Vẻ đẹp của tiếng ồn

Bài viết này lấy lại nhan đề buổi nói chuyện với nhạc sĩ Kim Ngọc về âm nhạc đương đại tại Cà phê thứ 7 chiều nay. Một buổi nói chuyện có nhiều thông tin gợi mở suy nghĩ đối với cá nhân mình. Mình sẽ ghi chép lại những ý nghĩ tản mản của mình về những sự kiện văn hóa, nghệ thuật mà mình có điều kiện tham dự, thưởng thức như một thứ nhật ký.

Âm nhạc mà Kim Ngọc đang thể nghiệm là “noise music”, một thứ âm nhạc dựa trên sự khai thác tiếng động, tiếng ồn, những thứ tưởng chừng như đối lập nhất với âm nhạc theo cách hiểu thông thường. Nếu như âm nhạc khó định nghĩa bao nhiêu thì tiếng ồn cũng khó định nghĩa bấy nhiêu. Trong số nhiều định nghĩa về nó, có một định nghĩa này có lẽ giàu sức kích thích nhất đối với những người làm nghệ thuật tiền phong: tiếng ồn là âm thanh gây khó chịu. Con đường của nghệ thuật tiền phong là như thế: nó đổi mới nghệ thuật bằng cách chất vấn lại về “sự khó chịu” của chất liệu, bằng cách đưa những gì khó chịu nhất, những gì phản thơ, phản hội họa, phản nhạc, phản tiểu thuyết nhất vào nghệ thuật, và bởi thế, đương nhiên nó “khó chịu” với đại đa số công chúng. Âm nhạc, khi mở rộng chất liệu như vậy, luôn thách thức sự nghe ở chúng ta, nó đòi hỏi chúng ta phải suy tư lại về khả năng khơi dậy xúc cảm, liên tưởng của âm thanh. Ở mức độ nào đó, nghệ thuật đương đại là hình thức giải định kiến ở con người. Tại sao ta lại khó chịu bởi tiếng ồn? Một bản nhạc giao hưởng có phải là tiếng ồn với một số người hay không? Một giai điệu nhạc pop đại chúng dễ dãi được phát hoài trên xe bus có làm ta nhức đầu như tiếng ồn không? Những câu hỏi như thế khi được đặt ra và ý thức trả lời ráo riết, thành thật sẽ cởi mở tư duy và cảm nhận của con người rất nhiều.

Trong những ý kiến phát biểu tại buổi nói chuyện, nhạc sĩ Dương Thụ đưa ra một ý kiến thú vị. Những tiếng động, tiếng ồn khi nó gắn với những ký ức nhất định của con người, đến một khoảnh khắc nào đó, nó sẽ trở thành những âm thanh gây xúc động. Mà những âm thanh gây xúc động – đó chính là âm nhạc. Một tiếng còi tàu có thể là âm thanh rất gắt, rất inh tai, nhưng nó có thể khơi dậy những ký ức về văn minh hiện đại thời kỳ đầu, những liên tưởng văn hóa từ đó…Thế nhưng không phải những người làm nhạc thể nghiệm nào cũng khai thác khía cạnh nostalgia này. Sự hoài nhớ của con người thường là một nhân tố trì níu khả năng đổi mới trong nghệ thuật, nó làm người ta luyến lưu quá vãng hơn là nhận ra các giá trị của hiện tại. Bởi vậy mới có xu hướng phi biểu hiện của âm nhạc, đưa âm nhạc trở về với vẻ đẹp thuần túy khách quan của những chuỗi âm thanh. Cảm nhận được vẻ đẹp thuần túy đó, thú thực, với mình, giống như một kinh nghiệm Thiền.

Bản Etude dựa trên âm thanh của tàu hỏa này của Pierre Schaefer chẳng hạn. Schaefer chỉ làm công việc mix lại âm thanh ông thu được từ tiếng tàu hỏa chạy trên đường ray. Có thể gọi đây là một bản nhạc được không? Các chuỗi âm thanh được sắp xếp lại có tiết tấu, có kịch tính ở mức độ nào đó, nhưng khó mà gán cho nó một tình cảm chủ quan nào. Chỉ có điều, với ai còn nhiều ngây thơ, đó không còn là những âm thanh đều đều, khô khốc, inh tai, nó làm ta ngạc nhiên, làm ta phát hiện ra những âm thanh đó có chất thơ riêng của nó.

Vậy làm thế nào để ta có thể cảm nhận được nghệ thuật đương đại? Cần rất nhiều sự ngây thơ. Ngây thơ thì ta mới chăm chú lắng nghe, quan sát. Sự ngây thơ ấy mới khiến ta còn năng lượng để mà ngạc nhiên, bất ngờ. Sự ngây thơ ấy khiến ta dễ dàng thoải mái trước cái quyền được điên rồ của nghệ thuật.

Với cá nhân mình thôi, để hiểu những thứ nghệ thuật mới không khó. Tìm ra được lý do tồn tại của những phá cách, những sự khó chịu mà chúng quyết tâm đem đến cho công chúng không khó. Cách đây 5-6 năm, khi bắt đầu nhận dạy một học phần về nghệ thuật ở trường, mình phải soạn một phần dạy liên quan đến mỹ học. Khi đó, mình lò mò trên mạng, tìm được rất nhiều trang cho download những trang nghe nhạc, xem phim thể nghiệm, mà điển hình nhất là trang ubu.com. Khi lần đầu thử thưởng thức cái tác phẩm 4’33 của John Cage, mình cũng đã đi từ chỗ tháy tác giả điên, rồi đến mình điên, và cuối cùng thì mình bật cười. Cái cười đó vô cùng nhẹ nhõm. Hình như đó là tác phẩm nghiêm túc nhất mà cũng bông đùa nhất, khiêu khích nhất mà cũng độ lượng nhất mà mình biết.

Nhưng nghệ thuật không chỉ là nơi mà ta cần giải thích nó bằng lý trí là xong xuôi. Nó không phải là tri thức, hay chí ít, đó không phải là cái có ý nghĩa nhất của nghệ thuật. Nghệ thuật, quan trọng nhất, là lĩnh vực của sự cảm nhận. Mà đã cảm nhận thì phải ra ngoài trời, phải nghe, phải nhìn, phải trò chuyện nhiều hơn. Nên lúc nãy nói với bạn, mình sợ mọi suy nghĩ của mình về nghệ thuật, về đời sống đang bị trừu tượng. Mình sẽ phải đi đâu đó thôi…

Cuối cùng, chia sẻ với các bạn một album mà mình nghĩ nó là dẫn nhập tốt cho bạn nào muốn tìm hiểu về âm nhạc avant-garde. Chỉ cần google một chút, các bạn có thể tìm được cách leech link để tải album này về:

http://www.israbox.info/1146466355-va-a-young-persons-guide-to-the-avant-garde-2013.html

Posted in Âm nhạc, Góc của mình, Sưu tầm trên mạng | Tagged , , , , | Để lại bình luận

Đề thi môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông: Giữa “định lượng” và “định tính”

Boy reading book sitting in window nook

Boy reading book sitting in window nook

(Nhìn từ đề thi kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2015)

1. Những người làm công việc giảng dạy môn Ngữ văn ở trường phổ thông có lẽ thường cảm nhận được sự bất nhẫn của xã hội đối với mình: để lấy trực quan cho sự loay hoay, bế tắc của giáo dục hiện nay, cứ nhìn vào thực trạng của môn văn; để lấy thí dụ cho sự xơ cứng, cũ kỹ, giáo điều của giáo học pháp, hãy nhìn vào môn văn; thậm chí, nếu cần chỉ ra một trong số những nguyên nhân dẫn đến tình trạng phổ biến của chứng vô cảm hay bạo lực học đường như là biểu hiện cho sự xuống cấp của đạo đức học đường, việc dạy và học môn văn cũng có thể phải nhận trách nhiệm. Như một tiêu điểm để quan sát thực trạng giáo dục, do đó, không phải ngẫu nhiên, các đề thi, đề kiểm tra môn Ngữ văn thường nhận được nhiều sự quan tâm, bình luận, “săm soi” hơn các môn học khác. Song nhìn tức góc độ khác, điều này lại cho thấy trong nhận thức của xã hội, môn Ngữ văn vẫn có một địa vị quan trọng nhất định.

Đề thi một môn học là hình thức đánh giá năng lực, trình độ của học sinh. Có thể nói, những đột phá lớn nhất của cải cách giáo dục hơn mười năm trở lại đây chủ yếu tập trung ở hoạt động thi cử, trong đó có vấn đề đề thi. Chọn khâu thi cử làm khâu đột phá, hẳn những nhà hoạch định chiến lược giáo dục cho rằng đây là khâu then chốt nhất, từ đó buộc toàn bộ việc dạy và học ở nhà trường phải đổi mới theo. Nhưng liệu đây có thực sự là đổi mới thực chất khi ta vẫn xem thi cử như là mục đích lớn nhất của sự học, như là chuẩn cao nhất để đánh giá chất lượng dạy và học? Bài viết này tạm thời chưa đi vào thảo luận câu hỏi ấy. Thiết nghĩ, trong bối cảnh giáo dục hiện nay, mọi động thái cải tiến, đổi mới, trước hết, đều có thể tạo ra những cú hích cần thiết.

Trở lại với vấn đề đổi mới đề thi. Có lẽ đề thi môn văn gặp nhiều lúng túng, khó khăn hơn đề thi các môn học khác, do đặc thù của bộ môn này ở nhà trường. Theo cấu tạo chương trình môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông hiện nay, trọng tâm nằm ở phần Văn chứ không phải là phần Ngữ. Văn chương vốn không phải là lĩnh vực mà các phương pháp đánh giá định lượng có thể áp dụng hiệu quả. Thế nhưng từ trước đến nay, việc dạy học, ra đề thi, soạn đáp án, chấm điểm môn học này bị ám ảnh quá lớn bởi tính chất định lượng. Hậu quả của điều này là thực trạng giáo viên phải là người biết quy một tác phẩm văn chương về một vài diễn giải được xem là chuẩn kiến thức, học sinh cần phải nắm được đầy đủ ngầy ấy đơn vị chuẩn kiến thức để thể hiện trong bài thi của mình, đáp án cũng lượng hóa thang điểm đến mức nhỏ nhất là 0.25 và người chấm thì thường tuân theo chủ trương “đếm ý đo điểm”. Có thể liệt kê nhiều hệ lụy từ việc dạy và học văn như vậy nhưng đó cũng không phải là trọng tâm của bài viết này. Chỉ nói thêm hai điểm theo quan sát của một người làm công việc dạy văn ở trường phổ thông: Thứ nhất, đây là nguyên nhân sâu xa và quan trọng của tình trạng học sinh không còn tìm thấy hứng thú ở môn văn trong nhà trường. Thay vì là môn học khuyến khích bản chất sáng tạo, khuyến khích sự hình thành quan điểm cá nhân và tự do biểu đạt (dù gì thì đến cấp trung học, môn văn là một “nghệ thuật” duy nhất được giảng dạy chính thức), nó lại biến thành một môn học thuộc với rất nhiều những kỵ húy. Thứ hai, điều oái ăm là trong khi áp dụng phương pháp định lượng để đánh giá học sinh thì chính giáo viên văn lại cảm thấy bối rối bởi sự rạch ròi, chi ly bởi các hình thức lượng hóa. Nhiều giáo viên không ủng hộ hình thức đánh giá lượng hóa triệt để nhất là biến đề thi môn văn thành đề trắc nghiệm. Các giáo viên cũng rất ngại ngần cho điểm 10 môn văn bởi luôn mặc định trong đầu, với môn học này, tái hiện kiến thức không thôi là chưa đủ, nêu hết các ý có trong đáp án cũng chưa phải là toàn bích. Cần phải có thêm “một cái gì đó nữa”. Nhưng đó là cái gì? Sự mơ hồ này khiến việc chấm điểm đánh giá ở môn văn luôn có yếu tố cảm tính, chủ quan và đây cũng là điều khiến học sinh thường ít tự tin về bài làm văn của mình sau mỗi kỳ thi.

2. Đề thi môn văn năm nay được ra theo tinh thần đánh giá năng lực học sinh qua các kỹ năng đọc và viết, khả năng tích lũy vốn sống, trải nghiệm thực tế, hình thành quan điểm cũng như khả năng cảm thụ các văn bản nghệ thuật. Do là năm đầu tiên sáp nhập kỳ thi tốt nghiệp trung học và kỳ thi đại học nên hoàn toàn có thể thông cảm được khi những người ra đề chọn giải pháp an toàn với một đề thi vừa sức, có mức độ phân hóa vừa phải. Chủ trương lượng hóa cách đánh giá được thể hiện rõ ở phần một của đề thi – phần Đọc hiểu, gồm hai đoạn trích với tám câu hỏi. Hai đoạn trích gồm một văn bản nghị luận và một đoạn thơ.

Tôi sẽ không bình luận chi tiết về đề thi vì điều này không còn tính thời sự mà chỉ muốn nhìn từ đề thi để suy nghĩ lại về định hướng dạy học môn văn trong nhà trường. Phần “Đọc hiểu” vốn là phần kiểm tra kỹ năng nắm bắt, xử lý, suy luận, diễn giải thông tin khi đọc một văn bản. Nó có thể làm ta liên hệ đến phần “Reading Comprehension” trong sách luyện thi IELTS, TOEFL. Cambridge… Điều đáng nói là ở trong các bộ đề thi tiếng Anh lấy chứng chỉ quốc tế này, người ta hạn chế tối đa việc đưa các văn bản nghệ thuật, thay vào đó là văn bản khoa học, chính luận, báo chí. Các câu hỏi nhằm đánh giá năng lực đọc hiểu thường rất chú trọng khả năng suy luận, phân tích logic của văn bản, hiểu nghĩa các từ, các thuật ngữ, các cách diễn giải đặc biệt… Hiện tại, nếu nhìn vào đề thi minh họa của Bộ, đề thi thử của các đơn vị đào tạo và đề thi chính thức, chúng ta lại quan tâm nhiều hơn đến việc nhận dạng văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nào và các câu hỏi chủ yếu đều hướng đến việc nắm bắt các thông tin lộ thiên. Dung lượng văn bản trong các đề thi ở Việt Nam tương đối ngắn nên đề thi cũng khó kiểm tra được khả năng “quét” thông tin của thí sinh trong một khoảng thời gian áp lực.

Vấn đề bất cập trở nên rõ hơn khi đề thi đưa các văn bản văn chương vào nội dung của phần Đọc hiểu với các câu hỏi cố gắng “lượng hóa” tối đa để có thể chấm điểm một cách chính xác nhất. Các câu hỏi phổ biến dùng cho đọc hiểu văn bản văn chương từ đề thi minh họa đến đề thi thử, thi chính thức thường là: “Nội dung của đoạn thơ này là gì?”, “Đoạn thơ truyền tải thông điệp gì của tác giả”, “Hãy nêu hai biện pháp tu từ có trong đoạn văn trên và phân tích ngắn gọn hiệu quả của chúng?”… Cách đặt câu hỏi như vậy, nhìn chung, vẫn nằm trong cách tư duy văn học cũ: xem nội dung văn học là cái tồn tại độc lập với hình thức, tác phẩm văn học là sự phản chiếu một hiện thực đời sống khách quan, là sự thể hiện một tâm tư, nỗi lòng của tác giả…Để có thể lượng hóa đáp án, người ra đề chỉ có thể chọn những văn bản “đơn nghĩa”, khống chế tối đa những cách diễn giải đa dạng có thể có. Điều này không những xa rời những phẩm chất quan trọng của văn chương, nó còn còn thể làm mai một mỹ cảm ở học trò. Điều này rất đáng tiếc khi, để nhắc lại một lần nữa, văn học là lĩnh vực nghệ thuật duy nhất còn được đưa vào chương trình trung học phổ thông.

3. Đưa nghị luận xã hội vào đề thi môn văn ở trường trung học phổ thông được nhiều người xem là một cải tiến đáng ghi nhận của việc đổi mới thi cử môn văn hiện nay, sau một thời kỳ dài đề thi chỉ độc tôn phần nghị luận văn học với các tác phẩm gói gọn chủ yếu trong chương trình lớp 12. Mục đích của các đề văn nghị luận xã hội, quan trọng nhất, là kích thích ý thức bày tỏ quan điểm, chính kiến – một khả năng ít được khuyến khích trong nhà trường từ nhiều năm, biết lập luận để tạo sức thuyết phục cho quan điểm của mình. Việc áp dụng các tiêu chí định lượng để đánh giá quan điểm cá nhân ở đây có lẽ sẽ dễ trở nên bất nhẫn.

Hình thức của đề nghị luận xã hội cũng có những đổi thay tích cực: từ những đề chủ yếu chờ đợi thí sinh minh họa cho một nhận định đến những đề đặt thí sinh đứng trước những vấn đề có nhiều cách đánh giá để từ đó đề nghị họ phải đưa ra quan điểm của riêng mình. Gần đây hơn, như một nỗ lực để phá vỡ định kiến về sự gián cách giữa môn văn trong nhà trường và thực tế đời sống, các đề thi bắt đầu hướng đến các vấn đề thời sự để yêu cầu thí sinh bình luận. Một quan điểm tương đối đơn giản về khả năng tương tác của môn văn như thế đã khiến đề thi văn trở thành hiện tượng xã hội, có độ “hot” và nhận được nhiều bình luận trên mạng không kém các tin giải trí. Người ra đề mạnh dạn đưa vào đề thi những nhân vật như Bà Tưng, Sơn Tùng MTP cho đến Ánh Viên, Nick Vulcijic, những hiện tượng từ an toàn giao thông, sử dụng facebook cho đến vụ vượt rào vào công viên nước Hồ Tây hay sự kiện giàn khoan HD 981. Tất nhiên, mọi vấn đề của đời sống đều có thể trở thành đề thi. Song nhìn vào cách những người ra đề đưa đáp án, và nhất là qua thực tiễn giảng dạy phần nghị luận xã hội ở nhà trường, có lẽ chúng ta đang hướng học sinh trở thành những người bình luận tin nhanh và thay vì định hướng học sinh đưa ra góc nhìn cá nhân của mình, chúng ta đang áp đặt một tư duy chiết trung vô tận trước các vấn đề của đời sống được đưa vào đề thi cùng với việc quy nạp mọi góc nhìn về một thái độ đạo đức. Điều đáng nói đó lại là một thứ đạo đức của số đông, đã định hình, đã sẵn có, đã được thiết chế hóa.

4. Đổi mới đề thi môn văn là một khâu trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay, mà mục tiêu của nó là đào tạo được những con người mới có nhân cách, có tri thức, có những kỹ năng đáp ứng được những đòi hỏi của cuộc sống không ngừng chuyển động, trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đổi mới đề thi môn văn chỉ thật sự hiệu quả khi phải xuất phát từ những đặc trưng của văn chương, từ những khả năng đóng góp của văn chương trong việc hình thành ở học trò những năng lực để hội nhập, thích ứng, chủ động trong bối cảnh thời đại mới. Nhưng quan trọng hơn, nó phải xuất phát từ những khả năng đóng góp của văn chương trong việc kiến tạo các giá trị nhân văn trong đời sống. Bởi các giá trị nhân văn ấy mới là điểm tựa cho sự phát triển hài hòa các mối quan hệ không chỉ giữa con người với con người mà còn giữa con người với thế giới.

Văn chương là lĩnh vực của những trải nghiệm cá nhân. Cho dẫu nhìn nhận ngữ văn như một môn học có những quy phạm trường ốc thì nội dung quan trọng nhất, đồng thời cũng là yếu tố lớn nhất làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của nó vẫn là nó cho phép người học được thể nghiệm những gì cá nhân nhất của mình: từ góc nhìn, từ những xúc động, khả năng tưởng tượng, khả năng biểu đạt. Nói một cách khác, qua bài văn, người viết thể hiện được văn hóa cá nhân của mình. Do đó, một đề bài lý tưởng nhất để tính cá nhân của người học được bộc lộ nên có độ mở và bởi thế, các tiêu chí định tính để đánh giá phải được chú trọng hơn các tiêu chí định lượng.

Một thí dụ nào có thể minh họa cho tính mở mà một đề văn có thể hướng đến? Năm 2006, kỳ thi đại học ở thành phố Thượng Hải chỉ có một câu như sau:

Hãy làm theo đề bài: “Tôi muốn nắm lấy bàn tay bạn”. Yêu cầu: 1- Bài làm trên 800 chữ; 2- Không được làm thành thơ; 3- Không được tiết lộ thông tin liên quan đến cá nhân.

Đề bài chỉ đơn giản đưa một mệnh đề, tùy thí sinh có thể diễn dịch theo nghĩa tường minh hoặc ý nghĩa biểu tượng của hành động “nắm tay bạn”. Ngoại trừ yêu cầu không được phép viết thành thơ, đề bài cho phép thí sinh sử dụng linh hoạt các phương thức biểu đạt miễn là men theo cách thí sính diễn dịch mệnh đề. Khi đọc hai bài văn được điểm cao nhất với đề bài này, có thể thấy người chấm hoàn toàn căn cứ theo sự thuyết phục của cách đặt vấn đề và khả năng diễn đạt của thí sinh chứ không phải theo những sườn ý có sẵn của đáp án. Điều thú vị là ở hai bài, cách hiểu và phát triển mệnh đề “Tôi muốn nắm lấy bàn tay bạn” đi theo hai hướng rất khác nhau. Bài làm thứ nhất, diễn giải hành động “nắm tay” là tượng trưng cho sự chia sẻ, ủng hộ, bênh vực còn “bạn” ở đây là những người “dám nói lên sự thật”, bất chấp điều này có thể khiến họ chịu nhiều sức ép, bị cô lập, thậm chí ảnh hưởng đến sinh mệnh như bác sĩ Chung Nam Sơn, người đầu tiên nêu ra bệnh Sars hay Cao Diệu Khiết, người Trung Hoa đầu tiên, công bố thông tin về bệnh AIDS ở đại lục và vấp phải sự đe dọa, cảnh cáo của nhiều quan chức địa phương. Ở bài làm thứ hai, theo tôi, độc đáo hơn, thí sinh coi “văn chương” chính là “người bạn”, “tôi muốn nắm lấy bàn tay bạn” là hành động thể hiện sự tri ân của cá nhân người viết đối với những giá trị mà văn chương đem đến trước hết cho riêng mình. Một đề bài như thế có thể giúp người chấm nhìn thấy được vốn sống, thế giới quan, khả năng tưởng tượng (điều mà ta gần như không còn thấy được trong các bài văn của học trò ở cấp trung học) và giọng điệu cá nhân. Một bài có sự sắc nét của lối văn nghị luận trong khi bài còn lại có thể xem như một bài tản văn nghệ thuật.[1]

5. Đề thi văn phải là nơi cá nhân được khuyến khích thể hiện mình. Có như thế môn ngữ văn trong nhà trường mới không mâu thuẫn với bản chất của văn chương. Giáo viên trung học cần phải là người định hướng, khích lệ học trò hình thành nên văn hóa cá nhân của riêng mình. Và về điều này, môn văn có nhiều ưu thế để giúp giáo viên tác động đến học trò.

Khi kỳ thi trung học phổ thông quốc gia sắp diễn ra, người ta chứng kiến một “cơn sốt” của độc giả Việt Nam trước đề thi tú tài của Pháp (chữ dùng của nhà báo Danh Đức)[2]. Đúng hơn, khi nhìn vào hình thức kiểm tra, đánh giá các môn khoa học xã hội và nhân văn của nước ngoài, ta mới thấy khoảng cách còn rất xa của giáo dục Việt Nam với mặt bằng thế giới. Trong khi triết học hầu như bị gạt khỏi chương trình phổ thông và thậm chí ở bậc đại học, cũng chỉ được giảng dạy phiến diện, hời hợt, thiết tưởng các giáo viên văn không nên chỉ ngồi đó thở dài, rằng “cái nước mình nó thế”. Hãy bắt đầu thay đổi từ các bài đọc hiểu. Hãy mạnh dạn đưa những bài luận, những trích đoạn kinh điển để học trò cũng tìm hiểu, diễn giải. Trong khi nhà trường có vẻ thụ động thì thực tế cho thấy xã hội nhạy cảm hơn trong việc tìm ra các giải pháp phát triển toàn diện cho trẻ em. Những cuốn sách triết học cho các bạn trẻ hiện đã được xuất bản như bộ Thú vui tư duy của NXB Tri thức, Những câu hỏi hóc búa về cái Tôi, về đức tin của NXB Kim Đồng… và nhận được sự quan tâm của một số phụ huynh. Nhưng thật tiếc, trong những dịp được làm việc với các đồng nghiệp của mình tại một số trường phổ thông ở Hà Nội, tôi nhận thấy hầu như những người bạn của mình không có thông tin gì về chúng. Hoặc có người gạt đi phũ phàng, những sách ấy làm gì phù hợp với trình độ của học sinh bây giờ. Sẽ thật buồn nếu như chúng ta làm công việc giảng dạy nhưng lại luôn định kiến đối tượng của chúng ta là đối tượng không thể cải tạo, không thể dung nạp bất cứ cái gì phức tạp và không thực dụng. Khi đó, những cái nhìn bất nhẫn về nghề nghiệp của chúng ta sẽ không còn là cái gì quá bất công nữa.

Trần Ngọc Hiếu

[1] Xin xem Những bài văn đạt điểm tối đa của thí sinh thi đại học Trung Quốc (2006-2012), Ngọc Ánh biên dịch, NXB Văn học 2014, trang 18-27.

[2] Danh Đức, “Từ cơn sốt đề thi tú tài Pháp”, báo Tuổi trẻ 23/6/2015, http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/thoi-su-suy-nghi/20150623/tu-con-sot-de-thi-tu-tai-phap/765420.html

Posted in Dạy học | Tagged , , , , | 3 phản hồi

Đọc “Nhật ký chuyên văn” (Nhiều tác giả Văn Ams 92-95)

1. Tôi muốn bắt đầu từ những trang cuối cùng của cuốn sách, bằng những dòng mà Nguyên – một trong “ba con chim quý” của lớp 12 Văn khóa 92-95 – viết về ông thầy của mình. Nguyên, như những dòng tự bạch, là cậu bé sớm không vừa khuôn với thực tại, không chấp nhận mọi sự chật chội, bưng bít, hay nói như lời của chính ông thầy, “sớm có mầm nổi loạn”.  Không quá lời khi nói rằng cậu bé 15 tuổi ấy đã may mắn khi gặp được một người thầy như thầy Hùng, một người thấy đủ nhạy cảm để sớm nhận ra sự khác biệt của cậu học trò, nhìn thấy những mầm mống nổi loạn ấy không phải như những nhân tố tiêu cực để trấn áp, ngăn ngừa mà trái lại, như những dấu hiệu của tương lai. Một cậu bé như thế, hoặc sẽ rất dễ khủng hoảng tâm lý, dễ bị tổn thương, hoặc ở cực khác, sẽ trở nên vĩ cuồng, ảo tưởng nếu như không có một người đủ tin cậy để chia sẻ, một người có thể điềm tĩnh lắng nghe và cố gắng để hiểu, để cảm thông và khích lệ. Người thầy ở đây đã trở thành một người bạn xuất hiện đúng lúc.

Không hiểu sao, trong trường hợp này, không chỉ cậu học trò thấy may mắn, mà chính cả người thầy có lẽ cũng là người may mắn. Một thời gian tuy chưa thật dài gắn bó với phổ thông, làm công việc dạy văn, tôi cảm thấy một trong những điều thú vị nhất là môn học này giúp tôi nhận ra được những cá tính đặc biệt của học trò. Phải, cái môn học tưởng như đang bị thất thế ở thời điểm mà các giá trị thực dụng trong xã hội áp đảo, nơi hình mẫu của những người thành đạt mới là cái hấp dẫn cả phụ huynh lẫn học sinh thì chính qua môn văn, chính qua những trang sách văn chương, ta mới có thể nhận diện được tâm hồn của những người trẻ tuổi, những cậu bé, cô bé đã không khước từ nổi hồ nghi, băn khoăn, ngờ vực trước những gì đã và đang hiện diện như một đặc trưng tâm lý lứa tuổi. Chỉ ở những bài làm văn, người giáo viên mới phát hiện ra được những người học trò “cá biệt” bởi sớm nhìn ra những khoảng không gian khác bên ngoài những trang sách, những bức tường của gia đình, của trường lớp mà nhiều người cho rằng chúng thực hiện chức năng bảo vệ thay vì che chắn nhận thức cho học trò. Những đứa học trò cá biệt ấy vừa là niềm hạnh phúc của người dạy văn, vì các em luôn có khả năng đưa đến những bất ngờ trong nhận thức, vì các em nhạy cảm hơn, sớm già dặn hơn và do đó có thể chia sẻ phần nào đó thế giới tinh thần của người thầy bên ngoài giờ học, vừa là nỗi lo lắng khi các kỳ thi, với tính chất trường quy, với áp lực của bệnh thành tích, luôn dễ trở thành “nạn nhân” của nền giáo dục đáng kết án này. Không dễ để làm bạn với những học trò như thế, nhưng làm bạn được với họ – cuộc đời của người giáo viên sẽ có nhiều câu chuyện để nhớ lại, để suy nghĩ hơn là những chuỗi công việc lặp lại dễ nhàm của nghề dạy học.

Người dạy văn, may mắn hơn giáo viên những bộ môn khác, là dễ nhìn thấy được tâm hồn của học trò. Nhưng cái khó cũng là ở chỗ đó: bảo vệ, nuôi dưỡng thế giới tâm hồn đó không hề đơn giản. Bởi lẽ đó, trong nhiều câu chuyện về giáo dục, tôi vẫn hay bắt gặp những ký ức buồn của những người học trò về những ông thầy văn đã vô tình hay hữu ý làm tổn thương thế giới tâm hồn của họ. Tôi không biết nói gì với những người đã kết án nền giáo dục nặng nề nhất thông qua hình ảnh của người dạy văn: những người bắt học sinh chép văn mẫu, những người ghi những lời phê vô cảm trông những bài kiểm tra, những người dễ dàng có khả năng nói năng nghiệt ngã với học trò… Tất cả những điều đó là có thật, tôi không bao giờ dám chắc mình chưa từng làm học trò nào thất vọng, tổn thương. Kể cả chưa từng thì tôi cũng không tự tin là mình sẽ không bao giờ phạm vào điều ấy.

2. Nguyên viết về thầy Hùng: “1995, thầy vẫn trong chốn vô minh cùng xã hội. Thầy chỉ có một lỗ nhìn ra ngoài. Như cái lỗ mình đục trên tường nhà. Cái tủ sách văn. Mục trường của cái lỗ ấy nhỏ đến mức không nhìn thấy cái gì rõ nét.  Chỉ là một niềm tin mơ hồ: ngoài kia còn gì đấy nữa. Thầy biết thế, nên thầy biết mình. Và biết coi học trò là bạn…”

Đó là những dòng làm tôi xúc động nhất, thực sự là tôi đã khóc khi đọc những dòng ấy. Khác với nhiều đồng nghiệp thường tự hào về nghề dạy học, từ rất lâu, tôi đã luôn nghĩ cuộc đời của người thầy, về cơ bản, là nhàm chán hơn nhiều so với cuộc đời của những học trò. Chúng tôi sẽ không thể đi xa, đi nhiều hơn những gì mà các em có thể đi. Kiến thức trường học, nhất là thứ văn chương sách giáo khoa này, còn có ích gì cho các em khi vào đời. Người thầy, cùng lắm, nhưng cũng là điều có ý nghĩa hơn hết thảy, chỉ nói được với các em rằng: còn có gì khác nữa, ở ngoài kia, bên kia những gì đang che chắn, bên kia những gì đang bao bọc và trao cho ta một cảm giác an toàn nhưng đồng thời làm chúng ta chỉ biết chịu đựng và cam phận.

Trong ký ức về ông thầy, Nguyên nhớ đến những cuốn sách của Kafka, của Camus, nhớ đến những lời thầy giảng về Bakhtin khi cậu mới 16 tuổi. Kafka, Camus, Bakhtin…không có trong sách giáo khoa, đương nhiên sẽ chẳng bao giờ có trong nội dung thi cử. Những cuốn sách ấy gợi cho ông thầy một cái gì đó thật khác và đồng thời nó đánh thức trong cậu học trò nhạy cảm niềm tò mò và cả niềm tham vọng muốn nhìn thật rõ cái khác đó là gì. Phải, dạy học, nhất là dạy văn, chẳng đem được đến cái gì thực dụng đâu. Nhưng trách nhiệm lớn nhất của dạy văn là gợi ra được ý niệm về cái gì đó khác ở học trò. Người thầy không phải là người hiện hữu trước mắt học trò với những trang phục xa hoa, với những câu chuyện về hạnh phúc gia đình mình như một niềm hãnh diện, hay những câu chuyện đùa vui làm quà. Người thầy chỉ có thể đem đến ý niệm về cái gì đó khác. Tôi lại nhớ đến buổi học cuối cùng kỳ vừa rồi với các em sinh viên K63, cái lớp mà có thể tôi chỉ dạy một kỳ duy nhất, rằng những gì tôi giảng có thể sai, có thể hời hợt, nhưng những cuốn sách tôi đã có lần nói với các bạn, những tác phẩm của Cervantes, Tolstoy, Dostoevski, Kafka, Szymborska… các bạn hãy dành thời gian mà đọc. Để 4 năm sinh viên đi qua, mình còn có vài cuốn sách quý đồng hành. Đừng nhớ nhiều đến những gì thầy cô giảng… Có lẽ nhiều em sẽ chỉ nghĩ tôi hay nói cực đoan và khó hiểu. Nhưng nếu như tôi đã làm được một chút gì trên con đường học hành thì cũng là vì những người thầy dạy tôi đã là những người nói với tôi về những cuốn sách mở ra những khoảng trời khác. Tôi nhớ đến thầy mình qua những cuốn sách ấy.

Nguyên khi nhớ về thầy Hùng, nghĩ về cuốn sổ mà ông thầy trao cho đám học trò từ ngày đầu vào lớp 10 để làm nhật ký, đã thấy: cuốn sổ ấy, hơn cả một cuốn nhật ký, nó là thế giới của tự do. Với tôi, đây là thông điệp có ý nghĩa nhất khi đọc cuốn nhật ký này từ góc độ của một người giáo viên. Hãy trao cho học trò tự do, hãy gợi cho học trò biết rằng ngoài trời còn có trời. Chúng ta đi làm nghề dạy học vì đa phần yêu sự ổn định, thích sự an phận, nhưng chúng ta không thể dùng sự ổn định, an phận ấy như một thứ đạo đức để kìm hãm học trò được. Đừng nghĩ tự do là cái gì trừu tượng: tự do có thể bắt đầu bắt cách chúng ta hãy để các em được hồn nhiên, vô tư, được nghịch ngợm, được bất mãn, được nhận thức ngay cả những gì phi lý. Đừng biến lớp học thành không gian đóng. Những bài hát, những bài thơ chế…trong cuốn sách này cho thấy năng lực biết cười, biết khôi hài của những con người tuổi trẻ. Biết cười, biết khôi hài…cũng là năng lực của những con người tự do.

3. Tôi học sau của những nhân vật trong cuốn nhật ký này hai khóa. Ở mức độ nào đó, cuốn nhật ký nào cũng là những hồi ức của tôi 20 năm trước.  Cách đây 20 năm, khi không khí xã hội đã cởi mở hơn một phần nào đó, khi ý niệm về thế giới khác bên ngoài đến với chúng tôi chủ yếu qua những bài hát, những cuốn sách dịch, xã hội khi ấy đang sống lại một bầu không khí hơi giống những năm đầu thế kỷ: bọn trẻ con được quyền mơ mộng hơn, được phép vu vơ, lãng mạn, được tỏ ra cá tính… Nói không quá, thời ấy, ở nhưng trường chuyên, lớp chuyên văn thường là bộ mặt tinh thần của nó. Hai mươi năm sau, những nhân vật trong sách đã bước sang một giai đoạn khác trong đường đời. Tôi không rõ họ đã và đang làm gì, có địa vị nào trong xã hội. Nhưng việc cái tập thể lớp đó thống nhất công khai cuốn nhật ký này thành sách, với tôi, có cái gì đó vừa can đảm vừa mơ mộng. Nó làm tôi rưng rưng khi nhớ đến một chi tiết mà tôi không biết, thầy tôi – thầy Vũ Xuân Túc còn nhớ hay không?

Năm lớp 10, buổi đầu tiên khi thầy gặp mặt cả lớp, chúng tôi phải làm một bản điều tra cá nhân. Trong số các câu hỏi của thầy, có một câu hãy nên tên một tác phẩm của một nhà văn Việt Nam mà mình yêu thích nhất. Khi ấy, tôi có ghi tác phẩm mà tôi thích nhất là “Hoàng hôn màu cỏ úa” của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ. Tôi, khi ấy, một đứa trẻ khó ưa, đanh đá và thích chơi trội, tôi đã muốn ghi một tác phẩm mà trong lòng thầm đoán chả đứa nào trong lớp biết. Nhưng thực tình, đó cũng là tác phẩm ấn tượng với tôi nhất vào thời điểm đó. Câu chuyện ấy Nguyễn Thị Thu Huệ viết về buổi chiều chia tay cấp 3 trên bãi sông Hồng của đám học trò. Vào một khoảnh khắc bất ngờ, hoàng hôn ngả sang màu cỏ úa, cậu lớp trưởng khi ấy nói một điều gì đó với cả lớp. Rất dài, giờ tôi không nhớ chính xác, nhưng có đại ý lớp mình sau này, cuộc đời có thế nào, thì chúng ta cũng phải sống với nhau tử tế. Rồi hẹn nhau, cứ ngày này, hàng năm, lại gặp mặt. Cái lớp cấp ba ấy rồi tan tác, rồi chả mấy ai còn nhớ lời hẹn lúc hoàng hôn năm ấy. Số phận mỗi người cũng khác: có người tù tội, đứa hay khóc nhất lớp thì trở thành tú bà, có người thì số phận dường như chỉ là chuỗi dài của thất bại. Nhân vật người kể chuyện khi ấy nhận ra hình như vì tất cả chúng ta đều bị đời sống cuốn đi, chúng ta đã không nhớ gì đến khoảnh khắc trong sáng đẹp đẽ cao cả nhất của tuổi học trò. Chúng ta đã không nhớ gì hết. Và vì thế, chúng ta đã không nhìn vào nhau, không nhìn thấy nhau để thấy phải sống tự trọng, phải sống tử tế với nhau và với đời…

Tôi khi ấy ghi truyện ấy vào trong phiếu điều tra chỉ vì thời đó, tôi còn đang thích viết truyện đăng trên các báo tuổi mới lớn. Sau này, khi học hành văn vẻ ở cấp đại học, đọc lại thì thấy truyện cũng thường thôi về kỹ thuật, về văn chương. Nhưng nỗi xúc động của câu chuyện thì thỉnh thoảng vẫn trở lại. Tôi ít khi tụ tập với bạn bè thời đi học. Tôi cũng ít bày tỏ tình cảm trực tiếp với những người thầy của mình. Vì nhiều lý do. Có thể rất dở hơi. Thậm chí, tôi luôn tránh những màn ôn lại kỷ niệm tập thể. Nhưng một cách thật lòng, những lúc tôi cảm thấy cuộc sống chỉ đáng để căm ghét, xung quanh chỉ toàn là sự giả dối, người ta rất dễ trở nên hèn hạ, v.v…, tôi đã thường nén lại cảm xúc tiêu cực ấy khi bỗng nhiên tôi đã nhớ đến những người bạn của mình, những người bạn đôi khi gọi giật tên tôi trên phố, nhớ đến những đứa bạn gái cấp ba thi thoảng vẫn có thể tao-mày, tôi đã nhớ đến cái thời mà sự mơ mộng của mình không phải là tội lỗi… Những điều đẹp đẽ nho nhỏ ấy đã làm tôi dịu lại trong khoảnh khắc, để bình tâm hơn. Tôi đã nhớ đến lời nhận xét mà cũng là lời động viên của thầy tôi trên bài kiểm tra văn cuối cùng, rằng tôi phải giữ cái giọng riêng của mình trên đời viết còn dài của mình. Đó là lời động viên có sức nặng nhất đối với tôi. Nói lời cảm ơn với thầy, với các bạn sẽ là cái gì đó rất hình thức ở đây. Chỉ biết là ở thời điểm này, muốn nói với thầy, với các bạn: em vẫn ổn, vẫn cố gắng sống tử tế. Dù không đơn giản, thật không đơn giản…

Posted in Dạy học, Góc của mình | Tagged , , , , , | 3 phản hồi

Ý NIỆM VỀ CÁI NHẸ TRONG BỘ PHIM HONOR DE CAVALLERIA CỦA ALBERT SERRA

Bài viết dưới thực chất là bài tập của bạn Đặng Hương Giang, sinh viên năm thứ hai, K63 Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội thực hiện trong khuôn khổ học phần Lý luận văn học. Nhưng tôi nghĩ bài viết đã thoát khỏi tính chất của một bài tập trường quy. Nó thể hiện một nỗ lực theo đuổi một suy tưởng, một cảm thức mà nói như Giang, việc suy tưởng về nó có ý nghĩa trước hết với cá nhân em.

Một suy nghĩ đẹp thì nên được chia sẻ. Tôi nghĩ thế và xin phép Giang giới thiệu bài viết này. Và bộ phim Giang tìm hiểu cũng là một tác phẩm điện ảnh lạ, rất đáng xem.

 

Honor

 

 

Albert Serra có trong tay một nghìn trang tiểu thuyết viết về cuộc phiêu lưu của hiệp sĩ Don Quixote và giám mã Sancho Panza, một dàn diễn viên không chuyên, một ekip sẵn sàng cho những cuộc thử nghiệm điện ảnh không hoàn hảo, và Honor de Cavalleria ra đời như minh chứng cho đích đến của cuộc chơi phóng túng, đầy khinh khoái, một cú nổ tung của niềm thỏa mãn cảm xúc bằng những khuôn hình không thể tối giản hơn. Milan Kundera từng đặt ra niềm băn khoăn, chúng ta đã tìm đến ý nghĩa cuốn tiểu thuyết vĩ đại của Cervantes bằng một câu trả lời hay là sự khẳng định đạo lý1? Với bộ phim chuyển thể đầu tay, Albert Serra đã tìm thấy, đích xác là, câu trả lời cho những ý niệm tưởng rõ ràng mà mơ hồ Cervantes đưa ra, về ngôi làng không tên ở xứ Mancha, có một chàng hiệp sĩ hiên ngang chinh phục những điều viển vông, một bác giám mã cưỡi lừa cả tin vào phần thưởng không có thực, cùng muôn vàn các nhân vật ngơ ngác khác, với những xung đột buồn cười, những bài học đắt giá. Chúng ta hẳn sẽ bỡ ngỡ khi phải bước vào câu trả lời của Albert Serra, vì không thể tìm thấy một ngôi làng nào, chẳng có trận đánh nào, thiếu luôn cả cối xay gió, cả sự ăn năn mà Don Quixote rốt cuộc trước khi chết cũng nhận ra. Tất cả các không gian trong nhà, những rào cản của một ngôi làng đã biến mất, Don Quixote và Sancho Panza của Albert Serra đi cùng nhau trên những cánh đồng mênh mang, dưới những cơn gió hào sảng, những tia nắng huyền diệu, và tiếng dế kêu rả rích của trời hè thoáng đãng; cùng trò chuyện về Chúa Trời và đức tin, về nỗi tuyệt vọng, về những ước nguyện gia cố cho thân thể đương tàn mà tinh thần hiệp sĩ thì ngày thêm mạnh mẽ. Sức nặng của không gian, của bộ áo giáp, hay ý niệm về thân thể và sự tồn tại đã bị trượt nghĩa để hướng đến niềm xác tín phi trọng lượng. Điều duy nhất còn lại là tinh thần hiệp sĩ, hiện hữu nhưng không hiện hình, nhẹ nhõm mà chi phối toàn thể hành động. Albert Serra tìm đến câu trả lời cho ý nghĩa của di sản mà Cervantes để lại, bằng ý niệm vững chãi về cái nhẹ hiện diện như một phương thức giải trừ trọng lượng, nhưng đồng thời chứa đựng nhiều ẩn dụ của những dự phóng suy tư. Liệu rằng câu trả lời của Serra qua 108 phút chuyển thể điện ảnh này có mang đến cho chúng ta chân dung tinh thần trọn vẹn của Don Quixote và Sancho Panza, của Cervantes? Albert Serra còn tiến xa hơn thế, bởi lẽ rằng, như đạo diễn đã nói: “Tôi không kể lại một câu chuyện phiên lưu, tôi chỉ đang phiêu lưu theo một câu chuyện kể”.

I/ Thế nào là nhẹ?

Chúng ta hẳn sẽ vẫn còn nhớ đến Cosimo, chàng nam tước xứ BóngRâm đã sống một cuộc đời không chạm chân xuống đất kể từ khi mười hai tuổi. Tôi sẽ bắt đầu tiểu luận này bằng một hình ảnh, với niềm tin tưởng nó sẽ gieo lấy hình dung tốt hơn cả cho ý niệm về cái nhẹ tồn tại như một đặc tính và phẩm chất cần có của nghệ thuật và của đời sống.

Cosimo, kẻ đang hấp hối, ngay tại cái khoảnh khắc sợi dây mỏ neo tạt ngang gần mình, liền bật ra một trong những cú phóng thông lệ của thời trai trẻ, chộp lấy sợi dây, chân trụ trên cái mỏ neo, thân bẻ gập, chúng tôi nhìn thấy anh bay đi như thế, theo chiều gió, tuyến bay của quả cầu hơi chậm lại một chút, rồi khuất về phía biển…

Quả khí cầu, băng qua vịnh, đáp xuống được lên bờ bên kia. Trên sợi dây thừng chỉ còn cái mỏ neo. Các nhà lái khí cầu, mệt đứt hơi để tìm cách giữ vững lối đáp, không biết gì cả. Người ta giả định rằng cái ông lão hấp hối ấy có lẽ đã biến mất trong lúc đang bay trên vịnh. [2;360-361]

Cú phóng thông lệ của thời trai trẻ, một lần nữa đánh dấu sự ra đi của Cosimo, kết thúc cuộc đời trên cây như một lời thề nguyền sẽ nhìn mặt đất bằng khoảng cách chàng tạo ra. Trong cơn hấp hối, mọi sinh lực đã dồn nén lại để thể hiện cú nhảy theo chiều gió cuối cùng, hoàn thành ước muốn được nhấc mình ra khỏi sự nặng nề của khế ước xã hội. Những cuộc tình ái, những mối suy tư và các quan hệ đời sống không tài nào kéo chàng ra khỏi sự quyến rũ mê hoặc của những tán cây chằng chịt như mạng nhện. Như thể rằng, cú phóng lên mấu cây sồi xanh sau món ốc sên đầy tử khí chàng không chịu nổi là phép ứng xử huyền thoại của thế kỉ XVIII, được tái hiện dưới ngòi bút nhẹ nhõm của nhà văn Ý thế kỉ XX Italo Calvino.

1/ Cái nhẹ như là sự giải trừ trọng lượng

Bài giảng đầu tiên trong Những bài giảng Mỹ – sáu điểm ghi nhớ cho thiên kỷ tới đã được Italo Calvino ưu ái dành cho việc thể hiện những quan điểm về cái nhẹ, như một triển vọng dành cho văn chương của thiên kỷ mới, thông qua việc khẳng định tính nhẹ không phải là một khiếm khuyết mà là một giá trị. Trong bốn mươi năm cầm bút, Italo Calvino chưa từng rời bỏ tuyên ngôn “sự hiện diện của tôi đồng nghĩa với một sự giảm bớt trọng lượng, tôi đã cố sức bỏ đi gánh nặng khỏi những khuôn mặt người, hoặc khỏi những thiên thể, hoặc khỏi các thành phố, nhất là tôi đã cố công nhấc bỏ trọng lượng khỏi cấu trúc truyện và ngôn ngữ”. Sự nhấc bỏ trọng lượng ấy có ý nghĩa gì? Tại sao chúng ta lại cần đến tính nhẹ như một phương ngôn, đồng thời là lối giải thoát tốt nhất? Italo Calvino kiếm tìm những biểu hiện của tính nhẹ trong văn học cổ kim, và say sưa khám phá giá trị của chúng. Đó là lối nhẹ nhõm giàu chất suy tư, khác hẳn với sự nhẹ nhõm phù phiếm. Trong khi các nhà văn muốn tái hiện thời kỳ mình đang sống bằng những chất liệu tích lũy được, nghĩa là tất thảy cái nặng nề và trơ ì mà sự kiện mang lại, đều gặp cản trở khi xử lí hình ảnh và ngôn ngữ, Italo Calvino nhận ra thế giới này là một tảng đá. Thật vô ích nếu chúng ta dùng trọng lượng để đọ cuộc với trọng lượng. Chính vì vậy, để tránh đi những va chạm có nguy cơ gây thương tích, hay tránh việc bị hóa đá trước sự lạnh lẽo và nặng nề của tảng đá khổng lồ, không còn cách nào khác, chúng ta phải khiến cơ thể và suy tư của mình bay lên, đạt tới ngưỡng phi trọng lượng.

Ý niệm về phạm trù nặng – nhẹ hình thành từ đâu? Minh họa sau đây sẽ giúp chúng ta nhận ra câu trả lời:

Honor 2Honor 3

Ý thức về trọng lượng của vật và lực hấp dẫn của Trái Đất đã đưa chúng ta đến cách nhìn giản đơn nhất về sức nặng – nhẹ. Trọng lực là thứ vô hình nhưng có khả năng tạo nên hình dung cụ thể về trọng lượng, khiến cho vạn vật được níu giữ trên mặt đất và tương tác với các chiều kích không – thời gian. Về điều này, nghệ thuật nhạy cảm hơn trong việc phát hiện ảo giác về lực hấp dẫn, trước khi Einstein đưa ra ý niệm mới về “gravity” theo thuyết tương đối rộng. Thực tế cho thấy, “các nghệ sĩ nhào lộn là nhóm người chuyên biệt nhất thường xuyên cưỡng lại các định luật của lực hấp dẫn”[5;425].

Honor 4

Edgar Degas, La La ở rạp xiếc Fernado, Paris (1867)

Honor 5

Georges Seurat, Rạp xiếc (1891)        

Honor 6

Pablo Picasso, Chú bé nhào lộn trên quả bóng (1905)

Bằng cách chơi đùa với trọng lực, những nghệ sĩ xiếc dường như đánh mất khái niệm về trọng lượng. Ngay khi điều này xảy ra, phạm trù nặng – nhẹ dường như không còn tồn tại. Tôi cho rằng, để đạt tới ngưỡng nhẹ, chúng ta buộc phải ý thức triệt để về tính nặng, mặt khác, để hướng tới trạng thái thăng hoa đầy khinh khoái, chúng ta phải tạm quên đi trọng lực đang níu giữ trọng lượng của mình. Ba bức tranh về chủ đề nhào lộn thể hiện cảm giác chênh vênh về sự níu giữ của trọng lực. Những nghệ sĩ khéo léo thể hiện sức mạnh của thân thể, ở đây ý niệm về trọng lượng cơ thể đã hoàn toàn bị xóa bỏ, nhằm thể hiện sự linh hoạt và khả năng bay bổng. Miễn là không bị ngã nhào, sức nặng của cơ thể hoàn toàn có thể chơi đùa và giễu nhại quyền năng của trọng lực. Chính tại thời điểm này, chúng ta nhận thấy rõ ràng sự khoái lạc mà cảm giác khinh khoái mang lại.

Nhưng tôi luôn nghĩ rằng, giải trừ sức nặng của trọng lượng thông qua nỗ lực tạo ra thế giới phản hấp dẫn vẫn chưa thể khai thác hết giá trị của cái nhẹ. Lực hấp dẫn của những sự kiện đời sống tác động lên tâm trí con người, chứ không phải trọng lượng của họ, đã minh chứng suy tư mới là một tảng đá nặng nề, và sức đè nén của nó thì biến chuyển huyền bí như ma thuật.

2/ Cái nhẹ như là một tiết lộ về ý niệm mới của sức nặng

Giá trị của cái nhẹ không đơn thuần dừng lại ở việc ý thức về trọng lượng để giải trừ nó, nghĩa là tìm mọi cách vượt lên trên trọng lực nhằm tìm kiếm một không gian khác. Tôi muốn đi đến việc khẳng định giá trị này được tạo tác dựa trên việc xuyên qua những khối đá khổng lồ, nỗ lực chống lại sự hóa đá mà đôi mắt của Medusa gây ra. Điều đó có nghĩa, cái nhẹ không tồn tại như lớp bọt nổi được vớt vát từ những thứ mang sức nặng, mà nó đảm nhiệm vai trò đối cực và hoàn toàn có khả năng kháng cự. Về tính chất này, tôi cho rằng sức nặng không còn mang ý nghĩa đè nén và trấn áp của trọng lượng. Ngay cả sức nặng cũng cần phi trọng lượng thì cái nhẹ mới đạt tới ngưỡng toàn trị quyền năng.

Tôi sẽ tiếp tục dẫn ra hai ví dụ minh họa của Leonard Shlain để dễ dàng hơn trong việc nhìn nhận luận điểm này.

Honor 7

René Magritte, Lâu đài ở dãy Pyrénées (1959)

Honor 8

Salvador Dali, Biểu tượng bất khả tri (1932)

 Bức tranh của René Magritte là sự kết hợp cùng lúc sức nặng của tảng đá và lâu đài, song chúng nhẹ nhàng lửng lơ. Khi chúng ta tưởng như thế giới này không còn gì nặng nề bằng khối đá và tòa lâu đài ấy, chúng dường như hóa thành một đám mây phiêu bồng. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây không phải là việc đánh đổ sự tồn tại lực hấp dẫn của Magritte. Chúng ta hãy nhìn bức tranh ấy, trong sự hài hòa của hình khối và màu sắc, khối trọng lượng khổng lồ ấy chẳng phải đang được bao bọc và nâng đỡ bởi sự vi tế và nhẹ bẫng của những luồng không khí và ánh sáng hay sao? Biểu tượng bất khả tri của Dali là một hình dung khác về sức mạnh của ánh sáng.

Dali đã thể hiện chính xác đến kì lạ hình ảnh một chùm sáng sẽ như thế nào khi đi qua không gian bị uốn cong ở gần một đối tượng có khối lượng lớn. Trong tác phẩm này, một chiếc thìa bạc bị kéo dài ra đến hết mức, trông không khác gì một luồng ánh sáng, đi vào tranh từ góc trên bên phải. Chiếc thìa, với tư cách là một chùm ánh sáng, sau đó vượt qua khoảng không gian tối và kín như bưng chỉ chứa một vật nhỏ có khố lượng với hình thù không rõ ràng; chiếc cán thìa mỏng mảnh uốn vòng quanh vật rồi lại duỗi thẳng ra. Miệng thìa nhỏ chứa một chiếc đồng hồ bé xíu được vẽ như thật, có kim dừng lại vĩnh viễn vào lúc 6 giờ 4 phút. Chỉ với một bức họa siêu thực như thế, Dali đã diễn tả cùng một lúc tất cả các ý niệm về ánh sáng bị lệch hướng, không gian bị uốn cong và thời gian bị dừng lại. Trong toàn bộ nghệ thuật, thật khó mà tìm thất một tác phẩm nào khác có thể miêu tả sáng tạo hơn về tác động của khối lượng lên không – thời gian ở gần nó, như là bức Biểu tượng bất khả tri.[5;438]

Chỉ vài dòng ngắn ngủi phân tích bức họa, vật lí đã giúp L.Shlain nhìn nhận rõ nét bản chất của luồng ánh sáng bị bẻ cong khi tiếp xúc với một vật, nhưng đồng thời, trực cảm nghệ thuật của Dali buộc Shlain dành sự ngưỡng mộ cho danh họa Siêu thực này. Và chúng ta nhận ra, những thứ tưởng chừng phi trọng lượng như ánh sáng, lại ẩn chứa trong nó sức mạnh đối kháng với vật có trọng lượng, tuy không thể xuyên thấu nhưng bằng mọi cách lách qua và tiếp tục lộ trình của mình.

Cái nhẹ tự thân đã mang một sức mạnh, trong sự tương tác với sức nặng. Song, tôi muốn hướng đến một sức mạnh lớn lao hơn, đó là khả năng cấu thành sức nặng của nó. Vật lý lượng tử sẽ giúp chúng ta giải đáp khả năng này của cái nhẹ, cụ thể hơn là ở chương Các hạt cơ bản và các lực trong tự nhiên trong cuốn sách nổi tiếng của Stephen Hawking, Lược sử thời gian. Hawking bắt đầu diễn giải bằng việc đưa ra quan điểm của Aristotle, toàn bộ vật chất trong vũ trụ này được tạo thành từ bốn yếu tố cơ bản: đất, không khí, nước và lửa. Đến thế kỉ XIX, vật lý hiện đại đã phá vỡ niềm xác tín rằng nguyên tử là thứ không thể phân chia và cho ra đời sự tồn tại của hạt cơ bản, nhưng chưa thỏa mãn, các nhà khoa học hứa hẹn sẽ phát minh những loại hạt nhỏ hơn cấu thành nên vật chất. Italo Calvino trong bài giảng về cái nhẹ cũng đã đưa ra những ví dụ thuyết phục, rằng thế giới được đặt trên những thực thể tế vi, chúng có vai trò kiến tạo nên những thực thể mang trọng lượng lớn, như thông tin DNA, như các loại hạt quark, như dòng bit thông tin.

Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai, khác với lần đầu tiên, không cung cấp hình ảnh đè bẹp của những máy cán hay những dòng thép nguội, mà hiện ra như là những bit của một dòng thác thông tin chạy qua những dòng mạch dưới hình thức những xung điện. Máy móc bằng kim loại vẫn tồn tại, nhưng chúng tuân theo lệnh những bit không thể đo đếm3.

Nguồn gốc sự sống của chúng ta được thực thi theo mệnh lệnh của các vì sao. Các ngôi sao là tổ tiên nguyên thủy của tất cả mọi dạng thức sống. Các ngôi sao chết đi, tro bụi của chúng bắn tung vào vũ trụ tối tăm và trở thành hạt giống tạo nên tôi và anh. [5;446]

Quay lại với ý niệm về cái nhẹ trong sáng tác nghệ thuật, chính xác là cách thức phản ánh thế giới thực, tôi tin rằng Milan Kundera đã có thể khái quát nó bằng nhận định sau: “Với Proust, vũ trụ bên trong của con người là huyền diệu, là một cõi vô tận không ngừng khiến ta kinh ngạc. Nhưng đấy chẳng phải là điều ngạc nhiên của Kafka. Ông không tự hỏi đâu là những động cơ bên trong quyết định ứng xử của con người. Ông đặt một câu hỏi khác về căn bản: đâu là những khả năng còn lại của con người trong một thế giới mà những quyết định từ bên ngoài trở thành nặng trĩu đến nỗi những động cơ bên trong chẳng còn chút trọng lượng nào nữa?”2 Khả năng còn lại ấy là con đường dẫn dắt chúng ta tìm hiểu ý niệm về cái nhẹ trong nghệ thuật, qua những đúc kết hình tượng và ngôn ngữ trong các tác phẩm, để minh chứng đấy là một sức mạnh không thể lường trước, và dường như, chúng đang hé lộ một sức nặng khác mà ta chẳng tài nào hình dung nổi.

Một tiểu thuyết gia có thể tái hiện được, một cách khó khăn, tư tưởng của anh ta về cái nhẹ, minh họa nó bằng những ví dụ rút ra từ cuộc sống đương đại, mà không đặt nó ra thành một đối tượng không thể nắm bắt của một cuộc truy tầm bất tận. Milan Kundera đã làm điều đó một cách sáng sủa và trực tiếp. Tiểu thuyết Đời nhẹ khôn kham của ông, trên thực tế, là một nhận định cay đắng về tính nặng không thể tránh khỏi của đời sống, tác giả không chỉ lên tiếng về sự áp bức và tuyệt vọng tràn ngập thuộc về số phận đất nước bất hạnh của ông, mà đúng hơn là về một thân phận con người, cũng chính là thân phận của chúng ta, mặc cho chúng ta có một số phận đáng thèm muốn hơn rất nhiều. Trọng lượng của đời sống, với Kundera, hiển lộ trong tất cả các hình thức của bó buộc: cả công cộng lẫn riêng tư, những bó buộc cuối cùng tóm được mọi tồn tại trong những cái mắt lưới ngày càng ken sát hơn của một mạng lưới dày đặc. Cuốn tiểu thuyết cho chúng ta thấy, bằng cách nào, trong cuộc sống, tất cả những gì chúng ta lựa chọn và thích thú vì tính nhẹ của chúng đều nhanh chóng tiết lộ hóa ra chúng lại mang một sức nặng không thể chịu đựng.4

Trở lại với ví dụ về chàng Cosimo và cú phóng cuối cùng của cuộc đời mà tôi đã đưa ra, có thể nói nỗ lực này minh chứng cho khả năng còn lại đã tiết lộ sự thật về một cú nhảy, tưởng chừng nhẹ nhõm nhưng là kết quả của toàn bộ năng lượng còn lại, nhằm hướng đến hóa giải sức nén mà suốt đời mình, Cosimo treo thân thể lơ lửng trên những trụ đỡ mỏng manh của các cành cây.

Tôi sẽ kết thúc luận điểm này bằng việc đưa ra một tứ thơ của Kyorai, mà tôi cho rằng đã thể hiện được sức nặng hữu hình cũng như vô hình đè nén chúng ta:

Ôi, giá lạnh!

Tôi chẳng thể ngẩng đầu

Ngắm nhìn vầng trăng khuyết.

Luôn luôn tồn tại một khoảng cách bất di bất dịch giữa thế giới đau thương – ta – khát vọng hóa giải, cũng như việc luôn phải đối mặt với mâu thuẫn giữa sức nặng tưởng chừng không thể chịu đựng với ý niệm về cái nhẹ như một phương thức kháng cự. Tuy nhiên, nói như Italo Calvino, đây sẽ là thiên niên kỷ chúng ta cần đến đôi dép gắn cánh của Perseus để bay lên một không gian khác, cần đến cú nhảy khéo léo và không thể đoán trước của Cavalcanti, cần bước vọt thoát của Mercutio, hay chiếc xô rỗng của Kafka mà người kỵ sĩ dùng để tìm than, cũng như những chiếc thảm bay, ngựa bay và sự nâng đỡ của các vị thần chui ra từ những cây đèn trong Nghìn lẻ một đêm. Chúng ta cần hơn hết một ý thức tuyệt đối về trọng lượng, cũng như niềm tin tưởng hoàn toàn vào việc ta không những có thể giải trừ sức nặng của cơ thể và suy tư của chính mình mà còn đủ đầy tự tin đối chọi với sức nặng thế giới này đè nén.

II/ Albert Serra và cuộc thử nghiệm chuyển thể Honor de Cavalleria

Với những đặc tính nhẹ tồn tại như phẩm chất cần thiết đối với nghệ thuật và đời sống, tôi sẽ quy chiếu chúng vào chuyển thể điện ảnh cuốn tiểu thuyết vĩ đại bậc nhất của nhân loại, Don Quixote, nhà hiệp sĩ quý tộc tài ba xứ Mancha của Miguel de Cervantes. Honor de Cavalleria, như tôi đã nói, là câu trả lời thể hiện khả năng nắm bắt tinh thần Cervantes của Albert Serra. Điều ấy không chỉ biểu hiện qua sự đồng điệu tinh thần giữa Cervantes và Serra, vì cùng chung dòng máu Tây Ban Nha, mà còn ở việc nhận thấy tín hiệu thẩm mỹ Cervantes khéo léo che chắn. Serra đón nhận tín hiệu Cervantes phát ra từ 400 năm về trước, đồng thời biến tấu chúng trên nền văn hóa mang đậm hơi thở đương đại nhưng vẫn phát huy được cái nhìn hồn nhiên và nghịch dị của thầy trò Don Quixote – Sancho Panza qua những hành trình phiêu lưu không mỏi mệt, với khát vọng vươn đến tinh thần hiệp sĩ toàn diện. Ở câu trả lời của Serra, không gì nằm ngoài ý niệm về cái nhẹ là một sự hiển lộ đầy thành công và táo bạo. Thành phố biến mất, bộ áo giáp biến mất, nàng Dulcinea chạy trốn ở nơi nào, và cối xay gió cũng chẳng còn vết tích của sự tồn tại, Don Quixote chết không nước mắt, không ăn năn, hối cãi, và cuộc đời Sancho Panza là một sự nối dài sau cái chết của người bạn đồng hành. Cuộc phiêu lưu của Serra với điện ảnh song hành với cuộc phiêu lưu của Don Quixote với lí tưởng hiệp sĩ đã ngưng đọng như một vật thể trôi nổi trong chân không, hướng đến sự hóa giải mọi trọng lượng vốn tồn tại.

PV: Hãy miêu tả một chút về Honor de Cavalleria?

AS: Đây là một chuyển thể tinh thần Don Quixote. Bộ phim hướng đến việc phác họa tinh thần của hai nhân vật chính. Thực tế đó là phép ẩn dụ của tiểu thuyết và buộc chúng ta kiếm tìm. Thông qua các mảnh ghép đơn giản, tôi đã tạo ra bầu không khí cụ thể, rõ ràng. Do đó, những đoạn thoại có vẻ nhàm tẻ. Tất cả mọi thứ hiển lộ tự nhiên mà không có dấu vết của cấu trúc tường thuật. Điều này khiến tôi đặt ra câu hỏi cho cách xử lí những tiểu tiết, nhằm thể hiện mục đích trên, ví dụ như, một người luôn nhìn lên bầu trời, còn người kia luôn nhìn xuống mặt đất.
PV: Bạn đã có một quyết định táo bạo, đó là làm việc với dàn diễn viên không chuyên.

AS: Diễn viên chuyên nghiệp không khiến tôi hứng thú. Vì họ rất dễ đoán trước. Sẽ vui thích hơn nếu ta tìm kiếm cảm hứng mới. Tôi rút kinh nghiệm từ khoa học, và luôn thôi thúc mình tìm đến những gương mặt, những cảm giác mới. Điều đó lí giải tại sao tôi sử dụng một bộ máy làm việc rất trực quan. Trong lúc quay, có một số cảnh, một số chuyển động ống kính tôi vận dụng đã xác định các chủ đề đối thoại, mà ở đấy, diễn viên có thể gia giảm sự phóng túng của mình. Sự thật là điều này tôi học hỏi từ Passolini. Phim của tôi không có diễn tập. Hơn thế nữa, các cảnh quay luôn theo đúng diễn tiến. Những cảnh quay bạn xem được cũng chính là cảnh quay đầu tiên.

PV: Điều gì khiến cho bạn thành công?

AS: Tôi chọn ra một chủ đề khác thường, và tôi cố gắng tái hiện chúng càng nguyên sơ càng tốt để tạo ra những chấn động đối với người xem. Tôi hướng mình theo phong cách làm phim giàu chất thơ. Kể chuyện khiến tôi thấy thật buồn tẻ. Thay vì miêu tả, tôi phản ánh thế giới này.

PV: Ông chịu ảnh hưởng từ vở kịch “Trong khi chờ Godot” của Samuel Beckett?

AS: Quả nhiên rồi. Don Quixote và Sancho Panza cũng đang chờ đợi.

PV: Bộ phim này là một thách thức với người xem.

AS: Khán giả hiện nay thường bảo thủ trong việc xem phim. Nhưng tôi vẫn muốn tiếp cận nhiều đối tượng, có thể chỉ là ở rạp. Cha tôi đã xem bộ phim này. Tuy không hiểu nhưng ông vẫn ngồi xem. Giống như thăm thú bảo tàng, ông không đi chỉ vì thích thú mà vì phải làm việc. Trong một bộ phim, có thể bạn không hoàn toàn thích, nhưng hãy thưởng thức nó. Điện ảnh bây giờ vẫn tuân theo cấu trúc truyện kể, ngay cả với phim thể nghiệm. Tôi muốn phá vỡ điều này trong Honor de Cavalleria. Tôi muốn khơi gợi cảm xúc ở người xem.

Nếu như dấu hiệu cơ bản của việc chuyển thể một tác phẩm văn học gắn liền với biểu hiện chuyển dịch kết cấu tự sự từ văn bản này đến một hình thức nghệ thuật khác5 thì ở Honor de Cavalleria, Albert Serra tiến tới phủ định triệt để quan niệm này. Với phong cách làm phim phá vỡ sự tồn tại của một cấu trúc tự sự, Serra chú trọng vào việc tạo nên những tiểu tiết cũng như lặp lại chúng thường xuyên nhằm gợi nên ở người xem một sự thôi thúc tự giải nghĩa. Điều đó cũng tương ứng với việc bộ phim đã phá đi những giới hạn của không – thời gian, đồng thời giản lược triệt để những biến cố. Bộ phim chuyển tải những khoảng lặng trong tác phẩm, nhưng là một sự chuyển tải ẩn dụ mạnh mẽ. Chẳng hạn như nghi thức trao vòng nguyệt quế rất chậm rãi nhưng đầy cảm xúc. Ngay khi tình huống được đẩy lên cao trào, lập tức chúng đã tự hủy tính chất tồn tại như một sự kiện. Và đơn thuần chỉ còn lại những rời rạc của hình ảnh và âm thanh. Sự hiện diện độc lập và không có tương tác chủ đề của các khuôn hình khiến ta nhớ đến thủ pháp kinh điển của điện ảnh, montage. Thực tế duy nhất tồn tại trong bộ phim về Don Quixote là thực tế tinh thần chứ không phải là sự kiện. Điều đó khiến cho sự căng thẳng giữa thực tại tinh thần và cuộc sống thường nhật của hai nhân vật chính là chủ đề xuyên suốt bộ phim, khiến cấu trúc tự sự bị lu mờ. Chính bởi điều này, tôi sẽ tiến hành nối kết những khuôn hình có cùng trường liên tưởng để tạo ra một hình dung về sự khinh khoái mà Serra đặt vào nhân vật của mình, thông qua các diễn viên nghiệp dư chỉ được phép “đóng vai” một lần duy nhất trước ống kính.

1/ Ý thức về thân thể

DQ: Sancho, nó được sửa rồi chứ?

SP: Đã xong rồi thưa ngài.

DQ: Thật à? Ta có thấy anh làm gì đâu.

Nó được sửa rồi chứ hả?

SP: Đã xong thưa ngài.

DQ: Nó sẽ không làm ta đau chứ?

Ta muốn anh giúp ta một việc.

DQ: Nó sẽ không làm ta đau chứ?

SP: Không phải lúc này đâu ngài.

DQ: Ta cần nhờ anh một việc. Hãy đi và tìm giúp ta một vòng nguyệt quế! Đi và tìm giúp ta một vòng nguyệt quế. Anh làm được không?

SP: Được, thưa ngài.

DQ: Hãy tìm một vòng nguyệt quế. Đi và kiếm lấy một cái. (SP ngại ngần) Anh có thể chứ hả?

Tôi vừa dẫn ra đoạn thoại mở đầu bộ phim, và phải mất một khoảng thời gian đủ dài để chờ đợi tiếng nói của Don Quixote và Sancho Panza, chúng ta nhận thấy phần mở đầu này đã phảng phất không khí nặng nề của sự mỏi mệt. Trong khi Don Quixote rên lên những tiếng khẽ khàng và não nề, đồng thời xoa bóp cơ thể mỏi nhừ sau một ngày dài, Sancho Panza lặng lẽ sửa lại bộ áo giáp cho ông chủ. Khuôn hình được quét rộng, nhưng khoảng cách hai nhân vật từ đầu phim đã thể hiện giữa họ luôn có một tường thành không thể vượt qua. Tiếng dế kêu rả rích, ánh sáng dần tàn lụi. Những thanh âm và hình ảnh hòa quyện vào nhau tự nhiên rồi xuất hiện lặng lẽ, không cao trào như một cảnh huống lặp lại đều đặn của những ngày trước đó.

Theo diễn giải của Auerbach, chuyến đi đầu tiên của Don Quixote đã giúp chàng thoát khỏi tình thế không chịu nổi mà chàng phải chịu đựng quá lâu [1;197], tôi cho rằng, việc giải phóng thân thể khỏi một không gian tù túng đã khiến cho ý chí được phóng thích. Hai thầy trò lang thang qua các đồng cỏ, Quixote mặc áo giáp và đội vòng lá khô Panza làm cho. Nhịp điệu uể oải, trễ nải của ánh nắng gắt gao mùa hè là một thước đo xác định tốc độ của bộ phim. Máy quay đôi khi tiếp cận các nhân vật ở góc độ tiệm cận, dõi theo việc họ ngủ, có khi chỉ ngồi nhìn xa xăm mà không nói năng gì. Khi họ đang ở xa, tiếng nói của họ cũng nhỏ dần và mất hút. Khi hoàng hôn buông xuống, chúng ta cảm thấy mình bị cản trở tầm nhìn, ánh sáng yếu dần, chỉ còn ánh trăng chếch trên cao soi xuống những hình hài lờ mờ và yếu ớt. Âm thanh được gia tăng, tiếng côn trùng kêu rả rích xen lẫn với những tiếng thở dài mệt nhọc của thầy trò hiệp sĩ sau một hành trình dài chẳng biết khi nào sẽ kết thúc. Khi Quixote rút kiếm vung vẩy những đường chém trong gió ở rừng ô liu, hay lúc ông ở trong không gian đậm màu sắc dystopia, ta nhận ra ông đang chiến đấu với những thứ chẳng những không hiện hữu mà còn không hiện hình. Serra khai thác triệt để sự chân thật của không gian, của bối cảnh thực tế. Không nhằm tạo nên một không gian đặc quánh mùi hiệp sĩ và những trận đánh, Serra tạo nên một không gian tự nhiên, và không gian đó sinh ra chỉ để dành cho Don Quixote và Panza thực hiện chuyến phiêu lưu của mình. Don Quixote và Panza hoàn toàn thuộc về không gian ấy, ở họ có một sự gắn kết tuyệt đối với không gian. Màu sắc hiệp sĩ thể hiện qua từng khuôn hình, là không gian sống chết của Sancho Panza và Don Quioxte, một không gian máu thịt. Không gian ấy gắn liền với ý thức về thân thể và sự tồn tại. Chúng ta đều nhận thấy rằng, bản thân không gian không mang nghĩa, chúng chỉ có ý nghĩa khi có sự tồn tại của con người, chính xác là chủ thể tự ý thức có kinh nghiệm.

Bên cạnh đó, Quixote còn ý thức về sự tồn tại của thân thể thông qua việc nhận thấy những dấu hiệu mỏi mệt của bộ máy sinh học có hạn sử dụng. Don Quixote hoài niệm về xã hội utopia, về thời đại Vàng, một nơi quỷ dữ không tồn tại, và chẳng có vấn đề gì xảy ra cả. Con người rất yêu thương nhau. Thật ra thời Adam và Eva cũng không có biến động gì. Không ai giận dữ, không ai gây gổ, mọi người rất yêu thương nhau. Đó là thời của hòa bình và yên ổn. Nhưng tiếc thay, thời đại Don Quixote lại nhuốm màu sắc dystopia.

DQ: Ta không biết nhiều về các loài chim. Anh biết chứ, Sancho?

[Sancho Panza đưa cho Don Quixote một cuốn sách về loài chim và nói chuyện phiếm. Mặt trăng dần lên cao, đỏ ối]

DQ: Những chú chim bay ngang qua nhưng ta không thể nhìn thấy chúng.

Một viễn cảnh tận thế bao trùm phân cảnh này, trời sập xuống tối đen như mực, ở phía xa, bầu trời như sáp nhập với mặt đất, có bốn kỵ sĩ cưỡi ngựa chiến tiến về Don Quixote, gợi lên màn Khải huyền. Chúa gọi Don Quixote về với Người. Không rõ đây là thực, hay là mơ. Nhưng rõ ràng, ngay lúc ấy, Sancho Panza bị bỏ mặc và cô độc trong hành trình còn lại. Chúng ta băn khoăn liệu có phải ngay sau đêm trăng đỏ ối ấy, bộ phim chỉ đang lượm lặt và hồi cố những kí ức của Sancho Panza về người thầy, người bạn đồng hành? Ở một không gian khác, Don Quixote bước đi trong sự kháng cự sức gió kinh hoàng. Ông dùng thân thể mình hình dung ra kẻ thù, gọi tên kẻ thù, gọi tên Sancho. Bắt đầu từ lúc này, ý thức về thân thể, về cái chết trở nên mãnh liệt và lặp lại như một chủ đề. Bộ phim tạo dựng kết cấu bằng việc thiết lập những ý thức xâu chuỗi và xuyên suốt này.

2/ Bộ áo giáp biến mất

Chúng ta vẫn thường có thói quen nhận diện bản chất sự vật thông qua trang phục của nó. Vì thế, việc cho rằng phẩm chất người hiệp sĩ được thể hiện qua bộ áo giáp không phải là điều khó hiểu. Về điều này, tôi cho rằng hình ảnh hiệp sĩ không hiện hữu của Italo Calvino, chàng Agilulfo sẽ trở thành một dẫn chứng thuyết phục. Agilulfo không hiện hình bằng một thân thể, mà hiện hữu bằng sức mạnh của ý chí. Agilulfo hiện diện trong doanh trại của Hoàng đế Charlemagne bằng trang phục áo giáp. Khoác lên bộ áo giáp nặng nề nhưng đầy đủ khả năng che chắn cho khối ý chí vô hình bên trong là cách thức tối ưu để Agilulfo tìm kiếm cho mình một danh nghĩa. Điều đó thể hiện cảm thức gắn sự tồn tại của mình vào vật ngoài thân, đồng thời biểu lộ lớp nghĩa mỉa mai trước một thời đại phán xét con người qua đồng phục.

Không hiếm khi người ta bắt gặp danh nghĩa, tư tưởng, hình thái, cơ chế không tương ứng gì với tính hiện hữu. Mặt khác, thế gian đã đầy ắp sự vật, năng lực, và những con người không danh hiệu cũng chẳng kỳ tích xuất chúng. Đó là cái thời khi ý chí và lòng kiên gan trong việc hiện hữu, để lại dấu ấn, cọ xát với tất cả những gì hiện diện đã không được vận dụng trọn vẹn, bởi vì nhiều người đã không phản ứng gì – do khốn khó, do u minh, hoặc do dù có thế nào họ cũng không sao – thế nên một số tính cách ấy đã bị mai một vào hư không. Rồi cũng có thể tới một lúc nào đó, cái ý chí, cái ý thức tự thân ấy, vốn hết sức tan loãng, đã tụ lại, kết đóng với nhau, như thể các hạt bụi nước không thể nhận thấy tụ lại thành các cụm mây, và cái mối tụ đóng ấy, do tình cờ hay do bản năng, bắt gặp một danh hiệu, một dòng tộc – như hồi đó thường còn để trống – một cấp bậc trong quân ngũ, một tổng thể các nhiệm vụ để tiến hành với các quy tắc đã xác lập – và nhất là – một bộ áo giáp trống rỗng, không có nó, với thời gian như nước chảy qua cầu, ngay cả một kẻ hiện hữu cũng có nguy cơ bị biến mất, huống chi một kẻ không hiện hữu…Thế nên Agilulfo nhà Guildiverni đã khởi sự hoạt động và săn tìm vinh quang. [3;53-54]

Don Quixote trong hình dung của Serra, cũng như hiệp sĩ Agilulfo tìm kiếm những hạt bụi ý chí và danh dự có nguy cơ tụ lại và kết đóng mà ngay cả bộ áo giáp cũng không tài nào ngăn cản được. Ý thức được điều này, Don Quixote nhanh chóng nhận ra việc trú ngụ thân thể, chính xác là sự tồn tại của mình vào bộ áo giáp nặng nề có khả năng trở thành nguy cơ. Không còn cách nào khác, Don Quixote di dời đến nơi trú ngụ khác, náu ẩn mình trong tinh thần hiệp sĩ.

Nếu như ở đầu phim, Sancho Panza đều đặn thực hiện việc khoác lên người Don Quixote bộ áo giáp và thanh kiếm, chậm rãi như một nghi lễ thì càng về cuối phim, công việc ấy không còn xuất hiện.

DQ: Đưa giúp ta thanh kiếm, Sancho!

Đeo vào giúp ta.

Anh làm sai rồi. Anh cứ như đang ngái ngủ. Đêm qua anh ngáy nhiều lắm.

SP: Tôi ngáy thế nào cơ?

Don Quixote cẩn trọng tiến đến nghi lễ khoác phục trang trong một thái độ nghiêm túc và đầy quyền uy. Don Quixote xem bộ áo giáp là một công cụ biểu hiện quyền lực, ít nhất là đối với Sancho Panza. Sự hiện hữu của bộ áo giáp mang lại cho Don Quixote một sức mạnh. Và đương nhiên, tiềm thức của Quixote sản sinh ra sức mạnh trao cho bộ áo giáp chứ bản thân chiếc áo không chứa đựng ý niệm này. Cũng như việc ý thức về trọng lượng của thân thể sẽ mang đến một nhu cầu giải thoát chúng dựa trên sự nhẹ nhõm của ý chí, ở đây, việc giải trừ sức nặng của bộ áo giáp sẽ khiến cho Quixote hoàn toàn tin tưởng vào tinh thần hiệp sĩ được tích lũy từ đức tin và kinh nghiệm.

DQ: Trông anh thật mỏi mệt, Sancho.

Rất mỏi mệt.

Anh sẽ cảm thấy khá hơn nhanh thôi.

Phấn chấn lên đi, Sancho.

[Sancho lắc đầu]

DQ: Hãy nhìn lên bầu trời. Nói điều gì đấy với Chúa Trời và Ngài sẽ nghe thấy. Hãy cầu xin Ngài ban cho sức mạnh. Chúa dõi theo chúng ta.

Thật đấy, Sancho, hãy nghe lời ta bảo và chúng ta sẽ có sức mạnh.

Anh có thấy khá hơn chưa?

Nhìn lên trời cao một lát thôi và thư thái nào!

[Sancho làm theo lời Don Quixote]

DQ: Nói với Chúa: “Chúa ơi, đừng bỏ mặc chúng con”

SP: Chúa ơi, đừng bỏ mặc chúng con.

DQ: Hãy ban cho chúng con sức mạnh, thật nhiều sức mạnh.

Thả lỏng đi Sancho, Chúa sẽ ban cho anh sức mạnh.

Anh có thấy khá hơn chưa?

[Sancho khẽ lắc đầu]

DQ: Sẽ khá hơn mà Sancho.

Cố lên Sancho, đừng ủ ê như thế nữa.

Nhìn kìa, trông anh đầy năng lượng. Anh chẳng thấy thế sao?

Phải không nào?

SP: Đúng thế.

DQ: Nhìn lên trời cao đi.

Don Quixote đặt niềm tin tuyệt đối vào Chúa Trời. Nếu như trong tiểu thuyết, Quixote của Cervantes luôn nghĩ về Dulcinea trước khi nhớ đến Chúa, vì chàng cho rằng đó là tục lệ của giới hiệp sĩ giang hồ, thì Serra đã đẩy đức tin của Quixote lên đến tuyệt đối. Trong suốt bộ phim, khi cần đến một lời hùng biện, Quixote nghĩ ngay đến Chúa, nghĩ đến con đường mà Chúa khổ công tạo ra để giúp con người thoát khỏi sự đày ải. Quixote nhân danh cho Chúa Trời, chứ không phải là bộ áo giáp để thực hiện những cuộc chạm trán đòi hỏi công lý. Tất cả những phép xử lí chuyển thể của Serra đều hướng đến cảm quan về cái mơ hồ, không có thực. Chúng nhẹ nhõm như những cơn gió nhưng cũng thật nặng nề khi Quixote buộc phải hình dung ra một kẻ thù hiện diện trước mắt. Chúng trong trẻo như bầu trời trên cao nhưng cũng đầy hoài nghi khi buông xuống những ý niệm không rõ ràng về Chúa. Khi cần Chúa, Quixote dạy Sancho ngước lên trời và cầu cứu. Chúa là cả bầu trời, Chúa cũng có thể chỉ là một chấm nhỏ xíu hiện hữu đâu đó giữa các vì tinh tú. Hướng đến Chúa, hướng đến tinh thần hiệp sĩ mạnh mẽ và tuyệt đối này, Quixote không cần bộ áo giáp như một thứ phục trang hay tuyên ngôn.

3/ Don Quixote trở lại

Ý thức về thân thể hay bộ áo giáp như một thứ có giới hạn và bị ràng buộc, Don Quixote kết thúc hành trình phiêu lưu của mình bằng cái chết về mặt sinh học. Thực tế tiểu thuyết cho thấy, Don Quixote đã đau đớn đến chết vì nhận ra tác hại ghê gớm của sự điên rồ bấy lâu. Điều đó có nghĩa là, Don Quixote chết đi ngay khi ý thức được việc mình biến thành “kẻ khác” là điều vô lí. Và hơn thế nữa, Quixote cảm thấy những lí lẽ của mình sẽ tiềm tàng nguy cơ hủy diệt trật tự thế giới vốn có. Độc giả cảm thấy thỏa mãn với cái kết này, vì cho rằng Cervantes tỉnh táo đã sớm giúp Quixote thoát khỏi sự đày đọa điên rồ mà chàng tự tạo ra. Nhưng không phải ai cũng nhất trí với sự hối cãi này, Serra nhận ra, Don Quixote buộc phải chết, vì đó là lẽ tự nhiên, là “ngày hết date” của thân xác. Don Quixote phải về với Chúa vì chàng đã mỏi mệt với kiếp nhân sinh, nhưng cũng là lúc chàng hoàn thành sứ mệnh mà Chùa Trời phó thác. Chàng đã dẫn dắt Sancho đến với Chúa, để phụng sự Chúa, nhưng cũng chính là phụng sự niềm yêu thích của Sancho. Chúng ta hãy đọc lại đoạn thoại giữa Sancho và một kỵ sĩ lạ mặt khác:

KS: Hãy nói với tôi đi. Hẳn là anh có thứ để nói!

SP: Ừ thì có rất nhiều cuộc phiêu lưu.

KS: Cuộc phiêu lưu ư?

SP: Những cuộc phiêu lưu mang tinh thần hiệp sĩ.

KS: Hồi còn bé, anh có thích những món đồ gắn với những cuộc phiêu lưu và hiệp sĩ không?

SP: Tôi chưa bao giờ.

KS: Anh đã bao giờ sát hại ai chưa?

SP: Tôi chưa. Nhưng Quixote thì có đấy.

KS: Thật sao?

Bao nhiêu mạng?

SP: Hai.

KS: Hai sao?

Ông ấy đã giết họ ra sao? Anh có chứng kiến không?

SP: Với lưỡi kiếm của ông ta.

KS: Quixote có phải là tay kiếm cừ không?

SP: Quixote biết nhiều thứ.

KS: Kể tôi nghe Quixote đã sát hại hai mạng người bằng thanh kiếm ra làm sao.

SP: Như thế này.

[SP làm một động tác rất nhẹ nhõm và chẳng màng tiếp tục]

KS: Sao anh lại chu du cùng Quixote?

SP: Vì tôi thích.

KS: Với Quixote sao?

[SP gật đầu]

KS: Anh có còn là Sancho nếu Quixote chẳng có trên cõi đời này?

SP: Ai biết nhỉ?

KS: Anh có nghĩ Quixote hiểu anh không?

SP: Tôi nghĩ có đấy.

KS: Quixote bây giờ ở đâu?

Anh sẽ đợi chờ Quixote chứ?

SP: Đúng vậy.

KS: Liệu có lâu không?

Quixote có bao giờ để anh phải đợi lâu không?

SP: Cũng đôi khi đấy.

KS: Quixote là một hiệp sĩ.

SP: Đúng vậy.

KS: Quixote có vợ không?

SP: Có.

KS: Sao anh không trở về nhà và lấy vợ nhỉ?

SP: Chắc là thế.

KS: Anh có nghĩ mình sẽ làm gì sau khi kết thúc mọi thứ thế này?

SP: Tôi chưa biết.

KS: Thế lúc trước anh làm nghề gì?

SP: Tôi làm việc chân tay.

KS: Anh đã xây nên nhiều ngôi nhà chứ?

Anh có thể xây một ngôi nhà cho riêng mình mà.

SP: Tôi không đủ sức xây cho mình một ngôi nhà đâu.

Sancho yêu thích việc được trải nghiệm cùng Quixote. Và chàng mơ hồ nhận ra dường như ý nghĩa tồn tại của mình gắn liền với sự tồn tại của Don Quixote. Nhưng đồng thời hãy nhớ lại cảnh quay này:

DQ: Sancho! Ta đang đợi anh đấy? Anh đang giận sao? Anh không nghe ta gọi anh sao.

SP: Tôi đi đây.

DQ: Đừng để ta phải hét lớn. Quay lại đây ngay. Anh sẽ đi đâu chứ? Anh luôn lạc đường.

Quay lại ngay, Sancho.

Sancho, quay lại ngay.

[SP vẫn tiếp tục đi không ngoái đầu lại]

Tạm biệt Sancho.

Đồ hèn.

Sau tất cả những gì ta làm cho anh, anh chẳng xứng đáng đi cùng ta nữa.

Tạm biệt Sancho.

Anh đi cùng ta chứ? Nói có đi nào.

Tạm biệt Sancho.

DQ: Nghĩ mà xem anh đã lạc lối thế nào? Nếu ta không lên tiếng, anh sẽ chẳng quay lại. Anh có nghĩ về những gì ta đã nói không đấy? Nghĩ đi Sancho. Nghĩ về những điều ta nói. Nó tốt cho anh và cho cả Chúa. Bởi lẽ rằng anh đã lạc lối. Ta sẽ dẫn dắt anh vì ta cũng từng lạc lối. Ta đã lạc đường nhưng ta tìm thấy lối ra. Anh có còn muốn đi cùng ta không, Sancho? Chúng ta sẽ tìm thấy lối đi. Nhưng trước hết hãy đưa tay anh cho ta. Chúa bảo chúng ta là anh em. Ta là anh, còn Sancho là em.

[SP đưa tay cho DQ]

Hãy nhìn lên trời cao và nói: “Mãi mãi như thế”

Chúng ta hãy nhìn lên trời cao và nói: “Chúa ơi, ngài thật vĩ đại”

SP: Chúa ơi, ngài thật vĩ đại.

DQ: Ngài thật vĩ đại, Chúa ơi!

Mãi là như thế.

Chúa nghe chúng ta nói gì đấy, Sancho ạ.

SP: Vâng.

DQ: Chúa nghe cả đấy. Tuy ở trên cao kia nhưng Chúa là lối đi khả tín.

SP: Vâng.

DQ: Xin Chúa hãy nâng đỡ Sancho. Anh ấy nguyện đi theo con đường của Người. Hãy nâng đỡ Sancho. Chúa lên tiếng gọi con, con sẽ có mặt. Thưa Chúa, con sẽ có mặt, nhưng giờ con phải giúp Sancho nhận thấy lối đi của Người. Con cần thời gian trước khi đến với Người. Con phải ở bên Sancho.

Nếu Don Quixote giữ khoảng cách với Sancho Panza vì cho rằng anh ta chẳng hiểu gì về Chúa, thì Chúa Trời sẽ khiến Don Quixote gục ngã trong niềm tuyệt vọng đau đớn, Sancho cũng không hiểu được ngài. Điều này giải thích cho việc Serra lặp đi lặp lại hình ảnh Don Quixote nhìn lên bầu trời, rằng ta chỉ có thể tìm thấy niềm sẻ chia bởi một con người chứ không phải là Chúa Trời. Sancho là một lời nhắc nhở, thậm chí là sự kìm hãm tinh thần của Quixote trong những lúc ông quá phấn khích với tư tưởng hiệp sĩ của mình. Erich Auerbach đã đặt ra câu hỏi, liệu Sancho có coi thường hay giễu cợt Quixote không? Ngay lập tức, ông cho rằng, Sancho yêu và tôn sùng chàng, dù lắm khi nhận ra Quixote có vẻ điên rồ. Auerbach cho rằng, xã hội kiểu Don Quixote làm Sancho tốt hơn và thông minh hơn vốn có và sự thông tuệ của chàng không phải là sự thông tuệ của một người điên mà đó là phẩm cách của một kẻ khiêm nhường, có ý thức. Sancho Panza không phải là đầy tớ tháo vát như trong tiểu thuyết của Cervantes, ở anh là một sự hoài nghi ẩn sau vẻ chậm chạp nhút nhát nhưng hơn ai hết, Sancho hiểu rõ ý nghĩa công việc của mình, và anh nuôi dưỡng niềm tin từ con số không tròn trĩnh.

Don Quixote và Sancho không đặt ra một điểm dừng nào cho cuộc phiêu lưu. Trong suốt hành trình, họ nói với nhau những mẩu truyện nhỏ về đức tin, về việc nuôi một đàn chó, hay việc hiểu về những loài chim, và tình bạn của họ gắn kết từ đấy. Họ sẽ nghỉ ngơi khi thấy mệt mỏi, khi ánh sáng lụi tàn. Họ sẽ xa nhau khi cảm thấy ngột ngạt và cần khoảng cách. Nhưng họ cũng sẽ phải cách xa mãi mãi khi tâm hồn Sancho hiểu ra những điều mà Quixote gửi gắm. Ngay khi Sancho nhận thấy được điều này, Don Quixote đã quay trở lại, bằng một hình dung tinh thần và ý chí không mỏi mệt. Điều này khiến cho tôi nhận ra mối dây ràng buộc càng tình tiết đứt đoạn và các đoạn thoại nứt rạn trong bộ phim, đó chính là sự trở về của cái nhẹ như một tiết lộ về ý niệm mới của sức nặng. Sự trở về của Quixote không hiện hình nhưng hiện hữu trong tâm trí của Sancho có sức mạnh hơn bất kì một lời thuyết phục hay trách cứ nào. Lẽ đương nhiên, niềm tin mà Sancho có được là kết quả của một quá trình trải nghiệm cùng Don Quixote, nhưng ở khía cạnh khác, chẳng phải hình dung về những hồi cố có sức mạnh lớn hơn bất kì một hiện diện nào của ngôn từ sao?

DQ: Anh biết đấy Sancho, chúng ta đã cùng nhau trải qua nhiều cuộc phiêu lưu. Và tuy chúng ta thắng trận nhưng ta vẫn buồn rầu. Cuộc sống là lộ trình của những ủ dột. Ủ dột là bởi trên đời này toàn những kẻ kém cỏi. Chúa cho ta thấy con đường dẫn đến sự chết chóc. Người bảo rằng, “Lại đây nào, Quixote, lại đây”. Ta mỏi mệt lắm Sancho. Nhưng anh phải tiếp tục công việc ta giao phó. Ta biết Chúa đã gọi tên ta rồi. Và ta cảm thấy uể oải vì nhận thấy mùi chết chóc. Nhưng ta đặt niềm tin vào anh, Sancho. Chúa nói rằng, anh phải đảm đương công việc mà Chúa đã bắt đầu, Chúa gửi gắm vào anh. Anh phải thề rằng anh sẽ gánh lấy trách nhiệm này. Ta cũng phải chết thôi, Sancho. Quixote yêu mến Sancho, và Chúa cũng thế. Anh không thấy ta hư hao sao? Chúa gọi ta lên thiên đường. Chúa gọi thế đấy, Sancho. Nhưng từ thiên đường, ta sẽ dõi theo anh như việc anh theo đuổi con đường của ta. Sancho, anh làm được điều đó chứ? Nói là có thể đi Sancho?

SP: Tôi có thể.

DQ: Ta muốn rơi nước mắt rồi này. Anh biết tại sao không? Vì ta nhận thấy mình đang bỏ rơi anh.

Càng về cuối phim, SP ngẩng nhìn trời nhiều hơn bao giờ hết. Vì ngay chính lúc này, anh thấy nhớ DQ, như thể nhớ những lời dặn dò, nhớ những câu chuyện, nhớ sự điên rồ của DQ mà anh rất mực yêu mến.

DQ: Anh thấy không, Sancho? Tinh thần hiệp sĩ là điều văn minh. Nó đền đáp cho những người dám nói sự thật, và trừng trị những kẻ dối trá. Tinh thần hiệp sĩ là ngọn nguồn của mọi hành động. Hiểu không Sancho? Từ những tia sáng trong mắt anh, ta biết là anh hiểu.

Cảnh quay cuối thâu nhận sự vật như một thấu kính lồi, tạo cảm giác lùi xa về không – thời gian, khiến cho câu chuyện này như là một hồi ức. Nhịp điệu cuối phim là một bản nhạc trầm tĩnh, yên ắng, gợi cảm thức hoài nhớ thế giới utopia từ thực trạng dystopia, nghĩa là con người phải vận động tâm trí để kháng cự thế giới, buộc phải khai thác những niềm khả tín còn sót lại.

Albert Serra giữ lại linh hồn sầu muộn đáng thương của Don Quixote, đồng thời kích hoạt những ẩn ức tâm hồn của Sancho Panza. Panza không còn là một anh giám mã hồn nhiên và vô ưu trong tiểu thuyết, Panza không hân hoan khi nhận được món lợi tức Quixote trao trả trước khi chết, Panza nhận thấy việc hướng tầm mắt lên phía xa xăm của bầu trời là một điều cần thiết để đón nhận nguồn sức mạnh mà Chúa Trời và Don Quixote gửi gắm.

Tôi sẽ kết thúc tiểu luận này bằng một huyền thoại Hy Lạp. Đó là câu chuyện về hoàng tử Cadmus xứ Phoenicia, chàng giết con rồng khổng lồ và ném những chiếc răng nhọn sắc của nó xuống đất. Không lâu sau đó, những chiếc răng nảy vọt lên một đội quân dũng mãnh. Và hình ảnh này dễ làm chúng ta liên tưởng đến những thiết chế, trật tự được xác lập trong quân sự, trong xã hội, trong những hàng chữ cái. Sự trật tự ấy là một đè nén không thể chịu đựng được, nảy sinh từ những chiếc răng nhỏ bé. Cái nhẹ tồn tại trong vũ trụ nhờ một sự tích lũy những nguồn năng lượng không hề ít ỏi, và chúng được giải phóng trong một sự hiện hình phi trọng lượng nhưng là sự hiện hữu đầy kìm nén. Như thể Italo Calvino đề ra cái nhẹ là một ý niệm trong sáng tác văn chương, một phép ửng xử của đời sống hiện đại, tôi cho rằng đây là một ý niệm hứa hẹn sẽ tạo nên nguồn cảm hứng màu mỡ cho những thể nghiệm suy tư đời thường và sáng tạo nghệ thuật.

Đặng Hương Giang

­­­­­­­­­­­CHÚ THÍCH:

  • Đọc thêm: Milan Kundera, Di sản bị mất giá của Cervantes
  • Đọc thêm: Milan Kundera, Trò chuyện về tiểu thuyết

(3), (4) Đọc thêm: Italo Calvino, Những bài giảng Mỹ – Sáu điểm ghi nhớ cho thiên niên kỷ tới, Cao Việt Dũng dịch, tạp chí Văn học nước ngoài, số 1, 2 năm 2007

(5) Đọc thêm: Kathleen Murray, To Have and Have Not: An Adaptive System, in trong True to the spirit, Colin MacCabe, Katheleen Murray, and Rick Warner biên tập, Oxford University Press, 2011

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  • Erich Auerbach, Mimésis – Phương thức biểu hiện thực tại trong văn học phương Tây, Phùng Kiên dịch, NXB Tri thức, 2014
  • Italo Calvino, Nam tước trên cây, NXB Văn học, 2009
  • Italo Calvino, Hiệp sĩ không hiện hữu, NXB Văn học, 2012
  • Stephen Hawking, Lược sử thời gian, Cao Chi, Phạm Văn Thiều dịch, NXB Trẻ, 2012
  • Leonard Shlain, Nghệ thuật và vật lí, Trần Mạnh Hà, Phạm Văn Thiều dịch, NXB Tri thức, 2014
Posted in Dạy học, tiểu luận, Đọc-nghe-xem-nghĩ, Điện ảnh | Tagged , , , , , , , , , | 1 Phản hồi

Nguyễn Trương Quý: Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn gần với nhạc rock

Bài phỏng vấn nhà văn Nguyễn Trương Quý dưới đây do hai bạn sinh viên Nghiêm Tố Minh và Nguyễn Hà My thực hiện. Bài phỏng vấn ban đầu chỉ nằm trong khuôn khổ của một bài tập ở trường đại học nhưng tôi đã xin phép hai bạn sinh viên và anh Trương Quý để chia sẻ trên blog này. Bởi lẽ qua câu chuyện của anh Trương Quý – một người mà tôi xem như cùng thế hệ với mình, thì âm nhạc Trịnh Công Sơn chính là một trong những nguồn đầu tiên nói với chúng tôi – những đứa trẻ lớn lên ở miền Bắc sau 1975 – về những gì sách giáo khoa đã không nói về lịch sử.

Xin cảm ơn hai bạn sinh viên và anh Trương Quý đã chia sẻ cuộc trò chuyện này:

*

Trước tiên, xin cảm ơn anh đã đồng ý đến với buổi phỏng vấn ngày hôm nay. Thưa anh, được biết anh là một người vô cùng yêu mến và am hiểu về nhạc Trịnh. Vậy điều gì khiến anh yêu thích dòng nhạc này đến vậy?

Trương Quý: Mình nghe nhạc Trịnh Công Sơn ở thời điểm là một cậu thanh niên – không khí miền Bắc nghèo khổ, bao cấp, ám ảnh. Những bài hát ấy nó có yếu tố như chất gây nghiện, ta nhìn thấy ở đấy một chất liệu đời sống khác lạ, chưa kể đến việc Trịnh Công Sơn may mắn có một giọng ca rất ấn tượng là Khánh Ly, làm cho người nghe cảm nhận được trọn vẹn những gì ông muốn truyền đạt.

Vậy anh có ấn tượng gì với dòng nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn?

Trương Quý: Nhạc phản chiến mãi sau này mình mới biết. Đầu tiên, mình chỉ biết đến nhạc tình ca như là khúc dạo đầu để đến với âm nhạc Trịnh Công Sơn, về sau biết được nhạc phản chiến là nhờ một cuốn băng, nhưng lúc ấy mình chưa thấy thích lắm vì bản phối. Thế rồi cho đến một lần, mình ra chợ Giời và tìm được một cuốn băng có tất cả những bài phản chiến ấy, bảo họ bật thử, nghe đúng cái giọng ngày xưa hát, ấn tượng kinh khủng. Về nhà, mình nghe đi nghe lại cuốn băng ấy vì giọng ca có sự truyền cảm. Sau đấy, mình mới thấy các cái bài nhạc phản chiến thực sự là một gia tài rất quý báu của Trịnh Công Sơn, thậm chí có những chất liệu vượt ra khỏi mô tip đơn điệu của nhạc tình. Trịnh Công Sơn đôi khi có những bài hát bị lặp lại cái nốt nhạc: giọng la thứ, quanh đi quẩn lại mấy cái đăng đối ấy, A, B, A#, nó dễ đoán, nó không phải là cái hay độc đáo về mặt âm nhạc. Cái hay của nhạc phản chiến là câu chuyện của cả một thời đại, nó đem đến cho mình những bỡ ngỡ, lạ lẫm, băn khoăn về một không gian, một thời gian mà mình chưa có nhiều ý niệm. Những năm tháng ấy, tuổi trẻ miền Nam đã ra sao, họ cảm thấy gì, xã hội miền Nam như thế nào. Nhạc phản chiếu của Trịnh Công Sơn, với mình, trước hết đem đến những khám phá sinh động về quá khứ mà vẫn rất tình cảm, rất lôi cuốn bởi ca từ, bởi các cấu trúc biểu đạt gây ấn tượng mạnh. Cũng có các nhạc sĩ khác viết nhạc phản chiến nhưng không thành công bằng, nghe vẫn có gì đấy sống sượng, thiên truyền đạt ý tưởng để tuyên truyền. Với mình, những ca khúc phản chiến ấy không có được sự gần gũi, thuyết phục nếu so với những ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn.

Được biết anh là người biên tập cho cuốn sách Trịnh Công Sơn – Bob Dylan, Như Trăng và Nguyệt” của John C. Schafer, vậy có những câu chuyện nào xoay quanh cuốn sách này không?

Trương Quý: Đây là cuốn sách của một giáo sư đại học, nó có những phẩm chất về mặt văn bản; nền tảng về văn hóa học và ngôn ngữ học của tác giả rất tốt… Cuốn sách cho thấy một đề tài có vẻ như đã nói nhiều rồi và dễ nói hay, nói hoa mĩ nhưng tác giả vẫn rút ra được những cách thức truyền đạt khoa học, không sa vào diễn cảm vì rất nhiều người viết về Trịnh Công Sơn bị bí từ, bị cái mĩ lệ trong nhạc Trịnh Công Sơn ảnh hưởng mạnh. Có thể vì tác giả là người nước ngoài, nên cái nhìn của họ không bị phiến diện

Tuy nhiên, phải nói John C. Schafer là người mà mình rất có thiện cảm, một phần vì hoàn cảnh tác giả là người có vợ người Việt Nam, xứ Huế, vậy nên có lúc tác giả còn đề cao Trịnh Công Sơn hơn là Bob Dylan, đó cũng là một cái hay.

Là người quan tâm đến âm nhạc Trịnh Công Sơn, anh có nhận xét gì về các tạo hình lạ thường trong nhạc phản chiến của ông?

Trương Quý: Mình luôn có một thắc mắc, tò mò: Trịnh Công Sơn hồi trẻ học ở một trường tiếng Pháp, hệ thống tác phẩm văn học Việt Nam trong nhà trường trước đây như nào để mà một người học sinh (lúc Trịnh Công Sơn mới viết ca khúc là lúc vừa ra khỏi thời học sinh), lại có được kho từ vừng rất tốt,trau chuốt, diễn tả các ý thức tâm lí rất tinh vi. Mình cũng rất nể khả năng diễn đạt các khái niệm triết học, tôn giáo già đời như một triết nhân thực sự ở Trịnh Công Sơn.

Có thể trong thời gian về sau càng ngày càng trưởng thành, ông càng ngày càng tích lũy được nhiều kiến thức hơn. Về cái nghịch dị trong nhạc phản chiến, mình nghĩ rằng một phần Trịnh Công Sơn chịu ảnh hưởng của những kiến thức về triết học phương Tây, họ đi tìm cách giải thích những sự mâu thuẫn trong đời sống xã hội. Ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn cũng ra đời khi bối cảnh xã hội Việt Nam chìm trong những mâu thuẫn, xung đột gay gắt.

Cuộc đời Trịnh Công Sơn trải qua những năm tháng bình yên, trước khi đất nước chia cắt hai miền cho đến khi chiến tranh leo thang ở miền Nam, con người luôn phải sống trong căng thẳng, giữa hòa bình và chiến tranh. Ông nhìn thấy ở đấy một cái gì đó như là sự hư vô, bất toàn của cuộc đời này. Trịnh Công Sơn luôn nhìn thấy tình trạng dễ thương tổn của đời sống lúc đó, như là ““mẹ vỗ tay reo mừng xác con”, “mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh”, nhưng ở góc độ nào đấy, mình còn cảm thấy đó là sự lộn nhào của thế giới, giống như đạn bom đã cày xới lên tất cả. Ca từ của ông khiến người ta có cảm giác như khi xem tranh của Picasso: những bức tranh với những hình hài méo mó, cảnh tượng hoang tàn, một không khí hủy hoại bao trùm.

Nói về mặt ý nghĩa lớp lang, những hình ảnh nghịch dị này không phải là lạ vì văn nghệ sĩ châu Âu giữa 2 thập niên đại chiến thứ nhất và thứ hai đã rất ám ảnh bởi cái chết, sự đổ vỡ, sự vỡ mộng trước cuộc sống. Họ nhìn hiện thực ở khía cạnh bóp méo, những hình ảnh như zombie, như ma như quỷ tràn ngập ở các trường phái Dada hay các trường phái nghệ thuật tiên phong của châu Âu. Có lẽ Trịnh Công Sơn cũng phần nào thâu nhận hưởng từ cảm thức và mỹ học của giai đoạn như thế. Nhưng có một hệ biểu tượng nổi bật hơn ở âm nhạc của ông, đó là quê hương. Ông không phân ca khúc của mình thành tình ca và nhạc phản chiến mà thành tình yêu, quê hương và thân phận.

Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn nhìn quê hương với một giá trị nhân bản đối lập nó với chiến tranh, cái đó trở đi trở lại. Mối liên hệ giữa nhạc phản chiến với nhạc tình ca của Trịnh Công Sơn chính là độ nhân hậu. Nhạc của ông khác với nhạc tuyên truyền lên gân lên cốt, Trịnh Công Sơn có một cách diễn đạt thuyết phục hơn, có những điều mình thấy độc đáo: “người con gái Việt Nam da vàng, yêu quê hương nên yêu người yêu kém”. Tức là ông Sơn có một cái giỏi, lời đó nói bình thường nghe vụng, nhưng đưa vào âm nhạc thì nghe vẫn hấp dẫn: “đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy, đại bác qua đây con thơ giật mình”. Trịnh Công Sơn rất tài tình trong việc chế biến các nguyên liệu sần sùi thô ráp, những cái mà nghe có vẻ như không có chất thơ, tạo thành ca từ có sức mạnh biểu đạt.

Theo anh, dư âm của nhạc phản chiến đối với ngày hôm nay như thế nào?

Trương Quý: Mình nghĩ nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn vẫn là một kho tang chưa được khai thác hết trong hệ thống âm nhạc đại chúng Việt Nam hiện đại. Trong mấy chục ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn vẫn có nhiều thông điệp vĩnh cửu về đời sống của con người, về tự do, về hạnh phúc, về những giá trị rất cốt lõi của đời sống. Điểm đáng trân trọng nhất là Trịnh Công Sơn vẫn giữ được một tâm thế an nhiên, một sự vô nhiễm, kể cả khi có sự ảnh hưởng của kinh tế hay chính trị. Nó như những cái mộng ước về thế giới, nơi chúng ta có thể sống cùng nhau. Mộng ước ấy ta có thể tìm thấy trong bất kì bài hát nào của Trịnh Công Sơn liên quan đến chủ đề phản chiến. Những hệ thống, mạng lưới, trường liên tưởng trong ca từ của ông rất phong phú. Những hình ảnh, thủ pháp văn học trong lời ca Trịnh Công Sơn vẫn có ý nghĩa quy chiếu nhất định đối với ngày hôm nay. Với mình, nhạc khúc da vàng có một phẩm chất gần với nhạc rock, nó có một tâm thế gì đó muốn bứt phá, nổi loạn, một chút gì đấy muốn thể hiện mình của giới trẻ, nó rất khác với tâm thế “một đời về không, hai tay quy hàng”. Đó là những ca khúc có giá trị nhân văn nhân bản mạnh mẽ.

– Xin cảm ơn anh Trương Quý về bài phỏng vấn này!

Tố Minh – Hà My (thực hiện)

Posted in Âm nhạc, Dạy học, Đọc-nghe-xem-nghĩ | Tagged , , , , , , , | Để lại bình luận