Bùi Đào Quỳnh Hương – “Chút thoáng Xuân Hương” (Nguyễn Huy Thiệp) từ góc độ kết cấu

Bài viết dưới đây vốn là bài điều kiện của sinh viên Bùi Đào Quỳnh Hương, K67 – Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Đây là bài viết được tôi đánh giá tốt nhất trong các bài tập của sinh viên khi học học phần “Tác phẩm và thể loại”. Một số phát hiện của em trong bài viết này, theo tôi, khá độc đáo và bất ngờ (nhưng có nhiều sức thuyết phục). Xin được chia sẻ lại bài viết này:

*

Thơ quá táo bạo về tình dục, Hồ Xuân Hương chịu nhiều thị phi - Xuất bản

Kết cấu tác phẩm văn học là mạch liên kết tinh vi tất cả các mối quan hệ của mọi thành tố nghệ thuật. Nó không chỉ là xương sống mà còn là toàn bộ tổ chức sống động của tác phẩm, làm cho tác phẩm trở thành một chỉnh thể có ý nghĩa. Đọc kết cấu, trên cả lớp bề mặt và bề sâu, là phương thức để độc giả khám phá tầng ý nghĩa của tác phẩm.“Chút thoáng sông Hương” của Nguyễn Huy Thiệp là một truyện ngắn được dụng công về mặt kết cấu và tư tưởng nghệ thuật của nhà văn được “nói” lên bằng chính kết cấu tinh vi này.

Ở lớp kết cấu bề mặt, dễ dàng phát hiện ra mạch liên kết toàn bộ nhan đề, lời đề từ và cả ba mẩu truyện trong tác phẩm chính là cái tên Hương, hay Xuân Hương. Hình tượng này là sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, gắn kết chùm ba truyện nhỏ ở một điểm: Xuân Hương. Đây cũng là kiểu kết cấu tác phẩm theo cấu trúc liên hoàn dựa theo chủ đề, truyện ngắn trong truyện ngắn, gọi là “kĩ thuật mắc song song” (theo Bùi Việt Thắng) [1].

Trong mỗi truyện ngắn, Xuân Hương hay hình bóng của Xuân Hương lại hiện lên qua mỗi điểm nhìn khác nhau. Đó là cái nhìn của Tổng Cóc, một người “chẳng bao giờ có được phong độ lịch lãm như người”, “Trời sinh ra ông thô vụng xấu xí” nhưng kì thực lại là một người luôn dám sống là mình, có lương tri, dám khinh thường tiền bạc, biết sợ bọn nhiều chữ nho đạo nói triết lí, “ông có cái lố cái hiệp của ông, dễ gì ai có?”. Với ông, Xuân Hương là hình bóng của cái Đẹp vượt thoát khỏi đời thường, vừa thanh sạch tinh khiết, vừa dũng cảm lớn lao. Bóng dáng Xuân Hương xuất hiện ba lần, gắn với những rượu Kinh Bắc, những đa hoa trà, bàn thờ, nải chuối, bánh trôi,… Những hình ảnh gợi ý niệm về nét đẹp truyền thống của dân gian, giản dị nhỏ bé nhưng lúc nào cũng làm Tổng Cóc ngẩn ngơ, như nhẹ nhàng ve vuốt những tâm sự, nỗi trầm tư của ông bằng nét thanh khiết trong ngần. Xuân Hương không xuất hiện với hình hài cụ thể mà chỉ là những bóng, những nét nhưng lần nào xuất hiện cũng tạo ra điểm dừng, điểm khựng lại trong dòng suy tưởng của Tổng Cóc. Có lẽ bởi vậy mà, “Ông ngờ ngợ bà to lớn hơn ông, bà mạnh mẽ hơn, sống có dũng hơn”.

Với Ấm Huy, một kẻ sĩ luôn tin vào những điều thanh cao, những đạo lí, có lẽ đã sống trong không khí vô trùng và được bao bọc bởi chữ nghĩa, sách vở, chưa hề va vấp với cái khắc nghiệt của cuộc đời, Xuân Hương là tượng đài của sự sáng suốt, khiến cậu nể phục và kính sợ. Lời đối thoại duy nhất của Xuân Hương cũng như thức tỉnh Ấm Huy, để cậu thoát khỏi bong bóng của “thanh cao hoang tưởng”: “Điều ấy vẫn thế, – Xuân Hương tham gia câu chuyện. – Tôi không ngờ ông tri huyện tiên tri cho cả cuộc thế thời nay điều ấy”. Nhưng chính từ lúc thức tỉnh ấy, Ấm Huy còn thấy ở Xuân Hương nỗi cô đơn của một người sáng suốt, một con người vì đã nhìn thấu thực tại nên bình thản chấp nhận nó, để rồi phải khóc cho “nỗi cô đơn mênh mông của cõi người”, khi những người đục khoét dân lành lại trị vì yên ổn, còn người ngay thẳng, chính trực như ông phủ Vĩnh Tường đến khi chết đi lại phải thuê người đến khóc,… Vì sáng suốt, Xuân Hương trở nên một tượng đài. Cũng vì sáng suốt, Xuân Hương lại trở về với nỗi cô đơn, nỗi đau của một con người bằng xương bằng thịt, một con người với tròn vẹn ý nghĩa đủ đầy nhất của nó: Chàng hiểu cả tri huyện Thặng, cả chàng, cả ngay ông phủ Vĩnh Tường cũng sẽ chẳng là gì cả, tất cả chỉ là nhân chứng cho sự tồn tại của một CON NGƯỜI: nàng Hồ Xuân Hương mặc áo xô gai đang nức nở khóc,…”. Cái khóc của Xuân Hương đã cụ thể hóa nhân dạng và nhân tính của nàng, đến đây, Xuân Hương không còn là bóng dáng, biểu tượng, Xuân Hương trở thành CON NGƯỜI.

Điều đặc biệt trong ý đồ nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp khi xây dựng kết cấu chùm ba truyện ngắn nhỏ trong một truyện ngắn lớn hơn phải chăng là làm hình tượng Xuân Hương ngày càng trở nên thực hơn. Đến với cái nhìn của người diễn viên đóng vai Chiêu Hổ, Xuân Hương đã là Hương của hôm nay, của đời sống thực tại. Không còn là nhân vật trong lịch sử đã khép, không còn là nữ sĩ kì tài, đó là nàng Hương dung dị, tự nhiên chèo thuyền, chăn lợn,… Nhưng nét Xuân Hương vẫn ẩn hiện trong vẻ đẹp không ra ngây thơ, không ra từng trải, trong sự thông tuệ, sắc sảo và cũng vô cùng bao dung. Người ta chưa bao giờ dám khẳng định chắc chắn về sự tồn tại của một Xuân Hương cụ thể trong lịch sử, nhưng ý niệm và những giá trị mà hình tượng Xuân Hương mang lại được cụ thể hóa, hữu hình hóa trong dáng hình của một thiếu phụ sống động giữa đời thường, và không phải ngẫu nhiên, nàng cũng tên là Hương! Điều này khiến ta thêm tin vào giá trị Xuân Hương, ta hiểu rằng, riêng giá trị đó thôi cũng là một hình tượng, một con người tròn vẹn, vẫn luôn sống giản dị mà mãnh liệt ngay trong đời thường, như nàng Hương trên sông với những bao ngô mua về cho lợn ăn…

Nàng Hương không chỉ hiện lên như một “chút thoáng” mà đến đây sống dậy như một con người với hơi thở tràn trề của sự sống. Điều này khẳng định hiệu quả trong việc sắp xếp và lắp ghép các mẩu truyện như những mảnh để hoàn thiện bức tranh ngày một rực rỡ, sống động về Xuân Hương. Tưởng như ba câu chuyện chỉ đơn giản có chung những ý niệm về một hình tượng Xuân Hương (Hương) nhưng không chỉ vậy, chúng còn được sắp xếp như những nấc thang lôi kéo độc giả đi từ ý niệm Xuân Hương đến con người Xuân Hương trong đời thực.  Trong suốt quá trình đó, duy chỉ nét đẹp thanh khiết và phồn thực, trí tuệ sắc sảo và cô đơn với tấm lòng vị tha, hiểu đời luôn hiển hiện, như nối kết và khẳng định giá trị Xuân Hương trong quan niệm của tác giả.

Giá trị đó không đứng một mình mà được đặt trong mối quan hệ đối lập, đối chiếu với các hình tượng khác để nổi lên như một chiêm nghiệm của các nhân vật, hay của chính tác giả. Không phải ngẫu nhiên, Tổng Cóc được miêu tả có phần thô tục, không thanh cao lại ngẩn ngơ khi nhìn thấy những điều thanh khiết gợi hình bóng Xuân Hương. Không phải ngẫu nhiên, Ấm Huy, tri huyện Thặng và cả ông phủ Vĩnh Tường với những quan niệm và lí tưởng khác nhau lại chỉ là nhân chứng cho sự tồn tại của CON NGƯỜI Xuân Hương. Xuân Hương đã vượt thoát thực tại để nhìn thấu và soi chiếu tất cả những nhân vật khác kể cả trong suy nghĩ, tư tưởng, để ai cũng có cảm thức về sự sáng suốt, cao lớn của nàng. Ngay cả những giọt nước mắt trong đám tang, chúng cũng lớn hơn nhiều so với ý nghĩa khóc thương chồng mất, mà như Ấm Huy cảm nhận: đó là cái khóc “cho nỗi cô đơn mênh mông của cõi đời…”. Nàng Hương giữa đời thực được đặt trong cuộc gặp gỡ và trò chuyện với chàng diễn viên sắp sắm vai Chiêu Hổ, bị thu hút bởi vẻ đẹp lôi cuốn của nàng. Sự cao cả, vị tha của một thiếu phụ ở trại lợn được đặt cạnh những khoảnh khắc đầy nhục cảm của một chàng thi sĩ- diễn viên như là phép đối sánh để khẳng định sức sống của vẻ đẹp phồn thể cùng với tâm hồn bao dung. Cái đẹp mà Xuân Hương biểu tượng đến đây càng được nhấn mạnh.

Lớp kết cấu bề mặt được Nguyễn Huy Thiệp sắp xếp và thể hiện đầy dụng công khiến một trong những ý tưởng của tác giả được bộc lộ rõ ràng: ý niệm về giá trị Xuân Hương, vẻ đẹp thoát tục mà vẫn vô cùng trần thế của Xuân Hương. Tuy nhiên, bên cạnh đó, lớp kết cấu bề sâu còn gợi ra nhiều hơn thế, nhiều hơn hình tượng Xuân Hương với cái đẹp lí tưởng. Nếu kết cấu bề mặt từng bước dẫn dắt độc giả đến chỗ khẳng định giá trị và tầm vượt thoát của vẻ đẹp Xuân Hương thì kết cấu bề sâu liên tục thể hiện những đường phân giới, phân mảnh và có khi là sự phá hủy mọi giá trị mà bề mặt gợi ra.

Trong xuyên suốt hai truyện nhỏ đầu tiên, ở điểm nhìn của các nhân vật khác, Xuân Hương liên tục được gắn với những giá trị thanh cao, lớn lao để người ta phải ngưỡng vọng. Nhưng lần xuất hiện và đối thoại trực tiếp duy nhất của nhân vật lại là câu nói đồng tình với tri huyện Thặng, phủ định cái thanh cao ảo tưởng trong đời sống dung tục. Phải chăng đó không chỉ là sự thông tuệ của Xuân Hương mà còn là dấu hiệu phủ nhận mọi giá trị thanh cao mà cái nhìn của mọi người gán cho Xuân Hương? Đời sống thực tại mở ra trong câu chuyện thứ ba, khi chàng diễn viên đóng vai Chiêu Hổ thấy xót xa vì “Hình ảnh trong phim Xuân Hương nhợt nhạt, bị hiểu sai lệch nhố nhăng. Người ta đắp điếm cho nhiều nhân vật những thứ tư tưởng cao siêu đáng ngờ. Đối thoại đầy rẫy ngôn ngữ hoa mỹ. Diễn viên rất đẹp. Cảnh quay rất khéo. Anh biết chắc chắn sẽ có nhiều đoạn thành công. Cảnh hội làng… Cảnh đám ma… Có khi cả cảnh Xuân Hương “sáng tác”… Một thứ hiện thực huyền ảo mung lung”. Nếu để ý kĩ, “cảnh hội làng”, “cảnh đám ma” đều là những cảnh xuất hiện ở hai truyện nhỏ phía trên.Vậy thì điều anh đang phủ nhận và phê phán liệu có phải toàn bộ những giá trị mà hai truyện ngắn trước đó đã khẳng định? Những tư tưởng cao siêu “đáng ngờ”, những cảnh quay, diễn viên đẹp, những lí tưởng mà Xuân Hương bị đắp điếm cho,… hóa ra chỉ là sản phẩm của hư cấu, của kĩ thuật,…? Hay cả chính anh, người lúc đầu coi việc mình đóng vai Chiêu Hổ như một trò đùa, một sự xấu hổ, tái mặt khi mình bị ví như “thằng trai điếm” hợp tuyệt vời để đóng Chiêu Hổ với phân cảnh “bóp vú các cô thôn nữ”, chính anh cũng rơi vào những phút giây “không dằn lòng được” mà trót sàm sỡ người thiếu phụ. Hóa ra kẻ sĩ như anh cũng không khác gì Chiêu Hổ? Còn người thiếu phụ lôi cuốn và vị tha kia, chị òa khóc vì anh chàng nói đúng quá về người chồng tệ bạc? Chị mong chờ điều gì khi hỏi “bao giờ anh lại đến thăm tôi”? Xuân Hương tưởng như hiện ra sống động, thật đến là vậy, hóa ra cũng mới chỉ là “chút thoáng” mà thôi.

Ở bề sâu, những giá trị và ý nghĩa được xây dựng tưởng như vững chắc ban đầu lại đứng trước một dấu hỏi lớn. Các nhân vật được đặt trong mối quan hệ để khẳng định giá trị, đến đây lại phô ra những nét biểu hiện phi giá trị. Mối quan hệ giá trị- phi giá trị, ranh giới cái Đẹp- cái xấu bị nhòe mờ. Nhân vật bị chia nửa trước những mờ nhòe đó: nhân vật không hẳn cao cả, lớn lao mà quay trở về cái “cô đơn mênh mông” giữa trần thế, thậm chí có dục vọng đời thường, như trở thành nhân vật “lưỡng phân đa diện”. Hình tượng nhân vật Xuân Hương lấy nguyên mẫu là nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã được gợi ra từ lời đề từ “Chành ra ba góc da còn thiếu…” như một cách khai thác nhân vật lịch sử. Nhưng sự tồn tại của Hồ Xuân Hương có thật trong lịch sử hay không cũng là điều chưa thể khẳng định. Vậy tất cả những ý nghĩa kết cấu bề mặt gợi nên hóa ra cũng chỉ gợi ra một trong những khả thể, một trong những cách hiểu và cảm nhận về Xuân Hương. Khai thác một nhân vật không chắc có thực sự tồn tại trong lịch sử, lại đặt nhân vật trong cuộc sống đời thường với nhiều hỗn loạn, với nguy cơ phá hủy giá trị rất lớn, Nguyễn Huy Thiệp gửi gắm vào tác phẩm của mình không chỉ là ý niệm về cái đẹp lớn lao mà còn là nỗi trăn trở, “day đi dứt lại” về sự thoái hóa, mất đi những giá trị đó trong đời sống dung tục. (Nhưng chính vì dung tục, chính vì không vô trùng, nó mới là đời sống thật nhất, nhiều va chạm nhất khiến con người có cơ hội nhìn rõ mình hơn để tiếp tục băn khoăn, tiếp tục day dứt).

Vì suy cho cùng, văn chương có thể làm gì hơn ngoài việc khiến ta không ngừng “day đi dứt lại” về cuộc đời?

Xem xét kết cấu tác phẩm trong mối quan hệ với đặc trưng thể loại, có thể nói “Chút thoáng Xuân Hương” là truyện ngắn bị tiểu thuyết hóa bởi lẽ, tất cả những đặc điểm khuôn cứng trên của truyện ngắn đều trở nên tự do và mềm mại hơn, mang tính “dở dang” và chưa hoàn tất của hiện thực đang diễn ra. Theo Bakhtin trong “Lí luận và thi pháp tiểu thuyết”, đây chính là những dấu hiệu của sự tiểu thuyết hóa [2].

“Chút thoáng Xuân Hương” được Nguyễn Huy Thiệp phân chia và xếp thứ tự thành chùm ba truyện nhỏ: “Truyện thứ nhất”, “Truyện thứ hai”, “Truyện thứ ba”. Chính kết cấu này làm giới hạn không- thời gian trong truyện ngắn bị phá vỡ, mở rộng ra từ quá khứ đến hiện tại, từ không gian văn hóa- lịch sử đến không gian đời thường đương đại. Nhờ đó, toàn bộ truyện ngắn lại được phân chia thành các lớp, cảnh, đoạn như một vở kịch lớn, như một tiểu thuyết với thời gian- không gian kéo dài, bao chứa nhiều cuộc đời của nhiều con người. Kết cấu bề mặt bên ngoài của tác phẩm như được chia ra thành các chương nhỏ, giống kết cấu của những tiểu thuyết thường thấy. Hình tượng xuyên suốt và nối kết chùm ba truyện này là Xuân Hương, nhưng đó cũng là Xuân Hương đặt trong những không- thời gian khác nhau, với những mối quan hệ xã hội khác nhau, như là một Xuân Hương, cũng như là ba Xuân Hương. Xuân Hương gắn với các nhân vật lấy tên từ nhân vật trong lịch sử: Tổng Cóc, ông phủ Vĩnh Tường. Nàng Hương mang dáng dấp Xuân Hương lại gắn với chàng thi sĩ- diễn viễn của đời sống hiện tại. Trong mỗi truyện nhỏ của chùm ba truyện, yếu tố sự kiện dường như không được tác giả chú trọng tô đậm. Sự phân tách và lắp ghép làm phá vỡ tuyến nhân quả của sự kiện, làm cho sự liên kết về ý nghĩa bề mặt của chúng không còn chặt chẽ, đồng thời trở nên phong phú như một thế giới thu nhỏ, vẫn đang vận hành, diễn tiến không ngừng. Các câu chuyện không quan hệ với nhau theo tuyến nhân quả, điều này vô hình trung khiến cho việc sắp xếp chúng trở nên có ý nghĩa quan trọng, thể hiện dụng ý nghệ thuật công phu của tác giả.

Tính chất phản ánh hiện thực chưa hoàn tất, đang dở dang của tiểu thuyết cũng  được tác phẩm thể hiện rất rõ ràng. Điều này được minh chứng qua những kết mở của mỗi truyện nhỏ trong tổng thể truyện ngắn. Chính bởi kĩ thuật lắp ghép, tổng thể tác phẩm không có một cái kết chung, mỗi truyện ngắn bên trong lại có những cái kết mở, điều này gợi ra một hiện thực bao trùm toàn tác phẩm, một hiện thực dở dang vẫn đang không ngừng diễn tiến. Không thể có một cái kết chung cho những câu chuyện mang khoảng cách về không- thời gian quá rộng lớn như vậy. Những kết mở thường dừng lại ở những hành động chưa hoàn tất hoặc dòng suy tư của nhân vật: Tổng Cóc thấy mâm bánh trôi bốc khói, ngơ ngác nhìn quanh tìm bóng dáng Xuân Hương; Ấm Huy nghĩ về Xuân Hương với hai chữ “con người” viết hoa, trong đám tang vẫn chưa kết thúc của ông Vĩnh Tường; chàng diễn viên vừa chia tay người thiếu phụ trên sông, nghĩ mình vừa thu được vừa đánh mất một buổi chiều và nghĩ về thời gian, về Xuân Hương thời xưa,… Đó là những mặt khác nhau của thế giới rộng lớn mà hình bóng Xuân Hương luôn ẩn hiện. Tác phẩm không có kết thúc lớn nhưng lại có ba kết thúc nhỏ như ba cánh cửa mở ra những chiều kích của suy tưởng.

Không có một đáp số nào cho những băn khoăn. Xuân Hương trong những truyện ngắn đó có phải là một hay là nhiều, là thực hay là ảo tưởng? Những giá trị Xuân Hương mà bao đời nay người ta vẫn ngợi ca có chăng hay chỉ là sản phẩm của vài nét thêu dệt đầy hoa mỹ, màu mè? Và nếu có thật một Xuân Hương đẹp như vậy, thì trong biến chuyển xoay vần của thực tại, cái đẹp đó có vững vàng như tượng đài hay cũng dễ lung lay, nhòe mờ đi mất? Các kết thúc mở mà Nguyễn Huy Thiệp xây dựng đã thực hiện được sức mạnh của “cú đấm nghệ thuật” (D. Furmanov):“hãy để cho ai đó tới giờ nói và suy nghĩ tùy ý, vì đã đến lúc kết thúc lời lẽ của tôi”.

Cụ thể hóa một nhân vật thường được quan niệm và nhận thức trong lịch sử vào gần hơn với thực tại, Nguyễn Huy Thiệp đã đưa những giá trị được đóng khung ra ngoài, tiếp xúc với không khí sống động của hiện thực, đặt nó trong thì hiện tại tiếp diễn để lôi kéo sự nghĩ cùng của độc giả. Chính điều này làm “Chút thoáng Xuân Hương” hay rất nhiều sáng tác khác của ông mang dáng dấp của tiểu thuyết dù được biểu hiện trong hình thức một truyện ngắn, như cách Nguyễn Đăng Điệp đã nhận định: “Gia tài văn chương Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu là truyện ngắn. Nhưng điều đáng chú ý là mỗi một truyện ngắn của ông lại mang sức nén của một tiểu thuyết trường thiên. Diễn đạt gọn hơn, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp được viết bằng tư duy tiểu thuyết” (“Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp”) [3]

Tài liệu tham khảo:

[1] Bùi Việt Thắng, Truyện ngắn – Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, 2007.

[2] Mikhai Bakhtin, Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, Trường Việt văn Nguyễn Du, Hà Nội, 1992.

[3] Nguyễn Đăng Điệp, Vọng từ con chữ, NXB Hội nhà văn, 2002.

Michael Marder – Sau đại dịch này, chúng ta không thể trở về với trạng thái bình thường

Michale Marder là giáo sư triết học tại Viện Nghiên cứu Ikerbasque thuộc Đại học xứ Basque, Vitoria-Gasteiz. Trong theo dõi của tôi, ông có lẽ nhà tư tưởng năng động nhất với nhiều ý tưởng dồi dào, đột phá của thời đại Kỷ nhân sinh (Anthropocene) khủng hoảng này. Những tư tưởng của ông phát triển trên nền tảng Hiện tượng luận, Phân tâm học gắn liền với các mối quan tâm về môi trường, về trạng thái sống của con người trên hành tinh. Bài phỏng vấn ngắn dưới đây, do Dmytro Malyshko thực hiện vào tháng 2-2021, thể hiện khá mạch lạc những ưu tư của ông về bối cảnh khủng hoảng lớn này của thế giới.

Michael Marder - Michael Marder Online

*

Những mất mát lớn nhất mà thế giới phải chịu đựng trong năm qua là gì, từ góc nhìn chuyên môn của ông?

Nếu câu hỏi của bạn liên quan đến đại dịch COVID-19 thì đối với tôi, mất mát lớn nhất chắc chắn là số người bị thiệt mạng bởi đại dịch. Những chỉ số kinh tế hoàn toàn không so được với thực tế này, bất kể các công ti bảo hiểm và tính toán rủi ro muốn chúng ta tin họ. Cùng lúc đó, một mất mát khủng khiếp (và cũng không thể đo đếm được) liên quan đến sự gần gũi, cận kề giữa người với người, việc chúng ta phải hạn chế đụng chạm, ôm hôn nhau. Đó hoàn toàn không phải những thứ bổ sung từ bên ngoài, chúng là những thành tố cần thiết cho một đời sống lành mạnh, đảm bảo về sức khỏe tâm lý. Tất cả những kết nối ảo mà chúng ta duy trì với gia đình và bè bạn thông qua phương thức trực tuyến đều không lấp đầy khoảng trống mà sự ngăn cấm những tiếp xúc thể chất để lại.

Tuy nhiên, điều lớn nhất chúng ta đạt được là gì?

Tôi không thể xác định được bất cứ thành tựu tập thể có ý nghĩa tích cực nào trong năm qua. Khi đại dịch mới bùng phát, rõ ràng người ta không thờ ơ với số phận của những người hàng xóm quanh mình, và nhất là những người xa lạ. Ban đầu, ở mọi nơi trên thế giới, những hành động nhỏ của sự tử tế đối với những người dễ bị tổn thương nhất thể hiện rất rõ nét (chẳng hạn, mua giùm thực phẩm hay thuốc thang cho cặp vợ chồng già cả sống ngay bên nhà mình). Người ta bày tỏ lòng cảm kích đối với những người làm công tác y tế phải gánh vác trọng trách trong khi đại dịch bùng phát bằng vỗ tay khích lệ họ từ ban công nhà mình. Nhưng rồi lòng trắc ẩn và nhiệt tình ấy nhanh chóng nhạt dần và bị thay thế bởi sự thờ ơ, thậm chí cảm quan định mệnh. Thái độ tương tự cũng có thể thấy trong cách ứng xử với môi trường. Việc hoạt động du lịch và một số ngành công nghiệp sụt giảm bởi các hoạt động phong tỏa đã không góp phần đáng kể vào việc cải thiện tình hình môi trường sinh thái trên khắp thế giới. Việc không khí và đường thủy được làm sạch tạm thời bị đánh đổi bằng thực tế thậm chí còn tồi tệ hơn khi lượng rác không được tái chế và không thể tái chế khổng lồ của các dụng cụ bảo vệ cá nhân (khẩu trang, găng tay, đồ bảo hộ mặc một lần, v.v.) giờ đang bịt nghẽn thế giới tự nhiên.

Vậy đại dịch này là một bước tiến hay bước lùi đối với nhân loại? Tại sao?

Trước khi nói đến chuyện bước tiến hay bước lùi, rất cần chất vấn những tự sự về tiến bộ và thoái bộ nói chung. Hãy nghĩ về tình trạng của thế giới trước đại dịch, chúng ta có thể nói nhân loại thậm chí đã không chỉ đi trong khi ngủ, mà còn chạy trong khi ngủ để đi tới một thảm họa. Trước hết, đó là thảm họa về môi trường. Hành tinh này đang trên đà trở thành một nơi không thể sống nổi cho cả con người và nhiều loài động thực vật khác vốn đang trải qua đợt tuyệt chủng thứ sáu. Tôi có thể liệt kê thêm nhiều khía cạnh khác nữa của tình huống khốc liệt này, nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh là đại dịch này đã bộc lộ nhiều sự bất bình đẳng, tình trạng bấp bênh, mất cân bằng, v.v., đã ít nhiều bị khuất lấp trước đó. Theo quan điểm của tôi, đại dịch này là một tác nhân (và là tác nhân quan trọng) vừa phơi bày, vừa tăng tốc trạng thái rơi tự do của nhân loại vốn không còn vừa vặn với các diễn ngôn tuyến tính về tiến bộ và thoái bộ.

Đâu là những xu hướng mới nảy sinh trong năm nay? Chúng sẽ kéo dài bao lâu? Và chúng sẽ phát triển như thế nào?

Trong đời sống hàng ngày của chúng ta, một trong những xu hướng chủ đạo là ảo hóa, sự di chuyển của công việc, học hành, giải trí và các mối quan hệ người lên không gian trực tuyến. Tuy nhiên, đây là hiện tượng đã diễn ra trong nhiều năm trở lại đây và đại dịch COVID-19 chỉ đơn thuần tăng tốc những phát triển trước đó mà thôi và làm cho chúng lan rộng hơn. Nếu phân tích của tôi là đúng, thì việc số hóa mọi bình diện của hoạt động của con người là thứ sẽ còn lại. Đối với phần lớn chúng ta, lằn ranh giữa nơi làm việc và nơi mình sống sẽ bị xóa bỏ. Những người có thể ngồi nhà và có một công việc sẽ không phải là những người làm việc từ nhà nữa mà là những người sống tại nơi làm việc. Giáo dục đại học trên khắp thế giới đểu chuyển sang hình thức trực tuyến, và chỉ những trường được coi là đặc tuyển mới cung cấp các lớp học với quy mô nhỏ có sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên, và gần như mô hình được thiết kế là một thầy-một trò. Kỷ nguyên của rạp chiếu phim dường như sẽ kết thúc và cùng với nó, là sự kết thúc của cả phim điện ảnh nữa. Thay vào đó, những gã khổng lồ của công nghiệp giải trí như Netflix đang tập trung vào các phim nhiều tập vốn đã và đang chiếm chỗ của các phim điện ảnh hậu truyện (và tiền truyện). Những tương tác, thảo luận cá nhân, các hội thảo, bài giảng cho công chúng, các chương trình biểu diễn ngày càng mang tính phi cá nhân rõ nét hơn, với số người tham dự hiện diện trong không gian nhỏ của màn hình. Quyền lực được duy trì của những bước phát triển này có ý nghĩa rằng hy vọng, mong mỏi của nhiều người về việc “trở lại trạng thái bình thường” nhờ vào các chương trình vaccine đại trà sẽ không có cơ sở. “Trạng thái bình thường mới” chính là trạng thái tồn tại trực tuyến đang giữ vai trò chủ đạo.


Vậy những mối đe dọa mang tính toàn cầu trong tương lai gần nhất của mình, theo kinh nghiệm chuyên môn của ông? Hậu quả của chúng sẽ là gì?

Nếu bạn cho phép, tôi xin chất vấn ngược trở lại câu hỏi của bạn: “những mối đe dọa toàn cầu” – đối với ai cơ chứ? Bởi vì, như mọi thứ đang diễn ra giờ đây, chẳng có cái gì gọi là mối quan tâm thống nhất toàn cầu hết. Thứ là mối đe dọa đối với phần lớn dân số của hành tính này (dù là con người hay không!) lại là hứa hẹn đối với một nhóm người, những người đang trở nên giàu có, tích lũy tư bản một cách bẩn thỉu trên mỗi thảm họa này. Hãy lấy ví dụ về sự tàn phá môi trường do việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Các thành viên lãnh đạo các công ti dầu mỏ, than và khí gas tự nhiên đa quốc gia đang ngày càng gia tăng sự giàu có của mình trong khi những hoạt động khai khoáng và sản xuất các loại năng lượng “truyền thống” thải ra không khí một lượng CO2 ngày càng lớn hơn và góp phần gia tăng tình trạng nóng dần của trên trái đất vốn dĩ đã là một thảm họa. Tương tự, những mối đe dọa bất an không phải là những người tị nạn tìm cách cư trú bất hợp pháp ở nhiều quốc gia, nơi họ tìm cách lánh nạn, mà là những thế lực kinh tế và chính trị đã tạo nên tình trạng tị nạn này. Thậm chí ngay ở đây – tôi e rằng, liên quan đến những dại dịch xảy ra trong hiện tại và tương lai, cái được gọi là mối nguy toàn cầu có thể là cơ hội để một số bộ phận trở nên giàu có.

Những xu hướng chính trong tương lai gần nhất sẽ là gì?

Chúng ta vừa nói đến tiến trình số hóa đời sống thường nhật diễn ra ở mọi phạm vi tồn tại của con người, một xu hướng có lẽ sẽ không sớm đổi chiều. Các công ti công nghệ cao và những người đứng đầu chúng đã không chỉ hưởng lợi từ xu hướng này mà còn đạt được quyền kiểm soát chưa từng thấy đối với đời sống của con người trên khắp thế giới. Một khuynh hướng nữa là sự lớn mạnh của công nghiệp biotech (công nghệ sinh học), những nhà sản xuất vaccine và các phương thức điều trị mang tính thí nghiệm đối với nhiều loại bệnh tất khác nhau. Họ cũng là những kẻ nắm giữ chìa khóa của sự sống (và cái chết) của dân số toàn cầu. Tôi hy vọng bạn sẽ thấy được sợi dây nối kết tất cả những xu hướng này: một vài công ti tư nhân đang ngày càng gia tăng quyền năng trong việc quyết định sự tồn tại của con người trên thế giới, từ những khía cạnh tinh vi nhất của các mối tương tác, việc làm hay hoạt động giải trí cho đến những quyền cơ bản, thiết yếu của đời sống.

Ông có đưa ra những khuyến cáo nào cho thế giới này không?

Nếu như không thể nói về cái gọi là “những mối đe dọa toàn cầu” hay “những mối quan tâm toàn cầu”  mang tính đồng nhất thì cũng sẽ rất bối rối nếu phải đưa ra một tập hợp những khuyến cáo cho “thế giới” này, nơi mà nếu ta ứng xử với nó như vậy, nó sẽ biến thành một thực thể trừu tượng. Khuyến cáo của tôi, nếu bạn buộc tôi phải đưa ra một lời đề nghị, thì đó là hãy suy tư. Không phải phát triển trí thông minh (nhân tạo hay trong hình thức nào khác), không phải là chồng chất các dữ kiện hay tri thức, thậm chí cũng không phải là tìm kiếm minh triết như một liệu pháp chữa bách bệnh, mà là sự suy tư. Các triết gia của châu Âu thời Khai Sáng đã muốn con người trở nên tự trị, độc lập thông qua việc thực hành lý trí, điều mà họ đánh đồng với suy tư. Việc sử dụng lý trí, dẫu vậy, chỉ là một khía cạnh của suy tư. Những khía cạnh khác của nó liên đới đến trạng thái bừng thức gắn liền với thân thể (bodily mindfulness), sự diễn dịch chăm chút đối với các cảm xúc, giác quan và sự nhạy cảm, một cách tiếp cận mang tính ý thức đối với sự tồn tại cùng nhau của chúng ta. Suy tư không chỉ tập trung ở mỗi bộ não, thậm chí cũng không phải ở toàn bộ cơ thể cảm giác. Nó là một cách để ta nuôi dưỡng sự tồn tại và cùng tồn tại của chúng ta với những người khác và những tồn tại phi nhân loại khác. Không có gì khẩn thiết hơn cũng như không gì bị hiểu nhầm nhiều hơn, việc học cách suy tư, học cách nghĩ – đó là đề nghị duy nhất mà tôi có thể nghĩ đến.

Đâu là những cách để sống sót trong thế giới mới này?

Xin được hỏi lại bạn hai điều để khép lại cuộc chuyện trò ngắn này. Chúng ta có chắc chắn cái thế giới mới này sẽ còn sống sót? Và, giả định là có, thì sống sót có phải giá trị tối thượng mà tất cả những thứ khác có thể phải hy sinh cho nó?

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Michael Marder & Dmytro Malyshko, “We Will Not Be Able To Return To Normal Life After The Pandemic”, https://apostrophe.ua/en/article/world/2021-02-01/vernutsya-k-normalnoy-jizni-uje-ne-poluchitsya—filosof-maykl-marder/37419

Salman Rushdie – Hãy hỏi chính mình “Cuốn sách nào ta thật sự yêu?”

Salman Rushdie (1947) là nhà văn gốc Ấn Độ, hiện sống và viết tại Mỹ. Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết gây được tiếng vang, trong đó nổi tiếng nhất là Những đứa con của nửa đêm, được ngợi ca là tiểu thuyết xuất sắc nhất mà giải Booker của Anh từng trao. Rushdie đồng thời cũng là tác giả của những tác phẩm viết cho thiếu nhi, trong đó cuốn Haroun và Biển truyện đã từng được dịch sang tiếng Việt. Bài luận này của ông giúp ta có thể hiểu thêm về thi pháp tiểu thuyết của ông.

Scheherazade telling stories in “The Arabian Nights,” 1892.
Scheherazade telling stories in “The Arabian Nights,” 1892.Credit…

*

Trước khi sách xuất hiện, đã có những truyện kể. Ban đầu, những truyện kể không được viết xuống. Chúng đôi khi còn được ca ngâm. Trẻ em khi sinh ra, trước lúc có thể nói, cha mẹ đã hát cho chúng nghe những bài hát, chẳng hạn, bài hát về một quả trứng từ trên tường rơi xuống, hay một cậu bé và cô bé leo lên một quả đồi và rồi trượt ngã. Khi những đứa trẻ lớn hơn, chúng đòi các câu chuyện cũng thường xuyên như đòi thức ăn vậy.

Trẻ con say mê những câu chuyện này và muốn được nghe chúng hết lần này đến lần khác. Sau này, khi lớn hơn nữa, chúng tìm thấy những câu chuyện trong sách. Và những câu chuyện khác mà trước đó chúng chưa từng được nghe, về một cô bé rơi vào hang thỏ, hay một con gấu già khờ khạo và một con lợn con dễ hốt hoảng cùng một con lừa lúc nào cũng rầu rĩ, hay một trạm thu phí có ma, hoặc một nơi chốn nào đó nơi chỉ có bọn “quỷ sứ giặc non”. Niềm ham thích những truyện kể đã đánh thức một điều gì đó ở bọn trẻ, điều sẽ nuôi dưỡng chúng suốt cả cuộc đời: đó là trí tưởng tượng ở chúng.

Trẻ em dựng lên những câu chuyện mỗi ngày, chúng đột nhập các lâu đài, xâm chiếm các quốc gia, giong buồm trên những đại dương xanh thẳm và hằng đêm, giấc mơ của chúng đầy những con rồng kỳ vĩ. Nhưng rồi chúng đều lớn lên và những câu chuyện dần rơi rụng khỏi tâm trí của chúng, những câu chuyện được gói ghém lại trong những thùng đồ nơi gác mái, và những người từng là trẻ con cảm thấy khó khăn hơn để kể lại và tiếp nhận những chuyện kể. Đáng buồn hơn là họ càng thấy khó khăn hơn để yêu những câu chuyện ấy.

Tôi tin những cuốn sách và chuyện kể mà chúng ta yêu thích đã làm nên con người chúng ta, hay, để nói một cách chừng mực hơn, những câu chuyện ta yêu đã trở thành một phần cách chúng ta hiểu về các sự vật hiện tượng, đưa ra những phán xét và lựa chọn trong cuộc sống hàng ngày. Một cuốn sách có thể ngừng nói với chúng ta khi chúng ta nhiều tuổi hơn và cảm xúc của chúng ta dành cho nó sẽ phai nhạt. Hoặc khi đời sống chúng ta định hình và nhận thức của chúng ta hy vọng có thể dày dặn hơn, phong phú hơn, chúng ta bỗng nhiên thấm thía hơn về một cuốn sách mà trước đó chúng ta đã gạt bỏ; chúng ta bỗng nhiên nghe thấy âm nhạc của nó, bị cuốn hút bởi bài ca của nó.

Hồi sinh viên, lần đầu tôi đọc Cái trống thiếc – tiểu thuyết vĩ đại của Günter Grass, tôi đã không thể nào đọc trọn nó được. Nó nằm mòn mỏi trên giá sách tròn mười năm trước khi tôi thử đọc nó lần thứ hai. Kể từ ấy, nó đã trở thành một trong những cuốn tiểu thuyết mà tôi yêu thích nhất mọi thời đại: một trong những cuốn sách mà tôi có thể tự tin nói mình yêu nó. Đây là một câu hỏi lý thú người ta nên đặt cho bản thân: Cuốn sách nào bạn thật sự yêu thích? Hãy thử suy nghĩ. Câu trả lời sẽ nói với bạn rất nhiều, rằng hiện tại bạn là ai.

*

Tôi lớn lên tại Bombay, Ấn Độ, một thành phố giờ đây đã không còn là nơi như nó đã từng và thậm chí còn đổi tên thành một cái tên nghe thuận tai hơn, Mumbai, vào một thời kỳ cũng không giống với hiện tại, đến nỗi có cảm giác đó là một thời đại đã xa xôi, thậm chí huyễn tưởng. Ở thành phố Bombay xa xôi ấy, những câu chuyện và những cuốn sách từ phương Tây chạm đến tôi dường như là những điều kỳ diệu thật sự.

Câu chuyện “Bà chúa tuyết” của Hans Christian Andersen, với mảnh gương thần diệu có thể rơi vào tim và biến trái tim họ thành băng giá, thậm chí còn kinh sợ hơn đối với một cậu nhóc xứ nhiệt đới, nơi chỉ thấy băng đóng lại trong tủ lạnh. “Bộ quần áo mới của Hoàng đế” đem đến khoái cảm đặc biệt cho một cậu bé lớn lên ngay sau khi Đế quốc Anh chấm dứt sự cai trị thuộc địa.

Có lẽ những câu chuyện về những xứ sở nào khác luôn giống như truyện cổ tích. Song đối với tôi, những câu chuyện thần kỳ thực sự lại gần với một ngôi nhà hơn, và tôi luôn nghĩ may mắn lớn nhất của mình khi làm nhà văn là mình đã lớn lên và được đắm chìm trong những câu chuyện ấy.

Một vài câu chuyện trong số đó ban đầu vốn mang ý nghĩa tôn giáo nhưng bởi tôi lớn lên trong một gia đình không theo tôn giáo, tôi có thể tiếp nhận chúng như những câu chuyện đẹp đẽ đơn thuần. Khi tôi lần đầu nghe kể câu chuyện từ pho sử thi vĩ đại Mahabharata về việc thần Indra đã khuấy trộn cả dải Ngân hà như thế nào, thần đã dùng đỉnh núi Mandara tưởng tượng làm cây đũa để khuấy ra sao, buộc biển sữa khổng lồ của bầu trời phải nhỏ xuống thứ rượu tiên của nó, “amrita” – thứ đem lại sự trường sinh bất tử, tôi bắt đầu nhìn những vì sao theo một cách mới.

Vào thuở thơ ấu dường như đã vời vợi xa ấy, trước khi tình trạng ô nhiễm ánh sáng làm cho phần lớn các vì sao hóa vô hình đối với những cư dân thành phối, tôi, một cậu bé ngồi giữa khu vườn ở Bombay vẫn còn thể ngước lên bầu trời đêm và lắng nghe âm nhạc của vũ trụ, nhìn những vệt Ngân hà lấp lánh chi chít với một niềm vui thầm lặng. Tôi tưởng tượng mỗi vì sao đang nhỏ giọt rượu tiên. Có lẽ nếu mình há miệng, một giọng có thể rơi xuống trúng miệng mình và rồi, tôi cũng sẽ thành bất tử.

Đó là vẻ đẹp của câu chuyện thần thoại và hậu duệ của nó, nghệ thuật hư cấu: người ta vừa biết câu chuyện ấy là một tác phẩm của tưởng tượng, nghĩa là nó không thật, lại vừa tin nó chứa đựng sự thật sâu xa. Ranh giới giữa cái kỳ ảo và cái thực, ở những khoảnh khắc như thế đã không tồn tại nữa.

Gia đình chúng tôi không theo đạo Hindu, nhưng chúng tôi nghĩ rằng những câu chuyện vĩ đại của đạo Hindu cũng gần gũi với mình. Vào ngày lễ hội thường niên Ganpati, khi đám đông hoành tráng mang theo những hình nộm thần đầu voi Ganesh đến bở biển Chowpatty để nhúng thần xuống biển, tôi có cảm giác Ganesh cũng thuộc về mình, Người giống như biểu tượng một niềm vui tập thể và hiện thân cho sự thống nhất của thành phố hơn là một thành viên trong điện thần của một tôn giáo đầy “tính cạnh tranh”.

Khi tôi biết tình yêu văn chương của Ganesh lớn lao đến nỗi Người ngồi bên cạnh nhà hiền triết Vyasa, người đọc coi là Homer của Ấn Độ, ghi lại câu chuyện Mahabharata, cảm giác ông thuộc về tôi còn trở nên sâu sắc hơn nữa; và sau này, khi viết cuốn tiểu thuyết về một cậu bé tên Saleem với cái mũi to bất thường, thì theo một cách rất tự nhiên, tôi đã gắn người kể chuyện trong Những đứa con của nửa đêm với vị thần giàu tình yêu với văn chương bậc nhất này, người cũng có cái mũi khổng lồ, cho dù Saleem xuất thân từ một gia đình theo đạo Hồi. Sự nhòa mờ ranh giới giữa các văn hóa tôn giáo ở thành phố Bombay xưa cũ, nơi tinh thần thế tục đích thực là trạng thái văn hóa phổ biến, giờ đây lại là một đặc điểm nữa đối lập Ấn Độ của quá khứ với Ấn Độ của hôm nay, một xã hội cay đắng hơn, ngột ngạt, nhiều sự kiểm duyệt và nhiều bè phái.

Phải thú thật ảnh hưởng của những truyện kể này không phải bao giờ cũng tích cực. Nền chính trị nhiều phe phái của cả đảng theo đường lối dân tộc chủ nghĩa Hindu như Đảng Bharatiya Janata đang nắm quyền tại Ấn Độ đã sử dụng những phép tu từ của quá khứ để huyễn tưởng hóa về một cuộc trờ về với “Ram Rajya”, “thời trị vị của đức Rama”, một thời đại hoàng kim giả định của truyền thống Hindu giáo, một thời đại không có sự bất tiện bởi sự có mặt của những tôn giáo khác, từ đó làm cho các vấn đề trở nên phức tạp hơn. Việc chính trị hóa sử thi Ramayana nói riêng và đạo Hindu nói chung, trong bàn tay của những lãnh đạo chính trị mang tư tưởng bè phái vô nguyên tắc, đã trở thành một sự vụ nguy hiểm.

*

Tuy nhiên, tôi muốn trở lại với bản ngã thơ ấu của mình, thuở bị mê hoặc bởi những chuyện kể mà mục đích duy nhất của chúng là gây lôi cuốn. Tôi muốn gác lại những câu chuyện từ những bộ sử thi tôn giáo đồ sộ để nói về kho tàng mênh mông của những chuyện kể phàm tục, xoay quay những mưu mẹo, những sự kỳ bí, đầy hưng phấn, hài hước, quái lạ, siêu thực và rất thường xuyên chứa đựng những yếu tố dục cảm còn chất chứa trong phần còn lại của văn chương phương Đông, vì – hay không chỉ vì, nhưng đúng là bởi vì – chúng cho thấy ta có thể gặt hái bao nhiêu hoan lạc từ văn chương một khi Thượng đế rời khỏi bức tranh này.

Một trong những đặc điểm ấn tượng nhất của những chuyện kể này giờ đây đã được tập hợp lại trong pho truyện Nghìn lẻ một đêm (để lấy một ví dụ tiêu biểu), một thế giới nghệ thuật hầu như vắng bóng hoàn toàn tôn giáo. Nhiều chi tiết liên quan đến nhục cảm, nhiều trò láu cá, nhiều mưu mẹo; nhiều ác quỷ, hồn ma, chim săn mồi khổng lồ; không ít truyện có những cảnh đổ máu; nhưng không có Thượng đế. Đấy là lý do nhà kiểm duyệt Hồi giáo rất ác cảm đối với pho truyện này.

Tại Ai Cập, vào tháng Năm 2010, chỉ bảy tháng trước cuộc nổi dậy chống lại Tổng thống Hosni Mubarak, một nhóm các luật sự Hồi giáo mới nghe phong thanh về ấn bản mới của Alf Laylah wa Laylah (tên nguyên tác của Nghìn lẻ một đêm trong tiếng Ả Rập) đã có hành động khởi kiện yêu cầu ấn bản đó phải bị thu hồi và cuốn sách bị cấm vì nó là “lời kêu gọi cho sự trụy lạc và tội lỗi” bởi nó chứa đựng một số quy chiếu liên quan đến tình dục. May thay, họ đã không thành công, bởi những sự việc lớn hơn bắt đầu xâm chiếm tâm trí của người Ai Cập. Nhưng thực tế là hành động của họ gợi ra nhiều điều phải nghĩ.

Quả thực, cuốn sách có một số chi tiết nói về tình dục và các nhân vật có vẻ bận tâm về chuyện ái ân hơn là thể hiện sự sùng đạo, điều này, như các luật sự lập luận, có thể là một lời kêu gọi cho đời sống trụy lạc, nếu bạn mang một nhãn quan thanh giáo méo mó để nhìn thế giới này. Đối với tôi, điều này lại gợi ra những thứ tuyệt vời và xứng đáng được đáp lại, nhưng bạn có thể hình dung được những người không thích âm nhạc, chuyện trào tiếu và hoan lạc thấy bất ổn như thế nào bởi nó. Điều thú vị hơn là văn bản của thời đại xa xưa này, một tập hợp của những câu chuyện thần diệu này, vẫn còn giữ nguyên văn quyền năng của nó, có thể làm đảo lộn thế giới của những kẻ cuồng tín sau hơn 1200 năm, kể từ khi những câu chuyện này lần đầu xuất hiện.

Cuốn sách giờ đây chúng ta thường gọi là Những đêm Ả Rập vốn không xuất phát từ thế giới Ả Rập. Cội nguồn của nó có thể là Ấn Độ; kho tàng truyện kể Ấn Độ ưa chuộng những câu chuyện khung, những kiểu truyện lồng trong truyện, những ngụ ngôn về loài vật. Khoảng chừng vào thế kỷ thứ VIII, những câu chuyện này tìm đường để du nhập vào xứ sở Ba Tư, và theo những thông tin ghi chép còn sót lại, tuyển tập này khi ấy được biết đến với cái tên “Hazar Afsaneh”, “một ngàn câu chuyện”.

Một tư liệu xuất hiện vào thế kỷ X ở Baghdad đã nói về tập “Hazar Afsaneh” và nhắc đến khung truyện của nó, về một vị vua tàn ác hàng đêm đều giết một phi tần cho đến khi một trong số những cung phi bất hạnh này tìm cách ngăn chặn lại vụ hành hình đối với mình bằng cách kể cho ông ta nghe những câu chuyện. Đó là nơi lần đầu tiên chúng ta nhìn thấy cái tên “Scheherazade”. Thật buồn khi hiện không còn một bản in nào “Hazar Afsaneh” còn sót lại đến giờ. Cuốn sách này chính là một “mối liên kết đã bị mất mát” của văn học thế giới, là một tuyển tập truyện kể mà qua đó những câu chuyện thần diệu của Ấn Độ đã chu du sang phương Tây, gặp gỡ với ngôn ngữ Ả Rập và biến thành Nghìn lẻ một đêm, một cuốn sách với nhiều phiên bản và không có một văn bản chuẩn nào được hoàn toàn chấp nhận, rồi sau đó, du hành xa hơn nữa về phương Tây, để lần đầu xuất hiện trong bản kể bằng tiếng Pháp của Antoine Galland hồi thế kỷ XVIII, người đã thêm vào một số truyện không có trong bản tiếng Ả Rập như câu chuyện “Aladdin và cây đèn thần” và “Ali Baba và bốn mươi tên cướp”.

Và từ bản kể tiếng Pháp, những câu chuyện này được dịch sang Anh ngữ, rồi từ bản kể Anh ngữ, chúng tiếp tục hành trình của mình đến Hollywood, một xứ sở có ngôn ngữ riêng của nó và sau đó, là sự lan tỏa toàn cầu của những tấm thảm bay cùng Robin Williams trong vai trò của ông thần đèn. (Rất đáng lưu ý là trong Những đêm Ả Rập thực ra không có tấm thảm bay nào hết. Có một truyền thuyết kể rằng vua Solomon sở hữu một tấm thảm có thể thay đổi kích cỡ và đủ rộng để chở cả một đoàn quân trên đó.)

Cuộc di cư vĩ đại của truyện kể đã truyền cảm hứng cho nhiều khu vực văn chương thế giới, lan tỏa vào cả dòng mạch hiện thực kỳ ảo của văn chương Nam Mỹ, đến nỗi đến lượt mình, khi cũng sử dụng một vài thủ pháp của dòng văn học này, tôi có cảm giác về một chu trình khép lại và truyền thống kể chuyện đưa tôi ngược về quê nhà, nơi nó khởi sinh. Nhưng tôi vẫn cứ tiếc cho sự mất mát của tập truyện Hazar Afsaneh mà nếu được tìm thấy lại, nó sẽ hoàn thiện câu chuyện về các câu chuyện và thế nào là một sự kiếm tìm.

Có lẽ việc này sẽ giải quyết một bí ẩn nằm ở trung tâm của truyện khung, hay đúng hơn, ở chính kết thúc của nó và trả lời được cho câu hỏi tôi đã tự đặt cho mình trong suốt mấy năm: Liệu Scheherazade và người em của mình, Dunyazad, sau ngàn lẻ một đêm và hơn thế nữa, sẽ trở thành những sát nhân và giết những gã chồng khát máu của mình?

Thật sự đã có bao nhiêu phụ nữ bị Shahryar, quốc vương của “đảo và bán đảo Trung Hoa và Ấn Độ” và người em của mình, Shah Zaman, người cai trị độc tài xứ Samarkand hoang dã, giết chết? Mọi chuyện bắt đầu khi Shah Zaman nhìn thấy vợ mình trong tay của người đầu bếp trong hoàn cung. Shah Zaman đã băm họ thành từng mảnh và phóng thẳng về nhà anh trai mình, nơi anh ta nhìn thấy chị dâu của mình, hoàng hậu của Shahryar, đang ở trong vườn cùng với 10 thị nữ và 10 nô lệ. Mười người phụ nữ và mười người nô lệ ấy đang yêu chiều, âu yếm lẫn nhau còn hoàng hậu thì gọi người tình của mình từ trên cây trèo xuống.

Hỡi ôi, giống đàn bà dâm đãng và bội phản! Shah Zaman kể với anh trai mình những gì y nhìn thấy, từ đó, các thị nữ, nô lệ và bà hoàng hậu chịu chung số phận. (Tình nhân của hoàng hậu thì dường như đã trốn thoát được).

Vua Shahryar và vua Shah Zaman đã lạnh lùng thực hiện cuộc báo thù của họ đối với đàn bà, giống lăng loàn, bội bạc. Trong suốt ba năm, cứ mỗi đêm, họ cưới một nàng trinh nữ, cưỡng dâm họ rồi sau đó xử tử nàng. Cha của Scheherazade, vị quan cao cấp của triều đình, hay vị tể tướng, buộc phải tự mình thực hiện các vụ hành quyết mà Shahryar yêu cầu.

Vị quan này là một người có học, một người đàn ông giàu tình cảm – người đã nuôi dạy một cô con gái tuyệt vời như Scheherazade. Và cả em gái nàng, Dunyazad, một cô gái tốt, thông minh, dịu dàng.

Điều gì đã diễn ra trong tâm hồn người cha của những cô con gái đẹp đẽ, tử tế như thế mà giờ đây lại phải hành quyết hàng trăm phụ nữ trẻ khác, phải đâm vào cổ họng họ và nhìn máu của họ tuôn lênh láng? Chúng ta không được kể. Chúng ta biết, thần dân của Shahryar bắt đầu căm hận sâu sắc nhà vua và tìm mọi cách để tẩu thoát khỏi kinh thành cùng với những người phụ nữ trong nhà họ, đến nỗi sau ba năm, chẳng còn nàng trinh nữ nào sống trong thành cả. Không còn một trinh nữ nào ngoài Scheherazade và Dunyazad.

Đến khi Scheherazade bước vào câu chuyện, cưới vua Shahryar, cuộc cưỡng hiếp nàng đã hoàn thành, nàng đề nghị em gái mình, Dunyazad, ngồi xuống bên giường tân hôn và xin được kể một câu chuyện, Shahryar và Shah Zaman đã giết chết 2213 người. Chỉ 11 người trong số đó là nam giới.

Shahryar, sau khi cưới Scheherazade và bị giam hãm tâm trí bởi những chuyện kể của nàng, đã ngừng giết phụ nữ. Shah Zaman, người không bị văn chương thuần hóa, vẫn tiếp tục cuộc báo thú của mình. Một nghìn lẻ một đêm sau đó, số người chết đã là 3214 người.

Hãy suy nghĩ về Scheherazade, tên nàng có nghĩa là “sinh ra tại thành phố”, người mà chắc chắn là một cô gái của thành phố lớn, khéo léo, sắc sảo, rồi cũng đến lượt trở nên đa cảm và bi quan, y như những người kể chuyện thị dân đương đại mà người ta có thể muốn gặp. Scheherazade, người giăng bẫy đấng quân vương bằng câu chuyện kể bất tận của nàng. Scheherazade, kể những câu chuyện để bảo toàn đời mình, đặt nghệ thuật hư cấu vào thế đối kháng với cái chết, một pho tượng của Tự do không phải được tạo nên từ kim loại mà bằng ngôn từ. Scheherazade, người đi ngược lại mong muốn của cha mình, khăng khăng đòi vào cung, chấp nhận vào căn phòng chết chóc của nhà vua. Scheherazade, người đặt cho mình một nhiệm vụ anh hùng là cứu những người chị em của mình bằng việc thuần hóa nhà vua. Người có niềm tin, người nhất thiết phải đặt niềm tin vào người đàn ông bên trong một con quỷ bạo tàn và năng lực của chính mình để hồi sinh người đàn ông ấy về với nhân tính đích thực, bằng cách kể cho ông ta nghe những câu chuyện.

Thật là một phụ nữ lạ kỳ! Không khó để hiểu vì sao vua Shahryar lại si mê nàng đến thế. Bởi chắc chắn ông đã thất bại, khi trở thành cha của những đứa con với nàng, ông hiểu rằng, cứ mỗi đêm, mối đe dọa gắn với các vụ hành quyết mà ông ban trở nên trống rỗng, rằng ông không thể yêu cầu quan tể tướng, người cha của nàng, thực hiện việc này. Sự man dã của ông bị cùn mòn đi bởi thiên tài của người phụ nữ, người đã đánh cược đời mình trong một ngàn lẻ một đêm để cứu cuộc đời của những người khác, người tin trí tưởng tượng của mình có thể đối chọi với sự tàn bạo và vượt qua nó không phải bằng sức mạnh mà, thật ngạc nhiên, bằng việc văn minh hóa sự man dã ấy.

Vị vua quả là may mắn! Nhưng (đây là câu hỏi lớn nhất chưa được trả lời về Những đêm Ả Rập),  vì cớ gì mà nàng lại yêu ông ta? Và tại sao Dunyazad, cô em gái lại ngồi bên chân giường tân hôn suốt một ngàn lẻ một đêm, nhìn chị mình bị vị vua khát máu giày vò thân xác và lắng nghe câu chuyện của chị -Dunyazad, người nghe vĩnh cửu, nhưng đồng thời cũng là kẻ nhìn trộm – tại sao nàng lại đồng ý kết hôn với Shah Zaman, gã đàn ông thậm chí còn mang lòng hận thù sâu sắc hơn cả người anh của mình, người bị bỏ bùa bởi các câu chuyện?

Làm thế nào để hiểu những phụ nữ này? Có một sự im lặng trong câu chuyện đòi hỏi cần phải được nói ra. Đây là những gì chúng ta được kể lại: sau khi các câu chuyện kết thúc, Shah Zaman và Dunyazad kết hôn, nhưng Scheherazade ra một điều kiện – Shah Zaman phải rời bỏ vương quốc của mình, đến sống cùng anh trai, để hai chị em nàng không phải sống trong xa cách. Đây là điều Shah Zaman vui mừng chấp thuận và Shahryar đã chỉ định người đến cai quản Samarkand thay cho em trai mình chính là vị tể tướng nay là cha vợ của ông. Khi vị tể tướng đến Samarkand, ông được đón chào nồng hậu bởi người dân nơi đây và tất cả các nhà quý tộc địa phương thì đều cầu mong ông sẽ là người trị vì họ trong thời gian dài. Và đấy là điều đã diễn ra.

Câu hỏi của tôi là, khi tôi tra vấn câu chuyện cổ đại này: Liệu đó có phải là âm mưu của cô con gái và người cha của mình? Có khả năng nào mà Scheherazade và viên quan tể tưởng kia đã ngấm ngầm sắp đặt một kế hoạch bí mật? Bởi, nhờ có chiến lược của Scheherazade mà Shah Zaman không còn là vua xứ Samarkand nữa. Nhờ có chiến lược của Scheherazade, cha nàng không còn là một ông quan trong triều, một viên đao phủ bất đắc dĩ mà là một vị vua với đầy đủ quyền hành, một bậc quân vương được yêu mến và hơn thế, một người minh triết, đại diện cho hòa bình, kế thừa ngôi vị của một kẻ bạo chúa khát máu. Và sau đó, không một lời giải thích nào, Thần Chết xuất hiện cùng một lúc đối với Shahryar và Shah Zaman. Thần Chết, “Kẻ Phá Hủy Niềm Hoan Lạc và Kẻ Hà Khắc Đối Với Xã Hội, Kẻ Tàn Phá Những Nơi Cư Ngụ và Kẻ Kiểm Kê Các Bia Mộ” đã đến với họ, cung điện của họ đổ nát, tan hoang, và họ bị thay thế bởi một bậc quân vương hiền minh hơn, người đó là ai thì chúng ta không được biết.

Nhưng làm thế nào và tại sao Kẻ Phá Hủy Niềm Hoan Lạc lại đến? Làm thế nào mà cả hai anh em lại chết cùng lúc, như văn bản truyện kể đã hàm ý rõ ràng, và tại sao cung điện của họ sau đó lại bị phá nát tan hoang? Ai là người kế vị họ, Người Không Tên và Hiền Minh ấy?

Chúng ta không được kể. Nhưng một lần nữa, hãy tưởng tượng vị tể tướng bao nhiêu năm nuôi trong mình nỗi căm giận khi ông bị buộc phải xuống tay với những phụ nữ vô tội. Hãy tưởng tượng bao nhiêu năm ông đã sống trong sợ hãi, một nghìn lẻ một đêm sợ hãi, khi những đứa con gái của ông, máu thịt của ông, bị khóa kín trong buồng ngủ của Shahryar, số phận của họ treo lơ lửng bởi đường dây của một câu chuyện.

Một người sẽ chờ đợi bao lâu để báo thù? Ông ta sẽ chờ đợi lâu hơn một ngàn lẻ một đêm? Đây là giả thuyết của tôi: vị tể tướng ấy, giờ là người trị vì xứ Samarkand, chính là vị vua hiền minh đã quay trở về quê hương để cai quản vương quốc của Shahryar. Và hai vị vua chết cùng lúc hoặc là bởi bàn tay của các bà vợ hoặc do vị tể tướng năm nào đoạt mạng. Chỉ là giả thuyết thôi. Câu trả lời có lẽ nằm trong cuốn sách vĩ đại giờ đã không còn nữa. Cũng có thể không phải như thế. Chúng ta chỉ có thể… băn khoăn.

Dù thế nào, tổng số cuối cùng những người chết là 3216. 13 người chết là nam giới.

*

Những câu chuyện làm tôi yêu văn chương ngay từ đâu là những chuyện kể đầy ắp những điều bất khả đẹp đẽ, những điều không có thực, nhưng chính vì không có thực mà nó nói được sự thật, thường còn đẹp đẽ hơn, đáng nhớ hơn những câu chuyện dựa vào sự thực. Những câu chuyện dường như cũng không chỉ xảy ra một lần. Chúng có thể xảy ra ngay lúc này. Hôm qua, hôm nay hay ngày mốt.

Những truyện ngụ ngôn loài vật – bao gồm cả những ngụ ngôn về con cá chết biết nói – là một trong những thể loại có sức sống dai dẳng nhất trong kho điển phạm phương Tây, và những truyện hay nhất trong số đó lại không giống với ngụ ngôn Aesop chẳng hạn, chúng dường như chẳng màng gì đến đạo lý. Không tìm cách rao giảng về sự khiêm hạ, tính nhún nhường, đức trung dung, lòng thật thà hay những phép kiêng khem. Nó không đảm bảo cho sự chiến thắng của đức hạnh. Hệ quả là, chúng gần gũi một cách đáng ngạc nhiên với các tự sự hiện đại. Những gã tồi đôi khi lại chiến thắng.

Một tuyển tập truyện ngụ ngôn cổ đại được biết đến ở Ấn Độ với tên gọi Panchatantra xoay quanh hai con chó sói biết nói: Karataka được xem là nhân vật tốt hơn, khá hơn con còn lại, Damanaka, một con chó lắm mưu mô. Mở đầu truyện, hai con chó phải hầu hạ vua sư tử, nhưng Damanaka vốn không ưa tình bạn của sư tử với một con vật được xem là cận thần trong triều đại sư tử – con bò, vì thế nó tìm cách lừa vua sư tử để sư tử tin rằng con bò kia chính là kẻ thù. Sư tử giết con thú vô tội trong khi hai con chó sói chứng kiến. Hết truyện.

Nhiều câu chuyện nhỏ mang tính luân lý của Aesop nói về chiến thắng của con rùa chậm chạp nhưng bền bỉ trước con thỏ tốc độ nhưng kiêu mạn, kể về sự ngu ngốc của việc kêu rống lên “có chó sói” khi chẳng có con soi nào cả, hay sự dại dột khi trót giết con ngỗng đẻ trứng vàng. Những câu chuyện ấy dường như quá đỗi trẻ con khi đặt bên cạnh câu chuyện man dại gợi nhớ đến phong cách phim của Quentin Tarantino này. Đã quá thừa mứa những phiên bản sáo mòn về một phương Đông thanh bình, huyền bí.

Bản thân là một người di dân, lúc nào tôi cũng bị hấp dẫn bởi sự di cư của các truyện kể và những truyện kể về chó sói này đã chu du sang Những đêm Ả Rập cả trong bản kể tiếng Ả Rập lẫn tiếng Ba Tư, trong đó, tên của hai con chó sói đã biến thành Kalila và Dimna. Chúng cũng bước vào văn chương Hebrew và Latin và cuối cùng, trở thành “Những ngụ ngôn của Bidpai” trong bản tiếng Anh và tiếng Pháp. Tuy nhiên, không như những truyện kể trong Những đêm Ả Rập, tập truyện này đã phai nhạt trong ý thức độc giả hiện đại, có lẽ bởi nó không quan tâm đến việc đưa đến những cái kết có hậu, điều khiến chúng ít sức hấp dẫn đối với Hãng Walt Disney.

Tuy nhiên, sức mạnh của chúng thì vẫn còn đó; tôi tin sức mạnh ấy vẫn còn bởi với tất cả những con quái vật và những phép màu nhiệm mà chúng chuyên chở, đó là những câu chuyện hoàn toàn chân thực về bản chất người (kể cả khi chúng được thể hiện trong hình tượng các loại vật được nhân hóa). Tất cả đời sống nhân sinh là đây, can đảm và đớn hèn, vinh dự và tủi nhục, thật thà và quỷ quái. Những câu chuyện này đặt ra những câu hỏi lớn nhất và dai dẳng nhất của văn chương: Những người bình thường chúng ta phản ứng như thế nào khi những cái phi thường, bất thường xảy đến trong đời sống của mình? Và chúng trả lời: Đôi khi chúng ta không phản ứng tốt lắm, nhưng cũng có đôi khi, ta tìm thấy nguồn lực ngay bên trong bản thân mà ta không biết mình sở hữu nó, và rồi ta vươn dậy, đối mặt với thách thức, chúng ta vượt qua được con quái vật, Beowulf giết Grendel và bà mẹ còn đáng sợ của Grendel, Cô bé quàng khăn đỏ giết chết con sói, Người Đẹp tìm thấy tình yêu bên trong con quái vật để rồi từ đó chàng không còn là quái vật nữa. Đó chính là phép màu nhiệm bình thường, phép màu nhiệm của con người, sự kỳ diệu đích thực của những câu chuyện kỳ ảo.

Những câu chuyện kỳ ảo đã nói với tôi rằng những cách tiếp cận đối với nghệ thuật kể chuyện rất đa dạng, những khả thể của nghệ thuật kể chuyện gần như vô hạn và chúng vui tươi. Cái kỳ ảo đã luôn là một cách bổ sung những chiều kích khác cho thực tại, những chiều thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy thay vì ba chiều thông thường; nó là một cách làm phong phú hơn và mãnh liệt hơn kinh nghiệm của chúng ta về cái thực, thay vì thoát ly khỏi nó để rơi vào trong lãnh địa huyễn tưởng của những siêu anh hùng-ma cà rồng.

Chỉ bằng việc cởi trói cho tính hư cấu của hư cấu, tính sáng tạo của tưởng tượng, bài ca mộng tưởng của giấc mơ trong chúng ta, chúng ta mới có thể hy vọng tiếp cận được cái mới và sáng tạo hư cấu, để nhấn mạnh một lần nữa, có thể thú vị hơn thực tế.

Cái thần kỳ không phải là thứ ngây thơ, cũng không phải là thứ mang tính thoát ly. Vương quốc của cái thần kỳ không phải nơi tị nạn, nó cũng không nhất thiết là một nơi chốn hấp dẫn, đáng yêu. Nó có thể – trên thực tế, nó thường là – một nơi chết chóc, bóc lột, đầy rẫy sự tàn ác và sợ hãi. Thuyền trưởng Cook muốn giết Peter Phan. Phù thủy trong Rừng Đen muốn ăn thịt Hansel và Gretel. Con chó sói thực ra đã ăn thịt bà của cô bé quàng khăn đỏ. Albus Dumbledore bị giết, và Chúa Nhẫn còn lên kế hoạch biến toàn bộ xứ Trung Địa thành nô lệ.

Chúng ta biết, khi nghe những câu chuyện này, rằng kể cả khi chúng “phi thực”, bởi những tấm thảm thì không thể bay và các bà phù thủy trong những ngôi nhà bánh mì gừng không tồn tại, thì chúng vẫn cứ “thực”, vì chúng nói về những điều có thực: tình yêu, niềm thù hận, nỗi sợ hãi, sức mạnh, lòng dũng cảm, sự hèn nhát, cái chết. Chỉ đơn giản là chúng đến với cái thực theo một con đường khác. Chúng rất thực, kể cả khi chúng ta biết rằng chúng không thực. Sự thật là thứ người ta đạt đến không chỉ bằng mỗi cách mô phỏng đơn thuần. Một hình ảnh có thể được nắm bắt bằng máy ảnh hay nhát cọ. Một bức tranh vẽ đêm đầy sao không kém chân thực hơn một bức ảnh chụp cảnh tượng ấy; nếu không muốn nói, khi người vẽ bức tranh ấy là Van Gogh, nó còn chân thực hơn nhiều, kẻ cả khi nó có vẻ ít “hiện thực” hơn.

Văn chương kỳ ảo – những câu chuyện thần diệu, những ngụ ngôn, truyện kể dân gian, tiểu thuyết hiện thực kỳ ảo – luôn hiện thân cho những sự thật sâu xa về loài người, những đặc điểm đẹp đẽ nhất thường gán cho con người và cả những định kiến sâu sắc nhất. Những câu chuyện kỳ ảo nói với chúng ta những sự thật về chính mình vốn thường không dễ chấp nhận; nó phơi bày sự mù quáng, khám phá những ẩn ức, đem những nỗi sợ hãi thẳm sâu trong ta ra ánh sáng. Những câu chuyện như thế, nói chung, không đơn giản để giải trí cho trẻ em và nhiều truyện trong đó vốn dĩ không chủ định dành cho trẻ. Thủy thủ Sinbad và Aladdin không phải là nhân vật của phim Disney khi họ bắt đầu hành trình của mình.

Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ văn học thiếu nhi và dành cho tuổi mới lớn phát triển phong phú, Từ xứ sở được trong truyện tranh Ở nơi quỷ sứ giặc non của Maurice Sendak đến thế giới phi hiện thực hậu tôn giáo của Philip Pullman, từ xứ sở Narnia, nơi chúng ta chạm tới qua tủ quần áo, đến thế giới lạ lùng mà chúng ta đi đến qua trạm thu phí có ma, từ Hogwarts đến Trung Địa, vương quốc của cái kỳ ảo vẫn sống động và đầy sức hấp dẫn. Và trong nhiều cuộc phiêu lưu này, những đứa trẻ trở thành anh hùng thường để cứu vãn thế giới của người lớn; đó là những đứa trẻ mà chúng ta từng là, những đứa trẻ vẫn đang ở ngay trong chúng ta, những đứa trẻ hiểu về xứ sở kỳ diệu, hiểu sự thật về các câu chuyện, chúng cứu rỗi người lớn, những người đã lãng quên những sự thật này.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Salman Rushdie, “Ask Yourself Which Books You Truly Love”, https://www.nytimes.com/2021/05/24/opinion/sunday/salman-rushdie-world-literature.html

Carl Cederstrom – Triết gia như người cha tồi

Carl Cederstrom là Phó giáo sư chuyên ngành Nghiên cứu Tổ chức (organization studies) tại Đại học Stockholm. Ông là tác giả của cuốn sách The Happiness Fantasy (Huyền tưởng về hạnh phúc)

https://i.pinimg.com/736x/16/cb/fa/16cbfaeb6f36434f6f069956b1aeac27.jpg

Vài tháng trước, khi tôi chuẩn bị vào kỳ nghỉ thai sản nam dành cho các ông bố để chăm con mới sinh, tôi quyết định đọc về chủ đề làm cha và, như thường lệ, tôi chuyển sang đọc triết về chủ đề này. Trong nhiều năm, các triết gia nữ đã viết một cách rất mẫn cảm về việc làm mẹ, nhưng chủ đề làm cha đã được suy tư như thế nào? Bây giờ, khi Ngày của cha sắp đến, tôi nghĩ mình hãy thử trình bày một vài phát hiện của mình.

Tôi bắt đầu với Socrates, nhưng không chắc chắn phải hiểu thế nào về lời khuyên của ông, như Plato đã ghi lại trong cuốn Cộng hòa, rằng con cái nên “được coi là sở hữu chung của mọi người, để không một bậc cha mẹ nào biết đâu là con mình và không một đứa trẻ nào biết đâu là cha mẹ mình.” Hay về khẳng định của Aristotle rằng các bà mẹ yêu con mình hơn các ông bố và các ông bố có quyền không nhận con trai của mình? Hay lời của Khổng Tử: làm tròn đạo hiếu đem lại vui sướng? Hay nhận định chứa đựng kỳ thị giới trong đó của Nietzsche: phụ nữ cần con cái và đàn ông đơn thuần chỉ là phương tiện để đạt được mục đích ấy?

Montaigne, trong tiểu luận của ông có nhan đề “Về ảnh hưởng của người cha đối với con cái của mình”, đã nói về tình phụ tử bằng những thuật ngữ nhiều xúc cảm hơn. Nhưng vì sao ông lại tiếp cận chủ đề này bằng một sự run rẩy và tỏ ra hối hận, có lỗi ngay từ đầu vì “sự lạ lẫm” và “ngớ ngẩn” của nó? Tôi chẳng thấy có gì ngớ ngẩn trong khẳng định của ông, rằng người cha nên thể nghiệm cảm giác được yêu bởi những đứa con của mình hơn là khuấy động ở chúng nỗi sợ hãi và bắt chúng phải tuân lời mình, nhưng tôi lại phải rút lại thiện cảm của mình khi nhận thấy sự khó chịu thấy rõ ở ông khi phải “nâng niu, ve vuốt” những đứa trẻ.

Tại sao các triết gia vĩ đại, những người có thể viết về những chủ đề hóc búa nhất, từ cái chết đến lạc thú, lại đột nhiên trở nên bối rối và vụng về khi suy tưởng về việc làm cha?

Một giả thuyết là vì đơn giản, họ thiếu kinh nghiệm. Plato, Nietzsche và Schopenhauer không có con. Và cả Kant, Hume, Hobbes, Locke, Kierkegaard và Spinoza cũng vậy. Trên thực tế, trong số 20 triết gia quan trọng nhất moi thời đại được liệt kê trên blog triết học có sức ảnh hưởng là Leiter Reports, 13 người trong số này chưa từng có con – hoặc 15, nếu bạn muốn đưa cả vào đây Descartes (người, dù không kết hôn, nhưng có một cô con gái, người mà ông hầu như thăm nom rất ít trong năm năm cô bé sống trên đời), và Rousseau (người nghe theo khuyến nghị của Aristotle một cách trung thành, từ bỏ tất cả năm đứa con của mình bằng việc gửi chúng thẳng đến một trung tâm nuôi dạy trẻ bị bỏ rơi ngay khi chúng được sinh ra).

Trong thế kỷ 20, các triết gia bắt đầu kết hôn và sinh con nhiều hơn, dù một số triết gia vĩ đại, gồm có Sartre, Foucault, Adorno, Popper và Wittgenstein, vẫn không có con cái gì. Và nhiều người trong số họ có con lại có vẻ như không thoải mái trong vai trò người cha, hoặc hầu như vắng bóng trong gia đình của mình.

Walter Benjamin có một mối hứng thú đặc biệt đối với văn học thiếu nhi và đồ chơi thời cổ, nhưng ông lại không phải là một người cha chuyên tâm đối với đứa con trai duy nhất của mình. Hình ảnh cuối cùng về người cha của Katherine Tait, con gái của Bertrand Russel, như bà ghi lại trong hồi ký của mình là “tấm lưng thẳng và một bức tường tập trung vô hình gián cách ông với chúng tôi.”

Nick Ayer, con trai của nhà triết học tại Đại học Oxford, A.J.Ayer, đồng thời là con trai đỡ đầu của Bertrand Russell, đã viết cho tôi trong một email: “ Cha tôi rất yêu tôi, nhưng tôi vẫn muốn nói với bất kỳ ai nghĩ đến việc có một nhà triết học là cha của mình rằng đừng nghĩ đến điều ấy!”

Khi tôi hỏi tại sao, trong cuộc trò chuyện qua điện thoại sau đó, ông trả lời: “Vì ông ấy chẳng bao giờ ở bên. Và khi ông ở đó, ông thường viết lách, đắm chìm trong suy tưởng.”

Người chị cùng cha khác mẹ của ông, Gully Wells, người lớn hơn ông 12 tuổi và lớn lên trong cùng một nhà, đưa ra một cái nhìn tích cực hơn. “Ông dọn vào nhà chúng tôi khi tôi khoảng năm tuổi,” bà kể với tôi. “Và ông ở đó, người đàn ông lịch thiệp, ngọt ngào, người luôn quan tâm đến tôi, kể cả khi tôi còn nhỏ.” Sau này, bà còn chia sẻ với ông những hứng thú về văn chương và lịch sử, và thỉnh thoảng ông còn giúp bà làm bài tập về nhà. “Mẹ tôi hẳn sẽ bảo ông ấy là một người khá lãnh đạm về cảm xúc để có thể lấy làm chồng. Có lẽ ông ấy là một người cha dượng dễ chịu hơn là một người chồng.” Bà liên hệ đến nhiều mối quan hệ tình ái mà ông, cũng như Russell từng trải qua trong đời.

Con gái của Russell thường cảm thấy mình là nỗi thất vọng của cha mình, người kỳ vọng những điều lớn lao từ con của mình. Con trai của Ayer, người không chia sẻ mối quan tâm về triết học của người cha, đã mô tả với tôi rằng ông chỉ có đúng một lần gây ấn tượng với cha mình khi hỏi ông liệu một cái kèn trumpet đồ chơi có thể tạo ra âm thanh thực sự.

Trong số những ví dụ can đảm hơn về những ông bố triết gia, phải nói đến nhà khắc kỷ Epictetus, người, khi về gia, đã nhận nuôi con của một người bạn và thách thức một cách gay gắt tuyên bố của Epicurus, rằng đàn ông thông thái không nên nuôi con. Sau đó là triết gia người Mỹ John Dewey, người nhận nuôi hai người con rất muộn, dành trọn thời gian cho gia đình, dùng phần lớn tiền bạc để du lịch cùng con và mua sách cho con. “Tôi không nghĩ có một triết gia lớn nào ngoài Dewey xây dựng được mối quan hệ thân thiết với con mình suốt cả đời và đặc biệt điều này lại còn ảnh hưởng rõ ràng đến trước tác trong sự nghiệp của ông,” tác giả tiểu sử của ông, Jay Martin đã bình luận như vậy trong email gửi cho tôi. Dewey viết rất nhiều về giáo dục trẻ em, nhưng, như hầu hết các triết gia khác, ông chưa bao giờ trực tiếp bàn về vấn đề làm cha.

Các triết gia đương đại dường như cũng không nhiều hứng thú hơn về chủ đề này. Trừ trường hợp ngoại lệ là tuyển tập “Fatherhood: Philosophy for Everyone” (Làm cha: Triết lý cho mọi người) xuất bản năm 2010, hầu như vấn đề này hiếm khi được bàn luận. Cho dù lấy bất cứ lý do gì đi nữa, thì vấn đề không phải nằm ở chuyện không có con. Tôi gửi một bảng câu hỏi đến 12 viện nghiên cứu triết học hàng đầu tại Hoa Kỳ. Dựa trên câu trả lời từ bảy viện trong số đó, bao gồm hơn 100 thành viên, tôi phát hiện có đến hơn 75% có con, tỉ lệ này ở nữ giới cũng tương đương với nam giới. Tất cả bảy khoa triết học đều cho biết tỉ lệ không có con ở khoa họ không lớn hơn các khoa khác.

Vậy cớ sao các triết gia lại ngần ngại khi viết về chuyện làm cha, và vụng về, nếu không muốn nói chứa đựng nhiều định kiến giới trong đó, ở một số trường hợp bàn về chủ đề này? Tôi quyết định hỏi một phụ nữ, bà Kelly Oliver, giáo sư triết học tại Đại học Vanderbilt:

“Lịch sử triết học là lịch sử của quyền lực gia trưởng đối với tâm trí và thân xác,” bà trả lời trong email gửi tôi. “Tình phụ tử được xem là nền tảng không cần phải bị chất vấn của luật gia đình và dân sự, cho mãi đến rất gần đây, khi chủ nghĩa gia trưởng trong triết học và ngoài lĩnh vực này bị thách thức bởi các triết gia chịu ảnh hưởng từ nữ quyền luận và phân tâm học.”

Trong tác phẩm của mình, Levinas, Ricoeur và Derrida đã thách thức ý niệm gia trưởng về người cha như một biểu tượng của quyền uy, nhưng tất cả những triết gia này đều im lặng về kinh nghiệm làm cha của chính họ. Nhưng dĩ nhiên, đã có những triết gia đương đại trình bày suy tư của mình về chủ đề này.

Một trong số đó là Scott Samuelson, giáo sư tại Đại học Cộng đồng Kirkwood, một người cha của hai đứa con tuổi mới lớn. “Đối với tôi, làm cha không hề xa lạ với triết học,” ông chia sẻ với tôi. “Nó đưa bạn vào một hành trình mà bạn thường bắt đầu với một số khai niệm rất trừu tượng, như, tôi sẽ nuôi dưỡng con mình đúng cách và không giống như những kẻ khờ ngốc khác. Thế rồi hiện thực nghiền nát ta, bắt ta phải bắt đầu nhìn tất cả những thiếu sót của mình, một điều có thể rất khắc nghiệt và gây mỏi mệt, nhưng đồng thời nó cũng có thể đưa ta trở lại đời sống chung và cho phép ta nhìn mọi thứ tươi mới trở lại.”

Việc có con cũng khơi dậy những câu hỏi về đời sống tốt đẹp, Samuelson tiếp tục. “Chúng ta tự nhiên muốn đời sống tốt đẹp cho cái cái mình hơn cả cho chính mình.”

Phức tạp hơn, từ quan điểm đạo đức, là chúng ta cũng muốn đời sống tốt đẹp cho con cái mình hơn con cái của những người khác. “Không có gì sai trái với những ông bố bà mẹ muốn những gì tốt nhất cho con mình,” triết gia người Australia Peter Singer nói với tôi. “Nhưng chúng ta nên nhận thức được một số giới hạn. Con cái của ta không cần mọi thứ xa xỉ có thể tưởng tượng được khi tiền ấy có thể được dùng điều cứu cuộc đời của những đứa trẻ là con của người khác, những đứa trẻ, nếu không có tiền, có thể chết vì sốt rét.”

Singer, người bản thân là cha của ba đứa con và là ông của bốn đứa cháu, cũng là người phê phán kiểu làm cha mẹ theo tinh thần loài hổ vốn được lan tỏa từ cuốn sách Khúc chiến ca của mẹ Hổ của Amy Chua.

“Nó tập trung quá nhiều vào đứa con của tôi.” Singer nói. “Bà ấy cho rằng tham gia vào việc vui chơi trong trường học là phí thời gian. Nhưng bà ấy không hiểu chơi trong trường học là một hoạt động cộng đồng.”

Sự nguy hiểm của kiểu làm cha mẹ thái quá này, như giáo sư triết học Michael Sandel tại Đại học Harvard viết trong cuốn sách của ông “The Case Against Perfection” (Biện hộ cho việc chống lại sự hoàn hảo), là nó dẫn ta đến chỗ nghĩ về con cái như là sản phẩm của ý chí, là công cụ cho tham vọng của mình hơn là quà tặng. Có con là một trải nghiệm triết học khi nó dạy chúng ta phải cởi mở đối với những gì bột phát.

Trong một email, giáo sư triết học Stephen Asam kể lại một lần ông đưa con trai của mình, khi ấy mới bốn tuổi, đến văn phòng. Trong khoảng 10 phút, cậu con trai gần như gặp hai tai nạn chết người, sau đó quên nói với bố mình muốn đi vệ sinh và tè ra quần. “Có con khiến ta có một cơ hội lớn để tiếp cận những khía cạnh quan trọng của việc làm người – không ai hiểu được chiều sâu của những tổn thương ở con người bằng một ông bố hay bà mẹ. Ồ, chắc chắn Nietzsche có thể vò đầu bứt tai khi suy tư về sự quy hồi vĩnh cửu, nhưng hay dễ ông ta một ngày trong phòng cấp cứu với đứa con bị thương của mình. Đó mới là sự tổn thương thực sự.”

Todd May, giáo sư triết học tại Đại học Clemson, viết cho tôi trong một email: “Con người có trách nhiệm đối với một tồn tại người khác mà tôi không thấy ở bất cứ hình thức sự sống nào khác.” Với May, cũng như với phần lớn các triết gia tôi từng nói chuyện, triết học đóng vai trò quan trọng trong việc định hình cách tiếp cận của ông trong vấn đề làm cha. “Tôi cố gắng dạy con mình giữa một lập trường gián cách mang tính phản tư đối với mọi việc, để không mắc kẹt trong tính tức thời của những gì tưởng như đang gây khó khăn cho chúng.”

Phần lớn các nhà triết học nam giới mà tôi nói chuyện trong quá trình nghiên cứu vấn đề này nói về việc làm cha mẹ bằng những thuật ngữ trung tính, không phân biệt rõ ràng giữa vai trò của người cha và của người mẹ. Như Lionel McPherson, một giáo sư triết học tại đại học Tufts, nói với tôi những ông bố có một vai trò đặc trưng. “Nếu bạn muốn có một bờ vai để khóc, tôi không phải là người đầu tiên sẽ đến bên bạn. Thay vào đó, tôi muốn biết chuyện gì xảy ra và chúng ta có thể làm gì để giải quyết vấn đề.”

Vai trò của người cha, theo quan điểm của McPherson, là làm sao duy trì được những ranh giới rõ ràng và chú ý đến hậu quả, một vai trò đã mất mát đi nhiều trong đời sống của người Mỹ. Trong tư cách một người cha người Mỹ gốc Phi của hai cô con gái ở độ tuổi mới lớn, ông đặt những kỳ vọng cao nhưng chỉ trong khả năng của con mình. “Chúng thường pha trò khi tôi cố tìm cách truyền đạt những bài học đời sống của tôi, nhưng khi chúng rời nhà và ra ngoài thế giới, tôi muốn chúng nghe tiếng nói của tôi trong đầu chúng, vì chúng biết tôi sẽ nghĩ gì,” ông vừa nói vừa cười.

George Yancy, giáo sư triết học tại Đại học Emory lại có một nhận thức khác. “Dù lúc nào tôi cũng ý thức về những vấn đề gắn với chế độ gia trưởng”, ông viết trong một email, “nhưng tình yêu cho con trai của tôi là một phần của tình yêu tôi dành cho sự thông thái.” Là một người cha da đen của bốn đứa con da đen, vấn đề chủng tộc là vấn đề không thể tránh khỏi. Ông cô gắng làm con mình suy nghĩ thấu đáo về những quyết định của chúng, trân trọng sự độc đáo hiện sinh của của mình và dạy con không thể quy giản bản thân theo cách những người phân biệt chủng tộc da trắng nhìn mình. Tác phẩm của ông, theo ông nói, gắn kết một cách ràng rịt với tình yêu một người cha da đen dành cho những đứa con: “Tình phụ tử dành cho con tôi, tình yêu sâu sắc của một người cha dành cho con tôi, đã định hình nên lao động triết học mà tôi theo đuổi.”

Scott Samuelson thỉnh thoảng lại mơ ước ông có thể trao cho con mình một ý niệm rõ ràng hơn về việc phải sống thế nào dựa trên nền tảng tôn giáo hay truyền thống hoặc đặt ra một hệ thống nguyên tắc rành mạch, nhưng cũng như Yancy ông tin rằng, thế giới, tương tự như việc làm cha, là phức tạp và đây là những gì ông dạy con: “Là một triết gia, tôi sẽ không bao giờ trao cho con bất cứ cái gì rõ ràng. Tôi sẽ trao cho chúng nhận thức về một thế giới phức tạp hơn, bộn bề, ngổn ngang hơn. Và tôi không cho rằng điều này là tệ hại. Tôi hy vọng con tôi hiểu được điều này song tôi cũng lo âu nếu có lúc nào đó, con tôi thấy bối rối.”

Kỳ nghỉ thai sản dành cho ông bố của tôi sắp kết thúc và bây giờ tôi đã có thể nhận thấy triết học và việc làm cha không xa lạ với nhau mà đúng hơn, chúng đan bện với nhau một cách mật thiết. Cả hai đều chứa đựng một cam kết với kẻ khác vốn đòi hỏi sự cởi mở đối với những gì bộc phát, cả hai đều dẫn đến những niềm vui và sự ngạc nhiên cũng như cả sự mệt mỏi và tổn thương. Và thậm chí nếu triết học hầu như đem đến rất ít những lời khuyên thực tế cho việc làm cha thì nó vẫn thôi thúc tôi suy tư về cái mà tôi nghĩ là đời sống tốt đẹp và cân nhắc những hệ quả của nó, không chỉ con của mình, mà còn cho con của những người khác.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Carl Cederstrom, “The Philosopher as Bad Dad”, https://www.nytimes.com/2018/06/11/opinion/philosophy-fatherhood.html

Martin Hägglund – Tự do tự nhiên và tự do tinh thần (phần 3.1)

Rene Magritte – The Double Secret (tranh sơn dầu, 1927)

Phần 1

Phần 2

3.

Sự sống tinh thần bao gồm tất cả các loài có khả năng tự đặt câu hỏi, rằng mình nên sử dụng thời gian của mình như thế nào. Giống loài duy nhất có sự sống tinh thần được biết đến là loài người, nhưng về nguyên tắc, không loại trừ khả năng những giống loài khác có sự sống tinh thần được phát hiện hay được chế tạo. Liệu có những loài khác có sự sống tinh thần được khám phá hay chế tạo trong thực tế hay không, một lần nữa, lại là một câu hỏi mang tính kinh nghiệm không nằm trong phạm vi biện luận của tôi. Mục đích của tôi, đúng hơn, là xác lập những đặc điểm hình thức của tự do tinh thần mà bất cứ sự sống tinh thần khả hữu nào cũng cần phải có, do đó định nghĩa nên chủng loài này.

Những hình thức của tự do tinh thần là những hình thức ở bậc cao hơn những đặc điểm của tự do tự nhiên. Để tránh bất cứ hình thức siêu nhiên nào, một mô tả về những đặc điểm của tự do tinh thần phải trình bày được quá trình tiến hóa của chúng từ những đặc điểm thuộc về tự do tự nhiên. Đồng thời, điều rất quan trọng là phải nhấn mạnh những cấu trúc mang tính mục đích của tự do tự nhiên đã được biến đổi về chất trong tự do tinh thần. Bởi có tự do tinh thần nên tôi là một cá nhân, chứ không chỉ là một tồn tại sống đơn thuần.

Đặc điểm đầu tiên của tự do tinh thần là những mục đích của sự sống được xem như mang tính quy phạm (normative) hơn là tính tự nhiên (natural). Là một tồn tại tinh thần, tôi hành động không chỉ vì mục đích bảo tồn sự sống của tôi hay giống loài của tôi mà còn vì con người mà tôi nghĩ mình là. Con người ấy là một bản sắc thực tế  bởi vì nó đòi hỏi tôi phải trung thành với một cam kết. Thí dụ, nếu tôi có một cam kết theo đuổi một sự nghiệp chính trị trọn đời thì có nghĩa là tôi thấy đời mình giá trị vì mình là một nhà hoạt động chính trị. Bản sắc thực tế của tôi trao cho tôi một tiêu chuẩn (một chuẩn mực) về tính toàn vẹn để tôi có thể tự đánh giá mình thành công hay thất bại trong việc trở thành chính mình. Nhiều khuynh hướng khác mà tôi có thể hành động theo sẽ bị loại trừ bởi vì chúng không tương thích với tính toàn vẹn của đời tôi trong tư cách một chính trị gia. Bản sắc thực tế của tôi làm cho một số thứ hiện ra giá trị và quan trọng, trong khi những thứ khác không đáng chú ý hay chỉ như những cám dỗ. Bản sắc thực tế của tôi vừa cho tôi biết tôi nên sống đời mình thế nào, vừa nói với tôi nên phản ứng thế nào đối với những gì xảy ra trong đời mình. Việc có một bản sắc thực tế nào đó mang ý nghĩa gì – chẳng hạn, thế nào là một nhà hoạt động chính trị – không chỉ phụ thuộc vào tôi mà còn dựa vào những chuẩn mực xã hội được chia sẻ. Tôi có thể thay đổi những chuẩn mực thông qua hoạt động của tôi, nhưng khi làm thế, bao giờ tôi cũng có thể giải thích được cho người khác và biện hộ được cho chính mình. Nhờ có bản sắc thực tế này, tôi không chỉ là kẻ phụ thuộc vào ham muốn và khao khát của tôi mà còn là chủ thể của những ham muốn và khao khát ấy. Bằng việc sống đời mình, tôi đồng thời cũng định hướng đời mình.

Ý niệm về bản sắc thực tế được khai phá bởi triết gia Christine Korsgaard trong công trình đột phá của bà về năng lực hoạt động (agency). Tuy nhiên, ý niệm về bản sắc thực tế tự nó lại chưa đủ để giải thích cho sự thống nhất về hình thức mà tư cách con người đòi hỏi và cho việc định hướng một cuộc đời. Như bản thân Korsgaard, với phẩm chất nghiêm khắc đặc trưng của mình, đã chỉ ra, có một “nguyên tắc bị thiếu” trong mô tả của bà về năng lực hành động. Cần phải có một nguyên tắc về sự thống nhất – về sự cố kết – khiến cho một cá nhân có thể có vài bản sắc thực tế và xử lý những xung đột giữa chúng. Thí dụ, đòi hỏi của bản sắc thực tế của tôi trong tư cách một nhà hoạt động chính trị có thể không tương thích với bản sắc thực tế của tôi trong tư cách một người cha và việc tôi phản ứng thế nào đối với mâu thuẫn này liên quan đến việc bản sắc thực tế nào mà tôi ưu tiên hơn.

Thứ tự ưu tiên giữa các bản sắc thực tế của một cá nhân là thứ mà tôi gọi là “bản sắc hiện sinh” (existential identity) của người ấy. Bản sắc hiện sinh của một cá nhân thể hiện trong cách người ấy ưu tiên bản sắc thực tế nà ocủa mình và giải quyết xung đột giữa đòi hỏi tương ứng với chúng. Bản sắc hiện sinh của tôi – có nghĩa là bản sắc của một “Martin” – không phải là một bản sắc thực tế phụ thêm vào mà là một hoạt động thực tiễn mang tính cấu thành để cố kết một thứ tự ưu tiên giữa các bản sắc thực tế của tôi. Nói theo điển tích về con thuyền Neurath, bản sắc thực tế của tôi là những tấm ván khác nhau và bản sắc hiện sinh của tôi là con thuyền khiến những tấm ván ghép lại với nhau thành một chỉnh thể mong manh. Để là một ai đó và làm việc gì đó, tôi không thể chỉ cần một số bản sắc thực tế. Phải có một nguyên lý thống nhất – với tôi, tạm gọi là nguyên lý Martin – khiến người ta có thể hiểu các bản sắc thực tế của tôi chính là tôi và nguyên lý này trao cho các bản sắc thực tế ấy một trật tự ưu tiên trong đời sống của tôi. Không có một nguyên lý thống nhất, tôi còn không thể nếm trải một xung đột hay một mâu thuẫn nào giữa hai bản sắc thực tế của tôi, vì tôi không thể hiểu được cả hai bản sắc thực tế ấy đều là mình.

Hơn nữa, không có một thự tự ưu tiên giữa các bản sắc thực tế của mình, tôi cũng không cảm nhận được cái gì quan trọng trong đời mình và khi nào nó quan trọng. Sở dĩ tôi là Martin là bởi vì sự ưu tiên tương đối giữa các bản sắc thực tế của tôi cho phép điều này là một khả thể. Thứ tự ưu tiên này là bản sắc hiện sinh của tôi. Hình thức của con thuyền như một chỉnh thể (bản sắc hiện sinh của tôi) thiết lập nên tính quan trọng tương đối của những tấm ván khác nhau (các bản sắc thực tế của tôi). Nếu một tấm ván có vị trí quan trọng trong kết cấu con thuyền bị phá vỡ, tôi sẽ lâm vào khủng hoảng. Bản sắc hiện sinh của tôi không biểu thị sự hoàn tất của việc tôi là ai mà là sự cố kết mong manh của cái bản thể mà tôi cố gắng đồng nhất mình vào đó. Trở thành Martin không phải là một bản sắc cuối kết mà điều này nằm trong nỗ lực trở thành Martin, nỗ lực trong việc duy trì hay thay đổi tương quan ưu tiên giữa các bản sắc thực tế của tôi trong hình thức của một bản sắc hiện sinh. Tôi có thể là một cá thể duy nhất, nhưng việc là cá thể ấy có ý nghĩa gì – việc trở thành Martin nghĩa là gì – lại chưa bao giờ có thể xác lập một lần xong xuôi mãi mãi. Bản sắc hiện sinh của tôi tự nó luôn tranh cãi ở trong tôi. Nếu việc trở thành một chính trị gia được ưu tiên hơn việc tôi làm một ông bố thì bản sắc hiện sinh của tôi sẽ khác nếu sự ưu tiên diễn ra theo chiều ngược lại. Thứ tự ưu tiên định nghĩa nên tôi có thể thay đổi, nhưng nếu vấn đề về sự ưu tiên không được đặt ra – nếu bản sắc hiện sinh của tôi không bị chất vấn – thì tôi cũng không thể định hướng được đời mình và trải nghiệm xung đột giữa các bản sắc thực tế của tôi ngay từ đầu.

Đặc điểm thứ hai của tự do tinh thần là năng lực của một cá nhân trong việc mang một liên hệ tự thân có tính phủ định. Mối liên hệ tự thân có tính phủ định này có thể được thể hiện ra như một sự khủng hoảng bản sắc hiện sinh – một xung đột hay một sự đổ vỡ trong mối liên hệ giữa các bản sắc thực tế khác nhau của tôi – nhưng nó cũng có thể sống bên trong bất cứ bản sắc thực tế định sẵn nào. Korsgaard cho rằng việc hiện thực hóa một bản sắc thực tế nào đó khiến người ta “trở thành một cá nhân,” vì người nào phản bội tính toàn vẹn của mình, người ấy “về cơ bản, xem như đã chết, hay còn tệ hơn cả việc đã chết.” Song điều này có thể không đúng. Nếu tôi thôi là một cá nhân khi tôi không thể hiện thực hóa bản sắc thực tế của mình thì kinh nghiệm về sự thất bại của tôi trở thành thứ không thể hiểu nổi. Động lực thúc đẩy của cái viễn cảnh khủng khiếp mà bản thân Korsgaard chú ý đến – “Tôi không thể sống với chính mình nếu tôi phải làm việc ấy” – xuất phát từ nỗi ám ảnh này: tôi sẽ phải sống với chính mình ngay cả nếu tôi phản bội tính toàn vẹn của mình. Phản bội tính toàn vẹn của bản thân, trong một số trường hợp, còn là một định mệnh tồi tệ hơn cả cái chết, nhưng nó không đồng nhất với cái chết. Nếu nó chính là cái chết, tôi sẽ không phải nếm trải nỗi đau của sự thất bại, bởi vì mình đã chết rồi còn đâu. Khi tôi thấy đau đớn bởi không thể là chính mình thì đó chính là bởi tôi vẫn đang sống và đang vật vã để định hướng đời mình. Đó chính là năng lực tự xác lập mối liên hệ tự thân mang tính phủ định của tôi. Bởi bản sắc của tôi vốn dĩ mang tính thực hành (nó là thứ mà tôi làm), nên nó có thể thất bại hay đổ vỡ. Thậm chí thứ tự ưu tiên giữa các bản sắc thực tế của tôi – bản sắc hiện sinh của tôi – cũng có thể đổ vỡ. Những tấm ván ghép lại thành con thuyền của tôi có thể bị đập gãy hoặc long ra, để tôi rơi vào tình trạng bị đánh đắm. Thế nhưng sự đổ vỡ của bản ngã đã được thiết lập của tôi lại không phải là sự kết thúc của cuộc đời tôi trong tư cách một cá nhân. Nếu tôi nếm trải sự vỡ nát của con thuyền, tôi vẫn chưa chết chìm và vẫn đang tìm cách làm thế nào để sửa chữa nó. Làm một con người dẫu thất bại thì ta vẫn cứ là một con người.

Hoạt động cố gắng trở thành chính mình – cố gắng duy trì hay đóng lại con thuyền, cố gắng có thể trả lời cho câu hỏi về những gì tôi đang và đã làm – là hình thức tối giản của tính cá nhân của tôi. Chừng nào tôi còn định hình, định hướng đời mình theo cách nào đấy, chừng đó tôi còn cố gắng để bảo lưu tính toàn vẹn của mình, ngay cả nếu tôi có thất bại đi nữa. Làm một con người không nhất thiết phải thành công trong việc hiện thực hóa những đòi hỏi của các bản sắc thực tế mà điều này cốt ở nỗ lực duy trì hay thay đổi các bản sắc thực tế của tôi. Tương tự, làm một con người không nhất thiết đòi hỏi ta phải thành công trong việc duy trì một bản sắc hiện sinh mà điều này, quan trọng hơn, nằm ở nỗ lực duy trì hay chuyển hóa bản sắc hiện sinh của mình. Khi không trở thành được kẻ mà tôi cố muốn là – khi tôi bị đắm thuyền – tôi không chỉ đơn thuần bị phủ định mà đồng thời còn là chủ thể của kinh nghiệm tiêu cực về sự thất bại trong việc trở thành chính mình. Khả năng thất bại này là một điều kiện ranh giới cần thiết cho bất kỳ bản sắc thực tế và hiện sinh nào. Viễn cảnh của sự thất bại trong việc trở thành chính mình – của việc mất tính toàn vẹn, mất con thuyền, mất mạng vì chết đuối – nhắc nhở tôi rằng tại sao việc đảm bảo tính toàn vẹn và làm chủ đời sống của mình lại quan trọng.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Martin Hägglund, This Life: Secular Faith and Spiritual Freedom, NY: Anchor Books, p.187-191.