Tag Archives: nhật ký đọc sách

Nhật ký đọc sách – “Pedro Páramo” (Juan Rulfo)

Tôi luôn nghĩ rằng sự hiện diện của văn học Mỹ Latin ở Việt Nam những năm 1980, với vai trò tiên phong của dịch giả Nguyễn Trung Đức, luôn là một sự kiện thú vị và quan trọng mà cho đến giờ vẫn chưa có những nghiên cứu học thuật xứng đáng dành cho nó. Thông qua dịch thuật, một không khí văn chương rất khác phả vào đời sống văn chương Việt Nam mà ở thời điểm ấy có lẽ vẫn đang loay hoay thoát ra khỏi mỹ học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Thứ mỹ học ấy khiến những thứ đọc được nhất của văn học Việt Nam cùng lắm là nằm trong mạch chảy của chủ nghĩa trữ tình, với một lối tự sự đặt trọng tâm vào câu chuyện hơn là lối viết.

Pedro Paramo của Juan Rulfo được dịch và xuất bản ở Việt Nam lần đầu vào năm 1987. Trong ấn bản của nhà xuất bản Mũi Cà Mau, tên của tác phẩm, tác giả và nhân vật vẫn được phiên âm theo lối Việt hóa: Pêdrô Paramô (Hoan Runphô). Ở thời điểm ấy, lối phiên âm Việt hóa này có thể được hiểu là nỗ lực gần gũi hóa, bản địa hóa các hiện tượng văn hóa ngoại lai. Cần phải nhắc lại trước đó, năm 1986, Nguyễn Trung Đức đem đến cho độc giả Việt Nam bản dịch Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez. Cuốn tiểu thuyết của Marquez là một cú sốc đối với kinh nghiệm thẩm mỹ của công chúng đương thời. Trong một truyện ngắn của Khôi Vũ đăng trên báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh năm 1988 có một chi tiết khá thú vị liên quan đến sự tiếp nhận tiểu thuyết này của Marquez: một ông giám đốc nhờ nhân viên của mình kiếm hộ cuốn tiểu thuyết mà ai cũng đang bàn tán xôn xao. Anh trưởng phòng kế toán muốn nịnh sếp nên đáp ứng ngay mong muốn của ông, kèm theo lời giới thiệu bỏ nhỏ: “sách này thuộc loại siêu tác phẩm, in số lượng ít nên khó tìm lại đắt.” Ông giám đốc đọc được vài trang thì bỏ vì không thấy hay. Mấy ngày sau, anh kế toán hỏi thăm, vẫn cái giọng bỏ nhỏ rất đặc trưng của người giỏi nịnh: “Thế anh đã đọc mấy đoạn ấy chưa… mấy đoạn gà trống đạp gà mái chưa ạ… Em cho rằng đây chính là đoạn đáng đồng tiền bát gạo nhất.” Ông giám đốc về đọc lại, rồi bình phẩm, “có mất công tìm kiếm nhưng đúng là đáng đồng tiền bát gạo! Nhà văn tư bản có khác, họ tả thực đến kinh khủng” (“Đứa bé gọi cửa lúc mười hai giờ trưa”). Cả đoạn này là chất liệu vàng cho những ai muốn phân tích nhận thức về tính dục của người Việt Nam giai đoạn hậu chiến. Đứng ở góc độ của người nghiên cứu văn học dịch, đây là dẫn chứng cho thấy việc dịch Trăm năm cô đơn đã góp phần giải phóng nhiều ẩn ức, cấm kỵ trong văn hóa Việt Nam lúc đó. Nó là một nứt rạn nghiêm trọng để văn học Việt Nam nhìn ra nhiều khả thể khác cho nó.

Nhưng Pedro Paramo lại có một số phận im ắng hơn khi đến Việt Nam, dù nó xuất hiện chỉ sau Trăm năm cô đơn một năm và trong lời giới thiệu tiểu thuyết này của Rulfo, Nguyễn Trung Đức cũng dẫn lại lời tán dương của Marquez: “Nếu tôi viết được một cuốn tiểu thuyết như cuốn Pedro Paramo của Juan Rulfo thì tôi cũng sẽ bẻ bút không viết nữa.” Bản thân tôi cũng phải đợi đến khi cuốn sách được Phanbook tái bản vào năm ngoái mới biết đến nó. Dù vẫn chưa có nghiên cứu học thuật đáng tin cậy nào về tiếp nhận tiểu thuyết Mỹ Latin ở Việt Nam, nhưng tôi tin rằng cuốn tiểu thuyết của Rulfo lệch rất xa khỏi tầm đón nhận của công chúng Việt Nam không chỉ ở thập niên 1980. Nếu tiểu thuyết của Marquez có thể rơi cả vào tầm đón nhận của công chúng bình dân bởi đó là một truyện kể không thách đố việc kể lại và những trường đoạn gợi tả đủ kích thích sự hiếu kỳ của công chúng thì Pedro Paramo mang tính thách thức hơn hẳn. Nó, trước hết, là cuốn tiểu thuyết của sự viết. Nó là cuốn tiểu thuyết ngay lập tức đã phá vỡ tính tuyến tính của mạch kể. Nó đòi hỏi một hành động đọc như là sự tái thiết những phân mảnh được đặt cận kề nhau và thiếu những chỉ dấu rõ nét về thời gian và không gian, hư cấu và thực tại. Dù dịch giả đã làm một công việc mà ngày càng hiếm những tác phẩm dịch ở Việt Nam bây giờ làm – giới thiệu về cuốn sách, mô tả về kết cấu của nó để định hướng người đọc, thì tôi tin không chỉ tôi, nhiều người khác cũng ngỡ ngàng khi người kể chuyện ngôi thứ nhất đã chết ở giữa truyện. Và câu chuyện thì vẫn cứ tiếp tục đi… Pedro Paramo buộc ta phải làm quen với một lối tự sự mà ở đây yếu tố vốn được xem là đặc trưng cơ bản của thơ lại được duy trì như một dụng ý bí ẩn: nhịp điệu. Nhịp điệu không có gì gấp gáp, kịch tính dù nếu sắp xếp lại cốt truyện theo tuyến sự kiện, có thể viết lại nó thành một câu chuyện đủ li kỳ với những quan hệ móc nối nhân quả. Nhịp điệu được tạo nên bởi sự láy lại và đối ứng giữa cái nóng ngột ngạt và tiếng mưa dầm như làm nhão mọi thứ, gợi ra một trạng thái thời gian chết, không có tương lai. Nhịp điệu được nhấn mạnh qua hàng loạt những trùng điệp của các motif liên quan đến cái chết hay điềm báo… Đọc một cuốn tiểu thuyết của sự viết là một trải nghiệm rất khác, thậm chí đến giờ vẫn cứ là thách đố đối với ngay cả những người được đào tạo về văn học trong nước, khi việc dạy và học văn vẫn chú trọng vào việc diễn giải câu chuyện hơn là quan tâm xem cái câu chuyện thực ra vẫn chỉ là chất liệu kia được tổ chức thế nào.

Cá nhân tôi khi đọc xong cuốn sách này phải vào Wikipedia để xem lại cốt truyện. Thực vậy, nói cho vui, đọc cuốn tiểu thuyết này cần có một cuốn sổ để ghi lại tên nhân vật, các biến cố chính. Trong khi câu chuyện khó nắm bắt thì vẫn có lực kéo những người đọc kiên nhẫn đi đến trang sách cuối cùng của cuốn tiểu thuyết mỏng nhưng ngồn ngộn, rậm rạp theo phong cách baroque này: nhịp điệu và không khí. Thế giới mà Rulfo vẽ ra bằng ngôn từ này cho phép người ta liên hệ đến kiệt tác “Đất hoang” của T.S.Eliot: một thế giới bị bỏ lại, ngưng trệ, nơi trạng thái sống của con người là trạng thái trở thành ma. Ma và người thầm thì với nhau, cận kề nhau. Không có sự cứu rỗi nào hứa hẹn, chỉ có sự rệu rã, đi đến tàn cuộc là thứ không mơ hồ ở đó:

Trong lúc trời hừng đông, ngày chậm rãi quay trở lại, hầu như nghe rõ tiếng các bản lề của quả đất đã khô dầu kêu lạo xạo. Quả đất già này rùng mình đang lật xoay bóng tối của nó. (trang 192)

Pedro Paramo là một cuốn tiểu thuyết lịch sử. Nó là một dụ ngôn phê phán những tham vọng quyền lực dẫn đến những mâu thuẫn xã hội nảy sinh trong xã hội Mexico hồi đầu thế kỷ XX. Cũng như khi giới thiệu Trăm năm cô đơn, dịch giả Nguyễn Trung Đức đã cố gắng trích dẫn những diễn giải về tiểu thuyết Pedro Paramo hay đưa ra bình luận của cá nhân ông theo tư tưởng Marxist. Chẳng hạn, ông cho rằng với cuốn tiểu thuyết này, Rulfo đã nêu lên nhu cầu cấp bách của thời đại: ruộng đất về tay dân cày. Có lẽ đó cũng là chiến lược để những tiểu thuyết của Marquez và Rulfo có cơ hội hiện diện ở Việt Nam, lách qua các thiết chế kiểm duyệt. Song với cá nhân tôi, chủ đề ám ảnh hơn cả của cuốn tiểu thuyết này là nỗi cô đơn. Trong Pedro Paramo, người sống/ người chết đều cô đơn. Pedro Paramo tưởng như có tất cả vậy mà cuối cùng, khi chết cũng cô độc và tuyệt vọng. Thứ mà y tưởng như có thể dùng quyền lực để sở hữu bằng được cuối cùng cũng không khỏa lấp được nỗi cô đơn và tuyệt vọng ấy. Hắn, cũng như mọi người ở đây, đáng thương nhưng cũng không thể được cứu rỗi.

Tôi đọc Pedro Paramo vào những ngày cũng rệu rã và tàn tạ. Trong những ngày một thứ virus vô hình bỗng nhiên làm toàn bộ cấu trúc xã hội của con người nứt rạn, đứt gãy, người ta nghĩ nhiều đến việc phải khôi phục tính cộng đồng của nhân loại. Ngôi làng Comala mà Rulfo vẽ ra hơn 60 năm trước đôi khi như là cảnh quan của thế giới ta đang sống. Ai đang sống? Ai đang chết? Hay tất cả chúng ta đều đang đi đến cái chết? Mà ngay cả việc tưởng như tất cả đang đi đến cái chết, đó có phải là sự bình đẳng? Chúng ta đang sống trong một thế giới vô vọng. Liệu có cần phải nuôi hy vọng trong cái thế giới vô vọng này không?

Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết này với vô số những câu hỏi mông lung như thế. Cuốn tiểu thuyết như mô phỏng lại Thần khúc của Dante và cả Khải huyền của Kinh Thánh trộn lẫn với hiện thực lịch sử của Mexico này không gỡ gạc được bao nhiêu những mông lung ấy trong tôi. Nhưng tôi nghĩ trải nghiệm lần bước xuống địa ngục cũng là thứ kinh nghiệm nhân tính quý giá. Và chúng ta có thể nếm trải nó bằng nghệ thuật hư cấu. Hư cấu là tưởng tượng, nhưng nỗi đau nó gây ra cho ta có thể rất thật.

Đọc “Vết nhơ của người” (Philip Roth)

Mọi năm, tôi đều khai bút bằng một bài dịch nào đó. Dịch thuật vẫn là công việc chữ nghĩa tôi muốn theo đuổi nhất nhưng mấy năm nay đều không có tiến triển gì.

Năm nay, tôi khai bút bằng một bài đọc sách. Tôi viết về cuốn sách như một người đọc bình thường. Tôi nghĩ, điều tôi muốn làm nhất năm nay là trở thành một người đọc chuyên cần, cố gắng viết ra những gì mình nghĩ về tác phẩm mình đã đọc, cố gắng thoát khỏi những cách nghĩ, cách diễn đạt mà bản thân tôi giờ cũng thấy sáo.

Làm người đọc không dễ. Vẫn mong viết được hay dịch được cái gì. Nhưng viết lại sự đọc của mình là việc tôi muốn làm hơn cả vào ngày đầu năm này.

 

Vết-nhơ-của-người-T5-1024x1024

Nguồn ảnh: Nhã Nam

*

Cảnh tượng đầu tiên gây ám ảnh đối với tôi khi đọc cuốn tiểu thuyết này là cảnh ông giáo sư ngữ văn 71 tuổi Coleman Silk ngắm nhìn Faunia Lesley – cô lao công 34 tuổi, không biết đọc, người tình bí mật của ông, lặng lẽ, cần mẫn vắt sữa bò trong ánh sáng và hơi nóng của buổi chiều hè chạng vạng. Đó cũng là cảnh tượng gây băn khoăn cho Nathan Zuckerman – người kể chuyện được xây dựng một cách đặc biệt trong “Vết nhơ của người”, một dạng người kể chuyện biết hết nhưng không mang thẩm quyền của Thượng đế. Nathan Zuckerman thấy gì? Sự bất tương xứng, sự lệch lạc của một cặp đôi đang cùng phải lãnh nhận một mệnh lệnh: phải sống: “phải tiếp tục nhận, cho, vắt sữa, chấp nhận hết lòng, cái bí ẩn như nó vốn thế, sự ý nghĩa đến vô nghĩa của việc sống…”. Cảnh tượng ấy là ma lực để khiến tôi không thể bỏ cuốn sách lại, dù văn chương của Roth thật sự không là thứ văn chương an ủi khi con người gặp khủng hoảng.

Tôi cho rằng tiêu điểm của nghệ thuật tiểu thuyết chính là những cảnh tượng ngỡ như vặt vãnh như thế. Những cảnh tượng ấy làm ngôn ngữ mô tả của chúng ta thường xuyên bất lực bởi sự dễ sáo mòn và cằn nghĩa của nó. Tiểu thuyết phơi bày sự sống, túm lấy những gì ngoại biệt, làm ta từ bỏ việc muốn nhìn nhận nó trong tính chất dễ chịu và dễ phân loại. Tiểu thuyết thật ra dành cho một phần nhân loại thường rơi vào trạng thái “khó ở”.

Hạt nhân sự kiện của “Vết nhơ của người” là một bí mật mà Coleman Silk – nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết – đã cố giấu chặt: gốc gác da màu của bản thân. Từ bí mật của một cá nhân, lịch sử của những thân phận riêng lẻ, tiểu thuyết của Philip Roth là một sự nhìn lại với ý thức chất vấn riết róng về lịch sử nước Mỹ, nơi vấn đề căn tính luôn ràng rịt với chính trị. Để xác lập một vị trí được thừa nhận trong xã hội Mỹ, giáo sư Coleman đã tự thanh tẩy gốc gác của mình bằng một nỗ lực duy ý chí đến mức sẵn sàng bước ra khỏi luân lý qua việc từ chối liên hệ đối với người mẹ da màu của mình. Từng bước khẳng định mình là từng bước Coleman cố gắng thích ứng với những chuẩn xã hội Mỹ, để rồi vươn lên vị thế có thể thách thức lại nó bằng hệ giá trị cá nhân của mình. Nói như bình luận của Nathan, con người ấy đâu chỉ vừa lòng với việc làm người da trắng. Coleman muổn trở thành con người do chính mình tạo nên. Theo nghĩa ấy, Roth đã tạo nên một hình tượng hiện sinh, một cá nhân dám thách thức định mệnh. Đó có lẽ cũng là chủ đề bề sâu kết nối tiểu thuyết này với bi kịch “Oedipes làm vua” của Sophocles mà Roth có trích lại làm lời đề từ cho “Vết nhơ của người”.

Định nghĩa “mình là ai?”, trên thực tế, là một nỗ lực quẫy đạp đúng tinh thần Sisyphus trong mạng lưới chằng chịt của những diễn ngôn lịch sử và căn tính tập thể. Không chỉ Coleman, các nhân vật khác trong tiểu thuyết này đều rơi vào tình thế quẫy đạp ấy. Căn tính của Les Farley – người chồng cũ của Faunia – bị đập vỡ bởi những chấn thương dai dẳng sau cuộc chiến Việt Nam, cuộc chiến mà nước Mỹ dấn thân vào với tham vọng xác lập biểu tượng về chính mình. Thường xuyên bị kích động bởi bạo lực, lẫn lộn quá khứ và hiện tại, Les sống trong hoang tưởng dai dẳng với một bản thể vỡ vụn (khác với Coleman, người chủ động chặt đứt quá khứ khỏi đời mình, tự ý thức đưa bản thân vào một quá trình gần giống như “cải đạo”). Ở một khía cạnh khác, nữ giáo sư Delphine Roux cũng tự thanh tẩy chính mình khi cố gắng cải biến bản thân để thích nghi với môi trường học thuật nước Mỹ, một nỗ lực giúp cô củng cố địa vị trong giới hàn lâm song cũng làm cô không tránh khỏi cảm giác tự phản bội chính mình, phản bội truyền thống học thuật của châu Âu lục địa. Với cá nhân tôi, những mâu thuẫn bên trong Delphine là điều làm tôi đồng cảm: Delphine hồ nghi vào việc soi mói văn chương từ những góc độ lý thuyết thời thượng như nữ quyền hay chủng tộc, song cô lại cũng không thể tiếp nối truyền thống ngữ văn học của Coleman, người tiền nhiệm của mình. Faunia tương phản với những nhân vật này ở chỗ cô từ chối thanh tẩy mình. Cô nổi giận khi Coleman đọc cho cô nghe câu chuyện về scandal liên quan đến tổng thống Bill Clinton, cô từ chối học đọc: người phụ nữ bị lạm dụng, bị bỏ rơi khi còn nhỏ, bị bạo hành, bị khinh miệt, trải qua những chấn thương khốc liệt chỉ còn sống với phần bản năng hoang dã, trần trụi nhất của mình. Cô chỉ tìm thấy sự cảm thông với loài vật, thay vì con người. Trường đoạn Faunia vắt sữa bò và nói chuyện với quạ có lẽ những trường đoạn mà văn chương của Roth giảm thiểu tối đa sự khắc nghiệt của mình trong những miêu tả về con người.

“Trần truồng” có thể xem là một từ khóa của cuốn tiểu thuyết này. Hẳn đây là một dụng ý của Roth: đó là trạng thái đối lập với “vết nhơ”. “Vết nhơ” tưởng như là thứ ngoại hiện, nằm trên màu da, thân xác, giới tính của con người. Nhưng hóa ra chính những ý nghĩa được gán cho nó, được củng cố bởi những giá trị văn hóa trung tâm, từ đó trở thành những diễn ngôn thao túng con người mới là vết nhơ thực sự. Vết nhơ ấy là thứ lịch sử nước Mỹ vốn giấu che, khỏa lấp và tiểu thuyết thì tin rằng nhiệm vụ của nó là bóc trần bí mật ấy của lịch sử. Bởi thế, những cảnh tượng xác thân trần trụi giữa Coleman và Faunia, theo tôi nghĩ, lại là những cảnh tượng không hề xấu hổ hay trơ trẽn, dù Roth mô tả rất phản thi vị, gần với khiêu dâm. Đó, đơn giản, là những cảnh tượng của sự sống. Cũng như cảnh Coleman nhìn Faunia vắt sữa bò.

Những quy chiếu liên văn bản tới “Oedipus làm vua” hiển lộ rõ nét trong “Vết nhơ của người”. Điểm quy chiếu quan trọng nhất có lẽ nằm ở chỗ: Nếu Oedipus trong bi kịch của Sophocles cưỡng lại định mệnh để đi tìm nguồn gốc của mình, để biết mình là ai thì Coleman Silk cũng cưỡng lại thứ định mệnh tưởng như gắn liền với màu da của mình, khước từ gốc gác. Cả hai sau khi tưởng như có thể bướng bỉnh thách thức được định mệnh cuối cùng vẫn mắc vào bẫy mà định mệnh giăng ra. Oedipus giết cha và lấy mẹ ruột; Coleman bị cáo buộc là phân biệt chủng tộc – một cáo buộc thể hiện rõ sự đạo đức giả của giới học thuật nước Mỹ, bị con trai của mình cự tuyệt khi nó muốn truy nguyên nguồn cội của mình, bị xa lánh bởi mối quan hệ người ta khó hình dung được giữa một ông giáo sư và một cô gái thất học… Nhưng cũng như nhân vật trong bi kịch cổ đại, ta đều không thể coi những kẻ phạm lỗi ấy như là những nhân vật phản diện hay để phê phán. Tham vọng trở thành con người do chính mình tạo nên của Coleman trong tiểu thuyết này (mà người ta có thể nghĩ đó là ngông cuồng, kiêu mạn, thế nào cũng được) thực ra là điều chúng ta vẫn thầm ấp ủ. Dám đi đến cùng cái tham vọng đó phải trả giá. Nghĩ đến điều ấy, ta đành bỏ cuộc. Chẳng phải chúng ta đều che đậy vết nhơ của người theo những cách khác nhau đó sao? Và trong những khoảnh khắc nào đó, khi sống theo những chuẩn tắc nào đó của đời sống để được công nhận mình thuộc về nó, ta bỗng mệt mỏi, ta muốn tung hê, ta lại chỉ có thể mở tiểu thuyết ra để nhận ra có những người đã can đảm trả giá hơn ta. Họ không đáng để nhạo báng hay phê phán, cũng chẳng cần ta thương xót: họ ở đó để nói với ta về toàn bộ sự khốc liệt của việc làm người. Thế thôi.

Nhật ký đọc sách: “Beloved” (Toni Morrison)

leahhoelscher_beloved

1. Nhà văn Nga Mikhail Prishvin từng có một suy tư làm tôi ngỡ ngàng vì độ sâu sắc của nó. Ông bảo, chúng ta vẫn hay nghĩ trên đời này còn có gì xinh đẹp hơn, tự do hơn một chú chim. Ta vẫn ngước nhìn với niềm ngưỡng vọng hình ảnh một con chim sải cánh giữa bầu trời khoáng đạt kia như là sự phóng chiếu của khát khao lớn nhất trong ta. Nhưng có ai để ý rằng dưới đôi cánh của con chim ấy là những chỗ sưng u đau đớn. Tự do, để có nó, phải trải qua đau đớn, phải chấp nhận giá của nó luôn là cái giá nghiệt ngã nhất. Và bởi thế lựa chọn tự do của con người luôn là sự lựa chọn nhọc nhằn và đồng thời cao cả hơn hết thảy.

Văn chương không chỉ ngợi ca tự do, nó tìm cách để ta thấy được nỗi đau đớn để được tự  do và cả sự can đảm tột cùng khi dám đau đớn, thậm chí, dám chết, để tự do.

2. Có đến ba bản dịch Beloved (1988) của Toni Morrison ở Việt Nam với cách đặt tựa khác nhau ít nhiều: Người yêu dấu (bản dịch sớm nhất, của Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Thanh Tâm), Thương (bản dịch của Hồ Như) và Yêu dấu (bản dịch của Thiên Nga). Đáng ra sự xuất hiện của bà ở Việt Nam cũng là một đề tài thú vị cho giới nghiên cứu: hình ảnh người da đen trong văn chương Mỹ được dịch, được dẫn nhập như thế nào vào trong ngữ cảnh Việt Nam hẳn hàm chứa những tự sự nhỏ, thú vị, và đương nhiên phức tạp, về cách mà người Việt chúng ta hình dung về lịch sử nước Mỹ. Nhưng câu chuyện học thuật luôn là câu chuyện không thể nói đôi ba câu trên mạng là xong xuôi.

Ở lần đọc lại thứ hai cuốn tiểu thuyết này, sau khi nghe tin nhà văn qua đời, tôi mới thật sự có cảm xúc về nó, chứ không chỉ dừng lại ở việc có thêm một ý niệm về Toni Morrison. Beloved là thứ văn chương coi việc gây nhức nhối cho người đọc là trách nhiệm của nó. Nó là thứ văn chương nhìn thấy những tình huống khốc liệt nhất mà con người – hay đúng hơn, theo tôi nghĩ, việc làm người – bị đặt vào. Ở trong tác phẩm này, câu hỏi đó không phải là sự lựa chọn giữa sống và chết, cũng không phải là sự lựa chọn giữa việc phải sống thế nào – xét đến cùng, khi còn bị đối diện với những câu hỏi như thế, con người còn chưa bị chạm đến đáy của sự thống khổ của việc làm người. Câu hỏi đặt ra ở đây, cay đắng hơn nhiều, bởi nó là câu hỏi về sự lựa chọn “Con người được chết như thế nào?”. Nói như lời của Sethe – nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết – với đứa con gái mà chị từng giết: “Nếu mẹ không giết con thì con sẽ chết ra sao?” Câu hỏi nghịch lý ấy là câu hỏi buốt nhói nhất khi tôi đọc Beloved, ở cả lần thứ nhất lẫn lần thứ hai này.

3. Beloved, như chia sẻ của Toni Morrison, là cuốn tiểu thuyết khởi sinh từ nỗi ám ảnh của nhà văn về một câu chuyện có thật, về  Margaret Garner, một người phụ nữ da đen đã giết chết con gái mình còn hơn để nó quay trở lại với thân phận nô lệ. Câu chuyện có thật rất khốc liệt này là chất liệu để văn chương đặt ra câu hỏi về khả năng cảm thông của chúng ta. Và câu hỏi mà “Beloved” buộc độc giả của mình phải đối diện là câu hỏi không hề dễ dãi. Cả trong Mắt biếc (The Bluest Eye) và Beloved – hai cuốn tiểu thuyết của Toni Morrison được dịch ở Việt Nam tính đến thời điểm này – đều cho thấy Morrison là ngòi bút lách rất sâu vào những mặc cảm tội lỗi của con người: những ám ảnh, những sự rối trí,  sự kiệt quệ khi con người không thể cắt đứt quá khứ để sống trong hiện tại. Nỗi quằn quại khổ đau ấy là trạng thái vực thẳm tinh thần mà Morrison không cho phép ngòi bút của mình được khoan nhượng. Và  nghệ thuật kể chuyện của bà còn phức tạp hơn những gì tưởng như đã rất hợp lý trong kết luận của tòa án về vụ việc của Garner, theo đó, việc Garner được miễn tội trong vụ giết đứa con hàm ý bà đã bị xử không phải như một con người kèm theo những trách nhiệm của mình. Nhưng thực chất khó thể coi đó là một phiên tòa công lý bởi xét đến cùng, dù thế nào Garner cũng chết: “chết sớm như một kẻ giết người hoặc chết chậm như một nô lệ bị đổi xử tàn ác” (trích Nguồn gốc của ngoại tộc, Toni Morrison, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Tiến Văn, Tao Đàn, & NXB Hội nhà văn 2018). Phiên tòa ấy, trên thực tế, cũng ném trả Garner về lại kiếp sống nô lệ cho đến khi bà bị qua đời vì bệnh thương hàn vào năm 1858. Điều mà Morrison muốn làm gợn lên ở người đọc còn là liệu có chăng khả năng cảm thông nào dành cho Beloved – đứa bé bị giết chết, quay trở lại ám mẹ nó, vắt kiệt mẹ nó, và bị cộng đồng da đen ấy nhìn như một hình tượng nghịch dị, một con quỷ “trần truồng”, “khoác lấy hình hài của một phụ nữ có thai”, “mỉm cười tươi rói”…

Nhưng Beloved không chỉ là một tác phẩm đào sâu vào thế giới tinh thần của những thân phận thống khổ. Điều làm nó là cuốn tiểu thuyết đáng để đọc lại để nghĩ cùng với những câu hỏi mà Toni Morrison nêu lên thông qua số phận của Sethe đấy chính là sự chất vấn lịch sử. Nước Mỹ vốn được hình dung là xứ tự do, song thứ tự do đã trở thành biểu tượng của đất nước này phải chăng luôn làm mờ đi những dấu tích bạo lực trong lịch sử đã hằn lên thân phận người da đen? Như tấm lưng của Sethe mà trên đó những vết đòn roi tra tấn đã tượng hình thành một cái cây kỳ lạ. Có một thứ mà cái giá trị của văn hóa trung tâm luôn cố gắng tích trữ và bơm vào tâm trí của con người hiện thời, nhờ đó, những bóng ma của quá khứ có thể bị đuổi xua, bị gạt mãi ra bên lề là sự quên lãng. Tiểu thuyết của Toni Morrison làm tôi nhớ đến Những đứa con của nửa đêm của Salman Rushdie khi cả hai tác phẩm đều chia sẻ nỗi lo âu trước nguy cơ lịch sử bị giản lược bởi sự lãng quên. Tiểu thuyết, trong tình thế này, phải coi chống quên lãng như một trách nhiệm của mình.

Sự kéo dài của tình trạng phân biệt chủng tộc ở nước Mỹ cho đến giữa thế kỷ XX và việc bạo lực tái phát từ nguyên nhân này trong những năm gần đây cho thấy đây chính là vết thương chưa bao giờ được chữa lành trong lịch sử quốc gia này. Trong “Nguồn gốc của ngoại tộc” – cuốn tiểu luận của Morrison vừa được dịch sang tiếng Việt gần đây, có thể thấy rõ hơn cái nhìn thấu đáo của nhà văn về một “truyền thống”  phi nhân hóa “Kẻ khác” là nguồn cơn của bạo lực được duy trì trên đất nước vốn được xem là biểu tượng của quốc gia tự do. Thiết nghĩ, với Beloved, Toni Morrison đã không chỉ đứng ngoài các đại tự sự về lịch sử quốc gia, bà còn điềm tĩnh tách khỏi đại tự sự của cộng đồng da đen về lịch sử của mình. Không phải vô cớ, “Beloved” – tên của đứa bé bị mẹ giết, hồn ma ấy mới trở thành tên của cuốn tiểu thuyết, thay vì Sethe – nhân vật có nguyên mẫu trong lịch sử. Câu chuyện về Beloved có thể cũng bị cộng đồng da đen lãng quên như một cơn ác mộng cần phải quên, song nhà tiểu thuyết vẫn phải là kẻ điềm tĩnh hơn cả. Để trụ lại. Nhìn xuyên qua cơn ác mộng ấy. Lắng nghe một tiếng nói có vẻ như rất dễ chìm dần theo thời gian. Một tiếng nói cầu xin một nụ hôn. Cho Yêu Dấu.

Nhật ký đọc sách: “Sói thảo nguyên” (Hermann Hesse)

steppenwolf-by-hermann-hesse.jpg

1. Hermann Hesse là nhà văn đi cùng tuổi mới lớn của tôi, sau khi tôi cảm thấy đã đến lúc mình gác lại thứ văn chương hoa niên, để đi vào một cõi khác của chữ nghĩa: sâu thẳm hơn, mơ hồ hơn, dữ dội hơn, nhưng cũng là nơi từ đó, một nhãn quan mới về đời sống thật sự được mở ra cho tôi.

Năm lớp 11, tôi trải qua một mùa hè ốm dài, phải bỏ dở hàng loạt các course học thêm và những lúc đỡ ốm nhất, tôi chỉ còn có thể đọc sách và viết lách linh tinh để con người thoát khỏi sự trì trệ. “Câu chuyện dòng sông” (Siddharta) là cuốn sách đầu tiên của Hesse mà tôi đọc. Nỗi xúc động mà cuốn sách đem đến cho tôi rất khác với những gì tôi từng đọc ở văn chương tuổi mới lớn: dạt dào, sâu thẳm, khinh khoái. Không phải vô cớ (sau này tôi mới biết), nhiều tiểu thuyết của Hesse khi được dịch ở miền Nam trước 1975 đều được đổi tựa theo lối Việt hóa, bắt đầu bằng từ tuổi trẻ: “Tuổi trẻ cô đơn”, “Tuổi trẻ băn khoăn”, “Tuổi trẻ thần tiên)… Hesse là người nói với tôi: cô đơn, băn khoăn, khủng hoảng, hoang mang … đều là những trải nghiệm mà tuổi trẻ cần đi qua. “Câu chuyện dòng sông” cũng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên nói với tôi rằng cuộc hành trình của con người mà văn chương muốn dõi theo nhất chính là hành trình tìm kiếm mình. Không gì nhọc nhằn hơn hành trình ấy, không gì khổ sở hơn hành trình ấy bởi đối diện với nội tâm, nói như chữ của Hesse trong trang cuối “Sói thảo nguyên” là đối diện với một cõi địa ngục tinh thần. Nhưng trải qua kinh nghiệm địa ngục ấy là điều kiện để làm người. Vì thế, cũng không có gì lớn lao hơn hành trình truy vấn chính mình ấy.

Tôi cảm mến Hesse thuở ấy đến độ dò hỏi khắp nơi cuốn tiểu thuyết mà theo lời dẫn của nhà văn Nhật Chiêu, đó là kiệt tác vĩ đại nhất của Hesse – cuốn “Trò chơi hạt thủy tinh”. Sau này mới biết bản dịch tiếng Việt ấy vẫn còn đang ở thời tương lại. Cũng có thể là hữu duyên, khi trên đường nghiên cứu của mình, tôi cũng bị cuốn vào “trò chơi”.

2. “Sói thảo nguyên” là cuốn sách đến đúng lúc với tôi, dù đã từng đọc nó trước đây. Nhưng những ngày này, khi cảm thấy cần phải nhìn lại mình, khi nhận thấy toàn bộ mối liên hệ giữa mình với tha nhân đứt gãy, tôi đọc lại cuốn sách. Nỗi xúc động khi đọc Hesse lại trở lại, như thể trang văn của ông vẫn cứ là người bạn – người bạn còn lại khi mọi người trong thế giới thực tại mất hết kiên nhẫn với tôi – có thể trò chuyện với tôi, có thể rọi sâu vào những mâu thuẫn trong tôi, thúc giục tôi phải dấn tiếp nữa trong hành trình kiểu Dante đi vào cõi địa ngục của nội tâm mình.

“Sói thảo nguyên” là một cuốn tiểu thuyết giàu chất tự thuật của Hesse. Bản dịch của Lê Chu Cầu do Nhã Nam xuất bản có thể nói đã rất cẩn thận khi đưa những chú thích để người đọc nhận ra mối liên hệ giữa thế giới hư cấu của tiểu thuyết với những chi tiết trong tiểu sử của Hesse. Để thấy cuốn sách được viết trong giai đoạn nhà văn phải chịu những bất ổn trong tinh thần như thế nào, đang sống trong một thời đại ngột ngạt thế nào: chiến tranh sắp xảy đến, những cơn lên đồng tập thể đang chực bùng lên, các giá trị tầm thường của đời sống hiện đại lên ngôi, con người hồ nghi niềm tin về cái gọi là tính người trong bản thân, trong nhân loại. “Sói thảo nguyên” là sự dội vang của cả Fauste, cả Dante, cả Lewis Carroll, ta nghe thấy âm nhạc Mozart lẫn những náo động của một lễ hội mang tinh thần dionysian. Nó mang đầy cảm thức của chủ nghĩa hiện đại nơi con người còn lo âu đối mặt với sự khủng hoảng ý nghĩa của thế giới như một bi kịch hiện sinh.

Với cá nhân tôi, Harry Haller – con người tự nhận thấy bản ngã của mình là hợp thể giằng xé giữa phần người và phần sói – chính là mẫu nhân vật chỉ có văn chương mới muốn quan tâm: con người ấy đòi hỏi một điều gì đó ở cuộc sống này, còn hơn cả hạnh phúc, một thứ để anh ta có thể chết cho nó. Văn chương vốn dĩ chẳng phải là tôn giáo nhưng những lời tự thú mà ta nghe được trong văn chương nhiều khi lại thành thật, khẩn thiết hơn cả khi ta đối diện với Thượng đế.

Tôi chẳng biết nói gì hơn về cuốn sách này, ngoài việc chép lại lời mà Hermine nói với Harry trong truyện:

“Đầu óc anh sẵn mang một hình ảnh cuộc đời, một niềm tin, một đòi hỏi; anh từng sẵn sàng hành động, hứng chịu đau khổ và hy sinh, nhưng rồi dần dà nhận thấy rằng thế giới không đòi hỏi ở anh hành động và hy sinh cùng những điều tương tự, rằng cuộc đời không phải thiên anh hùng ca với những vai người hùng và những vai này nọ, mà chỉ là một căn buồng tiện nghi trưởng giả, ở đấy người ta hoàn toàn hài lòng với chuyện ăn uống, cà phê cà pháo, đan vớ, chơi bài tarot và nghe nhạc radio. Còn ai thích lối sống khác, ai mang trong người chí khí anh hùng, yêu cái đẹp, tôn sùng những thi hào hay các bậc thánh thì người ấy là một kẻ dại khờ, một kỵ sĩ kiểu Don Quichotte. Bạn ơi, em cũng thế đấy! Em cũng vốn là một cô gái nhiều năng khiếu, được sinh ra để sống theo một tấm gương cao cả, đặt cho mình những đòi hỏi lớn lao và hoàn thành những nhiệm vụ cao quý. Em có thể chọn cho mình định mệnh to tát, thành vợ một nhà vua, thành người tình của một nhà cách mạng, em gái thiên tài, mẹ một kẻ tuẫn đạo. Nhưng cuộc đời chỉ cho em thành một cô gái điếm thượng lưu với khiếu thẩm mỹ tàm tạm…Em tuyệt vọng mất một lúc và tự trách mình khá lâu. Cuộc đời nhất định phải luôn luôn có lý, em nghĩ thế, thành thử khi cuộc đời nhạo báng những giấc mộng đẹp của em thì bởi vì chúng vớ vẩn và sai lầm… Harry ơi, em thấy rằng những giấc mơ của em là đúng đắn, cũng như những giấc mơ của anh vậy. Còn cuộc đời, thực tại mới nhầm lẫn…

Văn chương, với tôi, có thể thực sự an ủi nhất khi là một phương thức để chất vấn hiện tại, nó nói với tôi, như Hermine nói với Harry, thực tại là nhầm lẫn. Nếu có thể được, xin cứ mơ mộng. Dù kẻ mơ mộng, giữa thực tại này, sẽ luôn bị tổn thương sớm và nhiều. Nhưng lại như Hermine nói, cuộc đời, thực sự, tẻ nhạt nhất khi ta tranh đấu cho điều gì tốt đẹp và lý tưởng với ý nghĩ phải đạt đến nó bằng được: “Lý tưởng là để đạt đến ư? Chẳng lẽ chúng ta, con người, sống để triệt bỏ cái chết? Không, chúng ta sống để hãi sợ nó, nhưng rồi lại yêu nó và chính vì nó mà thỉnh thoảng cuộc đời ngắn ngủi bừng lên được một giờ huy hoàng.”

 

 

Nhật ký đọc sách: “Moby Dick” – cuốn tiểu thuyết huy hoàng

whale_crop_2_1050x700

Tôi đọc “Moby Dick” trong những ngày cao điểm nắng nóng ở Hà Nội. Trước đó, tôi không có ý định quay lại cuốn tiểu thuyết này của Herman Melville mà mình đã bỏ dở mùa hè năm ngoái. Có lẽ cái nắng nóng có một tác dụng tích cực khi nó làm giảm bớt đáng kể những mối phân tâm của tôi. Nó làm tôi nhận ra việc mình vẫn thích làm hơn cả mỗi khi đóng cửa với thế giới bên ngoài vẫn cứ là đọc sách. Không ngờ ngọn gió hư cấu trong văn chương Melville đã cuốn tôi đi miệt mài, đến mức trong mấy ngày ấy, tôi gần như không muốn làm công việc nào khác ngoài việc đọc sách. Tôi bỏ qua những việc đến hạn phải hoàn thành, bởi nghĩ như thế là mình xây đập chắn trước dòng chảy dào dạt của văn chương Melville.

“Moby Dick” đưa tôi trở lại khoái cảm đọc văn chương sử thi mà đã lâu rồi mình không trải nghiệm lại. (Có lẽ từ thời sinh viên, khi tôi có thể dành cả tuần để đọc trọn Ramayana, Mahabharata hay “Chiến tranh và hòa bình” – pho tiểu thuyết mà tôi luôn nghĩ mình cần phải đọc lại thêm ít nhất một lần nữa khi còn trẻ.) Đọc “Moby Dick” là trải nghiệm không gian vũ trụ hoành tráng, là đi vào những trường đoạn mô tả tỉ mỉ về loài cá voi, về những vật dụng trên tàu – những mô tả không khỏi làm ta nhớ đến cách Homer khắc họa tấm khiên của Achilles trong sử thi Hy Lạp cổ đại, và tất nhiên, những cảnh tượng săn đuổi con quái vật của đại dương. Ở những trường đoạn ấy, Melville cho thấy ngôn từ văn chương có sức mạnh biểu đạt phi thường như thế nào: không một chi tiết nào được miêu tả chung chung, từ vựng của cuốn tiểu thuyết phong phú và giàu sắc thái. Nói như vậy cũng để thấy sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết này ở Việt Nam xứng đáng được coi là kỳ tích dịch thuật. Ấn bản của Nhã Nam, theo tôi biết, là ấn bản in lại (có biên tập và hiệu đính lại) bản dịch “Moby Dick” đã được dịch toàn văn ở Sài Gòn từ trước 1975. Tôi nghĩ bản thân đây đã là một đề tài nghiên cứu hay: trong ngữ cảnh nào, “Moby Dick” lại được chọn và dịch ở Việt Nam? Sự hiện diện ấy tại sao lại được ít nhắc đến trong nghiên cứu lịch sử dịch thuật ở Việt Nam? Các dịch giả ở đây làm cách nào có thể chuyển hóa một vùng ngôn ngữ cực kỳ phức tạp và phong phú gắn với biển cả, với sinh vật học, hải dương học – những lĩnh vực mà ngôn ngữ của chúng có lẽ chưa được vun đắp nhiều trong tiếng Việt? Văn phong dịch thuật của Moby Dick với tôi gợi được cái uy nghi của một thông điệp sử thi, cái trác tuyệt của cảm thức vũ trụ, cái trữ tình trong suy tưởng. Nói như ý của Melville, nước luôn là không gian nuôi dưỡng những trầm tưởng của con người.

“Moby Dick” là một tiểu thuyết sử thi không phải chỉ vì chiều kích hoành tráng của không gian và tính chất phổ quát của xung đột trong tác phẩm: xung đột giữa con người với tự nhiên, xung đột giữa con người với khát vọng vượt lên những giới hạn của bản thể con người. Tính sử thi của nó còn thể hiện rõ ở phẩm chất bách khoa thư. Đọc “Moby Dick” làm tôi nhớ về thời kỳ mà tiểu thuyết không giấu tham vọng có thể phơi bày được toàn cảnh hiện thực cũng như đi vào tận ngóc ngách những gì vi mô nhất của đời sống, thời Victor Hugo còn có thể đem vào tiểu thuyết cả một chương sách dài về hệ thống cống ngầm hay Leo Tolstoy đã dành cả phần cuối “Chiến tranh và hòa bình” đã biện luận cho quan điểm triết học của mình về lịch sử. Một thứ tham vọng như thế của tiểu thuyết có vẻ như ít bắt gặp hơn trong ngữ cảnh hậu hiện đại bây giờ khi câu chuyện của tiểu thuyết bị phân mảnh hóa, chỉ còn là những vi tự sự. “Moby Dick” không chỉ là một từ điển dưới dạng thức tự sự về cá voi, nó còn là một ngụ ngôn về chính trị trong đó những suy tư về dân chủ của Melville có tính chất thấu thị thực sự, điển hình là ở chương “Con cá bị cột lại và con cá tuột dây.” Thuyền trưởng Ahab trong tác phẩm cũng là biểu tượng của một thủ lĩnh cuồng tín và lôi cuốn tất cả mọi người vào trong tham vọng báo thù của mình. Những suy tư về khả năng cộng hưởng văn hóa, về tham vọng bá quyền… là những nội dung chính trị trong cuốn tiểu thuyết đến giờ vẫn còn sức vang vọng. Không hề vô cớ khi “Moby Dick” được nhiều người tìm đọc lại sau sự kiện 11/9.

Nhưng với tôi, “Moby Dick” còn đích thực là một trường ca huy hoàng. Nó là một cuốn tiểu thuyết vừa dữ dội, khốc liệt, vừa sâu lắng, trầm tĩnh. Ngôn ngữ của tiểu thuyết là một thể trùng phức đặc biệt: luôn có những tín hiệu làm ta buộc phải tìm ra những quy chiếu về các biểu tượng, các điển tích trong Kinh Thánh và các huyền thoại trong kho tàng văn hóa nhân loại. Văn bản cuốn tiểu thuyết vì thế vẫn cứ là một câu đố kỳ vĩ luôn thách thức mọi khả thể diễn giải, đến nỗi có cả một tạp chí ra thường niên chỉ tập trung nghiên cứu về “Moby Dick” – tạp chí “Leviathan”.  Cá nhân tôi khi đọc tiểu thuyết đã thật sự nghĩ mình cần phải viết một nghiên cứu nào đó về cuốn tiểu thuyết này và rồi lập tức bị phát ngợp trước khối tư liệu mênh mông xung quanh nó.

Vậy thì trong lúc tôi chưa thể phác thảo được một ý tưởng nghiên cứu cụ thể nào, tôi chép lại đây một trích đoạn mà tôi đã phải dừng lại một lúc để ngẫm về nó trong nỗi hàm ơn sâu sắc:

“… Mặt trời không che được đại dương, là phía tăm tối của quả đất, chiếm mất hai phần ba quả đất. Vậy nên, kẻ phàm trần nào kia tự thấy nơi mình nhiều vui hơn buồn, kẻ ấy không thể nào thành thực – không thành thực hay còn là ngu dốt. Với sách vở cũng vậy. Thành thực nhất trong mọi con người là Con người của Đau buồn, quyển sách thành thực nhất trong mọi quyển sách là cuốn sách của Solomon, và Ecclesiastes là chất thép của sự đau buồn đã được tinh rèn. “Tất cả là phù phiếm.” TẤT CẢ…”