Đọc lại Xóm Rá của Ngọc Giao

Thẻ

, , , ,

Thỉnh thoảng mình cũng nhận được lời mời viết giới thiệu sách. Hoặc là những tác phẩm mới, hoặc là một tác phẩm ra đời từ lâu, trước đó chính mình cũng chưa thực sự chú ý đến nó. Vì vậy, việc viết lời giới thiệu sách, với mình, luôn có tính chất như những sự khám phá.

Bài viết dưới đây được sử dụng làm lời bạt cho cuốn tiểu thuyết thực ra không chỉ bản thân mình mà có lẽ nhiều người cũng không biết đến nó – tiểu thuyết Xóm Rá (được hoàn thành tại miền Bắc vào năm 1957) của nhà văn Ngọc Giao. Phải hơn 50 năm sau, cuốn tiểu thuyết này mới được xuất bản chính thức. Năm 2015,  Nhã Nam đã tái bản Xóm Rá. Việc đọc Xóm Rá, với cá nhân mình, là một bất ngờ khi nhìn thấy một Ngọc Giao rất khác so với những gì mình đã đọc trước đó về ông. Một cuốn tiểu thuyết khốc liệt, dữ dội và nghiệt ngã.

 

*

Xom Ra

Đọc lại Xóm Rá của Ngọc Giao

“Cho nên, muốn làm văn nghệ, phải có một nghệ thuật phi thường, xúc cảm mãnh liệt, để diễn tả tinh vi sự thực. Sự thực nằm trong muôn vàn cái mà người ta cho là tầm thường, nhỏ bé, li ti như cát bụi… Bao nhiêu nhà văn say sưa tả thực, nhưng họ có thói quen khêu gợi cái ghê tởm, cái rùng rợn quái đản cho người đọc bằng những danh từ khủng khiếp…Nhưng kỹ thuật đó chỉ mới đánh trúng đầu, chứ chưa chạm được mảy may gì tới trái tim người đọc hết.”

Những lời trên của Vũ Linh, một nhân vật trong cuốn sách này, phần nào đó thể hiện chính quan niệm nghệ thuật của Ngọc Giao khi viết Xóm Rá. Vũ Linh, “một nhà báo, một nhà thơ, một họa sĩ, một cây bút phóng sự vào bậc đàn anh của giới văn nghệ miền Nam”, đã ở trọ sáu tháng tại Xóm Rá, một khu nhà thổ nơi ngoại ô Sài Gòn cuối những năm 1940, với tham vọng viết được một phóng sự lột tả toàn diện và sâu sắc sự thật về cái “xã hội mãi dâm”, “cái xã hội kỳ quái, tối đen mà mà hiện nay ta còn ù tai, mờ mắt, chưa nhận xét được gì chân xác”. Ngọc Giao cũng đã có hai tháng thâm nhập vào Xóm Rá, chung sống giữa “một cõi địa ngục” với ý thức chỉ bằng cách tiếp cận thực tế như thế, mạnh dạt gạt bỏ những định kiến, nghi ngại về đạo lý, chối từ việc đứng ở ngoài ngưỡng cửa nhòm vào, mới có thể mô tả được một thực trạng xã hội phức tạp, gai góc và đặc biệt hơn, theo nhà văn, chứa đựng những “vấn đề nhân loại”.

Giá trị của Xóm Rá, trước hết, nằm ở tính chất phóng sự của tác phẩm, ở góc nhìn cận cảnh vào một không gian trụy lạc, với những mảnh đời bên lề, ở việc phơi bày những khoảng tối của đời sống đô thị và của những dục vọng, ở thái độ phê phán của tác giả trước sự suy đồi của đạo đức, tình trạng con người bị bóc lột, những bất công xã hội và cả ở một thứ ngôn ngữ rất đời, rất “bụi”, cho đến giờ phần nào vẫn còn giữ nguyên được nét sống động. Trên phương diện này, Xóm Rá là sự tiếp nối đáng chú ý dòng văn chương phóng sự từ trước 1945, một thể loại mà sau Cách mạng tháng Tám, vì nhiều lý do, đã trở nên thưa thớt.

Nhưng Xóm Rá không đơn thuần chỉ là một phóng sự, dù Ngọc Giao đã gọi tác phẩm của mình như thế. Vũ Linh thừa nhận cái thế giới mãi dâm ở Xóm Rá, nơi người ta có thể sẵn sàng miệt thị, khinh rẻ, kết án nó từ những thành kiến của kẻ đứng ngoài, hóa ra bề bộn và phức tạp đến mức ngôn ngữ bất lực để nói về nó, không dễ ngày một ngày hai đã có thể tái hiện, phân tích, lý giải được. Xóm Rá, thực chất, là mảnh đất dành cho tiểu thuyết, nơi người ta nghe thấy nhiều ý nghĩ được vang lên, nhìn thấy những con người thuộc nhiều loại va chạm, những lằn ranh giá trị luôn ở trong trạng thái xê dịch. Những nhân vật sống trong Xóm Rá hay ghé qua nơi này đều được cá tính hóa khá sắc nét và phần lớn đều là những nhân vật lưỡng hóa: một bà chủ chứa đối xử với các cô gái điếm như nô lệ những lại là một người mẹ mẫu mực, tìm mọi cách để khiến con mình không tiếp xúc với thế giới đầy mầm bệnh nhân cách mà bà ta đang nhúng vào; một gã bồi săn côn đồ, dâm tà, tàn nhẫn nhưng đồng thời lại là kẻ có lòng tin vững chắc vào đạo Phật; một gã sinh viên bốc đồng ra tay cứu vớt một cô gái điếm nhưng rồi lại không thắng nổi sĩ diện của chính mình…Đặc biệt hơn cả là những cô gái điếm, những Nhạn, Tân, Liên…trong tác phẩm đều là những nhân vật không dễ khuôn lại để đánh giá. Họ đều là nạn nhân của xã hội mà ở đó, họ chỉ được xem như là nguồn thỏa mãn dục tình của đàn ông, là đối tượng để nhận về sự miệt thị, nguyền rủa. Nhưng từ chỗ là nạn nhân, là những kẻ phải chịu đựng sự khinh bỉ của cuộc đời, họ có những cách thức riêng – bất cần, ngạo nghễ và phần nào có cả sự kiêu hãnh trong đó – để phản kháng cái xã hội đạo đức giả ấy: họ coi thường những gã đàn ông không vượt qua cám dỗ nhục dục nhưng vẫn ra điều răn dạy họ; họ không ngại ngần ném trả lại sự mai mỉa đối với những quý bà, quý cô trưởng giả, hãnh tiến, muốn nhìn họ như những con thú lạ. Tất cả những phản kháng ấy được tập trung lại ở đoạn kết của tác phẩm, xoay quanh cái chết của Nhạn, nhân vật nữ chính. Nhạn tự tử không phải chỉ vì căn bệnh tim la mà cô nhiễm phải rốt cục cũng sẽ dẫn cô đến cái chết, không phải chỉ vì không còn khả năng trả thù thế giới đàn ông đã đọa đày thân xác cô, đẩy cô vào đường cùng. Trước lúc đi đến tự tử, cô đã dừng lại ý định đó khi nạn nhân trong tầm tay của cô là một gã thanh niên cường tráng, chỉ muốn tìm đến Nhạn để khám phá bí mật của những quyến rũ dục tình. Chỉ là Nhạn không muốn, đúng hơn, Nhạn không đủ tàn nhẫn đến tận cùng để trả thù đời. Nhưng chính sự yếu đuối ấy lại là một khoảnh khắc của đạo đức. Hành động của Tân khi tìm mọi cách xoay sở để lo tang lễ cho người bạn của mình và đặc biệt là việc các cô gái điếm tự động cởi bỏ trang phục của mình để mặc lại cho Nhạn – người lúc này đã bị tay làm nghề liệm xác tham lam trong nhà quàn lột bỏ hết áo quần – mang tính khiêu khích mạnh mẽ. Trước một xã hội phi nhân, nhân tính phải sẵn sàng đối chọi với nó trong tính khiêu khích cao nhất, sỗ sàng nhất, thách thức nhất, như một lựa chọn không thể khác: “Tao nhường quần cho con Nhạn. Tao cởi truồng đi đưa đám nó. Chứ sao! Tao cởi truồng đi giữa cái châu thành xa hoa lộng lẫy. Tao dí vào tận mặt, tận mắt cả bàn dân thiên hạ. Một con đĩ điếm cởi truồng đi tiễn một con đĩ điếm bị lột trần ra nghĩa địa tha ma! Mắc cỡ chính thiên hạ nó xấu mặt, chứ cái mặt tao không xấu!”

Xóm Rá là sự tiếp nối những tự sự về thế giới và thân phận của những cô gái điếm trong văn chương Việt Nam. Truyện Kiều, kiệt tác của văn học cổ điển Việt Nam, chẳng phải cũng đã xoay quanh cái không gian mà người ta thường mặc định là nhớp nháp, đọa lạc, đã nhìn thật sâu vào cuộc đời kỹ nữ bị chà đạp, rẻ rúng hay sao? Cả văn chương lãng mạn và văn chương hiện thực Việt Nam trước 1945 cũng có nhiều tác phẩm theo đuổi đề tài này: kẻ muốn bước vào không gian ấy để cận cảnh dục vọng của con người, kẻ muốn qua đó vạch trần mặt trái xã hội. Viết về thế giới ấy, như nhân vật Vũ Linh đã thú nhận, là điều khó khăn. Nó cần những kinh nghiệm nhận thức và kinh nghiệm đạo đức mới. Nó phải đem đến những kinh nghiệm nhận thức và kinh nghiệm đạo đức mới. Đọc lại Xóm Rá sau hơn nửa thế kỷ, ta vẫn có thể ghi nhận ý nghĩa của những kinh nghiệm ấy. Thế giới nơi Xóm Rá là thế giới chực chờ bùng vỡ, phá đổ. Và trên thực tế, hình ảnh cô gái điếm nổi loạn không mặc quần để đi đưa ma bạn mình giữa phố phường hoa lệ, là một thông điệp về sự đổi thay tất yếu cần phải có, ở mức độ nào đó, còn trọng lượng hơn cả lời an ủi của Vũ Linh kết lại tác phẩm: “Cố sống! Cố sống! Nghiến chặt răng mà sống.”

Hiện thực của Xóm Rá, với Ngọc Giao, là thứ không thể không viết, cho dù dưới nhiều áp lực, tác giả đã bắt buộc phải kết thúc tác phẩm trong khi “lẽ ra nó còn sống trên một trăm trang nữa!”[1]. Tuy “yểu mệnh” (chữ của chính Ngọc Giao), Xóm Rá vẫn đáng được coi là tác phẩm khốc liệt nhất, gai góc nhất trong di sản văn chương của Ngọc Giao. Sau hơn nửa thế kỷ, có thể người đọc sẽ không chỉ nhìn nhận về nó như là một tác phẩm vốn nằm im trong ngăn kéo từ lâu của một nhà văn cũng từng bị quên lãng khá lâu, viết về một thời kỳ và một không gian ít được ghi chép, tái hiện trong văn học sử. Như nhiều tác phẩm giá trị khác, Xóm Rá là một tác phẩm tiềm tàng chất liệu cho những cách đọc mới. Một lối đọc tân duy sử (new historicism) hẳn sẽ chú ý đến mối quan hệ giữa những cô gái điếm với các tác phẩm viết về đời kỹ nữ mà các cô được đọc như một gợi dẫn để tìm kiếm một “vi lịch sử” nào đó về hình ảnh những cô gái điếm trong văn học đầu thế kỷ. Người thích đọc tác phẩm từ góc độ nữ quyền luận hẳn sẽ phải dừng lại ngẫm nghĩ nhiều trước lời động viên của Vũ Linh dành cho Nhạn, khi anh vẽ ra cho vô viễn cảnh một thế giới mà đàn bà đang làm nó ngả nghiêng, chao đảo: “Đàn bà làm cho nhà băng nổ, làm cho vũ đài chính trị lung lay, làm cho hăm-bốn tiếng đồng hồ lập hai nội các, làm cho thằng đầu cơ chính sự chỉ chờ bạn đồng nghiệp vô ý nhấc đít lên là ôm ghế chạy rao bán kín ở chợ đen…Nhạn đập vào mõm chúng, ngồi lên cổ chúng, bắt chúng bò bằng bốn cẳng. Tôi sẽ đứng xa mà chiêm ngưỡng Nhạn, một nhân vật lạ nhất của pho tiểu thuyết vĩ đại nhất của nữa trái địa cầu đang loạn xạ.”… Một cuốn sách có thể kích thích sự phiêu lưu của nhiều cách đọc như thế, chắc chắn, không chỉ có giá trị của một tư liệu.

Trần Ngọc Hiếu

[1] Ngọc Giao, Xóm Rá, Nhã Nam & NXB Hội nhà văn, 2015, trang 6.

 

Salman Rushdie – Cervantes và Shakespeare – những người mở cuộc chơi của văn chương hiện đại

Thẻ

, , , ,

Ngày 23-4-2016, thế giới sẽ kỷ niệm 400 năm ngày mất của William Shakespeare và Miguel de Cervantes Saavedra, hai tượng đài văn chương kỳ vĩ của thời Phục hưng và đồng thời là những điển phạm bất tử của văn chương nhân loại. Trong dịp này, Nhà xuất bản And Other Stories tại Anh đã ra mắt tuyển tập Lunatics, Lovers and Poets: Twelve Stories After Cervantes and Shakespeare (Những kẻ điên, những tình nhân và những thi sĩ: 12 câu chuyện sau Cervantes và Shakespeare). Tuyển tập giới thiệu 12 tác phẩm chưa từng công bố của 12 tác giả lấy cảm hứng từ di sản văn chương của Cervantes và Shakespeare. Cuốn sách có lời giới thiệu của Salman Rushdie – tác giả có thể được xem là người kế thừa sáng tạo bậc nhất ảnh hưởng của hai văn hào này. Bài viết dưới đây chính là lời giới thiệu cho cuốn sách nói trên.

*

Don Quixote

Khi chúng ta đang tiến tới kỷ niệm 400 năm ngày mất của William Shakespeare và Miguel de Cervantes Saavedra thì một chi tiết có lẽ đáng chú ý là: mặc dù người ta thường cho rằng hai tác gia “khổng lồ” này qua đời cùng một ngày, 23-4-16-16 nhưng trên thực tế lại không phải như thế. Đến năm 1616, Tây Ban Nha đã chuyển sang dùng lịch Gregorian trong khi nước Anh vẫn dùng lịch Julian, vốn chậm hơn 11 ngày. (Nước Anh còn sử dụng hệ thống ngày tháng theo lịch Julian đến tận năm 1752, và khi thay đổi này cuối cùng cũng phải xảy ra, người ta kể rằng trên đường phố đã có những cuộc bạo động và đám đông la ó, “Hãy trả lại cho chúng tôi 11 ngày!”) Người ta có thể nghĩ cả sự trùng hợp về ngày tháng lẫn sự khác biệt của hai hệ thống lịch đều sẽ kích thích những hứng thú khôi hài và suy tư sâu xa của hai vị “cha đẻ” của nền văn học hiện đại này.

Chúng ta không biết liệu họ có biết nhau hay không, nhưng họ có nhiều điểm chung, bắt đầu ngay ở cái vùng “không biết” này, vì họ đều là những con người bí ẩn, có những quãng thời gian trong cuộc đời họ không được ghi lại, và thậm chí ấn tượng hơn nữa, có những tư liệu về họ bị mất. Cả hai đều không để lại những tư liệu cá nhân. Hầu như không có thư từ, nhật ký, bản thảo bị quên lãng, mà chỉ có tác phẩm đồ sộ, đã hoàn chỉnh. “Phần còn lại là im lặng.” Hệ quả là, cả hai ông đều trở thành con mồi cho những lý thuyết ngu xuẩn muốn tìm cách lật lại quyền tác giả của họ.

Chẳng hạn, một tìm kiếm nhanh trên internet sẽ “tiết lộ” rằng không chỉ Francis Bacon đã viết những tác phẩm của Shakespeare mà ông còn là người sáng tác cả Don Quixote nữa. (Giả thuyết điên rồ nhất của tôi về Shakespeare là những vở kịch của ông không phải do ông viết mà là do một ai đó có cùng tên sáng tác.) Và cố nhiên, Cervantes cũng đối mặt với thử thách về tác quyền trong suốt cả đời mình, khi một kẻ có bút danh là Alonso Fernández de Avellaneda, căn cước cũng rất mơ hồ, đã xuất bản phần nối tiếp  Don Quixote và buộc Cervantes phải viết tập II thật sự của cuốn tiểu thuyết này, với những nhân vật biết rõ về kẻ đạo văn Avelllaneda và hết sức khinh rẻ hắn.

Cervantes và Shakespeare gần như chắc chắn chưa bao giờ gặp nhau, nhưng càng nhìn vào những trang văn mà họ để lại, ta càng nghe thấy nhiều sự đồng vọng giữa hai tác giả. Trước hết, và đối với tôi, ý niệm được chia sẻ giá trị nhất là niềm tin rằng một tác phẩm văn chương không phải chỉ đơn thuần là hài hước, bi kịch, lãng mạn, chính trị/lịch sử; rằng, nếu hình dung một cách đúng đắn, nó có thể là nhiều thứ cùng lúc.

Ta hãy nhớ lại những cảnh mở đầu của Hamlet. Hồi I, cảnh I là một câu chuyện ma. “ Chẳng phải điều này còn hơn cả huyễn tưởng?” Barnardo đã hỏi Horatio, và dĩ nhiên, vở kịch còn hơn cả thế. Hồi I, cảnh II, hé mở một mối dan díu ngầm: một hoàng tử học thức không thể kiềm chế cơn giận dữ khi mẹ của chàng – bà hoàng hậu vừa mới mất chồng – đã vội cưới ngay người chú của cháng (“Ôi! Sao quá nhẫn tâm vội vàng đắm mình vào đống gối chăn loạn luân khéo léo đến thế!”). Hồi I, cảnh III, Ophelia xuất hiện, tâm sự với người cha luôn đa nghi của mình, Polonius, về mối tình mà sau này sẽ trở thành một kết cục đau buồn: “Ôi Cha ơi, chàng đã luôn tỏ vẻ yêu thương con một cách đàng hoàng, đứng đắn.” Hồi I, cảnh IV, lại là một chuyện ma và một cái gì đó đang thối rữa trong lòng xã hội Đan Mạch.

hamlet.jpg

Và khi vở kịch tiến triển, nó tiếp tục có những sự biến dạng, lần lượt trở thành một câu chuyện về một vụ tự sát, một âm mưu chính trị, một bi kịch báo thù. Nó có những khoảnh khắc hài hước, có một vở kịch lồng trong kịch. Nó bao hàm cả những bài thơ tinh tế nhất từng được viết bằng tiếng Ahh và nó kết thúc bằng một cảnh tượng đẫm máu mang tính chất melodrama.

Đó là những gì chúng ta – những kẻ đi sau – kế thừa từ thiên tài xứ Bard này: ta hiểu rằng một tác phẩm có thể là mọi thứ cùng lúc. Truyền thống Pháp, vốn nghiêm ngặt hơn, phân chia bi kịch (mà mẫu mực là Racine) với hài kịch (mà mẫu mực là Molière). Shakespeare đã trộn lẫn chúng lại với nhau và nhờ ông, chúng ta cũng có thể làm việc ấy.

Trong một tiểu luận, Milan Kundera đã đề xuất một cách quan niệm, theo đó, thể loại tiểu thuyết có hai cột mốc khởi điểm là Clarrisa của Samuel Richardson và Tristram Shandy của Lawrence Sterne, thế như cả hai tác phẩm hư cấu đồ sộ, mang tính bách khoa thư này đều cho thấy ảnh hưởng từ Cervantes. Bác Toby và hạ sĩ Trim rõ ràng được xây dựng theo mẫu Quixote và Sancho Panza, trong khi chủ nghĩa hiện thực của Richardson rõ ràng đã ảnh hưởng rất nhiều từ cách mà Cervantes bóc trần truyền thống văn chương trung cổ ngu ngốc mà những ảo tưởng của nó đã khiến Don Quixote mê muội. Trong kiệt tác của Cervantes, cũng như trong tác phẩm Shakespeare, sự nhục nhã cùng tồn tại với sự cao quý, niềm bi thương và thống cảm cùng tồn tại với sự tục tĩu, thô bỉ, tất cả được đẩy lên cực điểm ở khoảnh khắc mãi mãi làm chúng ta xúc động khi thế giới thực khẳng định chính nó còn Chàng hiệp sĩ Mặt buồn phải thừa nhận mình là kẻ ngu dại, một lão già điên khùng, “cứ đi tìm những con chim năm nay trong tổ chim năm ngoái.”

Họ đều là những nhà văn tự ý thức về chính mình sâu sắc, họ đều hiện đại hiểu theo nghĩa mà hầu hết các bậc thầy văn chương hiện đại đều thừa nhận: một người viết những vở kịch ý thức rất rõ tính chất sân khấu, tính khả thi trong dàn dựng của chúng; người kia sáng tạo nên tác phẩm hư cấu ý thức rất sâu về bản chất hư cấu của mình, thậm chí còn phát kiến cả một người kể chuyện tưởng tượng, Cide Hamete Benengeli – một người kể chuyện, thú vị thay, có gốc gác Arab.

Và họ vừa là những người yêu mến, gắn bó với đời sống dưới đáy, lại vừa là những con người mang những ý tưởng cao sâu, tác phẩm của họ là phòng tranh mà ở đó ta thấy những kẻ bất lương, những ả gái điếm, những tên móc túi và những gã say khướt ở trong cùng quán rượu. Tính chất trần thế này là điều cho thấy cả hai đều là những nhà hiện thực chủ nghĩa trứ danh, kể cả khi tỏ ra mình là những ngòi bút huyễn tưởng, và bởi thế, một lần nữa, chúng ta – những kẻ đi sau -có thể học được từ họ, rằng cái kỳ ảo là vô nghĩa trừ khi nó phục tùng chủ nghĩa hiện thực – có có một “pháp sư” nào mang tinh thần hiện thực chủ nghĩa hơn Prospero, nhân vật chính trong vở Tempest [Cơn bão]? – và chủ nghĩa hiện thực phát huy sức mạnh của nó nhờ mũi tiêm lành mạnh của người kể chuyện hoang đường. Cuối cùng, dù cả hai đều khai thác những thủ phát bắt nguồn từ truyện kể dân gian, huyền thoại và ngụ ngôn song họ đều từ chối luân lý hóa và hơn tất cả, chính điều này khiến họ còn hiện đại hơn cả những người đi sau họ. Họ không nói với chúng phải nghĩ hay cảm thấy thế nào, nhưng họ chỉ cho chúng ta cách làm thế nào để khơi gợi sự cảm và nghĩ.

Trong hai người, Cervantes là con người hành động, tham gia vào những cuộc chinh chiến, bị thương nặng, mất khả năng sử dụng bàn tay trái, bị cướp biển bắt làm nô lệ ở Algiers trong suốt năm năm cho đến khi gia đình của ông có đủ tiền chuộc. Shakespeare không có những kinh nghiệm cá nhân kịch tính như thế; thế những trong hai người, ông lại là tác giả hứng thú hơn đối với những câu chuyện chinh chiến và đời lính. Othello, Macbeth, Lear đều là những câu chuyện về những người đàn ông trong chiến tranh (cuộc chiến bên trong chính họ, nhưng cố nhiên cũng là cuộc chiến nơi chiến trường). Cervantes đã sử dụng những kinh nghiệm đau thương của mình, chẳng hạn như Câu chuyện của người tù trong Don Quixote và ở một vài vở kịch, nhưng cuộc chiến mà Don Quixote lao vào – để dùng những từ ngữ hiện đại – lại mang tính chất phi lý và hiện sinh hơn là “thực”. Lạ lùng thay, người chiến binh Tây Ban Nha lại viết về sự vô ích hài hước của việc lao vào chinh chiến và tạo nên một hình tượng châm biếm vĩ đại về chàng hiệp sĩ như một gã khờ (người ta có thể nhớ đến Catch-22 của Joseph Heller và Slaughterhouse-Five của Kurt Vonnegut như là những trường hợp của thời hiện đại cùng khai thác đề tài này), trong khi đó kịch tác gia-thi sĩ người Anh lại để trí tưởng tượng của mình liều lĩnh nhúng sâu vào chiến tranh (tương tự như Leo Tolstoy hay Norman Mailer).

Trong tất cả sự khác biệt, cả hai tác giả này đều hiện thân cho những đối cực của đời sống đương đại mà chúng ta đang sống, cũng như trong tất cả những điểm tương đồng, những gì họ cùng chia sẻ với nhau đến hôm nay vẫn còn hữu ích với những người kế thừa họ – là chúng ta hôm nay.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Salman Rushdie, “How Cervantes and Shakespeare Wrote The Modern Literary Rule Book,” http://www.newstatesman.com/culture/books/2016/04/salman-rushdie-how-cervantes-and-shakespeare-wrote-modern-literary-rule-book

Đa Đa (Duo Duo – Nhà thơ Trung Quốc) – Đó là lý do để chúng ta bền lòng

Thẻ

, , , , , , ,

Bài viết dưới đây là diễn từ của Đa Đa (Duo Duo, nhà thơ Trung Quốc -1951) tại lễ trao giải thưởng Văn chương Neustadt 2010. Bài này dịch đã lâu, nay mới lục lại được trong thư mục cũ, post lại trên blog này, bởi nhan đề của bài diễn từ cũng là điều mà mình tự nhủ trong những ngày này…

Đa Đa (Duo Duo) là một nhà thơ nổi bật của trào lưu thơ Mông lung, hình thành ở Trung Quốc từ cuối thập niên 1970 thế kỷ trước và đến năm 1980 thì bị cấm. Mặc dù vậy, các nhà thơ trong phong trào này như Đa Đa, Bắc Đảo, Mang Khắc, Cố Thành…vẫn luôn được ghi nhận như những người tạo ra khúc ngoặt lớn của thơ ca đương đại Trung Hoa. Một điều may mắn là trừ Đa Đa, các nhà thơ nổi bật của trường phái Mông lung đều đã được dịch sang tiếng Việt khá nhiều bài, đặc biệt là Bắc Đảo (có thể tìm đọc trên trang Tiền Vệ). Với cá nhân mình, việc đọc các nhà thơ Mông lung đã cho mình một cảm quan rất đặc biệt về văn học đương đại Trung Hoa, điều mà nếu chỉ đọc văn xuôi không thôi, rất có thể mình sẽ có những định kiến phần nào tiêu cực.

Vâng, sau tất cả, vẫn cần một sự bền lòng…

Cay co thu

*

Kính thưa quý vị,

Tối hôm nay, trước tất cả mọi người, tôi muốn trầm giọng mình xuống, để từ “biết ơn” có thể được nghe thấy rõ hơn. Đó là từ tôi nhất định phải nói và đáng lẽ phải được nói ra từ lâu rồi.

Kể từ lần đầu tiên khi được nghe những vần thơ của Baudelaire, Lorca, Tsvetaeva và Ehrenburg, một thế hệ nhà thơ Trung Hoa đã mang một nỗi hàm ơn – bởi nhiệt hứng sáng tạo mà những thi sĩ ấy đã truyền đến chúng tôi trong những tháng năm vô cùng nghiệt ngã. Ngôn từ, trong tay của kẻ đón nhận, lập tức đã trở thành số phận.

Thơ ca đã tác động đến chúng tôi với sức mạnh trực tiếp của nó và tôi tin từ thời điểm tác động, sức mạnh ấy lại được truyền ngược trở ra từ mỗi chúng tôi.

Từ ấy, biên giới của tôi chỉ còn là hai hàng cây.

Ngay lúc này đây, những dư âm của những năm 1970 vẫn còn vang vọng, những âm thanh đã tái tạo tính cách của con người. Một đất nước, một giọng nói – nhà thơ tự trục xuất mình ra khỏi tất cả những điều đó. Từ đấy khởi sự sự viết, từ đấy khởi sự lưu đày. Một vị trí tự nó đã đến gần tôi. Tôi chỉ là một con người. Tôi kiến tạo chính mình trên nền tảng đó. Tôi chỉ là một con người.

Tôi không nói về lịch sử, mà là về con người; sự hiện diện của nó trong từ “lịch sử” từ lâu đã gây tranh cãi. Trong từ này, đời sống được thơ ca dẫn lối để tìm kiếm cái mà như Sylvia Plath nói, “một xứ sở xa xôi như sinh lực.”

Tôi đang nói về sự viết, bản étude đấy khó khăn ấy.

Trong quá trình này, cái phải được nói ra gặp gỡ với cái không thể nói được. Mỗi một từ là một chất xúc tác, đòi hỏi nhà văn phải đột phá mạnh mẽ khỏi những chuyện kể khác, khỏi trại tập trung nguyên thủy, nơi lịch sử, xã hội và chính trị hội tụ với nhau, để chạm đến “cái gì” và “ai”. Chạm được vào đó, nhà văn sẽ thấy những đường biên vô tận của con người được rào kín bằng ngôn từ.

Tại điểm đó, mỗi một từ đều có một nửa đã được viết ra, một nửa có thể hiểu được. Ngữ pháp vẫn đang cân nhắc về nửa còn lại. Mỗi một từ không chỉ là một ký hiệu. Bên trong mỗi từ là khối óc của một đứa bé mồ côi. Không một từ nào có thể trẻ trung hơn, song bên trong từ “chịu đựng” là tất cả những bí mật của việc là-con-người.

Có lẽ sự cân nhắc từ ngữ cũng là một hình thức của sự kiếm tìm lẽ công bằng. Nếu một lời độc thoại có thể mời gọi một dàn đồng ca thì có lẽ nó cũng có thể nói cho những kẻ khác nữa. Thi ca tự đủ trong chính tính chất vô dụng của mình, và bởi thế, nó là một sự khinh thị quyền lực.

Ít nhất, lý tưởng của thi ca yêu cầu điều đó: ngay khi nhà thơ vẫn còn đang tìm cách đuổi bắt thì nó đã phát lộ khía cạnh giá trị nhất của nó. Nó cho phép ánh sáng rọi lên những hoen rỉ, để ánh sáng tỏa rạng và lan ra. Ánh sáng do đó đến nơi con người có thể đến, để một lần nữa lại nhận ra tình yêu.

Thứ khải thị chúng ta là sự do dự, phân vân, vì thế, hành động luôn là thứ đáng kết án; sự tối tăm trở nên hoàn thiện hơn, đến mức nó che lấp tất cả những rạn nứt còn lại mà không biết rằng thực ra ánh sáng khởi nguồn chính từ bên trong bản thân nó. Và đó chính là điều mà ngôn từ phải xuyên thấu.

Cái hiện tại, do đó, thậm chí còn trở nên ẩn mật hơn, thiên thần cũng không thể nói được luật lệ này – một lời phù chú đã được viết xuống.

Khi con đường đã trở thành một từ không nhấn giọng, thậm chí kể cả khi ta truy nguyên phả hệ của nó, cái trở lại chỉ là những vang động của một nền văn minh đặc thù. Vì thế chúng ta dừng lại ở đây, dừng lại nơi ta nghĩ mình có thể trở về và trải nghiệm toàn bộ cuộc hành trình tìm kiếm thứ ngôn từ đã bị vùi sâu dưới lớp quặng cùng với một quá khứ xa xôi đã bất tỉnh – một câu đố bị phong kín thử thách người nghe nó.

Khi nhà thơ lắng nghe, ở những giới hạn của sự thành thật, nơi tận cùng của logic, một “cái gì đó” sẽ được mở ra, “cái gì đó” đó chính là thời khắc hiện tại. Từ cội rễ sâu xa nhất của nó, ngôn từ bật tung ra từ câu đố. Có lẽ chính thứ ngôn từ này là cái đã được phát lộ nhờ các dấu vết: một sự tiệm cận, gặp gỡ, đối thoại.

Con đường chỉ tồn tại trong hiện tại; và chúng ta sử dụng những vang âm như những cột cây số.

Tôi đang nói về việc kinh nghiệm của một nhà thơ được đem vào ngôn ngữ như thế nào.

Sau khi đã phải hứng chịu những tạp âm của cách mạng, sự lật đổ, sự thể nghiệm và giải cấu trúc, nhà thơ vẫn còn có thể nghe được những gì? Chính bên trong cái từ bật ra từ câu đố – sự im lặng – chính là hoàn cảnh chung của chúng ta: trên một thế giới hoàn toàn vật chất, trên bình diện mang tính thể chất của con người thuần túy, chúng ta cho phép một thứ trí tuệ bất bình thường mổ rỉa và gặm nhấm cảnh quan; đó là một sự tiếp tục của các khẩu hiệu; một thứ bạo lực có thể chịu đựng được đang sử dụng ký ức như một loại nhiên liệu và cái được nhân lên phong phú chính là âm vọng từ hoàn cảnh của chúng ta, bởi từ đây, ngôn từ bắt đầu bước vào cuộc lưu đày của mình.

Nhưng từ không gian diễn ngôn được tạo nên bởi điển phạm thơ ca, thứ không ngừng vang động chính là lời nói vốn chưa bao giờ tách lìa khỏi sự im lặng: chỉ có ký ức, không có lãng quên, bởi không có núi, chỉ có những chóp đỉnh…

Ngôi đền các thi sĩ cổ điển Trung Hoa hiện lên, họ đem những rặng núi, những dòng sông, những sức nặng và áp lực theo ngôn từ của mình và giữa những dòng thơ, tất cả, để đến với chúng ta, không phải chỉ ở nơi ngôn từ thoát ra mà còn chính tại những điểm đứt gãy địa hình, chờ đợi chúng ta xới cày nơi chúng dừng lại – một mùa màng bắt đầu trên thảo nguyên cuộc đời. Trong một chuyện khác, trong cùng một dụ ngôn, cách chúng ta trở về với âm thanh của những đứt đoạn ấy cũng là cách ánh sáng tạo nên chân trời của chúng ta.

Chính tại điểm ấy, chúng ta cần đến một giọng nói của một câu chuyện chứa đựng tất thảy cất lên.

Nói về phương Đông – phương Tây, nói đến cái sân khấu chung trên đó, chúng ta, tất cả cùng hiện diện – mặt đấy này, bầu trời đầy sao phía trước, những nơi cư ngụ – những đồng minh của chúng ta trong sự viết, những độc giả của chúng ta –  những thảm cỏ dưới lòng biển.

Thiên nhiên không có một thứ nước hay mực nào khác, nỗi hiểm nguy đã được tìm thấy, thơ ca dạt vào vị trí ngoại biên, và vị trí ngoại biên này gần với quê nhà. Thơ ca coi vị trí ngoại biên này như một diễm phúc và nó tiếp tục mang đến những nghi lễ dành cho những dòng sông đau khổ, những phong cảnh mà trái tim ta có thể đọc ra ý nghĩa của chúng.

Đấy chính là lý do để chúng ta bền lòng.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Duo Duo, “This is the Reason We Peservere”, bản dịch từ tiếng Trung của Mai Mang, World Literature Today, March-April, 2011, p44-47.

 

 

Elaine Scarry – Thơ ca, sự tổn thương và đạo đức của hành động đọc

Thẻ

, , , , , , ,

territory-1957(1).jpg!Blog

Quyền năng đạo đức của văn chương là gì? Nó có thể giảm thiểu những hành động gây tổn thương hay không, và nếu có thể, những bình diện nào của văn chương xứng đáng với uy tín ấy?

Đầu tiên, tất cả những câu hỏi này đều xoay quanh một câu hỏi khác: liệu có cái gì có thể giảm thiểu được sự tổn thương chăng? Trong cuốn sách mới đây, The Better Angels of Our Nature, Steven Pinker đưa ra lập luận rằng, trong hơn 50 thế kỷ qua, nhiều hình thức bạo lực đã bị tiêu giảm. Trong các thời đại mà ông đã khảo cứu tỉ mỉ, có một thời kỳ khoảng một trăm năm từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, một loạt những hành động tàn bạo – hành quyết những người bị kết án là phù thủy, áp dụng hình phạt tử hình, bắt đồng loại của mình làm nô lệ – đột nhiên giảm đi đáng kể, cho dù chùng không biến mất.

Khi cố gắng giải thích về “sự thay đổi trên diện rộng những cảm thức trong đời sống thường nhật” trước “sự đau đớn ở những sinh thể khác” và về những điều luật bảo vệ con người xuất hiện ở thời kỳ Cách mạng Nhân bản (Humanitarian Revolution), Pinker biện giải rằng những cải cách pháp lý, ở một mức độ nào đó, là hệ quả từ sự gia tăng khả năng đọc-viết của dân chúng. Những cải cách này có tiền đề từ sự gia tăng đáng kinh ngạc của việc xuất bản sách (thí dụ, ở Anh, con số các ấn bản đã gia tăng từ con số ít hơn 500 trong một thập niên vào năm 1600 đến 2000 ấn bản được lưu hành trong 10 năm vào năm 1700 và 7000 ấn bản/10 năm vào năm 1800) và sự gia tăng cũng đáng kinh ngạc không kém về khả năng đọc viết của dân chúng, trong đó, đến cuối thế kỷ XVII, tỉ lệ người biết chữ ở Anh chiếm đa số, sang đến cuối thế kỷ XVIII, đó là người Pháp, và đến cuối thế kỷ XIX chứng kiến sự gia tăng số người biết chữ ở Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Iceland, Scotland, Thụy Điển và Thụy Sĩ.

Pinker đã phân tích sâu một hình thức đọc và một thể loại đặc biệt – thể loại tiểu thuyết để cho thấy khả năng của văn học trong việc làm giảm bớt cái ác, cái xấu, cho dù, như ta sẽ thấy, những đặc điểm làm nên khả năng đó của tiểu thuyết thời kỳ này thực chất đã có trước đó từ lâu ở thơ ca. Khai triển vấn đề một cách tinh vi dựa trên tác phẩm của sử gia Lynn Hunt, Pinker đã mô tả thuyết phục hiệu quả của việc người dân đương thời đọc những tiểu thuyết ăn khách như Pamela của Richardson hay Julie của Rousseau, từ đó, họ tưởng tượng mình có thể thâm nhập vào cuộc đời kẻ khác, gồm cả những người không hề có quyền lực xã hội: những người phụ nữ, người hầu, và trẻ em. Pinker đưa ra hình dung về đời sống tinh thần của con người trước và sau cuộc cách mạng xóa mù chữ này:

Thế giới nhỏ hẹp như tù ngục của làng xóm và của đại gia đình, một thế giới mà người ta có thể tiếp cận được bằng ngũ quan và nhận biết được qua một đối tượng duy nhất cung cấp nội dung – nhà thờ, đã phải nhường chỗ cho ảo ảnh về những không gian rộng lớn với nhiều con người, nơi chốn, văn hóa và tư tưởng.

Nếu chúng ta thừa nhận (trên cơ sở của bằng chứng chưa đầy đủ này) rằng văn học, trên thực tế, có thể giúp giảm bớt các hành động gây tổn thương – không chỉ trong thời kỳ Cách mạng Nhân bản, mà còn ở cả những thời đại khác – thì những đặc điểm nào của văn chương có thể giải thích được điều này? Ba điều lập tức xuất hiện trong đầu: khả năng khơi gợi sự cảm thông của văn chương, ý thức đối thoại của văn chương và vẻ đẹp của nó.

Bởi sự cảm thông là một đặc điểm quan trọng của văn chương nên nó đã luôn được biện hộ, bị hồ nghi, bị rủa trách và được tôn vinh vô số lần. Và mặc dù đặc điểm này vẫn xứng đáng để xem xét thêm vô số lần nưa, tôi sẽ không dành nhiều không gian để bàn về nó ở đây, ngoại trừ một lưu ý sau.

Với từ “cảm thông”, Hunt và Pinker – theo quan điểm của tôi – không chỉ muốn nói đến khả năng của văn chương trong việc làm cho chúng ta cảm thấy thông cảm đối với một tồn tại mang tính hư cấu (dù văn chương chắc chắn làm được điều này), mà đúng hơn, họ muốn nói đến khả năng của văn chương trong việc rèn luyện và củng cố khả năng nhận thức của chúng ta, rằng còn những quan điểm khác trong thế giới này, từ đó, biến sự nhận thức này thành một thói quen tinh thần thường trực. Khi một nhận thức như thế hình thành ở một cộng đồng đủ lớn, một đạo luật nhằm ngăn chặn những hành vi gây tổn thương cho người khác sẽ được thông qua, sau đó, những điều cấm được thể hiện trong đạo luật sẽ trở nên độc lập, không phục thuộc vào cảm tính. Văn chương sẽ nói: “Hãy tưởng tượng ra Pamela, khi đó ta sẽ thấy nàng không cho phép ai được làm tổn thương mình là một lẽ tự nhiên.” Luật pháp sẽ nói: “Chúng tôi không quan tâm đến việc bạn có hay không có năng lực tưởng tượng; dù bạn có tưởng tượng được Pamela hay không thì bạn cũng không được phép gây tổn thương cho nàng.”

Khả năng khơi gợi sự cảm thông nơi độc giả của tiểu thuyết tìm thấy những tiền lệ của mình. Khả năng ấy đã có sẵn ngay trong đặc điểm thứ hai, giúp văn chương kháng cự lại những hành động gây tổn thương: một thôi thúc được đối thoại, tranh luận tiềm tàng trong cấu trúc của thơ.

Ta có thể thấy sự gắn kết giữa việc sáng tác thơ ca với nhu cầu đối thoại – tức với nhu cầu tranh luận “ủng hộ” hay “phản đối” – ngay ở cảnh Homer miêu tả những nữ thần thi ca hát khi khép lại cuốn thứ nhất của sử thi Iliad – một trong những bằng chứng sớm nhất mà chúng ta còn giữ được. Thomas Hobbes, người quan tâm sâu sắc đến sự tranh luận, trong bản dịch của ông công bố vào năm 1676, đã bắt đầu bằng cảnh tiệc tùng của các vị thần, “Suốt cả ngày, từ sáng đến đêm/Các vị thần chỉ ăn và uống/Apollo chơi đàn và rồi đến lượt/Các nữ thần hát đáp lại ông.” Những giọng nói luân phiên của các nữ thần sẽ được nghe thấy rõ hơn trong bản dịch sau này của Alexander Pope, cũng như ở bản dịch xuất hiện sớm hơn của John Ogliby. Ogliby đã ghi chú về những dòng thơ này: “Các nữ thần trả lời nhau bằng cách hát… Tương tự lối hát tụng ca; [Người Hy Lạp ở thời Homer sử dụng] những hình thức Diễn văn như thế này được sử dụng để bày tỏ sự ủng hộ hay phản đối về một luận điểm nào đó.” Sau đó, ông dẫn một câu trong tác phẩm Eclogue của Virgil “Các nữ thần luôn thích đối đáp thơ” và một câu trong tác phẩm Theogony của Hesiod, “Các nữ thần bắt đầu và kết thúc Bài ca.” Cấu trúc tranh luận, đối thoại được thể hiện bởi các nữ thần trong tác phẩm của Homer có thể được nhận thấy ở mọi bản dịch tiếng Anh, trừ bản của George Chapman. Samuel Butler viết, “Các nữ thần cất cao giọng hát ngọt ngào của họ, gọi và đáp lời nhau”; trong ấn bản của Richmond Lattimore, ta đọc thấy “những âm thanh ngọt ngào đối đáp nhau của các nữ thần”; và trong bản dịch của Robert Fagels, cảnh tượng này được diễn tả “Nữ thần hát/lời đáp lời hòa ca”.

Iliad là một thiên sử thi được châm ngòi bởi sự tranh cãi giữa Achilles và Agamemnon, và chúng ta thường có xu hướng gắn sự tranh cãi với thơ sử thi hay các vở kịch, như ở các cuộc thi kịch tại Hy Lạp thế kỷ V. Nhưng nhiều thể thơ khác cũng tích hợp cấu trúc tranh luận trong nó, như ta có thể thấy ở từ “tụng ca” (anthem) – vốn bắt nguồn từ từ “hát đối” hay “đáp thơ” – mà ta có thể thấy hiện diện trên tất cả các bản dịch. Việc một bài tụng thi, một khúc hát ngợi ca, hàm chứa giọng tranh biện bên trong làm chúng ta nhớ rằng cấu trúc tranh luận này không hề mang tính chất phản trữ tình.

Nhiều phong cách thơ ca giúp chúng ta trực quan những hành động đối thoại này. Eclogue (mục ca) là một bài thơ đối thoại về hành động lựa chọn mà bài Mục ca 3 và 7 của Virgil là thí dụ, trong đó, ta thấy một quan tòa phải lựa chọn giữa hai anh chàng mục đồng, ai có lập luận thuyết phục hơn. Từ “eclogue” bắt nguồn từ từ eklegein, nghĩa là “lựa chọn”. Một ví dụ khác là thể tenzone, trong đó hai thi sĩ lập luận bằng “những cặp câu thơ luân phiên đối nhau,” như Urban Holmes đã mô tả trong Princeton Encyclopedia of Poetry and Poetics. Thể tenzone cuối cùng mang cả những hình thức khác như đánh thơ hay họa thơ, trong đó một “nhà thơ đưa ra hai tình huống phản đề.” Nhà thơ này sẽ buộc phải biện hộ cho một luận đề, còn luận đề tương phản kia sẽ trao cho một nhà thơ khác, cả hai trình bày sự biện hộ của mình bằng ba khổ thơ. Trong bản dịch tác phẩm của Dante – Vita Nouva, dịch giả Mark Musa đã giải thích, “Những người hát rong ở Italia đã sáng tạo ra hình thức sonnet [của thể tenzone], tuy nhiên, hình thức này vẫn là một phương thức tranh luận, theo đó, một định đề được đưa ra, mời gọi một sự đáp lại (gieo cùng vần) từ một nhà thơ khác.”

Trong khi ở thể tenzone, hai bài thơ sonnet riêng biệt được đặt trong quan hệ tranh luận với nhau thì một hành động đối lập trong tinh thần cũng hàm ẩn ngay trong bản thân hình thức thơ sonnet, đặc biệt trong hình thức do Petrarch phát kiến mà bố cục bài thơ chia thành hai phần: tám câu đầu và sáu câu cuối. Trong khi thủ pháp volta hay “bước ngoặt tư tưởng” được nhấn mạnh trong hình thức sonnet của Petrarch thì ta cũng có thể nhận thấy rõ thủ pháp này trong các bài sonnet của Spenser và Shakespeare.

Holmes không chỉ chú ý đến những hình thức thơ mà ta vừa liệt kê mà còn đến những hìnhthức khác cũng gắn với một cấu trúc tranh biện, như lauda, vốn đòi hỏi “một sự hưởng ứng đáp lời” và do đó, khơi gợi sự đối thoại, hay thể pastourelle, trong đó, một nhà quý tộc hoặc một hiệp sĩ cố gắng quyền rũ một nữ mục đồng và thường bị nàng hoặc những người bạn mục đồng của nàng đánh lừa.

Sự gắn bó không tách rời giữa thơ ca và sự tranh luận có thể được thấy ngay trên nhan đề nhiều bài thơ ở nước Anh thời trung cổ: “Parlement of Foules” (Nghị viện của Chim), “Parliament of Devils” (Nghị viện của Quỷ), “Parliament of the Three Ages” (Nghị viện của Ba thế hệ), “The Cuckow and the Nightingale” (Chim cúc cu và chim họa mi), “The Clerk and the Nightingale” (Tu sĩ và chim họa mi), “The Floure and the Leafe” (Hoa và lá), “Dispute between Violet and Rose” (Tranh cãi giữa hoa violet và hoa hồng”…. và cuối cùng, nhưng không kém phần đáng chú ý, “A Disputacion betwyx the Body and Worms” (Tranh luận giữa Thân thể và Giun bọ).

Những bài thơ tranh luận ở thời trung cổ xuất hiện ở nhiều ngôn ngữ, bắt đầu từ bài thơ ra đời ở thế kỷ VIII, dưới thời Carolingia, có nhan đề “Conflictus Veris et Hietmis.” John Edwin Wells, một học giả hồi đầu thế kỷ XX về nước Anh thời trung cổ, có lưu ý rằng những phiên bản của bài thơ “Debate between Body and Soul”, vốn xuất hiện đầu tiên trong tiếng Anh vào khoảng thời gian từ 1150 đến 1175, hiện còn có thể tìm thấy trong tiếng Latin, Hy Lạp, Pháp, Provence, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha, Italia, Đan Mạch và Anh.”

Cũng có thể tìm thấy những hiện tượng tương ứng ở phương Đông. Nhan đề của nhiều bài thơ trong ngôn ngữ Sumerian, Akkadien, Assyrian, Babylonian thường giống với những bài thơ được nhắc đến ở trên: “Summer contra Winter” (Mùa hè chống lại Mùa đông), “Bird contra Fish” (Chim chống lại Cá), “Tree contra Reed” (Cây chống lại Sậy)… Mô tả những bài thơ tranh luận ở Cận Đông  vừa là “những công cụ” đồng thời vừa là “những đồ chơi”, Herman Vanstiphout cho rằng ở trung tâm của những bài thơ này đều có một bài học nghiêm túc: “Tất cả các đồng xu đều có hai mặt.” Mãi về sau này, những bài thơ tiếng Anh mới chia sẻ bài học ấy. Thomas L.Reed cho thấy mặc dù nhiều bài thơ trong ngôn ngữ Anglo-Saxo và ngôn ngữ Anh thời trung cổ thường được đặc trưng bởi việc đưa ra một quan điểm, một lập trường “đúng” mà người có suy nghĩ bị xem là “sai” có thể sửa đổi theo hướng đó nhưng trong nhiều bài thơ khác, ta thấy các ý kiến tranh cãi đều bình đẳng và không có phán quyết cuối cùng nào được đưa ra.

Reed đã chứng minh bên cạnh tất cả những bài thơ mà tính tranh luận của chúng được thể hiện công khai, nhiều tác phẩm lớn của văn chương Anh cũng là những tranh luận: Beowulf đầy rẫy những cuộc tranh cãi, khẩu chiến; Piers Plowman với mạch truyện tự do và “bí ẩn”; Sir Gawain and the Green Knight với những cuộc tranh cãi giữa màu xanh và vàng, mùa đông và mùa hè, Thiên chúa giáo và lý tưởng hiệp sĩ, tuổi trẻ và tuổi già, tội lỗi và ân sủng, sự khiếm nhã và sự phản bội. The Canterbury Tales cũng xoay quanh “tranh cãi về hôn nhân”, được mở rộng qua những câu chuyện của nhân vật Thương gia, Tu sĩ, Vợ của Bath và nhà Franklin; những cuộc khẩu chiến giữa Reeve, Miller, Summoner và Friar; và trên hết là “cuộc thi kể chuyện” giữa những người kể chuyện mà Harry Bailly là người phân định kết quả.

Vào thời của mình, những bài thơ này giúp hình thành những thiết chế dân sự mới mà ở đó sự tranh cãi được khuyến khích một cách nhiệt tình. Thomas Reed và Howard Bloch đã cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa “sự phát triển nhanh chưa từng thấy” của những hình thức tranh luận bằng thơ ca từ thế kỷ XII đến XV và sự phát triển đồng thời của ba thiết chế: các trường đại học, nơi sự trnh luận, dưới hình thức của phép logic và phép biện chứng, được dẫn dắt bởi các môn học khai phóng; các tòa án và song hành cùng với chúng là các trường luật – thí dụ như Inns of Court, nơi các việc kiện tụng và các vấn đề pháp lý được tranh luận theo từng phiên được gọi là “nghi ngờ và chất vấn”, “bàn cãi” và “chốt vấn đề”; và thiết chế cuối cùng là nghị viện với cấu trúc mang tính tập hợp và hình thức bỏ phiếu bằng cách điểm danh.

Nếu như Pinker và Hunt đã nhìn thấy sự phát triển bất ngờ của số dân biết chữ, của ngành xuất bản và thể loại tiểu thuyết như là những nhân tố kích thích (hay chí ít là ủng hộ) cho những cải cách pháp lý, từ đó góp phần hình thành cuộc Cách mạng Nhân bản ở thế kỷ XVIII, thì cấu trúc tranh luận của thơ ca kể từ Homer về sau đã góp phần nuôi dưỡng ba khu vực tranh luận ở thế kỷ XII và XIII mà mục đích của chúng – ít nhất là ở các nghị viện và pháp đình – là giảm thiểu sự tổn thương.

Vậy, một cuộc tranh luận giữa các nữ thần, hay giữa Achilles và Agamemnon, giữa Sophocles và Euripides, giữa hai người mục đồng, giữa lưỡi cày và lưỡi cuốc, giữa hoa hồng và hoa violet, giữa con cú mèo và chim họa mi…liên quan gì đến sự thông cảm mà ta trải nghiệm khi đọc Clarissa hay Moll Flanders hay Emma?

Trên thực tế, những khẳng định về giá trị của sự tranh luận rất giống với những gì chúng ta có thể nói về sự cảm thông. Điểm chung của hai bình diện này không phải chỉ ở chỗ chúng thừa nhận có nhiều điểm nhìn, đồng xu nào cũng có hai mặt mà còn là cơ hội để thực hiện, từ đó đào sâu và củng cố nhận thức ấy.

Quan trọng hơn, cả sự tranh luận lẫn sự cảm thông của chuyện kể đều đòi hỏi người ta phải biết nghĩ ngược chiều, phải nghĩ đến thực tế rằng đối phương không phải là ta, để có cùng quan điểm, cách xử sự trong tình huống. Trong một cuộc tranh cãi, luận điểm, lập luận của một bên có thể gây ấn tượng đối với chúng ta là đúng, là chân thực trong khi bên kia là không đúng, không chân thực. Nhưng chúng ta phải chú ý đến cả hai. Nếu chúng ta tưởng tượng một bài thơ tranh luận trở thành một tiểu thuyết, tất cả những gì xảy ra sẽ là bình diện được xem như sự thực (factual), đã coi như hiển nhiên bị biến mất, cái chúng ta đối diện, cái chúng ta đọc trên trang giấy lại là bình diện phản sự thực (counterfactual), tức là những gì trái khoáy, oái oăm, trớ trêu, nghịch lý. Một cách khác để diễn tả điều này mà ta có thể thấy ở một bài thơ tranh luận: quan điểm mà ta tin (quan điểm của hoa hồng) có thể được hiểu chỉ như là một lời biện hộ mang tính tự sự để dẫn nhập vào quan điểm mà ta không tin (quan điểm của hoa violet). Khi văn chương tiểu thuyết, văn chương hư cấu xuất hiện, việc cần phải dẫn dụ người đọc vào câu chuyện của hoa violet bằng việc phải khẳng định sự hiện diện của hoa hồng không còn cần thiết nữa. Từ đầu đến cuối, chúng ta chỉ phải đối diện với cái phản thực tế, cái oái oăm, nghịch lý.

Đặc điểm thứ ba của văn chương góp phần giảm thiểu khả năng gây tổn thương là vẻ đẹp của nó. Trong trường hợp này, bản thân người đọc là người được hưởng lợi: chính những tổn thương của người đọc sẽ lắng dịu xuống vì – ít nhất là theo Walter Pater – sự đọc mở rộng đời sống của anh ta. Pater nhận định, xét trên phương diện thực tế, chúng ta không thay đổi được việc mình có thể sống bao lâu, nhưng xét về mặt hiệu ứng, chúng ta lại có thể làm được điều này bằng cách “dồn nén càng nhiều xúc động càng tốt vào một khoảng thời gian cụ thể.” Những tác phẩm nghệ thuật đẹp và những bài thơ, theo Pater, là cách bảo đảm nhất để làm xuất hiện “thứ ý thức được kích thích và nhân bội này” và do đó có thể nén 200 (hoặc có thể 2000) năm tưởng tượng vào trong một đời người bình thường, mà ở trường hợp của Pater là 55 năm.

Nhưng dù đạo đức của sự đọc có thể chắc chắn bao hàm những lợi ích mà người đọc được thụ hưởng thì trọng tâm của chúng ta ở đây lại là câu chuyện khác, thường ít được để ý, theo đó, chínnh những con người mới là đối tượng được hưởng lợi từ hành động đọc của ai đó.

Trước hết, những thứ đẹp đẽ (dù là những bài thơ, những phương trình toán học, hay những gương mặt) đều sở hữu những đặc điểm như cân xứng, sống động, thống nhất dự cảm trước những phẩm chất tương tự, nhưng khó đạt đến hơn rất nhiều, trong lĩnh vực công lý. Chẳng hạn, sự cân xứng là đặc điểm thường thấy ở thi luật của một bài thơ sẽ khơi gợi cảm hứng và chỉ dẫn trong nhiều thế kỷ, từ đó dẫn đến sự hình thành ý niệm về sự cân xứng trong lĩnh vực công lý – dù đó là ý niệm công lý mà John Rawl định nghĩa như là công bằng, đòi hỏi “sự cân xứng trong mối quan hệ của mọi người với nhau”; hay đó là mong mỏi của Plato về sự đối xứng giữa tội ác và trừng phạt mà chúng ta vẫn còn cách rất xa với mong mỏi ấy; hay đó là quan niệm của Hume về sự đối xứng giữa những kỳ vọng và sự hiện thực hóa chúng.

Thứ hai, cái đẹp phá vỡ sự đơn điệu và đem đến cho ta một sự an ủi bất ngờ trong tâm trí. Nhà văn Iris Murdoch nói rằng chúng ta trải qua một quá trình “vô ngã hóa” trước sự hiện hữu của một thứ đẹp đẽ; “những mối bận tâm” và lo âu của con người sẽ bất ngờ tiêu tan. Simone Weil đã gọi hiện tượng này như là một “sự giải trung tâm triệt để.” Tôi thì gọi đó là “sự cận kề đê mê,” một thuật ngữ có vẻ vụng về nhưng gợi chúng ta nhớ rằng có nhiều thứ trong đời sống đem đến cho ta khoái cảm tinh tế (một trạng thái đê mê, được vuốt ve) và nhiều thứ khác làm ta cảm thấy như đứng ngoài cuộc mọi sự, nhưng hầu như không có cái gì – ngoại trừ cái đẹp – làm chúng ta trải nghiệm cả hai cảm giác đó cùng lúc. Cảm nhận có một khoái cảm tinh tế khi đứng ở bên ngoài cuộc là bước đầu tiên để đi đến xác lập sự công bằng.

Việc tiếp xúc với cái đẹp cũng có thêm một hiệu ứng bổ sung. Diotima, nữ triết gia người Hy Lạp thời cổ đại đã từng nói với Socrates – người kể với chúng ta câu chuyện về Plato – rằng theo Plato, sự hiện hữu của một con người hay một sự vật đẹp đẽ làm con người ta nảy sinh khao khát muốn sinh ra những đứa trẻ trên thế gian này. Diotima nói, việc tiếp xúc với cái đẹp đồng thời cũng khơi dậy ham muốn sáng tác những bài thơ, biên soạn những khảo luận về luật pháp và những tác phẩm triết học. Những triết gia hiện đại như Wittgenstein cũng từng nói điều tương tự. Nhận thức được năng lực sáng tạo cũng là một điều kiện tiên quyết để ta xác lập ý niệm công lý: trong khi cái đẹp có thể là tự nhiên hay nhân tạo thì công lý luôn là thứ nhân tạo; nó luôn cần đến những nỗ lực lớn lao để làm nó xuất hiện. Vì vậy, bất kỳ cái gì đánh thức sức mạnh sáng tạo trong ta đều là bước đầu tiên để đi đến xóa bỏ những sự bất đối xứng và tổn thương.

Văn chương có thể giảm thiểu những tổn thương của thế giới thực và ba đặc điểm của văn chương – khả năng cảm thông, ý thức tranh biện, đối thoại và cái đẹp – có thể đều gắn với hệ quả ấy.

Hãy tưởng tượng chúng ta có thể vứt bỏ do dự và hoàn toàn chắc chắn trước những sự thật rõ rành của những mệnh đề này. Câu hỏi tiếp theo sẽ là có phải văn chương thực hiện được những công việc đem lại lợi ích ấy với đám đông rộng lớn hay những hiệu ứng lợi ích của nó chỉ được gia tăng qua sự chỉ dẫn mang tính cá nhân hóa cao độ, những trải nghiệm riêng tư? Nói khác đi, liệu người ta có cần tích cực chuyên tâm vào những khả năng trị bệnh của văn chương hay không?

Từ những gì tôi đã trình bày, có thể thấy rõ rằng những thay đổi trong hành vi đạo đức luôn đòi hỏi một sự đổi thay lớn trong một cộng đồng độc giả rộng rãi. Điều này có nghĩa – như chúng ta đã biết từ lâu – rằng công việc chủ yếu của ngành nhân văn là đảm bảo rằng những cuốn sách được đặt vào trong tay của những lớp học trò mới và rồi chúng lại được mang trở lại ra biển. Tuy nhiên, có thể những giáo viên và người đọc cần phải làm nhiều hơn. Chúng ta cần chú ý nhiều hơn đến việc làm rõ những trách nhiệm đối với những thương tổn ở thế giới thực và khả năng can thiệp của văn chương bởi chính ba đặc trưng quan trọng của nó. Vì cho dù những thay đổi trong cảm thức cũng có thể sẽ xuất hiện mà không cần sự chỉ dẫn hay sự can thiệp rõ ràng nào thì một sự ít bí ẩn và sáng rõ hơn có thể sẽ khiến người ta dễ dàng tìm đường hơn.

Cuối cùng, mặc dù những thay đổi trong cảm thức trở nên rõ nét khi nó được chia sẻ, lan tỏa rộng rãi thì chắc chắn cũng cần nhắc những độc giả mới nhớ đến những thay đổi mà những độc giả đơn lẻ tạo ra qua hành động đọc rất riêng tư của mình. Rõ ràng những độc giả riêng lẻ, từ niềm khát đọc của mình, thi thoảng, đã đem đến những đóng góp cá nhân rất quan trọng để những tổn thương trong thế giới này được giảm thiểu. Daniel Defoe, người được xem là khởi điểm của tiểu thuyết Anh, cũng là người góp phần khơi dậy ý tưởng phải có những hiến pháp thành văn như nhà nghiên cứu luật pháp Bernadette Meyer đã chỉ ra. Tiểu thuyết Julie – một trong những cuốn tiểu thuyết ăn khách đầu tiên trong lịch sử văn học – được viết bởi Rousseau, tác giả Khế ước xã hội. Hobbes, tác giả cuốn Leviathan mà mục đích chính của nó là “đưa chúng ta thoát khỏi thân phận khốn khổ của mình”, đã đọc Iliad nhiều lần và kỹ lưỡng đến mức ông đã dịch tất cả 16.000 câu thơ của thiên sử thi ấy, cũng như ông đã đọc Odyssey một cách thấu đáo để dịch tác phẩm đó của Homer. Và nhờ sự giúp đỡ của J.R. Madicott qua tác phẩm Origins of the English Paliarment 924 -1327 (Nguồn gốc của quốc hội nước Anh từ 924 đến 1327), nếu chúng ta nhìn vào khởi nguồn của thiết chế này, không phải ở giai đoạn thiết chế này đi vào ổn định và củng cố sức mạnh, ta sẽ gặp gỡ với Athelstan, vị vua đầu tiêng của nước Anh hồi đầu thế kỷ X. Ông là người đã biến cái mà ở các triều đại trước đó là những buổi tham vấn đặc biệt các quân sư thi thoảng diễn ra thành những buổi học chính thức, thường xuyên để làm chứng và biểu quyết những bố cáo và điều luật. Athelstan nổi tiếng là một người sưu tầm sách vở, có học vấn uyên thâm, và cũng được biết đến qua những bài thơ cung đình của ông (trong đó có thể bao gồm cả tác phẩm De arte metrica [Về thi luật], một khảo cứu về thơ được viết bằng lối văn vần). Có bằng chứng, dù chưa thể xác quyết được, rằng sử thi Beowulf cũng được sáng tác dưới thời của ông. Sarah Foot, một nhà nghiên cứu tiểu sử, đã nhận xét: “Số lượng tác phẩm thơ ca ở thời đại này còn lại cho thấy việc ngâm xướng thơ ca có lẽ đóng một vai trò nhất định trong những sinh hoạt giải trí buổi tối tại cung đình của ông.”

Bất kể mỗi cá nhân chúng ta có những bổn phận trung thành và bền vững như thế nào với cộng đồng hay với người khác – như với người tình, với đất nước, với tư tưởng – thì vẫn có một phần nào đó bên trong ta vẫn có khả năng thay đổi. Chính nhờ cái phần này ở trong ta – cái phần có tính thuận nghịch giống như một mảnh vải tơ chỉ có độ dày một nanometre – là nơi mà văn chương hướng đến. Hoàn toàn không phải là một mối đe dọa với những cam kết, những trách nhiệm của chúng ta, cái phần bên trong mong manh như lụa này ở mỗi cá nhân làm ta trở nên uyển chuyển, linh động, cởi mở, cho phép ta độ lượng hơn với những con người, nơi chốn mà ta đã từng gắn bó. Nhưng nó cũng mở ra cho chúng ta những cam kết, những sự gắn bó trách nhiệm mới. Mọi thể loại văn chương đều nhắm đến điều này nơi chúng ta: đó là lý do tại sao những thuyết giảng về tôn giáo hay đạo đức phản sân khấu lại sợ sân khấu đến thế; tại sao không thể đoán được ta sẽ đồng nhất mình với ai khi đọc Anthony and Cleopatra hay Đồi gió hú.

Nhưng đâu phải văn chương chỉ nhắm đến cái lớp vải phi vật chất mong manh đó trong nội giới chúng ta, hay lớp sáp ong mềm dẻo bên trong tư tưởng và tinh thần chúng ta. Chính là văn chương qua hàng bao thế kỷ đã dệt nên nó, hay ít nhất văn chương giúp cho cái phần mong manh, biến ảo ấy vẫn vẹn nguyên kể cả sau khi chúng ta đã trở thành những kẻ “hoàn toàn trưởng thành.”

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Elaine Scarry, “The Literacy Revolution: Poetry, Injury and the Ethics of Reading”, Boston Review, Jul/Aug 2012, trang 66-70.

P.S: Tiểu luận này, với tôi, không quá khó hiểu, nhưng lại rất khó dịch bởi cách diễn đạt và sử dụng từ ngữ của tác giả khá hình ảnh, đặc biệt là đoạn cuối. Tôi vẫn cố gắng dịch hết bài tiểu luận này, chắc chắn không tránh khỏi sai sót, vì thế, hy vọng có thể nhận được những chia sẻ, góp ý nếu có. Bài tiểu luận này cũng gợi mở cho tôi nhiều suy nghĩ về ý nghĩa của văn chương trong thời đại đầy tổn thương này.

Joseph R. Slaughter – Quyền trên giấy

Thẻ

, , ,

Joseph R. Slaughter là Giáo sư ngành Văn học Anh và Văn học so sánh tại Columbia University. Ông là một học giả hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu văn học và nhân quyền. Chuyên luận Human Rights, Inc.: The World Novel, Narrative Form and International Law của ông năm 2007 đã được trao giải thưởng Rene Wellek của Hiệp hội Nghiên cứu văn học so sánh Hoa Kỳ cho công trình mang tính đột phá nhất về lý thuyết năm 2008. Bài luận ngắn dưới đây là lời tựa cho tuyển tập Theoretical Perspectives on Human Rights and Literature, Elizabeth Swanson Goldberg & Alexandra Schultheis Moore chủ biên, New York & London:Routledge 2012.

Amnesty-internationalObse-005

 

Trên trang đầu của tờ The Observer, số ra ngày 28 tháng Năm năm 1961 có giới thiệu một tiểu luận đặc biệt của Peter Benenson, một luật sư biện hộ tại tòa tối cao vương quốc Anh và (như những người viết tiểu sử về ông thường chú thích) đồng thời từng có lúc là người dạy kèm cho thi sĩ W.H. Auden. Bài viết của Benenson có nhan đề “Những tù nhân bị quên lãng”, kể lại sáu mẩu chuyện rất ngắn của sáu tù nhân bị chính quyền cầm tù vì quan điểm chính trị hay tôn giáo của họ; những “Tù nhân lương tâm” này (một thuật ngữ sẽ trở thành từ khóa trong bảng từ vựng về nhân quyền thế kỷ XX) đã được Benenson và những đồng nghiệp của ông – “một nhóm những luật sư, nhà văn, chủ xuất bản ở London” – lựa chọn làm chủ đề cho Lời kêu gọi ân xá, một chiến dịch năm 1961, mà sau đó đã phát triển thành Tổ chức Ân xá Quốc tế. Trong bài viết của mình, Benenson đã đưa ra một tuyên bố mà giờ đây nghe có phần “bất thường” về những sự đổi mới trong thủ pháp mà chiến dịch của ông đã sử dụng để “khơi dậy dư luận.” Benenson nói rõ, “việc công bố những câu chuyện cá nhân của một số tù nhân do đối lập về chính trị là một hình thức mới. Hình thức này được khai thác để tránh số phận của những chiến dịch ân xá trước đó vốn thường bận tâm nhiều hơn đến việc công bố quan điểm chính trị của người tù hơn là những mục đích nhân văn.” Theo lời trình bày của Benenson, “câu chuyện cá nhân” của những người “bất tuân” về tôn giáo hay chính trị, tự nó, không phải là một câu chuyện chính trị; nghĩa là, “câu chuyện cá nhân” là cái gì đó hoàn toàn xứng đáng được bảo vệ.

Chiến dịch kêu gọi ân xá hiện đại đã hình thành, ít nhất một phần nào đó, như là sự biện hộ cho văn học, hay những giá trị, hình thức văn chương, những phương thức tự do biểu đạt – những gì mà Mumtaz Soysal định nghĩa như là “những giọng nói của trí tưởng tượng của con người” trong diễn từ nhận giải Nobel Hòa bình cho Tổ chức Ân xá Quốc tế mà ông là đại diện. Văn học đã có một vị trí trung tâm trong bài viết của Benenson trên tờ The Observer; thực chất, trong những ví dụ mà ông đưa ra để nói về những hiệu ứng mạnh mẽ của việc tập trung “dư luận thế giới…vào một trường hợp đang bị dồn vào thế yếu” thông qua việc công bố những câu chuyện cá nhân về những tù nhân chính trị, Benenson đã dẫn ra trường hợp của nhà thơ, nhà tiểu thuyết người Hungary Tibor Déry, người vừa được ra tù dưới áp lực từ “Ủy ban Tibor Dery” được hình thành trên khắp thế giới và trường hợp luật sư, nhà xã hội học và cây bút tiểu luận người Tây Ban Nha Tierno Galván (“và những người bạn văn của ông”), những người được xử trắng án tại phiên tòa xét xử họ vì tội chống lại chính quyền Franco sau khi có sự tham dự của những quan sát viên nước ngoài theo dõi quá trình xử án. Hơn nữa, trong sáu tù nhân lương tâm mà Benenson công khai những câu chuyện cá nhân của họ, có hai người là nhà văn và nhà phê bình văn học (Constatin Noica, bị cầm tù tại Romania và Agostinho Neto, người Angola, bị chính quyền thực dân Bồ Đào Nha giam giữ). Noica sau đó được ân xá vào tháng Tám năm 1964 và việc phóng thích Neto – chỉ là một trong số nhiều tù nhân lương tâm mà Tổ chức Ân xá Quốc tế vận động để đòi tự do đã đi từ nhà tù (và thơ ca) đến cương vị tổng thống – được nêu lên trong Bản thông báo thường niên đầu tiên của tổ chức này với nhận định như sau: “Nếu một tù nhân được thả tự do… sau khi có một số tường trình công khai về tình hình của một đất nước, chúng tôi chỉ xem như một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Chúng tôi không thể nói Tổ chức Ân xá quốc tế có liên đới trực tiếp. Tuy nhiên, trong 12 tháng hoạt động của Tổ chức, đã có nhiều sự trùng hợp ngẫu nhiên như thế khiến chúng tôi có cảm giác những gì mình đang làm thực sự gây được những ảnh hưởng nhất định” (dẫn theo Tổ chức Ân xá Quốc tế). Chúng tôi nhắc lại nhận định khiêm nhường và thận trọng này để lưu ý đến sự giao thoa giữa văn học và nhân quyền; song tôi có thể khẳng định những tiểu luận in trong tuyển tập này đưa ra nhiều sự “trùng hợp ngẫu nhiên” giữa hai lĩnh vực đủ để cho thấy những gì văn học làm thực sự đã có những tác động đến nhân quyền.

Việc chú trọng đến hình thức biểu đạt văn chương trong Chiến dịch kêu gọi ân xá năm 1961 phản ánh mối quan tâm nghề nghiệp của các luật sự, nhà văn, chủ xuất bản mà Benenson cộng tác, song nó cũng được nảy sinh từ một phạm vi hẹp những đối tượng mà Tổ chức Ân xá hướng đến để vận động tự do – đó là những “tù nhân lương tâm”, những người được xác định là “Bất cứ cá nhân nào bị cản trở về mặt vật chất (bằng hình thức cầm tù hoặc bất cứ hình thức nào khác) để biểu đạt (bằng bất cứ hình thức ngôn từ hay biểu trưng nào) bất cứ quan điểm nào mà người đó thành thực tin tưởng, miễn là họ không sử dụng hay ủng hộ bạo lực.” Tổ chức Ân xá nhận lấy trách nhiệm đó về mình từ Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, đặc biệt là điều 18 (tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo) và điều 19: “Mọi người đều có quyền tự do quan điểm và biểu đạt; quyền này bao gồm tự do giữ chính kiến mà không cần phải chịu sự can thiệp nào, quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin, tư tưởng thông qua bất cứ phương tiện truyền thông nào, bất chấp những biên giới.” Trong những nỗ lực để bảo những “quyền tồn tại trên giấy,” Tổ chức Ân xá đã khai thác những phương pháp của văn chương để khơi dậy dư luận (câu chuyện cá nhân) và tập trung vào những thiết chế trấn áp (chiến dịch thư thỉnh nguyện công khai cho đại chúng) – tất cả những phương pháp này đều phụ thuộc sâu sắc vào chữ nghĩa. Cả hai phương pháp vừa được nói đến đích thực đều là sự thực hiện quyền tự do quan điểm và biểu đạt – những quyền mà tù nhân bị lương tâm bị tước đoạt; nói cách khác, những thủ pháp để biện hộ cho quyền tự do biểu đạt đồng dạng với những phương thức biểu đạt mà vì chúng, tù nhân lương tâm bị trừng phạt. Như thế, theo một nghĩa nào đó, ít nhất là ở một số chiến dịch ban đầu của Tổ chức Ân xá, những gì họ làm không chỉ là bảo vệ cá nhân những nhà văn mà rộng hơn, là còn để bảo vệ cả thế giới văn chương cùng những khả năng mà nó mở ra.

Văn học và nhân quyền có thể chỉ gần đây mới giao cắt nhau như là hai lĩnh vực nghiên cứu học thuật có nhiều điểm chung, nhiều điểm gối chồng lên nhau, nhưng cả hai đã gắn bó với nhau cả một thời gian dài. Như một số chương trong tuyển tập này, và ở nhiều nghiên cứu khác, đã cho thấy, các tác phẩm văn học và những phương thức tư duy kiểu văn học đóng vai trò quan trọng trong việc khơi nguồn những lý tưởng và cảm thức về nhân quyền hiện đại, cũng như trong sự phát triển các luật lệ quốc gia và quốc tế về nhân quyền. Những mối quan hệ như vậy khó định lượng được – mà tôi nghĩ đây là điều tốt cho cả văn học và nhân quyền – không chỉ vì điều này để lại những thuật ngữ quan trọng về mối liên hệ phức tạp của hai lĩnh vực này trong tình trạng không xác định, nhưng vì thế lại có thể làm cho nhau trở nên mềm mại, linh hoạt và hiệu quả hơn, mà còn vì nó nhắc chúng ta phải đề phòng lối suy nghĩ dễ dãi khi công cụ hóa một lĩnh vực này để bắt nó phục tùng lĩnh vực kia, buộc lĩnh vực này phải nương theo tình trạng khẩn cấp của lĩnh vực kia. Nói khác đi, những thuật ngữ về sự cộng hưởng, phối hợp và tương phản giữa văn học (hay rộng hơn là lĩnh vực sản xuất văn hóa) và nhân quyền vẫn còn là những vấn đề mở. Việc văn học ảnh hưởng đến nhân quyền ở quy mô, mức độ lớn, không thể đo đếm được không chỉ là sự phản ánh những hiệu quả về tri thức không xác định được của cái mà Gayatri Chakravorty Spivak đã mô tả như là “Ngành nhân văn…không có bảo đảm nào”; chính điều kiện và sự cam kết của lĩnh vực nhân quyền đã tự đưa đến hiệu quả ấy. Lấy thí dụ, trong những năm đầu tồn tại, Tổ chức Ân xá Quốc tế đã chính thức từ chối việc ký tên trực tiếp trong các chiến dịch đệ thư thỉnh nguyện đòi thả thử do những tù nhân chính trị. Trong diễn văn trao giải Nobel cho Tổ chức Ân xá Quốc tế, Aase Lionaes đã đùa một chút về một số thống kê không chính xác về tỉ lệ những tù nhân được phóng thích để “đưa ra chỉ dấu về phạm vi công việc của tổ chức”; bà kết luận, theo sự định hướng của Tổ chức ân xá, những con số như thế quả không thể tính toán được, nhưng thay vào đó, “quan trọng hơn, hãy nghĩ đến những hoạt động toàn cầu của Tổ chức Ân xá Quốc tế như một bộ phận tích hợp của quá trình tạo ra những áp lực liên tục mà những lực lượng tiến bộ trong các chính phủ và các tổ chức của Liên hợp quốc đã xúc tiến.” Giống như văn học, viết thư cũng là một hoạt động không có bảo đảm nào; và giống như viết thư, văn học (ở những khoảnh khắc tốt nhất của nó) đều tham dự vào việc tạo ra “những áp lực liên tục” thông qua chính những “hoạt động toàn cầu” của mình.

Dù thế nào đi nữa, Lời kêu gọi Ân xá, sự nhấn mạnh của chiến dịch năm 1961 vào những câu chuyện cá nhân đã báo trước khúc ngoặt tự sự trong khoa học xã hội và khúc ngoặt đạo đức trong nghiên cứu văn chương – khi tự sự và đạo đức chuyển hóa lẫn nhau. Những câu chuyện cá nhân là khuynh hướng đương đại của những dự án về nhân quyền và dường như giờ đây khó hình dung hình dung đây là một thể loại mới như Benenson từng quả quyết vào năm 1961, cũng như khó hình dung được một thời điểm trước những câu chuyện cá nhân và những chiến dịch nhân quyền.. Thực chất, từ quan điểm của chúng tôi, điều này dường như cũng khó khăn như thể hình dung việc giới thiệu nhân vật thứ ba trên sân khấu kịch Hy Lạp cổ đại như một cách tân về thủ pháp văn chương mang tính cách mạng – theo một nghĩa nào đó, những nỗ lực của Tổ chức Ân xá cũng có tính chất tương tự: để giới thiệu một nhân vật thứ ba (dư luận của thế giới) vào tấn kịch vốn chỉ gồm hai nhân vật về việc bỏ tù người khác vì lý do chính trị, để đưa dư luận công chúng vào giữa nhà nước và cá nhân. Tuy nhiên, nếu nhìn lại, có thể nhận thấy sự trỗi dậy của những câu chuyện cá nhân mang tính chính trị và văn hóa của thể loại hồi ký những năm 1970-1980 có sự gặp gỡ với những phong trào diễn ra trên quy mô rộng lớn hướng đến những mục tiêu như giải thực dân hóa, quyền dân sự, quyền phụ nữ và tự do tình dục – nhiều nhân vật trong số những người tham gia vào những phong trào này sẽ trở thành chủ đề của những chiến dịch thư thỉnh nguyện của Tổ chức Ân xá. Trên thực tế, một trong những công cụ quan trọng nhất của tất cả những chiến dịch này là câu chuyện cá nhân dù khác với quan điểm chính thức của Tổ chức Ân xá, cái cá nhân luôn là (hoặc vốn luôn là) cái chính trị.

Sự hấp dẫn mang tính trí thức (chứ không chỉ về mặt cảm xúc hay chính trị) của dự án mà Tổ chức Ân xá Quốc tế chủ trương đối với giới hàn lâm nói riêng cho thấy chúng ta nên suy nghĩ thấu đáo hơn mối quan hệ giữa sự phát triển và phổ biến của các chiến dịch nhân quyền ở những năm 1970-1980 với những khúc ngoặt của nghiên cứu văn học và khoa học xã hội tại cùng thời điểm ấy. Cái mà chúng ta gọi là Nền Cộng hòa thế giới của Văn chương ở nửa sau thế kỷ XX được định hình, ít nhất một phần, từ các chiến dịch nhân quyền nhằm bảo vệ cuộc sống và quyền của cá nhân các nhà văn, nhưng bản thân phương pháp tổ chức các chiến dịch này dường như cũng tạo ảnh hưởng đến diện mạo chung của văn học cuối thế kỷ XX, và ngược lại. Chẳng hạn, chúng ta có thể nhận thấy những chiến dịch và phương pháp đấu tranh cho nhân quyền như Tổ chức Ân xá và những tổ chức khác từng phát động và sử dụng có nhiều mối liên quan với những khúc ngoặt tự sự và luân lý cũng như với văn hóa hồi ức hơn chúng ta nghĩ. Hướng đến những câu chuyện cá nhân là bước ngoặt có tính đột phá trong bối cảnh của những cuộc đấu tranh nhân quyền (hiểu một cách rộng rãi); điều này đã góp phần sáng tạo và củng cố nhiều phương pháp và thị hiếu văn chương mà đến này vẫn tiếp tục còn nguyên sự sống động.

Tôi mới chỉ nói đến ở đây một cách đặt vấn đề tuy hẹp nhưng đặc biệt và mang ý nghĩa lịch sử khi nghĩ về sự gắn kết giữa văn học và nhân quyền – nhưng chương thú vị tiếp theo của cuốn sách này sẽ trình bày thêm những động hướng quan trọng khác. Quả thực, như là một nhóm các bài viết chung chủ đề, những chương sách này sẽ khám phá cái mà ta có thể gọi là áp lực cần thiết và liên tục của văn hóa cũng như những hoạt động văn chương trên phạm vi thế giới đối với cách suy nghĩ và thực hành nhân quyền.

Hải Ngọc dịch
Nguồn: Joseph R. Slaughter, “Rights on Paper”, lời tựa tuyển tập Theoretical Perspectives on Human Rights and Literature, Elizabeth Swanson Goldberg & Alexandra Schultheis Moore chủ biên, New York & London:Routledge 2012.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 733 other followers