tĩnh. Ngôn ngữ của tiểu thuyết là một thể trùng phức đặc biệt: luôn có những tín hiệu làm ta buộc phải tìm ra những quy chiếu về các biểu tượng, các điển tích trong Kinh Thánh và các huyền thoại trong kho tàng văn hóa nhân loại. Văn bản cuốn tiểu thuyết vì thế vẫn cứ là một câu đố kỳ vĩ luôn thách thức mọi khả thể diễn giải, đến nỗi có cả một tạp chí ra thường niên chỉ tập trung nghiên cứu về “Moby Dick” – tạp chí “Leviathan”.  Cá nhân tôi khi đọc tiểu thuyết đã thật sự nghĩ mình cần phải viết một nghiên cứu nào đó về cuốn tiểu thuyết này và rồi lập tức bị phát ngợp trước khối tư liệu mênh mông xung quanh nó.

Vậy thì trong lúc tôi chưa thể phác thảo được một ý tưởng nghiên cứu cụ thể nào, tôi chép lại đây một trích đoạn mà tôi đã phải dừng lại một lúc để ngẫm về nó trong nỗi hàm ơn sâu sắc:

“… Mặt trời không che được đại dương, là phía tăm tối của quả đất, chiếm mất hai phần ba quả đất. Vậy nên, kẻ phàm trần nào kia tự thấy nơi mình nhiều vui hơn buồn, kẻ ấy không thể nào thành thực – không thành thực hay còn là ngu dốt. Với sách vở cũng vậy. Thành thực nhất trong mọi con người là Con người của Đau buồn, quyển sách thành thực nhất trong mọi quyển sách là cuốn sách của Solomon, và Ecclesiastes là chất thép của sự đau buồn đã được tinh rèn. “Tất cả là phù phiếm.” TẤT CẢ…”