Tag Archives: góc của mình

Nhật ký đọc sách: “Những đứa con của nửa đêm” (Salman Rushdie)

000nhungduacon.jpg

(Nguồn ảnh: http://mannup.vn/nhung-dua-con-cua-nua-dem/)

1. Làm thế nào để nói rằng mình đã đọc một cuốn sách? Là mình đã đủ kiên nhẫn để đi đến trang cuối cùng của nó và có thể nhớ được một vài ý tứ (nếu là sách học thuật), hay nắm bắt được cốt truyện (nếu đó là tiểu thuyết)? Là mình có thể đúc kết cho bản thân một thông điệp, một bài học nào rút ra từ đó, có thể đưa ra đánh giá nó hay – dở, thú vị – nhạt nhẽo? Là khi đóng lại sách rồi, vẫn chưa thể dứt ra khỏi nó với hàng loạt các câu hỏi không chỉ chất vấn những điều mình từng tin về thế giới, mà chất vấn ngay chính sự đọc của mình? Làm thế nào để sự đọc không chỉ là sự “giả vờ đọc” – một căn bệnh mà một blogger quyền lực về sách vở trên mạng mỉa mai (và có lý khi mỉa mai điều ấy)?

2. Những đứa con của nửa đêm (Salman Rushdie) là cuốn tiểu thuyết chất vấn chính sự đọc của tôi. Tôi biết về nó, nghe về nó nhiều hơn việc đọc nó – bởi chỉ đến mùa hè năm nay, từ một lựa chọn ngẫu nhiên khi tìm một cuốn sách nào đó còn im lìm trên giá sách nhà mình, tôi mới đọc nó liền mạch trong suốt mấy ngày. Cho dù đây là một kiệt tác về nghệ thuật kể chuyện nhưng đúng như là giới thiệu trên bìa 4 cuốn sách (Nhã Nam & NXB Hội nhà văn, 2014),  tiểu thuyết này của Rushdie vẫn cứ là một thách đố đối với ngay cả những độc giả dày dạn. Bởi lẽ ngay từ những trang đầu tiên, Những đứa con của nửa đêm đã cuốn người đọc vào một mạch tự sự cuồn cuộn, hầu như không có khoảng nghỉ: đầy “âm thanh và cuồng nộ”, đầy những hoạt cảnh nổi tiếp nhau, đầy những sự dị kỳ, nghịch lý không cần biện giải cứ hiển lộ ngồn ngộn, đầy những chi tiết nhỏ nếu chỉ vô tình lướt qua sẽ khó tìm được sự kết nối của nó với những chi tiết khác… Tiểu thuyết của Rushdie là một cái gì đó rất hỗn độn song đồng thời lại cũng rất mạch lạc, phóng túng quá đỗi mà cũng nghiêm ngặt quá đỗi. Bản dịch của Nham Hoa đã rất kỳ công khi tái tạo trong tiếng Việt một thứ văn chương đầy chất sống của khẩu ngữ, của nghệ thuật kể chuyện rong mà Rushdie đã kế thừa từ truyền thống tự sự dân gian Ấn Độ lai ghép với nhiều mạch nguồn tiểu thuyết khác – Dickens, Rabelais,  Austen…

3. Tôi tìm thấy gì khi đã không bỏ cuộc với cuốn sách không khỏi có lúc làm mình hoa mắt hay thấy ù tai bởi cái rậm rạp và náo động của nó?

Tôi cho rằng sẽ là đơn giản nếu nghĩ cuốn tiểu thuyết này là một hình thức dụ ngôn để nói về một giai đoạn lịch sử của Ấn Độ hiện đại, với những trang bi thảm và đen tối. Chỉ đến khi đọc cuốn này, tôi mới thực sự phải tra cứu về sự kiện chia cắt Ấn Độ và bàng hoàng bởi những sự kiện từng bị so sánh như một phiên bản tồi tệ , tàn bạo không kém Thế chiến II. Thú thực, dù được học về văn học Ấn Độ thời đại học, nhưng Ấn Độ mà tôi được biết đến (thậm chí từng say mê) luôn luôn là một xứ sở lung linh, kỳ ảo, ngay cả sự phức tạp của nó cũng không gợi lên điều gì nhức nhối. Những đứa con của nửa đêm ở phương diện này có thể so sánh với Cái trống thiếc  của Gunter Grass trong việc ghi lại những kinh nghiệm lịch sử tàn khốc mà chỉ ngôn ngữ nghệ thuật mới nêu được. Bởi với nghệ thuật, những kinh nghiệm lịch sử luôn là cái gì đó sâu xa hơn các thông tin, luôn là cái gì đó cụ thể hơn những gì bị trừu tượng hóa thành các con số hay dữ kiện… Nó là những thứ có khi cần phải cảm nhận bằng mùi hay bằng da thịt, như cách của Saleem Sinai – nhân vật trung tâm của tiểu thuyết này.

Quá khứ chia cắt của Ấn Độ, những di sản hậu thực dân mà đất nước này trải qua không khỏi làm ta liên hệ với chính lịch sử hiện đại của Việt Nam mà có lẽ văn chương chúng ta còn thiếu sòng phẳng để nhìn lại nó. Lịch sử, trong văn chương của Rushdie, với tất cả sự ngẫu nhiên, khôn lường của nó, thực sự là trò chơi, là ảo thuật và vì thế, một thứ ngôn ngữ giàu tính trò chơi theo phong cách hiện thực thần kỳ là phương thức phù hợp hơn cả để bóc mẽ nó. Tính tượng trưng, ẩn dụ đậm đặc của văn chương hiện thực thần kỳ gia tăng bề dày của nhiều trường đoạn trong tiểu thuyết, nhân bội sức gợi của chúng, làm chúng đa nghĩa không kém gì văn bản thánh kinh. Có lẽ gây ấn tượng mạnh nhất với tôi là chương “Trong rừng Sundarbans”, khi Saleem cùng ba người đồng đội trong tiểu đội biệt kích của mình, đột nhiên bị cuốn vào một hành trình bất định, lạc mất mục tiêu và bị vây hãm trong khu rừng già. Phải là một thứ ngôn ngữ tượng trưng mới có thể đồng hiện được cái bi thảm, cái kinh dị, cái thống khổ… của con người khi bị cái gọi là lịch sử cuốn phăng mình đi để rồi đến một lúc nào đó, đột nhiên thấy toàn bộ sự tồn tại của mình trở nên phi lý, trở nên vô nghĩa đến cùng cực.

4. Nhưng Những đứa con của nửa đêm thực ra có nói được một điều gì đó rất riêng tư với tôi? Đây là kỳ vọng của tôi khi đọc một tác phẩm văn chương: tôi chờ đợi cuốn sách nói với tôi một điều gì đó thật đúng lúc.

Những đứa con của nửa đêm làm tôi nhớ đến bộ phim Bá Vương biệt Cơ  của Trần Khải Ca hay Phải sống của Trương Nghệ Mưu – những bộ phim cũng nói về những thân phận bé nhỏ trong lịch sử, chẳng nuôi một mộng tưởng nào khác hơn việc chỉ muốn sống một cuộc đời bình thường.  Nhưng những con người chỉ mong được sống cái thân phận nhỏ bé của mình một cách bình thường ấy lại thường là những con người mà chính trị, lịch sử dễ nghiền nát hơn bao giờ. Và nó thường có những cái cớ rất vĩ mô, đôi khi rất đẹp, để biện minh cho việc nghiền nát ấy. Sau tất cả những màn hí kịch báng bổ, giễu cợt, châm biếm rất Rabelais, Những đứa con của nửa đêm vẫn lắng lại trong những nỗi đau đáu về cái riêng tư bị nghiền nát bởi chính trị này: “Chính trị, hỡi những đứa trẻ: khi đẹp trời nhất vẫn là điều bẩn thỉu. Đáng lẽ ta nên tránh xa nó, đáng lẽ tôi không nên mơ tưởng về mục đích; tôi đi đến kết luận rắng sự riêng tư, cuộc sống cá nhân nhỏ bé của mỗi con người, quan trọng hơn tất cả cái hoạt động vĩ mô bị thổi phồng này.”

Cuốn tiểu thuyết của Rushdie kết lại bằng những suy tư u ám song vẫn là một hiện thực đang diễn ra toàn cầu nơi cái cá nhân vẫn bị xoay vần và bị nghiền nát trong nhiều ngữ cảnh chính trị và văn hóa khác nhau. Điều đáng nói hơn nữa là sức đề kháng của nhân loại với những sự phi nhân trong lịch sử có thể sẽ ngày càng yếu khi cùng với virus lạc quan chưa bao giờ không bị phát tán trong xã hội, còn có một thứ hội chứng nữa cũng lây lan không vấp phải cản trở nào: quên lãng. Quá khứ dẫu có đau thương thì cũng chỉ cần nhớ về nó như một giai thoại, một hình ảnh được du lịch hóa như Wislawa Szymborska từng viết trong bài thơ “Trại đói ở Jaslo“: ta chỉ có thể nói về nó như những gì người ta muốn ta nói, ta chỉ có thể nhớ về nó như những gì người ta muốn mình nhớ. Nhớ, thực chất, là quên.

Tiểu thuyết của Salman Rushdie, vì thế, như một tuyên ngôn của nhà văn: Tôi chống lại sự quên lãng con người, quên lãng cái riêng tư, cái nhỏ bé của con người mà lịch sử hay chính trị cho phép. Và có lẽ thái độ đó của ông làm tôi thấy ông, dù sắc sảo đến khắc nghiệt, vẫn cứ là người gần gũi với mình.

 

Nhật ký đọc sách: “Sói thảo nguyên” (Hermann Hesse)

steppenwolf-by-hermann-hesse.jpg

1. Hermann Hesse là nhà văn đi cùng tuổi mới lớn của tôi, sau khi tôi cảm thấy đã đến lúc mình gác lại thứ văn chương hoa niên, để đi vào một cõi khác của chữ nghĩa: sâu thẳm hơn, mơ hồ hơn, dữ dội hơn, nhưng cũng là nơi từ đó, một nhãn quan mới về đời sống thật sự được mở ra cho tôi.

Năm lớp 11, tôi trải qua một mùa hè ốm dài, phải bỏ dở hàng loạt các course học thêm và những lúc đỡ ốm nhất, tôi chỉ còn có thể đọc sách và viết lách linh tinh để con người thoát khỏi sự trì trệ. “Câu chuyện dòng sông” (Siddharta) là cuốn sách đầu tiên của Hesse mà tôi đọc. Nỗi xúc động mà cuốn sách đem đến cho tôi rất khác với những gì tôi từng đọc ở văn chương tuổi mới lớn: dạt dào, sâu thẳm, khinh khoái. Không phải vô cớ (sau này tôi mới biết), nhiều tiểu thuyết của Hesse khi được dịch ở miền Nam trước 1975 đều được đổi tựa theo lối Việt hóa, bắt đầu bằng từ tuổi trẻ: “Tuổi trẻ cô đơn”, “Tuổi trẻ băn khoăn”, “Tuổi trẻ thần tiên)… Hesse là người nói với tôi: cô đơn, băn khoăn, khủng hoảng, hoang mang … đều là những trải nghiệm mà tuổi trẻ cần đi qua. “Câu chuyện dòng sông” cũng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên nói với tôi rằng cuộc hành trình của con người mà văn chương muốn dõi theo nhất chính là hành trình tìm kiếm mình. Không gì nhọc nhằn hơn hành trình ấy, không gì khổ sở hơn hành trình ấy bởi đối diện với nội tâm, nói như chữ của Hesse trong trang cuối “Sói thảo nguyên” là đối diện với một cõi địa ngục tinh thần. Nhưng trải qua kinh nghiệm địa ngục ấy là điều kiện để làm người. Vì thế, cũng không có gì lớn lao hơn hành trình truy vấn chính mình ấy.

Tôi cảm mến Hesse thuở ấy đến độ dò hỏi khắp nơi cuốn tiểu thuyết mà theo lời dẫn của nhà văn Nhật Chiêu, đó là kiệt tác vĩ đại nhất của Hesse – cuốn “Trò chơi hạt thủy tinh”. Sau này mới biết bản dịch tiếng Việt ấy vẫn còn đang ở thời tương lại. Cũng có thể là hữu duyên, khi trên đường nghiên cứu của mình, tôi cũng bị cuốn vào “trò chơi”.

2. “Sói thảo nguyên” là cuốn sách đến đúng lúc với tôi, dù đã từng đọc nó trước đây. Nhưng những ngày này, khi cảm thấy cần phải nhìn lại mình, khi nhận thấy toàn bộ mối liên hệ giữa mình với tha nhân đứt gãy, tôi đọc lại cuốn sách. Nỗi xúc động khi đọc Hesse lại trở lại, như thể trang văn của ông vẫn cứ là người bạn – người bạn còn lại khi mọi người trong thế giới thực tại mất hết kiên nhẫn với tôi – có thể trò chuyện với tôi, có thể rọi sâu vào những mâu thuẫn trong tôi, thúc giục tôi phải dấn tiếp nữa trong hành trình kiểu Dante đi vào cõi địa ngục của nội tâm mình.

“Sói thảo nguyên” là một cuốn tiểu thuyết giàu chất tự thuật của Hesse. Bản dịch của Lê Chu Cầu do Nhã Nam xuất bản có thể nói đã rất cẩn thận khi đưa những chú thích để người đọc nhận ra mối liên hệ giữa thế giới hư cấu của tiểu thuyết với những chi tiết trong tiểu sử của Hesse. Để thấy cuốn sách được viết trong giai đoạn nhà văn phải chịu những bất ổn trong tinh thần như thế nào, đang sống trong một thời đại ngột ngạt thế nào: chiến tranh sắp xảy đến, những cơn lên đồng tập thể đang chực bùng lên, các giá trị tầm thường của đời sống hiện đại lên ngôi, con người hồ nghi niềm tin về cái gọi là tính người trong bản thân, trong nhân loại. “Sói thảo nguyên” là sự dội vang của cả Fauste, cả Dante, cả Lewis Carroll, ta nghe thấy âm nhạc Mozart lẫn những náo động của một lễ hội mang tinh thần dionysian. Nó mang đầy cảm thức của chủ nghĩa hiện đại nơi con người còn lo âu đối mặt với sự khủng hoảng ý nghĩa của thế giới như một bi kịch hiện sinh.

Với cá nhân tôi, Harry Haller – con người tự nhận thấy bản ngã của mình là hợp thể giằng xé giữa phần người và phần sói – chính là mẫu nhân vật chỉ có văn chương mới muốn quan tâm: con người ấy đòi hỏi một điều gì đó ở cuộc sống này, còn hơn cả hạnh phúc, một thứ để anh ta có thể chết cho nó. Văn chương vốn dĩ chẳng phải là tôn giáo nhưng những lời tự thú mà ta nghe được trong văn chương nhiều khi lại thành thật, khẩn thiết hơn cả khi ta đối diện với Thượng đế.

Tôi chẳng biết nói gì hơn về cuốn sách này, ngoài việc chép lại lời mà Hermine nói với Harry trong truyện:

“Đầu óc anh sẵn mang một hình ảnh cuộc đời, một niềm tin, một đòi hỏi; anh từng sẵn sàng hành động, hứng chịu đau khổ và hy sinh, nhưng rồi dần dà nhận thấy rằng thế giới không đòi hỏi ở anh hành động và hy sinh cùng những điều tương tự, rằng cuộc đời không phải thiên anh hùng ca với những vai người hùng và những vai này nọ, mà chỉ là một căn buồng tiện nghi trưởng giả, ở đấy người ta hoàn toàn hài lòng với chuyện ăn uống, cà phê cà pháo, đan vớ, chơi bài tarot và nghe nhạc radio. Còn ai thích lối sống khác, ai mang trong người chí khí anh hùng, yêu cái đẹp, tôn sùng những thi hào hay các bậc thánh thì người ấy là một kẻ dại khờ, một kỵ sĩ kiểu Don Quichotte. Bạn ơi, em cũng thế đấy! Em cũng vốn là một cô gái nhiều năng khiếu, được sinh ra để sống theo một tấm gương cao cả, đặt cho mình những đòi hỏi lớn lao và hoàn thành những nhiệm vụ cao quý. Em có thể chọn cho mình định mệnh to tát, thành vợ một nhà vua, thành người tình của một nhà cách mạng, em gái thiên tài, mẹ một kẻ tuẫn đạo. Nhưng cuộc đời chỉ cho em thành một cô gái điếm thượng lưu với khiếu thẩm mỹ tàm tạm…Em tuyệt vọng mất một lúc và tự trách mình khá lâu. Cuộc đời nhất định phải luôn luôn có lý, em nghĩ thế, thành thử khi cuộc đời nhạo báng những giấc mộng đẹp của em thì bởi vì chúng vớ vẩn và sai lầm… Harry ơi, em thấy rằng những giấc mơ của em là đúng đắn, cũng như những giấc mơ của anh vậy. Còn cuộc đời, thực tại mới nhầm lẫn…

Văn chương, với tôi, có thể thực sự an ủi nhất khi là một phương thức để chất vấn hiện tại, nó nói với tôi, như Hermine nói với Harry, thực tại là nhầm lẫn. Nếu có thể được, xin cứ mơ mộng. Dù kẻ mơ mộng, giữa thực tại này, sẽ luôn bị tổn thương sớm và nhiều. Nhưng lại như Hermine nói, cuộc đời, thực sự, tẻ nhạt nhất khi ta tranh đấu cho điều gì tốt đẹp và lý tưởng với ý nghĩ phải đạt đến nó bằng được: “Lý tưởng là để đạt đến ư? Chẳng lẽ chúng ta, con người, sống để triệt bỏ cái chết? Không, chúng ta sống để hãi sợ nó, nhưng rồi lại yêu nó và chính vì nó mà thỉnh thoảng cuộc đời ngắn ngủi bừng lên được một giờ huy hoàng.”

 

 

Nhật ký đọc sách: “Moby Dick” – cuốn tiểu thuyết huy hoàng

whale_crop_2_1050x700

Tôi đọc “Moby Dick” trong những ngày cao điểm nắng nóng ở Hà Nội. Trước đó, tôi không có ý định quay lại cuốn tiểu thuyết này của Herman Melville mà mình đã bỏ dở mùa hè năm ngoái. Có lẽ cái nắng nóng có một tác dụng tích cực khi nó làm giảm bớt đáng kể những mối phân tâm của tôi. Nó làm tôi nhận ra việc mình vẫn thích làm hơn cả mỗi khi đóng cửa với thế giới bên ngoài vẫn cứ là đọc sách. Không ngờ ngọn gió hư cấu trong văn chương Melville đã cuốn tôi đi miệt mài, đến mức trong mấy ngày ấy, tôi gần như không muốn làm công việc nào khác ngoài việc đọc sách. Tôi bỏ qua những việc đến hạn phải hoàn thành, bởi nghĩ như thế là mình xây đập chắn trước dòng chảy dào dạt của văn chương Melville.

“Moby Dick” đưa tôi trở lại khoái cảm đọc văn chương sử thi mà đã lâu rồi mình không trải nghiệm lại. (Có lẽ từ thời sinh viên, khi tôi có thể dành cả tuần để đọc trọn Ramayana, Mahabharata hay “Chiến tranh và hòa bình” – pho tiểu thuyết mà tôi luôn nghĩ mình cần phải đọc lại thêm ít nhất một lần nữa khi còn trẻ.) Đọc “Moby Dick” là trải nghiệm không gian vũ trụ hoành tráng, là đi vào những trường đoạn mô tả tỉ mỉ về loài cá voi, về những vật dụng trên tàu – những mô tả không khỏi làm ta nhớ đến cách Homer khắc họa tấm khiên của Achilles trong sử thi Hy Lạp cổ đại, và tất nhiên, những cảnh tượng săn đuổi con quái vật của đại dương. Ở những trường đoạn ấy, Melville cho thấy ngôn từ văn chương có sức mạnh biểu đạt phi thường như thế nào: không một chi tiết nào được miêu tả chung chung, từ vựng của cuốn tiểu thuyết phong phú và giàu sắc thái. Nói như vậy cũng để thấy sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết này ở Việt Nam xứng đáng được coi là kỳ tích dịch thuật. Ấn bản của Nhã Nam, theo tôi biết, là ấn bản in lại (có biên tập và hiệu đính lại) bản dịch “Moby Dick” đã được dịch toàn văn ở Sài Gòn từ trước 1975. Tôi nghĩ bản thân đây đã là một đề tài nghiên cứu hay: trong ngữ cảnh nào, “Moby Dick” lại được chọn và dịch ở Việt Nam? Sự hiện diện ấy tại sao lại được ít nhắc đến trong nghiên cứu lịch sử dịch thuật ở Việt Nam? Các dịch giả ở đây làm cách nào có thể chuyển hóa một vùng ngôn ngữ cực kỳ phức tạp và phong phú gắn với biển cả, với sinh vật học, hải dương học – những lĩnh vực mà ngôn ngữ của chúng có lẽ chưa được vun đắp nhiều trong tiếng Việt? Văn phong dịch thuật của Moby Dick với tôi gợi được cái uy nghi của một thông điệp sử thi, cái trác tuyệt của cảm thức vũ trụ, cái trữ tình trong suy tưởng. Nói như ý của Melville, nước luôn là không gian nuôi dưỡng những trầm tưởng của con người.

“Moby Dick” là một tiểu thuyết sử thi không phải chỉ vì chiều kích hoành tráng của không gian và tính chất phổ quát của xung đột trong tác phẩm: xung đột giữa con người với tự nhiên, xung đột giữa con người với khát vọng vượt lên những giới hạn của bản thể con người. Tính sử thi của nó còn thể hiện rõ ở phẩm chất bách khoa thư. Đọc “Moby Dick” làm tôi nhớ về thời kỳ mà tiểu thuyết không giấu tham vọng có thể phơi bày được toàn cảnh hiện thực cũng như đi vào tận ngóc ngách những gì vi mô nhất của đời sống, thời Victor Hugo còn có thể đem vào tiểu thuyết cả một chương sách dài về hệ thống cống ngầm hay Leo Tolstoy đã dành cả phần cuối “Chiến tranh và hòa bình” đã biện luận cho quan điểm triết học của mình về lịch sử. Một thứ tham vọng như thế của tiểu thuyết có vẻ như ít bắt gặp hơn trong ngữ cảnh hậu hiện đại bây giờ khi câu chuyện của tiểu thuyết bị phân mảnh hóa, chỉ còn là những vi tự sự. “Moby Dick” không chỉ là một từ điển dưới dạng thức tự sự về cá voi, nó còn là một ngụ ngôn về chính trị trong đó những suy tư về dân chủ của Melville có tính chất thấu thị thực sự, điển hình là ở chương “Con cá bị cột lại và con cá tuột dây.” Thuyền trưởng Ahab trong tác phẩm cũng là biểu tượng của một thủ lĩnh cuồng tín và lôi cuốn tất cả mọi người vào trong tham vọng báo thù của mình. Những suy tư về khả năng cộng hưởng văn hóa, về tham vọng bá quyền… là những nội dung chính trị trong cuốn tiểu thuyết đến giờ vẫn còn sức vang vọng. Không hề vô cớ khi “Moby Dick” được nhiều người tìm đọc lại sau sự kiện 11/9.

Nhưng với tôi, “Moby Dick” còn đích thực là một trường ca huy hoàng. Nó là một cuốn tiểu thuyết vừa dữ dội, khốc liệt, vừa sâu lắng, trầm tĩnh. Ngôn ngữ của tiểu thuyết là một thể trùng phức đặc biệt: luôn có những tín hiệu làm ta buộc phải tìm ra những quy chiếu về các biểu tượng, các điển tích trong Kinh Thánh và các huyền thoại trong kho tàng văn hóa nhân loại. Văn bản cuốn tiểu thuyết vì thế vẫn cứ là một câu đố kỳ vĩ luôn thách thức mọi khả thể diễn giải, đến nỗi có cả một tạp chí ra thường niên chỉ tập trung nghiên cứu về “Moby Dick” – tạp chí “Leviathan”.  Cá nhân tôi khi đọc tiểu thuyết đã thật sự nghĩ mình cần phải viết một nghiên cứu nào đó về cuốn tiểu thuyết này và rồi lập tức bị phát ngợp trước khối tư liệu mênh mông xung quanh nó.

Vậy thì trong lúc tôi chưa thể phác thảo được một ý tưởng nghiên cứu cụ thể nào, tôi chép lại đây một trích đoạn mà tôi đã phải dừng lại một lúc để ngẫm về nó trong nỗi hàm ơn sâu sắc:

“… Mặt trời không che được đại dương, là phía tăm tối của quả đất, chiếm mất hai phần ba quả đất. Vậy nên, kẻ phàm trần nào kia tự thấy nơi mình nhiều vui hơn buồn, kẻ ấy không thể nào thành thực – không thành thực hay còn là ngu dốt. Với sách vở cũng vậy. Thành thực nhất trong mọi con người là Con người của Đau buồn, quyển sách thành thực nhất trong mọi quyển sách là cuốn sách của Solomon, và Ecclesiastes là chất thép của sự đau buồn đã được tinh rèn. “Tất cả là phù phiếm.” TẤT CẢ…”

 

 

 

 

 

Eldar Sarajlic – Là bậc sinh thành của chính mình

Eldar Sarajlic hiện là phó giáo sư triết học tại City University of New York, Borough of Manhattan Community College. Như trong bài viết này, ta có thể biết thêm một vài thông tin tự thuật của tác giả. Với riêng tôi, bài viết này là một cuộc gặp gỡ lạ lùng bởi khi mới bắt đầu thử đi vào việc dịch, tôi đã bị ấn tượng rất mạnh bởi những tác giả di dân đến từ Nam Tư cũ. Đã có lúc tôi từng nghĩ nếu có dịp đi nước ngoài, có lẽ tôi sẽ đi đến đất nước ở vùng Balkan này.

mother_and_child_2

Triết học từng hấp dẫn tôi hơn tình phụ tử. Tôi từng tưởng tượng đời mình như một chuỗi những suy tư lặng lẽ, đọc sách và du lịch. Tôi không nghĩ nhiều về con cái, dù ở mức độ nào đó, tôi đã nghĩ mình nên có một đứa con. Làm cha không phải là một điều gì đó mà tôi muốn gắn kết với một cuộc đời tôi đã dành cho triết học.

Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi khi con gái tôi chào đời vào năm 2014, ba tháng sau khi tôi bảo vệ luận án tiến sĩ. Trong một mùa hè, tôi vừa trở thành một ông bố đồng thời vừa làm công việc của một triết gia. Cả hai việc ấy hòa lẫn trong tôi và tạo nên một căn tính hoàn toàn mới. Trước ngày con tôi được sinh ra, tôi chủ yếu chỉ quan tâm đến triết học chính trị. Tôi bị cuốn vào những câu hỏi về công lí xã hội và chính trị, về chủ nghĩa tự do và tính hợp pháp. Thế rồi khi con gái tôi tượng hình trong bụng mẹ nó, một loạt những mối quan tâm và ý tưởng mới bắt đầu nảy sinh trong tâm trí tôi. Vợ tôi sinh ra một đứa bé; đứa bé ấy lại sinh ra một tư tưởng mới.

Việc làm cha mẹ, khi tôi đi vào tìm hiểu, đã mở ra nhiều lối đi cho sự suy tư. Các triết gia thường đặt ra một dải các câu hỏi về việc làm cha mẹ: Có một sự biện hộ về đạo đức nào cho việc có con? Những bình diện đạo đức của việc nuôi nấng một đứa trẻ là gì? Giờ đây, khi làm một người cha cũng như một triết gia, tôi bắt đầu đặt những câu hỏi tương tự: Tôi nên nuôi một đứa trẻ như thế nào?  Làm thế nào tôi có thể là một người cha tốt?

Như hầu hết những ông bố bà mẹ đã biết, những tháng đầu tiên khi làm cha mẹ là một phức hợp của niềm vui, sợ hãi, mỏi mệt và hơn hết, sự mất ngủ. Chính là trong những khoảng thời gian eo hẹp của những tháng đầu tiên làm bố mà mối bận tâm suy tưởng của tôi vấp phải một câu hỏi đặc biệt: Con gái tôi khi lớn lên sẽ là ai? Căn tính của nó sẽ là gì? Khi tôi quan sát cơ thể bé xíu của nó, tôi cứ nghĩ hoài về những tương lai khả hữu phía trước nó. Liệu nó có trở thành người mà nó muốn không?

Phía sau câu hỏi ấy là cả một câu chuyện của cá nhân tôi. Tôi sinh ra ở Bosnia – Herzegovina trong một gia đình Hồi giáo thế tục và sống ở đất nước ấy trong suốt 30 năm đầu tiên cuộc đời. Lớn lên đúng vào lúc xung đột sắc tộc dữ dội bùng nổ hồi đầu thập niên 1990, tôi bị quy về một thứ căn tính văn hóa mà người ta bảo nó thuộc về tôi. Bị khủng bố bởi việc là người Hồi giáo khiến ý thức kháng cự cá nhân và kháng cự văn hóa trỗi dậy trong tôi. Tôi chấp nhận và đề cao thứ căn tính bị khinh miệt ấy. Dần dần, tôi trở thành  một người Hồi giáo. Tôi mang mục tiêu ấy trên lưng và biến nó thành của mình. Song tôi nhận ra nhanh chóng, rằng việc nhận lấy một thứ căn tính như một hình thức kháng cự chỉ đưa người ta đi xa được đến mức ấy là cùng. Giống như một bộ đồ may bằng vải polyester không vừa vặn, thứ căn tính này làm tôi khó xoay sở, tôi thèm muốn được mặc lên mình một cái gì đó dễ chịu hơn.

Triết học đã trở thành một phần quý giá trong tiến trình mà tôi sáng tạo nên bản ngã của mình. Nó giúp tôi ngộ ra và chấp nhận mình là ai, nhưng nó cũng trao cho tôi những công cụ mà tôi cần để thay đổi bộ đồ gây khó chịu cho mình, tìm thấy cái gì đó phù hợp hơn. Một trong những nhà tư tưởng đầu tiên đã truyền cảm hứng cho quá trình này là Hannah Arendt. Khi tôi tìm hiểu quan điểm của bà về tự do, tôi lập tức nhận ra mình trong suy tưởng của bà. Đối với Arendt, tự do nghĩa là năng lực tạo ra một khởi đầu mới. Nó được hiện thực hóa trong năng lực hành động ở con người, một năng lực mà mọi con người đều được phú cho ngay từ khi mới ra đời. Cội rễ của tự do, theo bà, nằm ở trong khái niệm “sinh thành” (natality), trong thực tế ai cũng dễ nhận thấy, rằng mỗi con người mới được sinh ra đều đại diện cho một sự mới mẻ được dẫn nhập vào thế giới. Trẻ em là chủ thể tươi mới tuyệt đối, một sự hiện thân đích thực của tự do và là người dẫn dắt để cấu trúc thế giới xã hội của chúng ta.

Ví dụ lịch sử mà Arendt yêu thích khi nói về sự sinh thành là Cách mạng Mỹ, một hành động triệt để của việc đem tự do cho thế giới. Tôi nhận thấy nỗi khao khát của mình về Thế Giới Mới là một hình thức của nỗi khao khát có một bản ngã mới. Khi đặt chân đến New York, nơi của cái mới không ngừng được sinh thành này, tôi đã có một khởi đầu mới để tái tạo mình: có một đứa con.

Tôi đã nghĩ đến Hannah Arendt rất nhiều trong những đêm mất ngủ, khi con gái của tôi quẫy đạp trong bụng mẹ nó. Nếu cô bé là cái mới hoàn toàn trong thế giới này, tôi nhớ mình đã tự hỏi, liệu tôi có thể giúp con duy trì sự mới mẻ ấy và không kìm nén sự độc đáo của con? Làm sao tôi có thể nuôi sinh linh bé nhỏ này, để nó là chính mình, chứ không pải ai khác? Tôi có thể làm gì để nuôi con gái mình như một bản nguyên chứ không phải một bản sao của tôi, nền tảng của tôi hay những kỳ vọng văn hóa về thời gian và nơi chốn mà cô bé được sinh ra?

Những đêm mất ngủ ấy khơi dậy trong tôi nhiều suy nghĩ rất khác nhau. Trước hết, tôi nhận ra Arendt đúng: Trẻ em là những chủ thể mới toàn diện và phải được đối xử như thế. Mặc dù điều này đôi khi không dễ hiểu, nhất là với những bậc cha mẹ cảm thấy hạnh phúc khi nhận thấy những đặc điểm của mình in dấu lên đứa trẻ mới lọt lòng (“Nhìn này, anh yêu, con ta có cái mũi giống em!”), nhưng đó là một mệnh lệnh cả trên phương diện đạo đức lẫn thực tiễn mà chúng ta phải thực hiện. Cho dù gene của đứa con được kế thừa từ mẹ nó và tôi, con tôi vẫn là một con người đơn nhất, độc đáo, và tôi không thể dự đoán, chứ đừng nói là quyết đoán được bản ngã tương lai của nó. Liệu căn tính của nó có xác nhận những kỳ vọng, mong đợi của tôi không? Tôi không có quyền để mong đợi điều ấy.

Tôi đã chứng kiến nhiều nỗi thất vọng từ các bậc phụ huynh khi nhìn thấy con họ lớn lên: những ông bố bị ám ảnh khi con trai họ trở thành gay, những bà mẹ tuyệt vọng khi con gái mình khước từ tôn giáo của cha mẹ. Những phương pháp trị liệu để chữa đồng tính và những mối quan hệ đầy khoảng cách giữa những đứa con là chuyển giới và cha mẹ mình là những ví dụ rõ nét cho thấy khi những kỳ vọng vào con cái của cha mẹ trượt khỏi đường ray, họ đã làm gì. Tôi biết mình muốn trở nên tốt hơn những ví dụ mình đã thấy. Song làm cách nào?

Để trẻ em lớn lên như những con người chân thực, đúng là mình, chứ không phải sản phẩm của những kỳ vọng từ cha mẹ, các em cần phải được học để hiểu rằng căn tính được xây dựng trên các lý do, tức những sự biện hộ dược xem là có lý; bản thân khái niệm căn tính được phát sinh từ chính khái niệm lý do này.

Nếu căn tính cá nhân là một dạng niềm tin về chính mình, nó luôn là sản phẩm của mối quan hệ giữa ý thức của cá nhân ấy với một tập hợp nhất định các dữ kiện thực tế. Theo đó, có thể có những kiểu lý do khác nhau để xác nhận căn tính, phụ thuộc vào bản chất của các dữ kiện khác nhau. Một số trong đó dựa trên việc chúng ta được cấu thành về mặt thể chất ra sao. Nếu một đứa bé cảm thấy dễ chịu hơn trong một cái nhãn về giới tính đối lập (hay ở giữa hoặc nằm bên ngoài) cái nhãn mà người ta gán cho nó ngay khi chào đời, thế tì hẳn có một lý do nào đó để nó định dạng mình theo cách như vậy. Những lý do khác được dựa trên những dữ kiện về lịch sử, môi trường và kinh nghiệm.

Nếu một đứa trẻ biết đến những cách sống khác, nhờ trường học hay nhờ quá trình xã hội hóa, và quyết định chấp nhận nó, thì cha mẹ phải tôn trọng rằng con của mình có lý do hiệu lực để đi chệch khỏi văn hóa của gia đình. Việc ngăn cấm trẻ con hành động theo những lý do mà chúng nhận thức được mà không quan tâm đến căn cứ vững chắc của chúng, sẽ phản bộ lại giá trị và ý nghĩa của mối quan hệ cha mẹ – con cái.

Thứ hai, tôi nhận ra việc làm cha mẹ là một bài tập tuyệt vời để tự biết mình. Người ta có được một cơ hội để khám phá bản thân. Trở thành một người cha giúp tôi hiểu được quan điểm triết học của chính mình. Nghĩ về những lý do có thể làm điểm tựa cho bản ngã tương lai của con gái mình giúp tôi hiểu ra những lý do đằng sau căn tính cá nhân và tư tưởng triết học của mình. Cụ thể là, vốn là dân nhập cư ở Mỹ, tôi mang hai tư cách công dân và hai nền văn hóa. Chính điều này đã chi phối những vấn đề triết học mà tôi quan tâm. Mặc dù sống tại Mỹ nhưng tôi tồn tại trên đường biên của hai nền văn hóa, hai tư cách căn tính. Tôi chưa bao giờ thôi thoát khỏi hai hệ thống quy chiếu ấy: con người/văn hóa Bosnia và con người/văn hóa Mỹ. Tính song trùng là trạng thái mặc định của sự tồn tại của tôi. Vì thế tôi không ngừng phải ý thức về những hoạt động, những sự hành chức của văn hóa. Bởi tôi luôn thấy được những cạnh rìa của nó nên tôi không ngừng chất vấn trung tâm của nó.

Thậm chí ý nghĩ của tôi về quyền của con trẻ trong việc xác định căn tính chân thực cũng phản ánh tính song trùng của những truyền thống triết học mà tôi coi là bệ đỡ cho tư tưởng của mình. Chẳng hạn, tính chân thực, trong truyền thống, đã từng là chủ đề các nhà Lãng mạn, chẳng hạn như Rousseau, bàn đến với giọng điệu ít nhiều mang sắc thái mỉa mai, những người vốn cho rằng tiến trình của thời Khai sáng sẽ đi đến chỗ làm xói mòn bản chất độc đáo của các cá nhân. Tất cả chúng ta sinh ra là nguyên bản song đều chết như là những bản sao. Khoảng thời gian ở giữa sự sinh ra đời và sự chết đi của chúng ta bị nhào nặn bởi văn minh, vốn đúc khuôn chúng ta theo những cách thường tương phản với những phần mà chúng ta được tự nhiên trao cho. Quan điểm của Rousseau, Montesquieu, Marshall Berman và những nhà tư tưởng khác đề cao tính chân thực hiện sinh luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với cá nhân tôi.

Thế nhưng cho rằng một cá nhân chỉ chân thực, đúng là mình thông qua cách tiếp cận và sự đánh giá bằng các lý do lại phản ánh những phương pháp và ý tưởng thường thấy trong truyền thống của các nhà tư tưởng Khai Sáng. Không giống các nhà Lãng mạn, tôi cho rằng việc sử dụng và thúc đẩy lý do giúp chúng ta trở thành chính mình đích thực. Đánh mất chính mình là hệ quả của một tâm trí mất đi lý tính. Như John Locke, tôi tin rằng căn tính là sản phẩm của ý thức và lý do. Chúng ta không thể trở thành một tồn tại chân thực nếu như chúng ta không tìm thấy lý do nào.

Những đêm mất ngủ với đứa con mới ra đời đã nằm lại sau lưng tôi. Giờ, con gái tôi đã bốn tuổi, với căn tính của riêng mình và một ý chí mạnh mẽ để làm mọi thứ theo cách của mình. Tuy nhiên, nỗi sợ một tương lai bất ngờ vẫn còn choán lấy tôi giữa lúc đêm khuya và khiến tôi chất vấn mọi thứ, làm đảo lộn những viễn cảnh về một sự ngơi nghỉ yên tĩnh. Điệu ru mà tôi cần không thể tìm thấy được ở đâu; tất cả những gì tôi có thể làm là nhìn chăm chú vào khoảng trống mà không hy vọng gì nó sẽ nhìn lại.

Song khi nhìn con gái của mình nằm ngủ ngoan, tôi hiểu ra khoảng trống ấy không phải là thứ để mình sợ hãi. Nó không phải là vực nước xoáy của sự vô nghĩa sẽ làm ta phát điên. Khoảng trống đó là cảnh cửa cho bản ngã của chúng ta. Nó là thứ để chúng ta lấp vào đó bất cứ cái gì ta muốn – những giấc mơ, những nỗi sợ, những tham vọng. Đó là cơ hội duy nhất để trở thành cái mà chúng ta thực sự là: ta là bậc sinh thành của chính mình.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Eldar Sarajlic, “Becoming Parents to Ourselves”, https://www.nytimes.com/2019/06/06/opinion/fathers-philosophy.html

Văn học nói gì với chúng ta về hiện thực?

Bài viết dưới đây là của bạn Nguyễn Thị Quỳnh Hương, sinh viên K65 (năm thứ nhất), khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trên thực tế, bài viết là bài điều kiện mà tôi ra cho sinh viên lớp mình dạy, với chủ đề “Văn học giúp chúng ta nhìn thấy hiện thực nào?” qua việc phân tích truyện ngắn “Câu bé chưa bao giờ thấy biển” của nhà văn Pháp J.M.G. Le Clézio (Giải Nobel Văn học 2008). Truyện ngắn này được in trong tập truyện ngắn của Le Clézio – Lũ mục đồng mà NXB Trẻ vừa ấn hành.

Được đọc bài viết này, với tôi, là một niềm vui nho nhỏ trong một kỳ học cả thầy cả trò đều chật vật do cấu tạo chương trình học bị xáo trộn. Tôi vui vì đọc được những suy nghĩ đẹp và chân thành của sinh viên. Vui vì thấy các em bắt đầu quan tâm đến cách diễn đạt hơn . Giới thiệu bài viết này trên blog cá nhân, tôi cũng mong có thể nhận được những chia sẻ hữu ích khác cho bạn Quỳnh Hương và cho tôi.

The sea

*

Càng ngày người ta càng nói nhiều về một xã hội hiện đại, một xã hội công nghiệp với những-điều-sẵn-có, một xã hội tưởng tiến bộ mà trong đó con người tưởng như được bảo bọc hơn bao giờ hết bởi luật pháp, những dịch vụ tiện nghi, những thiết bị vô cùng tối tân hiện đại. Không phủ nhận tất cả những điểm tích cực mà sự hiện đại ấy mang lại nhưng cái được gọi là bảo bọc trên có thật sự che chở được con người khi mà lúc này, chưa bao giờ con người lại trở nên bất an và dễ tổn thương đến thế. Phải chăng vì vậy mà hiện tại ta rất dễ để bắt gặp những cuộc “bỏ-trốn-thế-giới”? Mỗi người lại tìm đến một “hiện thực thứ hai” hay nhiều những hiện thực khác song song với hiện thực mà mình đang cư ngụ. Ở đó bạn sẽ học được nhiều thứ hay ho mà không có bất kì áp chế nào, giống như Gaspar học được từ mặt trời, gió, và những con vật ,“không phải những thứ ta đọc thấy trong sách vở, những thứ mà con người hay nhắc đến, mà là những thứ êm đềm và mạnh mẽ, những thứ chứa đầy vẻ đẹp và sự huyền bí”, những thứ mà ta phải “mất cả đời để học”. Và còn nhiều hơn nữa những điều cần con người khám phá mà bạn có thể trải nghiệm với sự dẫn dắt của J.M.G Le Clézio – “tác giả của những hành trình mới”.“Cậu bé chưa bao giờ thấy biển”-một truyện ngắn của ông nằm trong tập Lũ mục đồng (Mondo et autres histoires) cũng là một gợi mở về giá trị của văn chương đối với con người trong việc đào sâu những lớp hiện thực khác hay nói đúng hơn là một tầng hiện thực khác cao hơn, sâu hơn nhưng không hoàn toàn tách li lớp hiện thực bề mặt ta mà ta nhìn thấy thường ngày.

Đó là một hiện thực dân chủ và nhân bản mà ở đó cá nhân có luôn có quyền được là mình, có những mơ ước, những sự lựa chọn dị biệt không theo số đông. Trong câu chuyện “Cậu bé chưa bao giờ thấy biển”, Daniel không giống như những người bạn cùng học, “Daniel, làm như nó thuộc về một giống nòi khác” – điểm này gặp gỡ với nhân vật June trong Bão. Cậu bé ấy rất ít nói, những gì cậu bé quan tâm chỉ là biển cả và vì vậy khi nghe ai nói về vấn đề đó đôi mắt cậu bé sẽ sáng lên và gương mặt hình lười cày trở nên sinh động hẳn. Nhưng những gì cậu bé nghĩ về biển cũng không giống như đại đa số đám đông bàn luận. Đó không phải là những bãi tắm, những mẻ cá hay những cơn cảm nắng – những gì vẫn mang tính chất thuộc về lợi ích người – mà là một thứ khác hoang dại hơn nhưng cũng hết mực mơ hồ, một thứ biển chắc chắn khác dù không thể định nghĩa. Cậu sống như tình trạng của một kẻ mộng du và cuộc sống hiện thời chẳng khác nào sống tạm. Dường như chính điều ấy đã thôi thúc cậu bé đi tới quyết định ra đi. Trong chính một bài phát biểu của mình, Le Clézio từng nói: “Con người – “kẻ mơ mộng cuối cùng”, nói như Breton, hay “kẻ mộng mơ ở độ tuổi dậy thì” như chữ của Lautréamont, trở thành nạn nhân bởi chính kẻ sáng tạo nên mình – buộc phải chọn lựa cho mình con đường để bộc lộ mình, phải chọn lựa phương tiện để đạt đến tự do của mình.”.[1] Bởi vậy nên sự lựa chọn ra đi của Daniel tuy có khác với chúng bạn, song lại là điều tất yếu. “Daniel của Clézio bỏ lại chiếc giường sắt (một ẩn dụ cứng lạnh và ẩn chứa khả năng gây sát thương không kém) dưới bóng tối tù mù trong kí túc xá, ta còn biết mơ về những chân trời giải thoát, còn biết tin vào sự quyết liệt của chính mình sau những lần vỡ mộng với cuộc đời.” [2]  Trên hành trình này, Daniel đơn độc nhưng có lẽ chính sự lẻ loi ấy mới là điều cần thiết cho chuyến đi ấy. Những khám phá, những trải nghiệm sâu lắng luôn cần tới một không gian độc lập và tự do.

Chính không gian ấy mở ra trước mắt Daniel thật nhiều điều mới mẻ. Và theo tôi, không chỉ có long lanh trong đôi mắt cậu bé mà trong cả những con mắt của bạn đọc. Có thể họ không giống như Daniel, có thể họ đã tiếp xúc với biển số lần không kể xiết nhưng sẽ luôn có những điều lạ lẫm và mới mẻ như vậy. Le Clézio là một nhà văn mà tài nghệ miêu tả của ông luôn có một lực hấp không thể cưỡng lại. Văn ông rất giàu chất thơ và chất thơ đó đậm đặc hơn cả trong những đoạn miêu tả thiên nhiên. Nếu như trong Lũ mục đồng người đọc bị hớp hồn bởi những mộng mơ khi lũ trẻ nằm ngắm sao, những dịu dàng và trong trẻo khi Gaspar và Khaf nắm tay rồi tưởng như hai đứa bay lên cùng với mặt trăng, rong ruổi nơi bầu trời hay vẻ kiêu hãnh mà không kém phần hung tợn của con rắn Nach thì ở truyện này, vẻ đẹp của biển cũng hiện lên có khi hiền hòa khi lại dữ dội nhưng chưa bao giờ là không huyền hoặc, mĩ lệ. Le Clézio hay những nhà văn, nhà thơ nói chung đều đặt chúng ta trong một chiều kích hiện thực mà ở đó những sự vật dù được đào khơi triệt để thì vẫn để lại những khoảng trống cho sự tưởng tượng. Đó là những gì trong cuộc sống dường như khuất lấp, ít người nhìn ra hoặc là sự soi chiếu và phát hiện tính người trong từng sự vật. Daniel chơi thân với chàng bạch tuộc, kiếm thức ăn cho nó, thậm chí còn đặt tên cho nó là Wiatt. Họ tìm thấy nhau và bầu bạn cùng người kia giữa chốn hoang vu này, một người – một loài thủy sinh nhưng dường như giữa họ luôn có sự giao tiếp và thấu hiểu lẫn nhau: “Có lẽ nó cũng giống như Daniel, có lẽ nó đã đi rất xa để tìm được tổ ấm của mình, trong vũng nước này, và ngày ngày ngắm bầu trời xanh qua mặt nước trong vắt”.Con bạch tuộc thường “vuốt ve một cách dè dặt, thỉnh thoảng luồn các xúc tu của mình giữa các ngón chân hoặc cạ vào lòng bàn chân cậu bé” và khi đó cậu bé bật cười. Daniel còn nhìn thấy cả những nỗi cô đơn và lạnh lẽo của những mỏm đá sắc nhọn hay ánh sáng phản xạ liên hồi qua hai mặt gương – bầu trời và những phiến đá. Nhưng thiên nhiên mà Le Clézio luôn không tách biệt mà con người luôn tắm mình trong thiên nhiên. Vậy nên ánh sáng ấy kích động và phóng thích cậu bé, cậu bé không ngồi yên ngắm nhìn chúng mà theo đà chạy nhảy băng qua những phiến đá. Hay khi lúc nước biển dâng lên Daniel cũng cảm nhận được niềm vui của các hạt muối được giải phóng. Những miêu tả của nhà văn kích thích cùng lúc rất nhiều những giác quan và cảm xúc của con người. Nó luôn tìm ra mối đầu mối nào đó gắn kết giữa các sự vật hiện tượng và cả con người, luôn có một cái gọi là “trật tự ẩn” phía dưới những mảng nổi của hiện thực thứ nhất tưởng chừng như chứa những sự vật rời rạc. Phải chăng vì thế nên tác phẩm dù là hư cấu nhưng người đọc đôi khi lại thấy nó thực hơn cả hiện thực?

Không những thế, hiện thực mà văn chương gợi ra luôn là một hiện thực mở, chứa đựng trong mình những cái khả nhiên. Đó là những cái có thể ở thực tại chưa có nhưng chính những kẻ dám mơ ước sẽ biến nó thành cái có thể có ở tương lai. Ở đây, tôi nhận thấy có hai lớp hiện thực mở, một là hiện thực mở của câu chuyện phiêu lưu của Sindbad ảnh hưởng đến Daniel, hai là hiện thực mở của “Cậu bé chưa bao giờ thấy biển” tác động đến người đọc.

Ngay từ câu đầu tiên của truyện, Daniel đã được giới thiệu với cái tên của nhân vật trong cuốn truyện cổ Nghìn lẻ một đêm – chàng thủy thủ, người đi biển Sindbad: “ Tên nó là Daniel, nhưng nó thích được gọi là Sindbad hơn, vì rằng nó đã đọc tất cả những chuyện phiêu lưu của chàng ta  trong một quyển sách dày cộm đóng bìa màu đỏ mà lúc nào nó cũng mang theo bên mình trong lớp học và trong kí túc xá”. Thậm chí, tất cả những gì được gọi là hành lí được Daniel quyết định mang đi trong chuyến ra đi này cũng chỉ vỏn vẹn quyển sách ấy. Bảy cuộc phiêu lưu của Sindbad, dù là đối diện với bão, nước xoáy hay chiến đấu với cá voi, đại bàng, những người lùn, những gã khổng lồ hay những thổ dân ăn thịt người,… Sindbad đều chiến đấu và chiến thắng bằng trí thông minh và lòng quả cảm của mình. Những câu chuyện ấy đầy mê lực ấy đã thôi thúc bước chân của Daniel. Đương nhiên những chuyện kì quái như của Sindbad chắc sẽ không thể xảy ra với chú bé nhưng niềm đam mê phiêu lưu, khám phá đã truyền cho Daniel để cậu viết một câu chuyện về chuyến hành trình của riêng mình. Quan trọng hơn cả là động lực để cậu dứt bỏ cuộc sống của kẻ mộng du, một sự tồn tại lờ đờ mà cậu sống khi ở trong trường học. Hẳn sẽ có nhiều rủi ro, khi tiếp xúc với biển lần đầu chẳng phải Daniel đã sợ hãi bỏ chạy hay sao? Rồi cả khi cậu bị sóng tràn dâng nhấn chìm, miệng sặc nước và tay cố bấu nơi cát, chẳng lẽ đứa trẻ ấy không chút nào sợ hãi? Nhưng mê lực từ trong lòng biển cả lại cuốn cậu trở lại tiếp tục sống gần biển, để được nhìn thấy nó mỗi ngày. Tôi lại nhớ đến Sindbad khi đọc những câu chuyện về chàng, Gần như từ câu chuyện thứ ba trở đi mỗi khi gặp phải đối diện với cái chết chàng đều không thôi sỉ vả mình sao không sống yên phận ở nhà nhưng cuối cùng lại vẫn tiếp tục những chuyến hành trình kế tiếp để thỏa mãn cái thú mạo hiểm trong mình. Ngay chính trong truyện, Daniel cũng đã có lần bắt gặp cảnh biển khiến cậu liên tưởng đến hành trình Sindbad gặp vua Mihrage.

Bản thân cuộc hành trình của Daniel cũng phần nào tác động tới tâm lí người đọc, những người “đồng cảnh” với cậu bé. Chính cậu bé cũng dấy lên khao khát nào đó trong lòng người đọc, nó có thể không giống như vậy, họ sẽ không làm cuộc hành trình ra biển như cậu bé nhưng chắc chắn một cuộc vượt thoát khác sẽ được tiến hành.

Với những hiện thực mà văn học đã vẽ ra ấy, chúng thống nhất nhưng không đồng nhất với hiện thực đời sống, vậy bản thân chúng mang ý nghĩa gì? Ở góc nhìn hẹp, chỉ nhìn bên trong câu chuyện, như vừa phân tích, câu chuyện về cuộc phiêu lưu của Sindbad đã làm thôi thúc Daniel bắt đầu cuộc hành trình trải nghiệm và tìm kiếm ý nghĩa sống của bản thân. Nhưng có thể thấy chính cuộc hành trình của cậu bé lại khơi ra một-điều-gì-đó đối với lũ trẻ cùng trường, cũng giống như câu chuyện cái hang của Plato. Chúng không ra đi như Daniel nhưng lại luôn có quy tắc ngầm để “bảo vệ” cho Daniel, tức là đánh lạc hướng những cuộc điều tra và khi nghe xong câu chuyện về việc hàng năm luôn có vài chục ngàn người biến mất như thế thì chuyện đó bắt đầu là chúng mơ mộng “nó làm dấy lên từ sâu thẳm tâm hồn mỗi đứa trẻ một ước mơ thầm kín và mê hoặc còn đang dang dở”. Rõ ràng những đứa trẻ ấy cũng nhận thấy một cái gì đó đang nảy nở bên trong, tuy còn mơ hồ nhưng chẳng phải Daniel cũng bắt đầu chuyến hành trình của mình từ những cảm giác mơ hồ hay sao?

Ngay cả đối với chính người đọc, văn học – cùng với hiện thực mà nó phản ánh đã gieo vào hoặc làm củng cố niểm tin vào những ước mơ. Văn học, khác với những bài học đạo đức hay những chương trình kiểu “Quà tặng cuộc sống”, nó không giáo điều trực tiếp khuyên nhủ hay hô hào bạn với những khẩu hiệu. Nhưng bằng câu chuyện của “kẻ khác”, ở đây là câu chuyện của Daniel, nó sẽ vạch ra những mối bất an trong lòng bạn và gián tiếp truyền vào đó một ngọn lửa, tiếp cho bạn một nội lực ngầm rũ bỏ những điều cũ kĩ, để viết nên cuộc hành trình của bản thân. Những ước mơ đẹp và trong trẻo vẫn còn tồn tại chứ cuộc sống không chỉ có những ước mơ thực dụng và vẫn sẽ có những người chọn lựa theo đuổi những ước mơ ấy. Và chừng nào còn niềm tin, chừng ấy chúng vẫn còn hiện hữu. Khi những ước mơ ấy nảy mầm và đủ vững chắc, nó sẽ chuyển thành khao khát được thể nghiệm và sẽ dấn thân trải nghiệm.

Trong bài thuyết trình của mình tại buổi seminar về nhà thơ Pháp Lautréamont, J.M.G Le Clézio dẫn lời của Andre Breton: “Bắt trí tưởng tượng trở thành nô lệ – cho dù điều này đồng thời có nghĩa là loại bỏ đi cái thường được gọi là hạnh phúc – có nghĩa là phản bội tất cả cảm quan về sự công bằng tuyệt đối bên trong con người. Chỉ mình trí tưởng tượng mới có thể đem lại cho tôi một gợi ý nào đó về cái có thể là, và điều này đủ để vứt bỏ được, ở một mức độ nhẹ nhàng, những huấn thị khủng khiếp; cũng đủ để cho phép tôi dâng mình cho nó mà không sợ hãi phạm sai lầm (cứ như thế làm vậy thì sẽ phạm phải sai lầm còn lớn hơn nữa). Từ đâu mà tình trạng này lại trở nên tồi tệ; từ đâu mà tinh thần mất đi sự kiên định của nó? Đối với tinh thần, chẳng lẽ cái khả năng phạm lỗi lại còn không ý nghĩa bằng sự tùy tiện của những cái đúng?”.Khi đọc những dòng này và ngẫm lại, thiết thấy những sáng tác của  Le Clézio đều hướng tới điều này – giải phóng con người khỏi những “nhà tù cơi nới”, những nhà ngục tinh thần dựng nên bởi những ám ảnh, những tổn thương, những khuôn mẫu và định kiến. Đến với những sáng tác của ông, người đọc buộc phải từ giã lối đọc theo sự kiện mà trí tưởng tượng cùng các giác quan sẽ được kích nhọn hơn bao giờ hết. Vì thế mà có thể nói khi việc trải nghiệm hiện thực của văn học sẽ cho chúng ta sống theo một cảm nhận hoàn toàn riêng biệt, mới mẻ. Chúng ta không thể chạm vào thứ hiện thực ấy hay trực tiếp nhìn thấy nó nhưng lại cảm nhận nó với rất nhiều chiều kích và suy ngẫm thêm những điều của thực tế cuộc sống. Đọc “Cậu bé chưa bao giờ thấy biển”, với tôi nó không đơn thuần là hành trình tìm đến biển của một cậu bé, mà rộng hơn, theo tôi đó còn là hành trình nên có của con người tìm về với tự nhiên, tìm ra những mối dây liên hệ với tự nhiên và đừng lãng quên hay hủy hoại nó.

Bên cạnh đó, nhận đinh của Andre Breton cũng nhấn mạnh hiện thực mà văn học phản ánh cho phép chúng ta nhìn thấy và phần nào hiểu những “kẻ khác”, nhất là những kẻ dị biệt, những kẻ mà chúng ta cũng bắt gặp đâu đấy quanh mình nhưng khó có thể chấp nhận bởi những định kiến đã áp chế chúng ta khi đưa họ – những kẻ khác người, khác đám đông vào khung nhìn chung của xã hội, của những kẻ mang quyền lực. Và với điều này, nghệ thuật khiến con người ta cởi mở và bao dung hơn.

Với tất cả những lẽ trên, hiện thực mà văn học đem lại mang những giá trị, ý nghĩa nhất định mà không gì có thể thay thế được. Tuy vậy, luôn cần có những người như Daniel, những người dứt khoát phải đi tìm cái hiện thực ấy cho dù đến cuối cùng họ có thể thất bại hay chúng ta thậm chí cũng chẳng biết rồi số phận họ sẽ đi tới đâu. Ở ngay đầu bài viết này đề cập đến những cuộc bỏ trốn, những cuộc vượt thoát tìm đến một, hay nhiều hiện thực khác thế nhưng suy cho cùng chúng chỉ là tạm thời. Văn chương có thể giúp chúng ta làm một “cuộc vượt ngục về tinh thần” nhưng đích mà ta hướng về vẫn luôn là thực tại, để có thể cải tạo thực tại. Thực tại ở đây có thể không rộng lớn. Một đôi câu thơ hay một vài cuốn sách không thể giúp cá nhân có khả năng thanh lọc cả xã hội nhưng những cuốn sách hay đến được tay ta vào thời điểm phù hợp nó rất có thể cứu rỗi được một cá nhân. Vẫn rất cần phải đi tìm hiện thực ấy trong đời sống vì chính trong những cuộc tìm kiếm ấy, con người ta sẽ khám phá ra những điều mới mẻ hay đào sâu thêm một tầng nào đó của hiện thực. Ngoài những cái nghe chừng lớn lao ấy, tôi thiết nghĩ hành trình sống trước hết là hành trình hướng nội tức là tìm vào những cái bản thể. Nếu không tiến hành đi tìm hiện thực như Daniel thì hiện thực mà văn chương nói đến dù hay đến mấy cũng chỉ là cái nằm ở ngoại biên, chỉ khi đi tìm nó mới chuyển vào, tích tụ làm nên chất ở bên trong.

Chú thích

[1] J.M.G. Le Clézio, “Freedom to Dream”, bản dịch tiếng Anh của Ralph Schoolcraft III, World Literature Today, Hải Ngọc dịch

[2] Le Clézio và những gì đang biến tan… (về những ngày đọc Bão, và Lũ mục đồng, và Những câu chuyện khác), Hà Đặng

Nguyễn Thị Quỳnh Hương