Tag Archives: tiểu luận ngắn

Vũ Thị Kiều Chinh – Tinh thần tiểu thuyết trong truyện ngắn “Nguyễn Thị Lộ” của Nguyễn Huy Thiệp

Bài viết dưới đây là một phần từ bài điều kiện học phần “Tác phẩm và thể loại văn học” của bạn Vũ Thị Kiều Chinh, sinh viên K65, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Khi chọn tác phẩm “Nguyễn Thị Lộ” như một case study để các bạn sinh viên tìm hiểu về tiểu thuyết như một mô hình thế giới quan, thực sự tôi đã không nghĩ xa và nghĩ sâu như những gì mà sinh viên của mình cảm nhận được. Và với tôi, đọc một bài văn mà trước hết, thấy ngay được sự suy nghĩ nghiêm túc, sự chăm chút cho câu chữ, sự mạnh dạn nêu lên quan điểm (cho dù có thể cảm tính, cực đoan chỗ này chỗ khác) luôn là điều làm tôi thấy ý nghĩa nhất của công việc dạy văn.

*

 

tranh-son-dau-hoa-dao (9)

Phẩm chất dễ thấy nhất của “tinh thần tiểu thuyết” mà Nguyễn Huy Thiệp đã trao cho truyện ngắn này của mình có lẽ là chất ngôn tình của nó. Còn có đề tài nào đời thường, trần thế và thực tại hơn một câu chuyện tình yêu với những cung bậc của nó từ lúc gặp gỡ, tìm hiểu, tìm hiểu sâu rồi về với nhau một nhà. Còn có nhân vật nào sống hiện tại hơn kiểu nhân vật trong khi yêu. Và vấn đề nhân vật hay sự kiện có được “thi vị hóa, lãng mạn hóa” lên không, nó chẳng còn nằm ở vấn đề thể loại nữa, vì bản thân, một câu chuyện tình yêu thì cái “thật” nhất của nó đã là cái “thi vị” rồi.

Đành rằng lựa chọn nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp đã mang cho mình ý niệm của “tiểu thuyết”, lấy những nhân vật lịch sử tưởng đã đóng băng trong quá khứ thành những tượng đài mà đập ra cho vỡ vụn, cho tan chảy để hòa với dòng chảy hiện thực, quyện vào nó. Ý đồ này bản thân nó đã thể hiện phương diện “tiểu thuyết hóa” lịch sử của tác phẩm, không nhìn nhận lịch sử như một cái gì bất động, đã xong xuôi mà sinh động, chảy trôi như cách vận động của mọi vật. Nhưng cá nhân tôi cho rằng, khi nhà văn đã quyết đưa cái huyền thoại ra làm chất liệu cho cái đời thường thì công chúng bạn đọc cần đọc nó trong mối tương quan với những cái đời thường khác, những thứ “tiểu thuyết” khác. Tức là không nhìn nhận cái hay, cái đặc sắc của tác phẩm nằm ở việc lựa chọn nhân vật và khía cạnh khai thách của tác giả, cho dù việc so sánh ông Nguyễn Trãi khi yêu với ông Nguyễn Trãi trong triều đình là một đề tài rất thú vị. Những thứ đó chỉ là bước đầu, cái khoảng không ở phía vành ngoài của một tác phẩm, còn khi bước vào tác phẩm, tôi mong muốn nói về Nguyễn Trãi đơn thuần như xét một con người bình thường, một hàng xóm hay một người bạn mang tên Nguyễn X. Và tác phẩm này, nếu có gì thú vị vượt lên trên cái vỏ thể loại “truyện ngắn” của nó, thì đó là thứ xuất phát từ những dị biệt cụ thể thật sự của một con người cá nhân Nguyễn X, chứ không phải vì đó là Nguyễn Trãi nên những suy tưởng đó tự nhiên trở nên hay ho, khác biệt.

Hơn một truyện ngắn với đặc trưng “sít sao”, “trùng khít” giữa nội dung và sự vận động của cốt truyện và tính cách, tác phẩm “Nguyễn Thị Lộ” trải ra nhiều hơn là những dòng suy tưởng của nhân vật, thứ đặc điểm tiêu biểu nhất của “con người nếm trải” trong tiểu thuyết. Những dòng suy tưởng có lúc là tâm trạng khi yêu của các nhân vật, nhưng rộng hơn việc trình bày, kể lể để biểu đạt những cảm xúc như vậy, thứ mà ta dễ dàng bắt được trong các tác phẩm ngôn tình thông thường, việc trình đó còn đem đến nhiều hơn về những quan điểm sống, những triết lí cá nhân về ý thức hệ riêng mình theo đuổi. Những cuộc đối thoại giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ được kể lại từ điểm nhìn của một ngôi thứ ba, lồng trong đó là những đối thoại của từng nhân vật từ điểm nhìn của mình với nhân sinh, với cuộc đời. Những đối thoại này mang nhiều những kinh nghiệm cá nhân của chính tác giả, hơn là những quan niệm có sẵn mang tính lịch sử, thời đại. Tôi thì bị hút vào những nội dung bên trong của cuộc trò chuyện hơn là cảm động bởi bởi cái bên ngoài rằng, đây là hai kẻ tri kỉ tâm ý tương thông.

Những cái bên trong đó trước hết là cảm quan về những lầm lẫn ở đời. Rằng những thứ đang có, đang hiện hữu như một cái nghiễm nhiên quanh ta đều là nhầm, đều là sai hết. Tất cả do bàn tay sắp đặt của một ai đó, một kẻ có quyền lực phía trên nào đó hoặc do một thứ trừu tượng như thể chế nói chung chẳng hạn, quy định ra. Những thứ đang tồn tại này phục vụ cho một mục đích thực dụng nào đó, nhưng thực dụng vẫn còn là có ý nghĩa hiểu theo một nghĩa nào đó, nhưng còn có những thứ còn vô nghĩa, trái khoáy, tệ hại nhưng vẫn ngông nghênh, nhâng nháo góp mặt. Những thứ đó tự dán cho mình những cái nhãn như “thành kiến xã hội”, “quy ước xã giao thông tục”, như “trật tự bầy đoàn”, như “đạo đức duy lý”. Những thứ đó bản thân chúng phần nhiều thuần túy là vật chất, đối lập với đời sống nội tâm cả hai nhân vật. Một kẻ như Nguyễn Trãi, xem trọng cái đẹp, cái nhân, trân trọng lý tưởng kết tinh lại trong quan điểm “đạo đức duy mĩ”. Một kẻ như Nguyễn Thị Lộ sống vô tư, không bị ràng buộc bởi những sợi dây tròng cổ mà xã hội đã chăng ra. Những cái lầm lần đó là tổng kết chung của cả nhân loại, không riêng gì một thời đại, rằng càng ngày, con người ta càng thích sống sao cho có lý nhiều hơn có nghĩa. Tức là cố gắng sao cho thật vừa khuôn, thật hợp lý với khung cảnh hơn là vượt ranh để chạm đến những cái đẹp, những cái cao cả. Vì sự thật là, làm cái gì vừa vặn bao giờ cũng dễ làm và dễ được thông cảm hơn làm những cái to lớn, đồ sộ.

Bên trong những câu chuyện đó, khi phát hiện ra cuộc đời là một mớ bùng nhùng với những lầm lẫn và lộn xộn, con người dễ lâm vào trạng thái tự thấy mình cô độc. Nguyễn Trãi tự ý thức được cái lạc loài của bản thân mình, ông ý thức được vị trí của mình nằm ở bên ngoài của cái vòng tròn vừa khít và trật tự kia. Nhưng con ốc nếu cứ yên tâm an phận trong một vỏ ốc của chính mình thì có lẽ nó sẽ chẳng bao giờ bị xâm phạm. Bi kịch của con người nằm ở chỗ, người ta biết mình đứng ngoài cuộc chơi, nhưng người ta lại khát khao đến hung hãn cái ước vọng được nhập vào cái vòng đó, không phải để hòa trộn, để sống vui vẻ, hòa đồng, mà là để phá tung nó ra, đảo lộn, thay đổi mọi thứ. Khi không đổi thay được, những lí tưởng tốt đẹp bị đánh trả, vùi dập không thương tiếc, tất yếu dẫn đến những tuyệt vọng. Và Nguyễn Trãi là phần trình bày cho bi kịch này. Càng đi xa, càng muốn hòa nhập tất cả, con người càng cảm thấy cô độc, lạnh lẽo. “Nàng biết ông đang chạy tế lên những hệ tư tưởng đương thời, vừa hung hãn, vừa tuyệt vọng.”

Những cái bên trong của câu chuyện chỉ ra nguyên nhân của bi kịch là từ bản chất nghiệt ngã của cuộc đời này, những xã hội mà thuyết vị lợi được coi như tôn giáo chính thống nhất. Khi những thứ gọi là “bi kịch cá nhân”, theo Lê Lợi, mãi mãi nó chỉ là của cá nhân, là những thứ nhỏ bé, không có giá trị. Không cần để mắt. Nguyễn Trãi nhìn ra, những cá nhân làm nên bản chất của quần chúng, từng cá nhân suy đồi có thể dẫn dụ quần chúng đi đến một bi kịch tập thể. Nhưng Lê Lợi chỉ sử dụng cá nhân như những miếng mồi ngon nhử một bầy đoàn khác, cá nhân đó không có giá trị hơn là một công cụ. Ở bất cứ xã hội nào không coi trọng sự tồn tại riêng biệt của từng cá nhân, thì khi anh có một hệ tư tưởng dị biệt, anh nhất định sẽ bị giam mình hoặc phải tự giam mình trong những căn phòng vàng vàng và ngập tối, thậm chí anh còn phải gói ghém nó lại ở một góc nào đó thật sâu, thật tối, và đừng mong có cơ hội thực hành lí tưởng.

Đối diện với những bi kịch đó, bên trong đối thoại giữa hai nhân vật hàm ẩn những giải pháp tạm thời. Khi rơi vào bi kịch của kẻ lạc loại và bị cự tuyệt, con người đơn giản cần tìm đến một người có thể ngây thơ, vô tư để được sống toàn vẹn với tất cả những tử tế và đạo đức của riêng mình. Cả hai nhân vật đều hiểu, nếu những suy nghĩ của Nguyễn Trãi không được “thở” ở một nơi nào đó, có có thể sẽ ngạt hơi, sẽ phân hủy, thối rữa trong tâm thức. Để bớt bi kịch bị tự phân hủy, con người cần ít nhất một kẻ đồng hành hiểu và lắng nghe mình. Ban đầu, Nguyễn Thị Lộ có thể không hiểu mục đích của Nguyễn Trãi khi đến với mình, nhưng việc chỉ cần trên đời còn sót lại tồn tại của một người, có thể là người cuối cùng hiểu được mình, đồng cảm cùng mình thì đời sống đó còn có chỗ để sống, những tư tưởng đó còn một tia hi vọng để thở.

Còn một thứ bên trong nữa tôi muốn nói cuối cùng: quan niệm về cái chết. Người chết nằm dưới nhiều lớp đất, không nói, hoàn toàn lặng im hoặc bị bắt phải lặng im. Nhưng có một thứ vẫn còn sống và chảy: những dòng hồi tưởng. Nguyễn Trãi có thể sinh nhầm thời đại, trên thực tế nếu coi quan điểm cuộc đời bản chất là sai thì việc sinh nhầm thời vẫn là đúng theo cái luật chơi này. Đúng ở chỗ cuộc đời phải đa diện, phải phức tạp nó mới làm nên được hình dạng của những con người tư tưởng, trăn trở. Và vẻ đẹp trong một thế giới hỗn độn có lẽ chính nằm ở việc người ta cứ buồn phiền mãi về những cái bất toàn trong đời sống này. Cơ thể vật lý của những suy tưởng có thể chết đi, nằm sâu dưới đất, nhưng cái linh hồn của những hồi tưởng thì vẫn âm ỉ chảy trôi như một mã gen ngầm, từ đời này qua đời khác, từ những con người này sang những con người khác.

Chính những cái đó mới làm nên một thứ “tinh thần tiểu thuyết” cho một tác phẩm.

Costica Bradatan – Sao phải làm gì? Một suy tư về sự chần chừ

 

nha-tho-8.jpg

Bạn đã từng nghe câu chuyện về vị kiến trúc sư từ Shiraz, người thiết kế thánh đường Hồi giáo đẹp nhất thế giới? Chưa một ai từng đưa ra một thiết kế như vậy. Đó là một mô hình táo bạo đến kinh ngạc mà vẫn rất cân đối, tinh tế đến tuyệt vời, đồng thời còn toát ra hơi ấm của con người rất rõ nét. Những người được nhìn thấy những bản vẽ đều rất đỗi sững sờ.

Những thợ xây nổi tiếng cầu xin vị kiến trúc sư cho phép họ dựng thánh đường; những người giàu có từ xa tìm đến để mua những bản thiết kế; những tên trộm vạch kế hoạch để ăn cắp chúng; những người cai trị thì nghĩ đến việc dùng quyền lực để có được chúng. Thế nhưng vị kiến trúc sư đã tự giam mình trong phòng, và sau khi nhìn ngắm thật kỹ những bản vẽ suốt ba ngày ba đêm, ông đã đem chúng đi đốt sạch.

Vị kiến trúc sư không thể chịu nổi ý nghĩ rằng thánh đường được xây dựng nên rồi sẽ phải đi đến sự xuống cấp, mục nát, cuối cùng nó sẽ sụp đổ hoặc bị tàn phá bởi những kẻ man di. Trong suốt ba ngày đêm giam mình trong phòng, ông mường tượng thấy sáng tạo của mình bị báng bổ, cuối cùng còn lại là bụi rác; ông đã rơi vào trạng thái bất an cao độ bởi viễn cảnh ấy. Có lẽ tốt hơn nếu nó giữ mãi sự hoàn hảo. Có lẽ tốt hơn nếu nó không bao giờ được xây dựng.

Câu chuyện trên là một ngụ ngôn, nhưng ý tưởng chính của nó – trạng thái lý tưởng của một sự vật nào đó là trạng thái trước khi nó đi vào hiện hữu, rằng tốt hơn nếu nó chưa bao giờ được ra đời – vừa có phần đáng sợ, mà lại cũng vừa có phần lạ thường, nhất là đặt trong bối cảnh ngày nay, khi sự tiến bộ và tính năng suất, trên thực tế, là điều được tôn thờ. Và nó khơi dậy một cảm quan triết học mà những cội nguồn xa xưa của nó vẫn đáng để nghiên cứu.

“Thế giới,” như chúng ta đọc được trong sách Phúc Âm của Philip của thuyết Ngộ đạo (Gnostic), “hiện ra nhờ một sai lầm.” Đấng tạo hóa, người tạo thành thế giới, muốn nó “bất tử, trường tồn” nhưng cuối cùng người lại “thiếu nỗ lực để đạt được khát vọng của mình, làm cho thế giới chưa bao giờ ở trạng thái không thể lụi tàn, và cũng vì thế, người cũng chưa bao giờ là kẻ sáng tạo nên thế giới.” Những người theo thuyết Ngộ đạo tin rằng phi hiện hữu chính là dấu hiệu của sự hoàn hảo và sự hiện hữu là một hình thức của sự xuống cấp.

Basilides, một trong những nhân vật thú vị nhất của thuyết Ngộ đạo ở thời kỳ sơ khai, tin rằng đặc điểm lớn nhất của thần linh chính là sự phi hiện hữu. Theo như chính mô tả về bản thân, Bassilides là một nhà thần học, tôn thờ “vị Thượng đế phi hiện hữu”; ông xem Thượng đế là người không hiện hữu, đối lập với người tạo nên thế giới, bị mắc kẹt trong sự tồn tại và thời gian.

Tư tưởng của thuyết Ngộ đạo đưa chúng ta đến một địa hạt quan trọng của bản thể luận: trạng thái hoàn hảo tồn tại trước tình trạng hiện thực hóa. Nghĩa là khi chưa được khai sinh – dù đó là thế giới này, một con người, một đồ vật hay một bài viết như thế này – mọi thứ có thể chỉ là hư không, nhưng đây cũng là đỉnh cao của nó. Tính chất hư không của nó trọn vẹn và phong phú hơn bất cứ sự tồn tại thông thường nào. Rơi vào tồn tại nghĩa là bước vào thời gian, và cùng với thời gian, sẽ là sự tàn tạ, già nua và cái chết.

Những đại diện của ý tưởng này của thời kỳ hiện đại rất hiếm hoi, nhưng triết gia người Pháp gốc Romani, E.M.Cioran chắc chắn là một tên tuổi quan trọng. Đối với Cioran, người đã qua đời vào năm 1995, còn có một thứ tồi tệ hơn rất nhiều so với cái chết, đó chính là “thảm họa của sự sinh ra,” và “sự rơi vào thời gian” đi cùng với điều này. Trong cuốn sách của ông, “The Trouble of Being Born” [Nỗi phiền muộn của việc được sinh ra], Cioran đã phác họa một sự mở ra mênh mông của cái hư không có trước trạng thái bước vào hiện hữu.

“Tôi chỉ bị quyến rũ bởi những gì có trước tôi,” ông viết,  bởi “vô vàn những khoảnh khắc khi tôi chưa tồn tại ở đó: những gì chưa được sinh ra.” Từ nhãn quan ấy, ông đã nhìn thế giới với con mắt mới và hiểu về bản thân mình một cách sâu sắc hơn: “Tôi chưa bao giờ nghiễm nhiên coi mình là một tồn tại (a being). Một phi công dân (noncitizen), một dạng bên lề, một hư không chỉ hiện hữu bởi sự thái quá, sự dồi dào đến dư thừa sự hư không của chính mình.”

Cioran là người có một gu khác thường. Ông yêu mến những người thuộc bộ tộc Thracian vì họ “khóc thương cho những gì được sinh ra trên đời” và những người theo dòng tu Bogomil của thuyết Ngộ đạo, những người “để biện minh cho Thượng đế, đã quy trách nhiệm cho Satan vì đã làm ô danh đấng Tạo hóa.”

Tất cả những điều này khơi dậy một câu hỏi hiển nhiên: Vậy tại sao cứ phải làm gì đó? Tại sao lại cứ phải làm nhân lên sự thất bại mang tính chất phổ quát, tại sao cứ làm “ô danh đấng Tạo hóa”?

Sự biếng lười, như ta biết, phải chịu những điều tiếng trong văn hóa phương Tây, nhưng nó có thể xứng đáng được xem là một kinh nghiệm triết học. Bertrand Russell đã từng viết một tiểu luận dài để ngợi ca nó, và Oscar Wilde thì nghĩ “việc hoàn toàn không làm cái gì cả là việc khó khăn nhất trên đời” cũng như là một việc đòi hỏi trí tuệ nhiều nhất. Những nhân vật văn chương biếng lười nhất (Oblomov trong tiểu thuyết của Ivan Goncharov hay Bartleby của Melville) là những hình tượng thể hiện sự truy cầu siêu hình: họ là ví dụ điển hình cho việc sống đời sống con người với sự phức tạp bất thường.

Sự biếng lười, bởi thế, phát lộ một kinh nghiệm về hư không. Tuy cái hư không nằm ở trung tâm những truyền thống tư tưởng phương Đông như Phật giáo và Đạo giáo, thì chúng ta ở phương Tây, về cơ bản, lại ít chú ý đến nó; xét cho cùng, một trong những nhánh đặc trưng của triết học phương Tây là bản thể luận, tức lĩnh vực nghiên cứu cái tồn tại.

Thế nhưng kể cả khi chúng ta không lựa chọn ôm lấy cái hư không thì chính cái hư không có thể ôm lấy ta. Trạng thái đó không phải vì ta không có gì để làm, hay do chúng ta chán chường, hay chúng ta gác mọi sự lại để làm sau mà chỉ là vì ta không nhìn thấy mục đích nào. Với sự biếng lười của mình, chúng ta đã trực cảm được sự vô nghĩa mang tính vũ trụ, đi cùng với một nhận thức rằng, mỗi hành động đều chỉ làm ta vướng víu hơn vào tấn hề kịch phổ quát.

Có lẽ hình thức dễ làm say đắm nhất của sự lười biếng chính là trạng thái mà có lẽ hầu như tất cả chúng ta đều thấy quen thân: sự chần chừ. Rất có tìm thấy sự biếng lười trong một trạng thái thuần khiết. Thực vậy, theo một nghĩa nào đó, nó lảng tránh chúng ta vì, ở hình thức cực đoan nhất, sự biếng lười có xu hướng tàn phá cả những kẻ là tín đồ của nó (như Oblomov và Bartleby). Nhưng sự chần chừ cũng lại là một việc khác: nó không những là một trạng thái quen thân hơn mà còn tích cực hơn, kẻ chần chừ còn là một hình tượng kịch tính hơn cả kẻ biếng lười vốn giống như một nhà khổ hành và bất động như một ẩn sĩ sống trên đỉnh cột.

Kịch tính của sự chần chừ xuất phát từ bản chất bị phân tâm của nó. Giống như vị kiến trúc sư từ Shiraz, kẻ chần chừ bị ám ảnh bởi hình ảnh hoàn hảo của cái còn chưa được sinh ra; y bị bỏ bùa bởi sự thuần khiết và tráng lệ. Cái mà y đang hình dung thấy là cái mang tính toàn vẹn, không bị thời gian phá hoại, không bị vấy bẩn bởi những hoạt động của thế giới hỗn loạn. Dẫu vậy, cùng lúc đó, kẻ chần chừ cũng ý thức rõ tất cả rồi sẽ biến mất. Ngay khi vừa thoáng nhìn thấy sự hoàn hảo trước khi nó được hiện thực hóa, y đã bị lãnh án phải trở thành một phần của cái quá trình hiện thực hóa ấy, trở thành kẻ làm biến dạng cái lý tưởng và mang vào thế giới này một bản sao tạm bợ, không như vị kiến trúc sư kia, người bảo vệ sự hoàn hảo bằng việc đốt sạch các bản vẽ.

Kẻ chần chừ suy tư về hành động của mình và nhận thức được toàn bộ sự bất toàn ở tương lai của hành động ấy, nhưng như là một tạo vật bị sa giáng, “một con người của thế gian”, một phần của “vết ố của đấng Tạo hóa”, y vẫn phải thực hiện hành động ấy. Kẻ chần chừ vừa là kẻ suy tưởng, vừa là con người của hành động – điều tồi tệ nhất mà y phải trở thành, và cũng chính nó như xé y ra thành từng mảnh.

Điều mà sự chần chừ phát lộ, hơn hết, là nỗi lo âu của sự sáng tạo: Nó làm chúng ta đau đớn đến mức không chịu nổi khi nhận ra, dù mang những chú ý tốt đẹp thế nào đi nữa, chúng ta vẫn cứ là những tác nhân của sự tha hóa, xuống cấp, rằng thay vì tạo ra một cái gì đó toàn vẹn và không thể hư hoại, thì bằng chính hành động thực hiện nó, ta đã biến nó thành cái “có thể lụi tàn và hữu tử,” như lời của tác giả sách Phúc Âm của Philip trong thuyết Ngộ đạo. Sự chần chừ và niềm hoài tiếc gắn bó chặt chẽ với nhau: vì khi chần chừ cũng là khi ta hoài tiếc bởi tính chất tạm bợ của sáng tạo của ta, thậm chí trước khi mang nó vào thế giới này.

Có lẽ chúng ta nên dành nhiều thời gian hơn để chăm chú vào cái ảo phong nhiêu, dồi dào có trước tình trạng bước vào hiện hữu. Sau cùng, đó mới là ý nghĩa của một sự suy tư đích thực: xác lập mối liên hệ với cái phi thực của các sự vật hiện tượng, rèn cho tư duy của mình một khả năng nhìn các sự vật từ một góc nhìn đặc quyền, trong tình trạng tiền tồn tại và phi tồn tại của chúng. Thay vì mặc kẹt trong vẻ bề ngoài dễ gây nhầm lẫn của thế giới vật chất, chúng ta đưa mình về lại một khoảnh khắc khi thế giới, với tất cả những lỗ hổng và sự bất toàn của nó, còn chưa xuất hiện.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Costica Bradatan, “Why do anything? A Mediation on Proscination”, https://www.nytimes.com/2016/09/18/opinion/why-do-anything.html?_r=2

Costica Bradatan – Khoái cảm hủy hoại của chúng ta

human abyss 1

“Tôi, chẳng hạn,” người kể chuyện vô danh trong tác phẩm Bút ký dưới hầm (1864) của Fyodor Dostoevsky, “sẽ chẳng mảy may ngạc nhiên nếu đột nhiên, không biết từ đâu, giữa thế giới hữu lý phổ quát này, lại xuất hiện một gã ti tiện, hay khá khẩm hơn, một kẻ ngược đời, thích nhạo báng, tay chống nạnh và nói với tất cả chúng ta: “Vâng, thưa các vị, tại sao chúng ta không giản lược cả mớ những thứ hữu lý này thành bụi bằng một cú đá trúng phóc, đem gửi tất cả những phép toán logarithm này cho quỷ dữ và sống thêm một lần nữa theo ý chí ngu ngốc của chính mình! Vẫn sẽ chẳng có gì sất, nhưng điều xúc phạm ở đây là hắn ta chắc chắn sẽ tìm thấy những kẻ hưởng ứng mình bởi con người vốn dĩ đã được cấu tạo nên như thế.”

Những suy nghĩ của nhân vật mà dường như giờ đây đã trở nên thích đáng – không chỉ qua sự kiện Donald Trump nắm quyền lực tại Nhà Trắng mà qua sự trỗi dậy của cảm thức và đường lối chính trị dân túy ở những khu vực khác trên thế giới. Song dù mang giọng điệu chế giễu, cười cợt, những bình luận của người dưới hầm vẫn mang những ngụ ý nghiêm túc và sâu xa. Vì, xét đến cùng, điều y nói với chúng ta ở đây là câu chuyện về một sự mù quáng thảm họa có tính lịch sử.

Một thời gian trở lại đây, ở phương Tây, chúng ta sống theo một số giả định văn hóa về việc “Thế nào là người?”: rằng con người bị thúc đẩy bởi một “cuộc truy cầu hạnh phúc” mang tính duy lý, rằng họ lựa chọn – một lần nữa, theo lý trí – cái gì là tốt nhất cho mình, cái gì đem đến lợi ích cho cá nhân và tập thể. Một phần nhờ di sản của thời kỳ Khai Sáng này, chúng ta đi đến mặc định lịch sử là sự tiến bộ, hướng đến sự dung nạp, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, khoan dung và thừa nhận lẫn nhau và lòng cuồng tín, thói bài ngoại, sự khắc nghiệt và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc sẽ dần dần biến mất như là “tất yếu lịch sử”. Vì lịch sử, như Hegel đã dạy chúng ta (mà chúng ta lại hiếm khi thách thức ông thầy này), thực ra chỉ là sự mở dần dần chiều kích lý tính trong thế giới.

Những mặc định này được phản chiếu qua cách mà triết học chính mạch kiến tạo chủ thể người. Cái định nghĩa nên con người chủ yếu là năng lực lý tính của chúng ta; chúng ta bao giờ cũng sử dụng lý trí của mình để đưa ra những quyết định, liên hệ với kẻ khác và thế giới quanh mình, làm chủ cuộc đời mình. Cứ cho là chúng ta có những cảm xúc, có năng lực cảm nhận và đam mê, nhưng  không hiểu vì sao, trong cuộc truy cầu dự phóng triết học của chúng ta, những phương diện cấu tạo nên bản chất của chúng ta. Chúng không phải là những thứ làm nên chúng ta; chúng ta, về cơ bản, là những “tác nhân lý tính” (rational agents).

Giả định này có những lợi ích của nó. Vì hành vi kinh tế và xã hội của những nhân tố như thế có thể dự đoán được – thực vậy, hành vi ấy có thể được nhào nặn, kích thích, thậm chí điều khiển. Không những ta có thể biết những tác nhân lý tính ấy sẽ mua một sản phẩm nào đó mà nhờ vào những thủ thuật market nhất định, họ sẽ còn bị thôi thúc để làm việc ấy. Nếu chủ nghĩa tư bản hiện đại được xem là thành công thì đó là vì, ở tâm điểm của mình, nó dựa vào một nhận thức duy lý phì đại (hyper-rationalistic) về chủ thể người.

Thế nhưng giả dụ tất cả điều này là sai và chúng ta bị mắc kẹt trong một điểm mù thì sao? Nếu lý tính không phải là lực thúc đẩy lịch sử nhân loại và chúng ta, thực ra thường xuyên hành động một cách phi lý tính, theo xung lực của sự oán ghét, giận dữ, mệt mỏi, đố kỵ, thậm chí tự hủy hoại thì sao? Giả dụ sẽ ra sao nếu như thậm chí có một thứ như là sự truy cầu nỗi bất hạnh? Hay, nói như lời nhân vật dưới hầm, “Giả dụ có một lúc nào đó, lợi ích của con người không những có thể mà thậm chí nằm trong chính mong muốn về một điều gì đó tệ hại đối với mình, thì sẽ thế nào? Giả dụ trên thực tế chúng ta tìm thấy khoái cảm trong sự hủy hoại? “Tôi chắc chắn con người sẽ không bao giờ khước từ nỗi đau khổ thực sự, tức là sự hủy hoại và hỗn mang,” nhân vật của Dostoevsky đã khẳng định như vậy trong một đoạn khi y đang đắm chìm vào những suy tư triết lý của mình.

Trên thực tế, chủ nghĩa duy lý phì đại mà chúng ta đang sống trong nó và chiếm lĩnh nó dựa vào một sự đơn giản hóa đến cực điểm bản chất thực sự của con người. Đó là một sự mô tả thiên về tính châm biếm hơn là thực tế. Và triết học biết về điều này rõ hơn: từ Diogenes xứ Sinope và Augustine đến Pascal, từ Dostoevsky, Schopenhauer và Leopardi đến Nietzsche, Mishima và Cioran, có cả một truyền thống lâu dài suy tư về vực thẳm của con người. Nếu con người là một con thú phức tạp thì nhân loại còn là một quái vật phức tạp hơn thế nữa, với nhiều lớp lang, phân khu, lớp này lại phi duy lý hơn lớp kế tiếp.

Loài người là đầu mối của vố số những nghịch lý và động cơ đối lập; lý trí và phi lý trí;  uyên thâm và nông nổi, logic và tưởng tượng. Chúng ta “ăn” khoa học chính xác cũng nhiều không kém các huyền thoại, các câu chuyện hư cấu, ngụ ngôn. Chúng ta có thể chết cho kẻ khác, cái khác hoặc có thể để chúng giết chết ta lạnh lùng; chúng ta có thể tạo ra những thứ phi thường chỉ để thưởng thức sự hủy hoại tột cùng của chúng; xã hội loài người có thể cùng lúc vừa là thiên đường, vừa là địa ngục.

Trong thế kỷ vừa qua, triết học hầu như đã bỏ rơi những nỗ lực để giải thích sự phức tạp này và thời đại dữ liệu lớn, đến lượt mình, đã bùng nổ. Chúng ta trở thành bậc thầy của sự tuân phục, bằng chứng và khoa học kinh nghiệm. Chúng ta đọc sách của Pascal, Nietzsche, Dostoevsky và nhiều nhà tư tưởng khác, những người suy tưởng về vực thẳm như thể chúng ta nhìn vào những đồng tiền xu cổ: như là những hiện vật gây tò mò, dấu tích của một thời đại xa xưa, chứ không phải như những gì mà có thể nuôi dưỡng chúng ta hôm nay. Chúng không có giá trị gì trong việc giúp chúng ta hiểu tốt hơn về chính mình.

Cứ như thể chúng ta đã trở nên duy lý hơn cả Descartes nữa; ta từ chối bất cứ cái gì không rõ ràng và rạch ròi;  nếu cái gì đó bất tuân những kiến giải thông thường và dường như có phần bí ẩn, thì nó sẽ bị xem là “có hơi hướm tôn giáo”. Nếu một vấn đề nào đó khuấy động chúng ta, nhưng nó lại không thể giải quyết được bằng ngôn ngữ học, các thuật ngữ logic hay kinh nghiệm, ta sẽ coi đó là một “vấn đề giả” và đi tiếp. Ngày nay, người ta thường nghĩ sẽ chẳng ích lợi gì, chẳng khoa học gì nếu nói đến những vấn đề thuộc trái tim con người – mà chính cái điều nhỏ bé bí ẩn này lại thứ khiến con người hành động, sống và chết chứ không phải logic hay lập luận.

Tuy nhiên, lý do chính để chúng ta không quan tâm suy tư về vực thẳm lại không tất yếu là sự lười nhác về tinh thần. Phần lớn thời gian, đó thuần túy là do niềm sợ hãi. Vì, như Nietzsche từng cảnh báo, nếu ta nhìn thật chăm chú vào vực thẳm, vực thẳm ấy sẽ bắt đầu nhìn lại ta. Dostoevsky – nhà xã hội chủ nghĩa, tù nhân chính trị, một tay nghiện cờ bạc, một nhà tư tưởng phản động, một nghệ sĩ có tầm nhìn xa rộng – đã nhiều lần nhìn sâu xuống vực thẳm và lời chứng nhận của ông gây choáng ngợp. Gần như “hiển nhiên”, ông thú nhận trong “Nhật ký nhà văn”, “rằng cái ác nằm sâu trong con người hơn là những gì mà các bác sĩ-xã hội của chúng ta giả định; rằng không cấu trúc xã hội nào sẽ trừ khử được cái ác; rằng tâm hồn con người vẫn cứ luôn là vậy; rằng sự dị dạng và tội lỗi sẽ nảy sinh từ chính tâm hồn; và cuối cùng những quy luật của tâm hồn vẫn còn hầu như chưa được biết đến, quá mờ tối đối với khoa học; quá bất định và bí ẩn dến nỗi không có, và không thể có các bác sĩ hay những thẩm phán cuối cùng dành cho nó.”

Khi mô hình duy lý phì đại thất bại, thì sự thất bại của nó cũng thật ngoạn mục. Trong cuộc bầu cử tại Mỹ, lý trí đã nhường chỗ cho sợ hãi, oán giận, căm ghét và bất chấp tất cả. Hầu như không thấy “tác nhân duy lý” ở đâu cả. Những gì dường như thúc đẩy sự ủng hộ cho Donald Trump còn tối tăm hơn và phức tạp hơn – bởi nó xuất phát từ tâm ý. Và điều khiến sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không hẳn là khía cạnh chính trị của nó (dù đây là khía cạnh đủ nghiêm túc) mà là việc chúng ta nhận ra mình được trang bị nghèo nàn như thế nào để có thể hiểu nó. Chính bởi cái cách rất vụng về mà chúng ta vẫn tưởng tượng về mình, chúng ta đã không được chuẩn bị để có thể tiêu hóa nổi sự kiện này. Hiếm có một thất bại của trí tưởng tượng nào lại bẽ bàng hơn thế.

Vấn đề vực thẳm của con người từng là mối quan tâm đặc biệt của tôn giáo, song kể từ Thượng đế chết, chúng ta thực sự chưa tìm được một sự thay thế khả dĩ nào. (Không phải không có những ứng viên nghiêm túc cho vị trí này). Tuy nhiên, nếu chúng ta vẫn cứ tiếp tục là ngườ, lãng quên vấn đề này, nhìn ra đâu đó, không nên là một lựa chọn. Các ngành nhân văn có thể sáng tạo lại chính mình, chỉ trong chừng mực trong khả năng đầy đủ nhất mà con người có, chúng có thể đo được chiều sâu trọn vẹn của vực thẳm nhân sinh. Nếu chúng ta không tìm được một cách nào đó để giải thích về chủ thể người một cách toàn vẹn, mà không tự vuốt ve hay tự lừa dối, chúng ta sẽ chỉ quẩn quanh, không thể nào vượt qua được chủ nghĩa duy lý phì đại mù quáng mà mình là nô lệ của nó.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Costica Bradatan, “Our Delight in Destruction”, https://www.nytimes.com/2017/03/27/opinion/our-delight-in-destruction.html?rref=collection%2Fcolumn%2Fthe-stone&action=click&contentCollection=opinion&region=stream&module=stream_unit&version=latest&contentPlacement=1&pgtype=collection&_r=0

John Kaag & Clancy Martin – Nhìn thẳng cái chết

Không ai là một hòn đảo, tự mình toàn vẹn trong chính mình (...) ; 

mỗi người là một mảnh của Đại lục (...). Cái chết của mỗi một 

người đều làm tôi bị mất mát đi, bởi lẽ tôi gắn liền với Nhân loại. 

Và, bởi thế, xin đừng bao giờ hỏi rằng chuông gọi hồn ai. 

Chuông gọi hồn anh đó. 

(John Donne - nhà thơ Anh [1572-1631])

Ramses II, còn được biết đến là Ramses Đại đế, sinh cách đây 3000 năm, và thường được coi là vị pharaoh quyền lực nhất của Đế chế Ai Cập. Người Hy Lạp đã gọi ông là Ozymandias. Khi qua đời vào năm 1213 trước Công nguyên, ông để lại một loạt những đền đài, cung điện trải dài từ Syria đến Libya, cùng vô số tượng và tượng đài để tưởng niệm thời trị vì đầy ấn tượng của ông. Đến cuối thế kỷ XIX, khi quá trình thuộc địa hóa của châu Âu chạm đến Ai Cập, hầu hết những bức tượng này đều đã không còn nữa và những gì còn lại thì đều chỉ là những tàn tích. Năm 1816, nhà khảo cổ người Italia, Giovanni Belzoni đã phát hiện một bức tượng Ramses  bán thân và đem nó về cho Bảo tàng Vương quốc Anh. Đó là khi đời sống của Ozymandias, theo một khía cạnh nào đó, thực sự bắt đầu.

“Ozymandias”, bài sonnet có lẽ nổi tiếng nhất của Percy Bysshe Shelley, được sáng tác vào năm 1817 – thời điểm mà phần còn lại của bức tượng nổi tiếng ấy được từ từ vận chuyển từ Trung Đông đến Anh. Shelley tưởng tượng một khách lữ hành hồi tưởng lại một hành trình giữa một sa mạc xa xôi. Tương tự Belzoni, nhân vật của Shelley phát hiện một bức tượng bán thân vĩ đại, gần như bị vùi sâu giữa trảng cát lộng gió. Bên cạnh phần thân tượng hư nát là bệ đỡ nơi pho tượng từng được dựng trên đó. Trên phiến đá là dòng chữ được khắc: “Tên của ta Ozymandias, vua của các vị vua: Hãy nhìn lên những công trình của ta, này con người cao quý, và hãy tuyệt vọng!” Tất nhiên, như bài thơ của Shelley nói cho ta biết,  hầu như những công trình được tạo dựng bởi vị vua của mọi vị vua này không để lại dấu tích nào. Chỉ cát là còn lại.

Thông điệp của bài thơ mang ý nghĩa vĩnh cửu: tất cả những thứ này sẽ sớm tàn lụi thôi, nhanh hơn ta nghĩ rất nhiều. Danh vọng luôn có điềm báo – sự suy tàn tất yếu của nó. Bản danh sách những nhân vật nổi tiếng qua đời năm 2016 – Prince, Nancy Reagan, David Bowie, Elie Wiesel, Bill Cunningham, Muhamad Ali, Gordie Howe, Merle Haggard, Patty Duke, John Glenn – như nhắc ta về sự tất yếu này. Cố nhiên, năm 2016 cũng là một năm đánh dấu một đế chế mới, và đồng thời là bóng ma tận thế. Dịp cuối năm cũng là lúc ta nghĩ đến những vương quốc được xây dựng, song cũng là lúc nhớ đến sự hủy hoại quá đỗi chóng vánh của chúng. Đó là cơ hội để ta quen dần với sự mong manh của hiện sinh, điều mà ta thường không để ý trong phần lớn thời gian sống của mình và đó cũng là điều mà ngay cả những kẻ vĩ đại nhất trong chúng ta phải đối mặt.

Chúng ta có xu hướng trì hoãn câu hỏi về sống hay chết cho đến khi quá muộn để trả lời nó. Đây có lẽ là điều đáng sợ nhất của cái chết: ta chết chỉ để nhận ra, nói như lời Thoreau, rằng mình chưa sống.

Tuy nhiên, đối mặt với cái chết hiếm khi nào là điều đơn giản. Chúng ta né tránh nó vì chúng ta có thể. Có lẽ sẽ dễ hơn nghĩ về “sự đang chết” như một tính từ hơn là một động từ, thí dụng như một bệnh nhân đang hấp hối hay những lời trăn trối của ai đó. Điều này cho phép ta giả vờ như thể chết là cái gì đó sẽ xảy ra trong một tương lai xa xôi nào đó, ở một thời điểm nào đó, với ai đó khác. Chứ không phải với ta. Ít nhất không phải bây giờ. Không phải hôm nay, không phải ngày mai, không phải tuần tới, thậm chí không phải thập niên tới. Cả một đời người tính từ bây giờ.

Chết, cố nhiên, tương ứng một cách chính xác với cái mà chúng ta thích hơn – “sống”. Đó là điều mà Samuel Beckett muốn nói khi ông nhận định rằng chúng ta “băng qua mộ huyệt mà tạo sự sinh” Đó là một nhận thức về hiện sinh mà có lẽ những người rất già hoặc rất ốm thấm thía hơn cả. Người già  nhìn thấy người trẻ, những người vô tâm lãng phí ngày tháng, thời gian – thứ mà giờ đây họ nhận ra vô cùng quý giá.

Khi quá trình chết đưa chúng ta đến một kết cục bất ngờ, không cưỡng lại được, chúng ta lại muốn nghĩ mình vừa trải qua một phiên tòa khắc nghiệt vì một lý do nào đó. Việc chết cho một điều gì đó khiến cho cái chết mang một vẻ anh hùng. Song thực sự đây là điều dễ dàng nhất trên thế giới và hầu như ít liên quan đến danh vọng và vận mệnh. Khi ta tỉnh dậy, ngồi ăn sáng, ta đang chết cho một điều gì đó. Khi ta lái xe đi làm, ta đang chết cho một điều gì đó. Khi ta chuyện trò tán nhảm vô nghĩa với đồng nghiệp, ta đang chết cho một điều gì đó. Mỗi khoảnh khắc thời gian trôi, ta đều đang chết cho một điều gì đó. Mẹo để chết cho cái gì đó là hãy chọn lấy một thứ thật đúng mà làm lý do để chết, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi năm quý giá. Và điều này đương nhiên rất khó và chắc chắn đây không phải là điều tất yếu.

Nếu chúng ta hiểu điều này đúng đắn thì sự khó khăn là chỗ này – từ khi chúng ta trở thành người trưởng thành về ý thức, mà có lẽ thậm chí trước cả khi đó, chúng ta phải lựa chọn việc mình sẽ chết như thế nào. Đó không phải là việc chúng ta chọn  việc bị ung thư hay bị xe tông (mặc dù có những lựa chọn như vậy khiến những kết cục này có thể xảy ra) mà là, nếu chúng ta đủ may mắn (nghĩa là, nếu chúng ta không bị rút lại sự tự do của chúng ta bởi một trường hợp, hay một sức mạnh tàn nhẫn nào đó mình không kiểm soát được), chúng ta có được mức độ lựa chọn đáng kể việc gì mình phải làm, phải nghĩ, phải trở thành trong lúc đợi cái chết, việc sẽ sống như thế nào, điều đó cũng có nghĩa chúng ta có một mức độ lựa chọn đáng kể về việc mình sẽ sống cái sự chết đi của mình như thế nào. Lựa chọn ấy, giống như chính cái kết cục, là  thứ chỉ riêng của ta, là cái cuối cùng của ta. Đó là điều Heidegger muốn nói khi ông viết cái chết là “khả thể của riêng ta tuyệt đối”: Giống như tự do, cái chết là của chúng ta, chỉ của chúng ta.

Nghĩ đến những người anh hùng của chúng ta, bạn bè của chúng ta, những người ta yêu quý qua đời, chúng ta có thể sẽ cố gắng để nhận thức chân thành rằng, cái chết đang đến, và cái chết đáng sợ. “Một người tự do nghĩ về cái chết ít nhất trong mọi điều, và sự hiền minh của anh ta không phải nảy sinh trên cơ sở sự suy tư về cái chết, mà là đời sống,” Spinoza đã nói thế. Nhưng chúng ta thậm chí còn chưa bắt đầu nghĩ về đời sống, chưa thật sự, cho đến khi ta đối mặt với thực tế rằng ta làm mọi thứ chúng ta có thể để không nghĩ về cái chết. Và có lẽ, chúng ta, rốt cục, không sợ sự chết bằng việc không sống và chết một cách dễ chịu, yên ổn.

Đời sống thường  nhật không thiếu những thứ làm chúng ta tiêu phí thời gian: tiền bạc, trí tuệ, nhan sắc, quyền lục, danh tiếng. Tất cả chúng ta đều cảm nhận được. Nhưng sự thật khó chịu, đáng sợ nằm ở chỗ chết cho một cái gì đó, như tiền bạc hay quyền lực, dường như lại không phải là một lựa chọn. David Foster Wallace từng tranh luận rằng phần lớn chúng ta chết vì mục đích giàu có hay danh dự chẳng qua là vì đó là “thiết lập mặc định” (default setting). Vấn đề không nằm ở chỗ chúng ta lựa chọn những thứ không đúng để chết cho chúng mà vì thực chất, chúng ta có lựa chọn đâu? Chúng ta chọn sống bằng sự ủy nhiệm. Chúng ta cho phép mình mắc kẹt trong một cái bẫy tâm lý ngăn chúng ta nhìn thấy cái gì mới có thể là thứ có ý nghĩa thật sự trong đời sống của mình. Làm thế, theo Wallace, chúng ta chấp nhận “trải qua đời sống trưởng thành dễ chịu, giàu có, đáng kính nể như một người trong trạng thái chết, vô thức, ta như một nô lệ với cái đầu của mình với các thiết lập mặc định tự nhiên của chúng ta, cái làm cho ta thấy mình độc đáo, tự đủ và uy quyền mỗi ngày.” Chúng ta có thể gọi đây là cái bẫy Ozymandias – Hãy nhìn lên những công trình của ta, này con người cao quý, và tuyệt vọng! – chúng ta phải cảnh giác để không tự mình rơi vào cái bẫy ấy.

Hầu như mọi ngày chúng ta đều phát hiện ra mình không hoàn toàn sẵn sàng với nhiệm vụ giải thoát mình khỏi cái bẫy Ozymandias. Những ngày khác, chúng ta sợ mình sẽ thất bại thảm hại. Thật không thực tế để yêu với nhận thức rằng mỗi ngày đều có thể ngày cuối của ta. Nhưng ít nhất thì chúng ta có thể ngừng giả vờ rằng mình sẽ tồn tại mãi.

Trong tác phẩm nổi tiếng của Tolstoy, “Cái chết của Ivan Ilyich”, nhân vật đang hấp hối đã chấp nhận một cách miễn cưỡng sự chết của mình, dẫu rằng đây là duy nhất ông không thể né tránh sự thật được nữa:

Đó không phải là vấn đề liên quan đến ruột thừa hay quả thận, mà là vấn đề đời sống… và cái chết. Phải, đời sống ở đó và giờ đây nó đang đi, đang đi và mình không thể dừng nó lại được. Phải. Tại sao tự lừa dối mình? Chẳng phải mọi người, trừ mình, đều thấy rõ là mình đang chết đó sao?… Nó có thể xảy ra ngay tại lúc này. Đã từng có ánh sáng và giờ là bóng tối… Khi mình không còn nữa thì cái gì sẽ còn đó? Sẽ chẳng có gì hết…

Ivan Ilyich không thể đánh lừa bản thân được nữa, thực sự ông đang chết. Ông đã nhận ra điều mà rõ ràng Ramses đã không nhận thức được: Với cái chết của mình, không có sự biện hộ nào cho đời sống của ông, không có dấu tích nào của ông để lại đằng sau, không có tượng đài nào mà ông đang đi đến. Ông đã tự đánh lừa mình cả đời để giấu đi sự thật rằng ông đang trên đường đến cái chết.

Cuối cùng thì Ivan đã giải phóng mình ra khỏi sự tự đánh lừa bản thân. Và cả chúng ta nữa, cũng có thể tự giải phóng mình khỏi sự dối lừa này. Ngay hôm nay, ngay lúc này, càng tốt.

Nếu thành công, chúng ta có thể nhận ra chính việc đối mặt với sự thực về sự tồn tại không vĩnh viễn của mình có thểm đem đến một điều gì đó bất ngờ và ấn tượng, làm biến đổi chính bản chất của cách mà ta sống.

———

John Kaag là giáo sư triết học tại University of Massachusetts, Lowell, là tác giả cuốn sách American Philosophy:  A Love Story. Clancy Martin là giáo sư triết học tại University of Missouri, Kansas City.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: “Looking Death in the Face”, http://www.nytimes.com/2016/12/26/opinion/looking-death-in-the-face.html

A. E. Stallings – Thơ ư? Sao phải bận tâm?

bosch-temptations-of-saint-anthony-left-panel-16

Ừ, không thích thơ thì có sao đâu. Tôi, chẳng hạn, không quan tâm đến thể thao. Người thích cái này, người lại thích thứ kia, như Horace từng nói. Thơ đã tồn tại trước khi có bảng chữ cái (thậm chí có một giả thuyết cho rằng, bảng chữ cái Hy Lạp cổ đại được phát minh nhằm mục đích để ghi lại thơ) và nó cũng hoàn toàn có thể thích nghi với việc phát tán qua mạng internet để đọc trên các màn hình nhỏ, không giống như trường hợp của tiểu thuyết. Tại sao lại cứ phải bận tâm về nó, thậm chí chiều chuộng nó – nước Mỹ có tháng Thơ ca quốc gia (Tháng tư, dĩ nhiên rồi), rồi lại có cả ngày Thơ Quốc tế, cũng như có hàng loạt ví dụ khác về sự lăng xê ồn ào dành cho nó? Thơ không hữu dụng và nó có mặt ở mọi nền văn hóa. Nó không những không bị lâm nguy mà còn sống dai dẳng hơn một số sinh thể trên bề mặt trái đất này. Nó sẽ chỉ lụi tàn cùng với chính loài người chúng ta. Tôi lo âu về báo chí. Tôi không lo âu về thơ ca.

Làm một nhà thơ là một vấn đề phức tạp hơn.

Đó có phải danh hiệu người ta nên khoe, chẳng hạn, tại một bữa tiệc cocktail? Chẳng phải sẽ dễ dàng hơn nếu chỉ nói rằng, tôi là nhà văn, và rồi tiếp tục câu chuyện? Nếu bạn muốn ngừng một cuộc chuyện trò, bạn luôn có thể nói rằng tôi là nhà thơ. Nếu người nói chuyện của bạn vẫn tiếp tục níu kéo câu chuyện, hỏi bạn câu hỏi đại loại như “Bạn viết thứ thơ gì?” Bạn luôn có thể trả lời, “Thơ hay.” Thường cái mẹo này sẽ khiến bạn không phải tiếp tục câu chuyện nữa. Hoặc đôi khi, nếu đây là một đám đông ít nhiều chữ nghĩa hơn, tôi có thể diễn đạt đại khái, “à, thơ có vần ấy mà.”

Những khoái cảm của thơ ca thường mang tính chất khiêu khích, mà có lẽ nó đã luôn luôn như vậy. Những thi sĩ và những gã du đãng thường gắn bó với nhau kể từ Homer và Hesiod (“ăn mày ghét ăn mày, nhà thơ ghét nhà thơ”). Thơ, nằm ngoài những mối bận tâm thương mại, chủ yếu là vì không có tiền trong thơ, và cũng không thích hợp với quyền lực, nó gạt những nhà làm luật sang môt bên, chính vì thế, ít nhất, nó cũng xứng đáng có được đặc quyền là không cần phải nhất mực sùng kính nó. Tôi định viết thơ khi tôi đang trốn khỏi một dự án khác – viết văn xuôi như thế này, chẳng hạn, hay dịch thuật. Thơ là nơi tôi chơi, mà cũng là nơi để tôi tìm sự an ủi. Như William Carlos Williams đã từng nói rất hay, trong bài thơ suy tưởng của ông “Asphodel, that Greeny Flower” (Ôi Thủy tiên, bông hoa xanh ấy): “Thật khó/ để lấy ra tin tức từ những bài thơ/ thế nhưng con người ta vẫn chết một cách khổ sở mỗi ngày/vì thiếu/cái mà chỉ tìm thấy được ở đó”.

Thực tình mà nói, nỗi lo sợ về sự phổ biến của thơ ca, hay mối ác cảm đối với nó cũng vì cái tâm lý ấy, đối với tôi, như một thứ xa xỉ. Gần đây, tôi có phụ trách một workshop đặc biệt về thơ ca tại một trung tâm ở Athens dành cho những phụ nữ tị nạn – đa số là phụ nữ Afghan, Syrian, Iraq. Đó là một công việc đầy khó khăn, bởi không một ai trong số họ thành thục tiếng Anh; một dịch giả và một ứng dụng dịch thuật trên điện thoại di động giúp chúng tôi nhận diện được những tiếng lóng, những từ rỗng nghĩa hay những kẽ hở ngôn ngữ. Họ sống trong các lán trại, nơi những nhu cầu cơ bản như thực phẩm, chỗ ở hầu như không được đáp ứng. Song họ lại yêu những khả năng của thơ ca. Trong một bài thơ của một nhóm liệt kê những thứ mà từ “nhà” có thể hàm chứa, họ nhắc đến những thứ như nước sạch, nhà bếp, một cái giường thực sự; nhưng họ cũng mong đợi những thứ không thực dụng khác mà bản thân chúng là dấu hiệu của việc là con người: âm nhạc, hoa hồng, cá vàng, những cuốn sách. Một vài người trong số họ đã chạy trốn khỏi những vùng do Taliban cai quản, nơi bản thân những bài hát bị cấm đoán. Những gì chúng tôi đang làm không phải là thứ Thơ ca viết hoa, mà tôi nhìn thấy ở đó một nỗi khát khao trữ tình về cái đẹp và quyền năng của ngôn từ, và mong muốn được nói lên điều ấy ở ngôi thứ nhất.

Tôi nhận ra mình đã nói về thơ mà không định nghĩa nó. Tôi vẫn thường thích nói về “văn vần”, để thực tế hơn, thứ mà phát triển đến một trình độ nhất định, có thể sẽ trở thành Thơ. Cả A.E.Housman và Emily Dickinson đều đã định nghĩa về thơ bằng những triệu chứng của nó: đọc thơ có thể làm cho tóc bạn dựng ngược hay có cảm giác ai đó như nhấc đầu bạn lên lơ lửng. Coleridge định nghĩa thơ như là những từ hay nhất được đặt trong một trật tự hợp lý nhất (mặc dù tôi cho rằng những áng văn xuôi xuất sắc nhất cũng đáp ứng được tiêu chí này). Thơ có phải là cảm xúc được con người nhớ lại trong tĩnh lặng? Một cỗ máy được làm bằng ngôn từ? Tất cả những định nghĩa này đều mô tả được một vài khía cạnh quan trọng của nó. Song có lẽ định nghĩa mà tôi yêu thích về thơ lại được lẩy ra từ một trò chuyện suồng sã trong cuốn tiểu thuyết Middlemarch của George Eliot, giữa Fred Vindcy, một nhân vật có phần tai tiếng với bà chị thích bon chen của mình Rosamond. Rosamond đã nghiêm khắc phản đối việc Fred dùng một cụm từ được xem là tiếng lóng. Fred đáp lại.

“Mọi sự chọn lựa từ ngữ đều là tiếng lóng hết. Nó đánh dấu đẳng cấp.”

“Có một thứ tiếng Anh chuẩn mực: đó không phải là tiếng lóng.”

“Xin lỗi chị: tiếng Anh chuẩn chính là thứ tiếng lóng của cái đám ra vẻ ra đây, những kẻ viết sử và viết tiểu luận. Còn thứ tiếng lóng mạnh nhất trong tất cả chính là tiếng lóng của bọn nhà thơ.”

Tôi thích định nghĩa này vì từ “tiếng lóng” (“slang”), vốn rất mơ hồ về nghĩa, xét từ góc độ từ nguyên, bản thân nó đã thể hiện sự bất kính, hàm chứa khả năng khiêu khích, đó là thứ văn vần của cái thế tục. Thơ là thứ tiếng lóng mạnh nhất trong tất cả.

Hải Ngọc dịch

A.E. Stallings, nhà thơ Mỹ, sống tại Hy Lạp kể từ năm 1999.

Nguồn: “Why bother with poetry?”, http://www.the-tls.co.uk/articles/public/why-bother-with-poetry/