Tag Archives: Ngọc Giao

QUÁN GIÓ – CUỐN TIỂU THUYẾT TRẮC ẨN VÀ CAN ĐẢM

hoa xoan

Cúi xuống, cúi xuống, hãy chỉ nên cúi xuống…[1]

Quán gió được Ngọc Giao hoàn thành vào mùa thu năm 1948. Có một số lý do để cuốn tiểu thuyết này hãy còn ít được biết đến, và vì thế, còn chưa được chưa nhìn nhận đúng về giá trị, trong đó, hẳn phải nói đến bối cảnh ra đời của nó. Quán gió được viết bởi một nhà văn hồi cư, nó thuộc về một không gian văn học vẫn thường được định danh là “văn học trong vùng bị tạm chiếm”. Mảng văn học ấy, cho đến giờ, vẫn còn bị bỏ khuyết: chưa có nhiều nỗ lực phục dựng tư liệu, mô tả lại diện mạo cũng như đánh giá thỏa đáng về nó trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.

Nhưng lý do sâu xa hơn khiến cuốn sách nằm lại trong bóng tối khá lâu có lẽ chính là bởi tinh thần tiểu thuyết của nó. Tinh thần tiểu thuyết, thay vì tiếp cận đời sống theo lập trường giai cấp, theo tinh thần dân tộc chủ nghĩa, lại cúi xuống số phận cá nhân của con người, lại muốn từ góc nhìn đời tư để nghĩ và cảm về cuộc đời. Cũng chính bởi vậy, tinh thần của tiểu thuyết lại gần hơn cả với tinh thần nhân bản. Quán gió của Ngọc Giao ghi lại bức tranh hiện thực li loạn của thời chiến với những phận người nổi trôi, lênh đênh, không biết bám víu vào đâu. Mảng hiện thực ấy của chiến tranh phần nào đã cũng đã đi vào một số tác phẩm thơ ca, âm nhạc thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp: trong “Đôi mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng, trong “Về miền Trung”, “Quê nghèo”, “Bà mẹ Gio Linh”… của Phạm Duy. Tính chất của tiểu thuyết cho phép Ngọc Giao đi xa hơn những nét chấm phá, để miêu tả cận cảnh với niềm thông cảm sâu sắc những nỗi khốn khổ, điêu linh của những con người bé nhỏ thời loạn: từ cái lạnh buốt căm căm của mùa đông xứ Bắc đến cảnh mưu sinh cơ cực, lầm lụi trên đất tản cư; từ cảm giác lắt lay, bơ vơ của những con người trên đường chạy loạn đến nỗi bất an, hoang mang khi sống giữa thời bạo lực khôn lường… Chiến tranh, cho dù thế nào, vẫn luôn là một tình thế khắc nghiệt mà con người buộc phải chịu đựng; không những thế, sự chịu đựng ấy còn bị khuất lấp, bị biến thành vô hình để rồi không được nhận ra trong lịch sử. Giá trị của cuốn tiểu thuyết này, trước hết, chính là ở chỗ nó cố gắng nhìn thấu những gì mà lịch sử thường dễ làm mờ.

Hiện thực li loạn thời chiến chinh trong cuốn tiểu thuyết này chủ yếu được nhìn từ điểm nhìn của Trâm. Từ điểm nhìn của cô gái trực tiếp chứng kiến những cảnh tượng kinh hoàng ập xuống gia đình và đời mình trong cơn biến động của thời cuộc, một góc khác của lịch sử hiện ra với sắc thái u uẩn, với những nỗi niềm tê tái mà con người phải cố gắng nén chặt lại để sống. Ở cái thời người ta tin có thể nhân danh những điều vĩ đại, lớn lao để cải biến thế giới, vào do đó có quyền phá hủy hết tất cả, xóa sạch những gì được cho là quá khứ, cái cá nhân, riêng tư của con người trở thành đối tượng phải chịu đựng nhiều trấn áp hơn cả. Trâm ái ngại cái nhìn của người dân nơi tản cư khi cô mặc áo dài trắng đi chợ đến nỗi chua chát “bây giờ nhất định là phải nhúng bùn đi hết. cho có vẻ là mình đã biết đời, biết thân”. Trâm sợ hãi khi thấy Khải – người anh trai cùng mẹ khác cha với mình, người của cách mạng – muốn mẹ con cô phải ghê tởm chính xuất thân của mình, căm hận người chồng, người cha của mình như một kẻ thù của nhân dân, giấu giếm, vứt bỏ tất cả những kỷ vật thuộc về một quá khứ bị xem là xấu xa, đồi bại. Trâm xa lạ trước viễn cảnh về xã hội lý tưởng mà người anh đi theo cách mạng của cô vẽ ra. Đó là một viễn cảnh được hình dung bởi một kẻ có cái nhìn đơn giản về con người nhưng lại thừa cao ngạo về sức mạnh và ý chí để biến cải thế giới: “… theo anh thì cách mạng phải đạp đổ tất cả chứ gì. Rất phải và rất đẹp. Nhưng cách mạng đã như cơn nước lũ, người ta vui say quá để không cần nhận thấy rằng: giúp cho cách mạng thành công, đã có bao nhiêu máu, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu hơi thở thoi thóp, bao nhiêu tấm lòng giẫy dụa chịu chìm khuất, chịu nhục nhã, chịu khinh bỉ… No ấm chưa chắc hẳn là hạnh phúc con người. Còn bảo rằng con người thỏa mãn thì em nghĩ con người không bao giờ thỏa mãn. Tại sao lại nghĩ rằng dăm ba bàn tay yếu sẽ có thể kiêu căng xây dựng một thiên đường…” Qua cảm nhận của nhân vật, có thể thấy Ngọc Giao đã rất sớm nhận ra nguy cơ lớn của những tham vọng cải tạo, lập lại trật tự cho thế giới nhưng lại xa rời những giá trị nhân bản nền tảng, những lý tưởng cách mạng bắt đầu bằng sự khơi dậy hận thù. Sự trắc ẩn với số phận cá nhân con người đã khiến Ngọc Giao nhạy cảm và sâu xa hơn trong cái nhìn về thời cuộc. Dù có thể chính khả năng thấu thị này là điều khiến văn chương và cuộc đời của ông ít được chia sẻ và hiểu đúng trong một thời gian dài.

Những điều Trâm nói bị người anh của mình chặn lại vì cho rằng đó là “chuyện đàn bà”, là những suy nghĩ  không cần đếm xỉa.  Trong Quán gió, Trâm và mẹ cô – bà Hường không chỉ phải chịu đựng những nhọc nhằn, khổ ải của thời loạn, mà quan trọng hơn, họ còn bị đè nặng bởi những trấn áp kiểu gia trưởng từ những người đàn ông trong gia đình mình. Thời cuộc có biến chuyển thế nào thì những trấn áp gia trưởng ấy vẫn không gì lung lay, xê dịch. Trên phương diện này, cuốn tiểu thuyết của Ngọc Giao đã khơi gợi nỗi băn khoăn về lý tưởng xã hội mà những người cách mạng như Khải tin tưởng và đang thực thi. Đó có hẳn là một thứ lý tưởng không tì vết khi người ta muốn cải tạo mọi thứ theo nó, bất chấp phương tiện, chỉ trừ việc xóa bỏ những độc đoán gia trưởng đối với phụ nữ? Sự khơi gợi băn khoăn này tự nó đã thể hiện sự can đảm của nhà tiểu thuyết, người luôn muốn chất vấn những đại tự sự.

Trâm và mẹ cô coi những tội nợ của cha, chồng, anh em trai của mình như một thứ nghiệp chướng mà mình phải chịu. Cả hai người phụ nữ đều cảm thấy hình ảnh của Kiều trong cuộc đời mình, thấy sự cay đắng của kiếp hồng nhan, sự tủi cực khi rơi vào tình cảnh thất thế, lưu lạc. Nhưng sẽ là một cách đọc đơn giản nếu chỉ thấy cuốn tiểu thuyết này khắc họa sự chịu đựng, cam phận, nhẫn nhục của người phụ nữ, đặc biệt là nhân vật Trâm. Trâm không phải là người chỉ biết nín nhịn, quy hàng định mệnh, mặc đời đẩy đưa; cô muốn kháng cự lại những gì được bày đặt ra như là số phận dành cho mình. Hành động của Trâm ở đoạn kết cuốn tiểu thuyết khi cô muốn cầm súng để giết Tiến, người mà anh trai cô đã ép cô kết hôn, cũng là người đã xử bắn cha cô như một kẻ thù của cách mạng và đặc biệt việc cô chủ động phá bỏ cái thai trong bụng mình có thể được xem như là những hành động mang tính kháng cự số phận. Một cách đọc theo phê bình nữ quyền có thể tìm thấy vấn đề của mình ở hành động phá thai của nhân vật: Trâm đã chấp nhận phạm tội để dứt bỏ những mối oan nghiệt mà những người đàn ông đã gây ra đối với mình hay bản thân cảm giác có tội cho thấy cô vẫn chưa thoát ra khỏi những trấn áp của đạo đức gia trưởng? Trâm kháng cự nhưng không thắng được số phận. Song điều chủ yếu làm nên giá trị của con người nói chung vốn không hẳn nằm ở sự vượt thắng số phận mà chính là ở nỗ lực khước từ việc khuất phục nó ngay từ đầu.

Đến đoạn kết của cuốn tiểu thuyết, Trâm muốn trở về với mẹ, về với cái quán gió tiêu điều, mong manh. Quán hàng bé nhỏ, nghèo nàn, hút gió ấy không chỉ là biểu trưng cho những cảnh đời bấp bênh, tạm bợ trong buổi loạn li; nó còn là biểu trưng cho những nỗi thống khổ vô hình con người phải chịu đựng mà phải “cúi xuống” thật gần, thật thấp, chứ không thể từ trên cao để thấu cảm. Tính chất cảm thương của Quán gió có thể xem là sự nối tiếp truyền thống nhân đạo kiểu Đỗ Phủ, Nguyễn Du, những người coi văn chương là tiếng kêu đứt ruột về nỗi đau con người, nhất là trong những cơn biến loạn. Nhưng thứ văn chương “cúi xuống” những con người nhỏ bé, lẻ loi, cất lên tiếng nói cho họ giữa những náo động lịch sử, thực chất, là thứ văn chương mạnh mẽ bậc nhất. Quán gió làm người  đọc một lần nữa nhận ra văn chương luôn có thể bổ khuyết những gì mà lịch sử đã không nói. Nó, vì thế, thực sự là một cuốn tiểu thuyết trắc ẩn và can đảm.

TRẦN NGỌC HIẾU

[1] Trích bài tựa Quán gió, bản in của Nhà xuất bản Ngày mai, 1949.

Bài viết được sử dụng làm lời giới thiệu tiểu thuyết Quán Gió của Ngọc Giao, Nhã Nam & NXB Hội nhà văn, 2017.

 

 

Đọc lại Xóm Rá của Ngọc Giao

Thỉnh thoảng mình cũng nhận được lời mời viết giới thiệu sách. Hoặc là những tác phẩm mới, hoặc là một tác phẩm ra đời từ lâu, trước đó chính mình cũng chưa thực sự chú ý đến nó. Vì vậy, việc viết lời giới thiệu sách, với mình, luôn có tính chất như những sự khám phá.

Bài viết dưới đây được sử dụng làm lời bạt cho cuốn tiểu thuyết thực ra không chỉ bản thân mình mà có lẽ nhiều người cũng không biết đến nó – tiểu thuyết Xóm Rá (được hoàn thành tại miền Bắc vào năm 1957) của nhà văn Ngọc Giao. Phải hơn 50 năm sau, cuốn tiểu thuyết này mới được xuất bản chính thức. Năm 2015,  Nhã Nam đã tái bản Xóm Rá. Việc đọc Xóm Rá, với cá nhân mình, là một bất ngờ khi nhìn thấy một Ngọc Giao rất khác so với những gì mình đã đọc trước đó về ông. Một cuốn tiểu thuyết khốc liệt, dữ dội và nghiệt ngã.

 

*

Xom Ra

Đọc lại Xóm Rá của Ngọc Giao

“Cho nên, muốn làm văn nghệ, phải có một nghệ thuật phi thường, xúc cảm mãnh liệt, để diễn tả tinh vi sự thực. Sự thực nằm trong muôn vàn cái mà người ta cho là tầm thường, nhỏ bé, li ti như cát bụi… Bao nhiêu nhà văn say sưa tả thực, nhưng họ có thói quen khêu gợi cái ghê tởm, cái rùng rợn quái đản cho người đọc bằng những danh từ khủng khiếp…Nhưng kỹ thuật đó chỉ mới đánh trúng đầu, chứ chưa chạm được mảy may gì tới trái tim người đọc hết.”

Những lời trên của Vũ Linh, một nhân vật trong cuốn sách này, phần nào đó thể hiện chính quan niệm nghệ thuật của Ngọc Giao khi viết Xóm Rá. Vũ Linh, “một nhà báo, một nhà thơ, một họa sĩ, một cây bút phóng sự vào bậc đàn anh của giới văn nghệ miền Nam”, đã ở trọ sáu tháng tại Xóm Rá, một khu nhà thổ nơi ngoại ô Sài Gòn cuối những năm 1940, với tham vọng viết được một phóng sự lột tả toàn diện và sâu sắc sự thật về cái “xã hội mãi dâm”, “cái xã hội kỳ quái, tối đen mà mà hiện nay ta còn ù tai, mờ mắt, chưa nhận xét được gì chân xác”. Ngọc Giao cũng đã có hai tháng thâm nhập vào Xóm Rá, chung sống giữa “một cõi địa ngục” với ý thức chỉ bằng cách tiếp cận thực tế như thế, mạnh dạt gạt bỏ những định kiến, nghi ngại về đạo lý, chối từ việc đứng ở ngoài ngưỡng cửa nhòm vào, mới có thể mô tả được một thực trạng xã hội phức tạp, gai góc và đặc biệt hơn, theo nhà văn, chứa đựng những “vấn đề nhân loại”.

Giá trị của Xóm Rá, trước hết, nằm ở tính chất phóng sự của tác phẩm, ở góc nhìn cận cảnh vào một không gian trụy lạc, với những mảnh đời bên lề, ở việc phơi bày những khoảng tối của đời sống đô thị và của những dục vọng, ở thái độ phê phán của tác giả trước sự suy đồi của đạo đức, tình trạng con người bị bóc lột, những bất công xã hội và cả ở một thứ ngôn ngữ rất đời, rất “bụi”, cho đến giờ phần nào vẫn còn giữ nguyên được nét sống động. Trên phương diện này, Xóm Rá là sự tiếp nối đáng chú ý dòng văn chương phóng sự từ trước 1945, một thể loại mà sau Cách mạng tháng Tám, vì nhiều lý do, đã trở nên thưa thớt.

Nhưng Xóm Rá không đơn thuần chỉ là một phóng sự, dù Ngọc Giao đã gọi tác phẩm của mình như thế. Vũ Linh thừa nhận cái thế giới mãi dâm ở Xóm Rá, nơi người ta có thể sẵn sàng miệt thị, khinh rẻ, kết án nó từ những thành kiến của kẻ đứng ngoài, hóa ra bề bộn và phức tạp đến mức ngôn ngữ bất lực để nói về nó, không dễ ngày một ngày hai đã có thể tái hiện, phân tích, lý giải được. Xóm Rá, thực chất, là mảnh đất dành cho tiểu thuyết, nơi người ta nghe thấy nhiều ý nghĩ được vang lên, nhìn thấy những con người thuộc nhiều loại va chạm, những lằn ranh giá trị luôn ở trong trạng thái xê dịch. Những nhân vật sống trong Xóm Rá hay ghé qua nơi này đều được cá tính hóa khá sắc nét và phần lớn đều là những nhân vật lưỡng hóa: một bà chủ chứa đối xử với các cô gái điếm như nô lệ những lại là một người mẹ mẫu mực, tìm mọi cách để khiến con mình không tiếp xúc với thế giới đầy mầm bệnh nhân cách mà bà ta đang nhúng vào; một gã bồi săn côn đồ, dâm tà, tàn nhẫn nhưng đồng thời lại là kẻ có lòng tin vững chắc vào đạo Phật; một gã sinh viên bốc đồng ra tay cứu vớt một cô gái điếm nhưng rồi lại không thắng nổi sĩ diện của chính mình…Đặc biệt hơn cả là những cô gái điếm, những Nhạn, Tân, Liên…trong tác phẩm đều là những nhân vật không dễ khuôn lại để đánh giá. Họ đều là nạn nhân của xã hội mà ở đó, họ chỉ được xem như là nguồn thỏa mãn dục tình của đàn ông, là đối tượng để nhận về sự miệt thị, nguyền rủa. Nhưng từ chỗ là nạn nhân, là những kẻ phải chịu đựng sự khinh bỉ của cuộc đời, họ có những cách thức riêng – bất cần, ngạo nghễ và phần nào có cả sự kiêu hãnh trong đó – để phản kháng cái xã hội đạo đức giả ấy: họ coi thường những gã đàn ông không vượt qua cám dỗ nhục dục nhưng vẫn ra điều răn dạy họ; họ không ngại ngần ném trả lại sự mai mỉa đối với những quý bà, quý cô trưởng giả, hãnh tiến, muốn nhìn họ như những con thú lạ. Tất cả những phản kháng ấy được tập trung lại ở đoạn kết của tác phẩm, xoay quanh cái chết của Nhạn, nhân vật nữ chính. Nhạn tự tử không phải chỉ vì căn bệnh tim la mà cô nhiễm phải rốt cục cũng sẽ dẫn cô đến cái chết, không phải chỉ vì không còn khả năng trả thù thế giới đàn ông đã đọa đày thân xác cô, đẩy cô vào đường cùng. Trước lúc đi đến tự tử, cô đã dừng lại ý định đó khi nạn nhân trong tầm tay của cô là một gã thanh niên cường tráng, chỉ muốn tìm đến Nhạn để khám phá bí mật của những quyến rũ dục tình. Chỉ là Nhạn không muốn, đúng hơn, Nhạn không đủ tàn nhẫn đến tận cùng để trả thù đời. Nhưng chính sự yếu đuối ấy lại là một khoảnh khắc của đạo đức. Hành động của Tân khi tìm mọi cách xoay sở để lo tang lễ cho người bạn của mình và đặc biệt là việc các cô gái điếm tự động cởi bỏ trang phục của mình để mặc lại cho Nhạn – người lúc này đã bị tay làm nghề liệm xác tham lam trong nhà quàn lột bỏ hết áo quần – mang tính khiêu khích mạnh mẽ. Trước một xã hội phi nhân, nhân tính phải sẵn sàng đối chọi với nó trong tính khiêu khích cao nhất, sỗ sàng nhất, thách thức nhất, như một lựa chọn không thể khác: “Tao nhường quần cho con Nhạn. Tao cởi truồng đi đưa đám nó. Chứ sao! Tao cởi truồng đi giữa cái châu thành xa hoa lộng lẫy. Tao dí vào tận mặt, tận mắt cả bàn dân thiên hạ. Một con đĩ điếm cởi truồng đi tiễn một con đĩ điếm bị lột trần ra nghĩa địa tha ma! Mắc cỡ chính thiên hạ nó xấu mặt, chứ cái mặt tao không xấu!”

Xóm Rá là sự tiếp nối những tự sự về thế giới và thân phận của những cô gái điếm trong văn chương Việt Nam. Truyện Kiều, kiệt tác của văn học cổ điển Việt Nam, chẳng phải cũng đã xoay quanh cái không gian mà người ta thường mặc định là nhớp nháp, đọa lạc, đã nhìn thật sâu vào cuộc đời kỹ nữ bị chà đạp, rẻ rúng hay sao? Cả văn chương lãng mạn và văn chương hiện thực Việt Nam trước 1945 cũng có nhiều tác phẩm theo đuổi đề tài này: kẻ muốn bước vào không gian ấy để cận cảnh dục vọng của con người, kẻ muốn qua đó vạch trần mặt trái xã hội. Viết về thế giới ấy, như nhân vật Vũ Linh đã thú nhận, là điều khó khăn. Nó cần những kinh nghiệm nhận thức và kinh nghiệm đạo đức mới. Nó phải đem đến những kinh nghiệm nhận thức và kinh nghiệm đạo đức mới. Đọc lại Xóm Rá sau hơn nửa thế kỷ, ta vẫn có thể ghi nhận ý nghĩa của những kinh nghiệm ấy. Thế giới nơi Xóm Rá là thế giới chực chờ bùng vỡ, phá đổ. Và trên thực tế, hình ảnh cô gái điếm nổi loạn không mặc quần để đi đưa ma bạn mình giữa phố phường hoa lệ, là một thông điệp về sự đổi thay tất yếu cần phải có, ở mức độ nào đó, còn trọng lượng hơn cả lời an ủi của Vũ Linh kết lại tác phẩm: “Cố sống! Cố sống! Nghiến chặt răng mà sống.”

Hiện thực của Xóm Rá, với Ngọc Giao, là thứ không thể không viết, cho dù dưới nhiều áp lực, tác giả đã bắt buộc phải kết thúc tác phẩm trong khi “lẽ ra nó còn sống trên một trăm trang nữa!”[1]. Tuy “yểu mệnh” (chữ của chính Ngọc Giao), Xóm Rá vẫn đáng được coi là tác phẩm khốc liệt nhất, gai góc nhất trong di sản văn chương của Ngọc Giao. Sau hơn nửa thế kỷ, có thể người đọc sẽ không chỉ nhìn nhận về nó như là một tác phẩm vốn nằm im trong ngăn kéo từ lâu của một nhà văn cũng từng bị quên lãng khá lâu, viết về một thời kỳ và một không gian ít được ghi chép, tái hiện trong văn học sử. Như nhiều tác phẩm giá trị khác, Xóm Rá là một tác phẩm tiềm tàng chất liệu cho những cách đọc mới. Một lối đọc tân duy sử (new historicism) hẳn sẽ chú ý đến mối quan hệ giữa những cô gái điếm với các tác phẩm viết về đời kỹ nữ mà các cô được đọc như một gợi dẫn để tìm kiếm một “vi lịch sử” nào đó về hình ảnh những cô gái điếm trong văn học đầu thế kỷ. Người thích đọc tác phẩm từ góc độ nữ quyền luận hẳn sẽ phải dừng lại ngẫm nghĩ nhiều trước lời động viên của Vũ Linh dành cho Nhạn, khi anh vẽ ra cho vô viễn cảnh một thế giới mà đàn bà đang làm nó ngả nghiêng, chao đảo: “Đàn bà làm cho nhà băng nổ, làm cho vũ đài chính trị lung lay, làm cho hăm-bốn tiếng đồng hồ lập hai nội các, làm cho thằng đầu cơ chính sự chỉ chờ bạn đồng nghiệp vô ý nhấc đít lên là ôm ghế chạy rao bán kín ở chợ đen…Nhạn đập vào mõm chúng, ngồi lên cổ chúng, bắt chúng bò bằng bốn cẳng. Tôi sẽ đứng xa mà chiêm ngưỡng Nhạn, một nhân vật lạ nhất của pho tiểu thuyết vĩ đại nhất của nữa trái địa cầu đang loạn xạ.”… Một cuốn sách có thể kích thích sự phiêu lưu của nhiều cách đọc như thế, chắc chắn, không chỉ có giá trị của một tư liệu.

Trần Ngọc Hiếu

[1] Ngọc Giao, Xóm Rá, Nhã Nam & NXB Hội nhà văn, 2015, trang 6.