Tag Archives: Ngọc Giao

NGỌC GIAO VÀ TIỂU THUYẾT “ĐẤT”: VĂN CHƯƠNG NHƯ TIẾNG KÊU THƯƠNG

1. Tiểu thuyết Đất của Ngọc Giao được hoàn thành tại Hà Nội vào mùa đông năm 1949. Nối tiếp Quán Gió (1948), Đất cũng là câu chuyện “những điều trông thấy” về số phận của những con người nhỏ bé trong cơn li loạn thời chiến. “Những điều trông thấy” ấy, với Ngọc Giao, là hiện thực không thể không viết. Hơn cả một nguồn cảm hứng, viết về nó là trách nhiệm của người cầm bút. Nói như chính lời của ông, nếu không ký thác lại những gì mình đã chứng kiến và suy tư thì “chết mất”.

Nếu Quán gió theo dõi bước lưu lạc của một gia đình thượng lưu thất thế trong cơn xoay vần của thời cuộc thì Đất là câu chuyện về hành trình tản cư chạy loạn của những người nông dân từ đồng bằng Bắc Bộ lên miền thượng du. Cuốn tiểu thuyết chủ yếu trần thuật từ điểm nhìn của nhân vật trung tâm – Xã Bèo, con người làng quê mà từ cái tên đã gợi ngay liên tưởng đến sự bé mọn, nổi nênh của thân phận trong thời giặc giã. Từ điểm nhìn của con người mà vì thời thế phải từ bỏ nhà cửa, ruộng đồng, gánh gồng cả gia đình tản cư, đối mặt với bao nhiêu bất trắc, nhọc nhằn lẫn tủi nhục, Đất phơi bày một hiện thực của đời sống thời chiến mà có lẽ chỉ văn chương mới chạm tới được.

Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất thường được hiểu thống nhất là cuộc kháng chiến chống Pháp. Khoác ý nghĩa của một cuộc chiến tranh vệ quốc, sự kiện này thường được hiểu là một biến cố liên quan đến vận mệnh của cộng đồng, do đó, cá nhân phải chấp nhận hy sinh chính mình như một lẽ tất yếu. Trong văn học kháng chiến chống Pháp, hình tượng người nông dân kháng chiến là những con người giác ngộ lẽ tất yếu ấy. Dù có lúc họ cũng phải đắn đo lựa chọn giữa “làng” và “nước”, giữa gia đình và cách mạng, nhưng cuối cùng những mâu thuẫn trong họ đều được giải quyết nhanh khi nhận ra nước quan trọng hơn làng, cách mạng ý nghĩa hơn gia đình, thời đại lớn lao hơn từng cá nhân. Những mất mát, chịu đựng trong cuộc chiến, vì thế, nếu có được nhắc đến trong văn học, chỉ hiện diện như những chấm phá. Con đường kháng chiến, vì thế, là đường vui, là đường thời đại, nơi cá nhân hòa vào khối toàn dân đông đảo.

Thứ hiện thực mà Ngọc Giao nhận thấy không thể không viết tương phản với bức tranh sử thi ấy. Từ Quán gió, có thể thấy trong quan sát của Ngọc Giao về thời chiến, ông quan tâm đến những con người yếu đuổi, nhỏ bé, những cá nhân bị mắc kẹt trong thời loạn. Tiểu thuyết Đất đào sâu vào tâm lý bất an và tình thế bế tắc của Xã Bèo: dù sống ở làng hay ở nơi tản cư, lúc nào nhân vật cũng phải sống trong nỗi phấp phỏng bởi chiến tranh; dù cố gắng tìm mọi cách để thích nghi với hoàn cảnh mới nhưng rồi vẫn cứ loay hoay và cô đơn để chống chọi. Đời sống người nông dân thời loạn trong tiểu thuyết của Ngọc Giao thực sự là đời sống của “những người khốn khổ” với chất chồng những gánh nặng: Xã Bèo dắt díu lếch thếch cả gia đình – mẹ già, vợ chửa, con dại, thêm cả trâu cày – rời làng đi tản cư rồi lại lầm lụi, tủi cực quay về làng khi nhà cửa trước đó đã bị phá dỡ theo lệnh của ủy ban kháng chiến, trâu cày nay bị lính theo Tây cướp, người đành phải thay trâu vục mặt xuống đất để làm việc đồng. Hơn một lần, nhân vật của Ngọc Giao cám cảnh khi liên hệ thân phận mình với con vật: “Thế là xong! Thằng người  lại trần trụi như con trâu, con bò, con chó. Con vật không biết rằng chúng khổ bởi vì chúng an vui kiếp vật, chứ con người lúc này thấy mình khổ mà không thể nói, kêu nên tự thấy khổ hơn con vật.”

Những “khốn khổ” không thể nói thành lời ấy bị vô hình hóa trong văn học về người nông dân kháng chiến. Trong bức tranh văn học kháng chiến chống Pháp, không có sự hiện diện của những thân phận như Xã Bèo và trong hình dung phổ biến về giai đoạn lịch sử này, những sự chịu đựng của con người như Ngọc Giao khắc họa hầu như không được biết đến, không được nhắc lại. Nhưng chiến tranh, dẫu nhân danh lý tưởng chính nghĩa, vẫn luôn đòi hỏi những sự trả giá khắc nghiệt, do đó, để hiểu về nó, cần thiết phải nghĩ đến cả những cơ cực, cay đắng mà những con người nhỏ bé như Xã Bèo phải gánh chịu, chứ không chỉ những hy sinh vốn đã được cộng đồng ghi nhận và tấn phong như những hành động cao cả. Văn chương Ngọc Giao là một cố gắng “cúi xuống” (mượn chữ của chính ông trong tiểu thuyết Quán gió) để nhìn thấu và nghe thấu những nhọc nhằn và nhục nhằn của những thân phận bé mọn mà nếu chọn một điểm nhìn từ trên cao, người ta có thể không thấy được họ trong khối tập thể của thời đại nơi những cá nhân bị hòa tan trong đó.

2. Đất có thể được định danh là một cuốn tiểu thuyết viết về người nông dân. Không chỉ là tái hiện lại tình cảnh khốn khổ của họ trong thời loạn lạc, giá trị củatiểu thuyết này còn nằm ở những miêu tả và lý giải tâm lý và tính cách của người nông dân trong xã hội Việt Nam truyền thống. Không phải ngẫu nhiên Ngọc Giao lại đặt tên cho tác phẩm là Đất vì mối quan hệ với “đất” chính là yếu tố chi phối tâm lý và những quyết định của nhân vật trong tiểu thuyết.

Xã Bèo – nhân vật của Ngọc Giao – được giới thiệu như là một kẻ xuất thân cùng đinh trong môi trường làng xã nhiều tôn ti và định kiến. Nhờ cật lực lao động và chắt bóp tằn tiện, anh tậu được ruộng, được vườn, cất được nhà. Đối với Xã Bèo, đất trước hết có giá trị thực tế: đất là thứ anh sở hữu được bằng mồ hôi sau bao năm, dẫu chưa phải là cái gì to tát nhưng nó đủ làm dân làng nhìn anh nể trọng hơn, khiến anh có sự kiêu hãnh ngấm ngầm trước kẻ từng khinh miệt mình. Gắn chặt đời mình với đất, Xã Bèo, có lẽ cũng như bao người nông dân khác, chỉ mong cầu một đời sống yên ổn để làm lụng nuôi sống gia đình. Vì thế có thể hiểu nỗi oán hận của anh đối với giặc Pháp khi cuộc sống yên ổn ấy bị phá vỡ và có thể thông cảm cho tâm lý xót xa, tiếc của khi phải dỡ nhà, bỏ vườn, bỏ ruộng đi tản cư.

Sự chăm chỉ, chịu khó là phẩm chất nổi bật của nhân vật. Xã Bèo tương phản với Trương Dần, kẻ từng công khai miệt thị anh, rồi vì cờ bạc nợ nần phải bán đất lại cho anh. Xã Bèo cũng tương phản với Lý Còng, người làng cùng chạy loạn với anh, có thể phó mặc mọi thứ cho thời cuộc. Những trang viết về cảnh làm đồng của gia đình Xã Bèo nơi tản cư và lúc về lại làng có thể nói là những trang viết đi đến cùng hiện thực khốc liệt của cuộc mưu sinh thời loạn. Đất có thể làm ta liên hệ đến Phiên chợ Giát sau này của Nguyễn Minh Châu: cả hai đều là những tác phẩm mô tả công cuộc lao động vắt kiệt sức của người nông dân mà cuối cùng vẫn không thắng được hoàn cảnh khắc nghiệt. Điều đáng nói là tác phẩm của Ngọc Giao gợi lên sự bất an về số phận của Xã Bèo, rằng bất chấp tất cả những khổ nhọc, thậm chí hy sinh của nhân vật cho đất, những gì thuộc về anh lại hoàn toàn có thể bị kẻ khác lấy đi. Những chấm phá về những phần tử cơ hội nơi làng xã trong thời loạn như Trương Dần, cai Quý, Trưởng Nghé hay những chi tiết về những bất công, uất ức mà gia đình Xã Bèo phải chịu khi về làng cho thấy nỗi bất an đó là có cơ sở. Xa hơn nữa, Ngọc Giao, với sự nhạy cảm của mình khi quan sát những diễn biến của thời cuộc, có lẽ đã nhìn thấy những vấn đề sẽ còn trở nên phức tạp hơn ở nông thôn Việt Nam liên quan đến sở hữu đất đai của người nông dân. Những bất cập và hệ lụy của cải cách ruộng đất hay việc tổ chức nền kinh tế nông thông theo mô hình hợp tác xã sau này đều liên quan ít nhiều đến tư duy quan liêu về mối quan hệ của người nông dân với đất từng thống trị một thời. Ở góc độ này, Ngọc Giao đã thực hiện nhiệm vụ cần thiết của một nhà tiểu thuyết, kẻ luôn đề nghị một cái nhìn phức tạp hơn, cận nhân tình hơn so với cách tiếp cận từ nhãn quan giai cấp về các mối quan hệ của con người trong đời sống.

3. Đọc Đất cùng với Quán gióXóm Rá – những tiểu thuyết của Ngọc Giao viết sau 1945, tôi cho rằng việc đánh giá và định vị lại di sản văn học của ông là một đề tài cấp thiết. Thậm chí, nhiều nhận định lâu nay thường được mặc định như là đặc điểm phong cách của ông cũng rất nên được xem lại, chẳng hạn, văn Ngọc Giao đậm chất trữ tình và có xu hướng làm nhòa đi những đường nét trần trụi của hiện thực.

Ba tiểu thuyết này cho phép ta nhìn thấy một khía cạnh khác của văn chương Ngọc Giao. Trong khi vẫn mang chất cảm thương trong giọng điệu, cả ba tiểu thuyết này lại vẫn có sự dữ dội, khốc liệt trong lối trần thuật được đẩy đến độ căng. Cả ba cuốn tiểu thuyết đều kết lại bằng những hành động gây ám ảnh, thể hiện sự quyết liệt trong lựa chọn của nhân vật hoặc sự cùng cực mà con người bị dồn đẩy vào. Trong Quán gió, đó là quyết định của Trâm khi từ bỏ cái thai mình đang mang trong bụng khi biết chồng mình đã giết chết cha mình – người bị coi là kẻ thù của cách mạng. Trong Xóm Rá, đoạn kết là một cảnh tượng vừa khổ đau vừa thách thức khi cô gái điếm sẵn sàng không mặc quần để đưa ma người bạn cùng thân phận như mình như một phản ứng sỗ sàng không khoan nhượng trước xã hội đạo đức giả. Còn ở Đất, cảnh người vợ Xã Bèo, người vừa mới sinh con xong chưa lâu, đã phải thay trâu cùng chồng mình để cày bừa giữa trời gió mạnh lúc tờ mờ sáng là cảnh tượng mà cái khổ, cái nhục của kiếp người tưởng như đã đi đến tột cùng.

Đời người mà như thế này ư!” Tiếng chửi của Xã Bèo kết lại tiểu thuyết Đất cũng là tiếng than ở cấp bi phẫn nhất của nhân vật. Xét đến cùng thì cả ba tiểu thuyết được nhắc đến trên đây đều xoay quanh câu hỏi ấy. Người kể chuyện trong tiểu thuyết của Ngọc Giao đã nương vào điểm nhìn của nhân vật – những con người nhỏ bé bị sỉ nhục, bị chà đạp, bị đọa đày – để cất lên câu hỏi bức bối ấy. Càng trong buổi loạn lạc, càng cần có một thứ văn chương sẵn sàng trở thành tiếng kêu thương của những con người dễ bị tổn thương nhất bởi sự khắc nghiệt và tàn nhẫn của thời cuộc. Chủ nghĩa nhân đạo theo tinh thần Nguyễn Du này, theo tôi, chính là tinh thần chủ đạo trong tiểu thuyết của Ngọc Giao. Tiểu thuyết Đất đáng được đọc lại và cần được ghi nhận không chỉ như một tác phẩm quan trọng trong di sản văn chương Ngọc Giao mà còn cả trong dòng mạch tiểu thuyết về đề tài nông dân bởi sự nhạy cảm của ông khi quan sát thời cuộc và sự thấu cảm mà ông dành cho những con người nhỏ bé, yếu đuối, dễ bị gạt ra bên rìa và bị vô hình hóa trong những đại tự sự về lịch sử.

TRẦN NGỌC HIẾU

QUÁN GIÓ – CUỐN TIỂU THUYẾT TRẮC ẨN VÀ CAN ĐẢM

hoa xoan

Cúi xuống, cúi xuống, hãy chỉ nên cúi xuống…[1]

Quán gió được Ngọc Giao hoàn thành vào mùa thu năm 1948. Có một số lý do để cuốn tiểu thuyết này hãy còn ít được biết đến, và vì thế, còn chưa được chưa nhìn nhận đúng về giá trị, trong đó, hẳn phải nói đến bối cảnh ra đời của nó. Quán gió được viết bởi một nhà văn hồi cư, nó thuộc về một không gian văn học vẫn thường được định danh là “văn học trong vùng bị tạm chiếm”. Mảng văn học ấy, cho đến giờ, vẫn còn bị bỏ khuyết: chưa có nhiều nỗ lực phục dựng tư liệu, mô tả lại diện mạo cũng như đánh giá thỏa đáng về nó trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.

Nhưng lý do sâu xa hơn khiến cuốn sách nằm lại trong bóng tối khá lâu có lẽ chính là bởi tinh thần tiểu thuyết của nó. Tinh thần tiểu thuyết, thay vì tiếp cận đời sống theo lập trường giai cấp, theo tinh thần dân tộc chủ nghĩa, lại cúi xuống số phận cá nhân của con người, lại muốn từ góc nhìn đời tư để nghĩ và cảm về cuộc đời. Cũng chính bởi vậy, tinh thần của tiểu thuyết lại gần hơn cả với tinh thần nhân bản. Quán gió của Ngọc Giao ghi lại bức tranh hiện thực li loạn của thời chiến với những phận người nổi trôi, lênh đênh, không biết bám víu vào đâu. Mảng hiện thực ấy của chiến tranh phần nào đã cũng đã đi vào một số tác phẩm thơ ca, âm nhạc thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp: trong “Đôi mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng, trong “Về miền Trung”, “Quê nghèo”, “Bà mẹ Gio Linh”… của Phạm Duy. Tính chất của tiểu thuyết cho phép Ngọc Giao đi xa hơn những nét chấm phá, để miêu tả cận cảnh với niềm thông cảm sâu sắc những nỗi khốn khổ, điêu linh của những con người bé nhỏ thời loạn: từ cái lạnh buốt căm căm của mùa đông xứ Bắc đến cảnh mưu sinh cơ cực, lầm lụi trên đất tản cư; từ cảm giác lắt lay, bơ vơ của những con người trên đường chạy loạn đến nỗi bất an, hoang mang khi sống giữa thời bạo lực khôn lường… Chiến tranh, cho dù thế nào, vẫn luôn là một tình thế khắc nghiệt mà con người buộc phải chịu đựng; không những thế, sự chịu đựng ấy còn bị khuất lấp, bị biến thành vô hình để rồi không được nhận ra trong lịch sử. Giá trị của cuốn tiểu thuyết này, trước hết, chính là ở chỗ nó cố gắng nhìn thấu những gì mà lịch sử thường dễ làm mờ.

Hiện thực li loạn thời chiến chinh trong cuốn tiểu thuyết này chủ yếu được nhìn từ điểm nhìn của Trâm. Từ điểm nhìn của cô gái trực tiếp chứng kiến những cảnh tượng kinh hoàng ập xuống gia đình và đời mình trong cơn biến động của thời cuộc, một góc khác của lịch sử hiện ra với sắc thái u uẩn, với những nỗi niềm tê tái mà con người phải cố gắng nén chặt lại để sống. Ở cái thời người ta tin có thể nhân danh những điều vĩ đại, lớn lao để cải biến thế giới, vào do đó có quyền phá hủy hết tất cả, xóa sạch những gì được cho là quá khứ, cái cá nhân, riêng tư của con người trở thành đối tượng phải chịu đựng nhiều trấn áp hơn cả. Trâm ái ngại cái nhìn của người dân nơi tản cư khi cô mặc áo dài trắng đi chợ đến nỗi chua chát “bây giờ nhất định là phải nhúng bùn đi hết. cho có vẻ là mình đã biết đời, biết thân”. Trâm sợ hãi khi thấy Khải – người anh trai cùng mẹ khác cha với mình, người của cách mạng – muốn mẹ con cô phải ghê tởm chính xuất thân của mình, căm hận người chồng, người cha của mình như một kẻ thù của nhân dân, giấu giếm, vứt bỏ tất cả những kỷ vật thuộc về một quá khứ bị xem là xấu xa, đồi bại. Trâm xa lạ trước viễn cảnh về xã hội lý tưởng mà người anh đi theo cách mạng của cô vẽ ra. Đó là một viễn cảnh được hình dung bởi một kẻ có cái nhìn đơn giản về con người nhưng lại thừa cao ngạo về sức mạnh và ý chí để biến cải thế giới: “… theo anh thì cách mạng phải đạp đổ tất cả chứ gì. Rất phải và rất đẹp. Nhưng cách mạng đã như cơn nước lũ, người ta vui say quá để không cần nhận thấy rằng: giúp cho cách mạng thành công, đã có bao nhiêu máu, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu hơi thở thoi thóp, bao nhiêu tấm lòng giẫy dụa chịu chìm khuất, chịu nhục nhã, chịu khinh bỉ… No ấm chưa chắc hẳn là hạnh phúc con người. Còn bảo rằng con người thỏa mãn thì em nghĩ con người không bao giờ thỏa mãn. Tại sao lại nghĩ rằng dăm ba bàn tay yếu sẽ có thể kiêu căng xây dựng một thiên đường…” Qua cảm nhận của nhân vật, có thể thấy Ngọc Giao đã rất sớm nhận ra nguy cơ lớn của những tham vọng cải tạo, lập lại trật tự cho thế giới nhưng lại xa rời những giá trị nhân bản nền tảng, những lý tưởng cách mạng bắt đầu bằng sự khơi dậy hận thù. Sự trắc ẩn với số phận cá nhân con người đã khiến Ngọc Giao nhạy cảm và sâu xa hơn trong cái nhìn về thời cuộc. Dù có thể chính khả năng thấu thị này là điều khiến văn chương và cuộc đời của ông ít được chia sẻ và hiểu đúng trong một thời gian dài.

Những điều Trâm nói bị người anh của mình chặn lại vì cho rằng đó là “chuyện đàn bà”, là những suy nghĩ  không cần đếm xỉa.  Trong Quán gió, Trâm và mẹ cô – bà Hường không chỉ phải chịu đựng những nhọc nhằn, khổ ải của thời loạn, mà quan trọng hơn, họ còn bị đè nặng bởi những trấn áp kiểu gia trưởng từ những người đàn ông trong gia đình mình. Thời cuộc có biến chuyển thế nào thì những trấn áp gia trưởng ấy vẫn không gì lung lay, xê dịch. Trên phương diện này, cuốn tiểu thuyết của Ngọc Giao đã khơi gợi nỗi băn khoăn về lý tưởng xã hội mà những người cách mạng như Khải tin tưởng và đang thực thi. Đó có hẳn là một thứ lý tưởng không tì vết khi người ta muốn cải tạo mọi thứ theo nó, bất chấp phương tiện, chỉ trừ việc xóa bỏ những độc đoán gia trưởng đối với phụ nữ? Sự khơi gợi băn khoăn này tự nó đã thể hiện sự can đảm của nhà tiểu thuyết, người luôn muốn chất vấn những đại tự sự.

Trâm và mẹ cô coi những tội nợ của cha, chồng, anh em trai của mình như một thứ nghiệp chướng mà mình phải chịu. Cả hai người phụ nữ đều cảm thấy hình ảnh của Kiều trong cuộc đời mình, thấy sự cay đắng của kiếp hồng nhan, sự tủi cực khi rơi vào tình cảnh thất thế, lưu lạc. Nhưng sẽ là một cách đọc đơn giản nếu chỉ thấy cuốn tiểu thuyết này khắc họa sự chịu đựng, cam phận, nhẫn nhục của người phụ nữ, đặc biệt là nhân vật Trâm. Trâm không phải là người chỉ biết nín nhịn, quy hàng định mệnh, mặc đời đẩy đưa; cô muốn kháng cự lại những gì được bày đặt ra như là số phận dành cho mình. Hành động của Trâm ở đoạn kết cuốn tiểu thuyết khi cô muốn cầm súng để giết Tiến, người mà anh trai cô đã ép cô kết hôn, cũng là người đã xử bắn cha cô như một kẻ thù của cách mạng và đặc biệt việc cô chủ động phá bỏ cái thai trong bụng mình có thể được xem như là những hành động mang tính kháng cự số phận. Một cách đọc theo phê bình nữ quyền có thể tìm thấy vấn đề của mình ở hành động phá thai của nhân vật: Trâm đã chấp nhận phạm tội để dứt bỏ những mối oan nghiệt mà những người đàn ông đã gây ra đối với mình hay bản thân cảm giác có tội cho thấy cô vẫn chưa thoát ra khỏi những trấn áp của đạo đức gia trưởng? Trâm kháng cự nhưng không thắng được số phận. Song điều chủ yếu làm nên giá trị của con người nói chung vốn không hẳn nằm ở sự vượt thắng số phận mà chính là ở nỗ lực khước từ việc khuất phục nó ngay từ đầu.

Đến đoạn kết của cuốn tiểu thuyết, Trâm muốn trở về với mẹ, về với cái quán gió tiêu điều, mong manh. Quán hàng bé nhỏ, nghèo nàn, hút gió ấy không chỉ là biểu trưng cho những cảnh đời bấp bênh, tạm bợ trong buổi loạn li; nó còn là biểu trưng cho những nỗi thống khổ vô hình con người phải chịu đựng mà phải “cúi xuống” thật gần, thật thấp, chứ không thể từ trên cao để thấu cảm. Tính chất cảm thương của Quán gió có thể xem là sự nối tiếp truyền thống nhân đạo kiểu Đỗ Phủ, Nguyễn Du, những người coi văn chương là tiếng kêu đứt ruột về nỗi đau con người, nhất là trong những cơn biến loạn. Nhưng thứ văn chương “cúi xuống” những con người nhỏ bé, lẻ loi, cất lên tiếng nói cho họ giữa những náo động lịch sử, thực chất, là thứ văn chương mạnh mẽ bậc nhất. Quán gió làm người  đọc một lần nữa nhận ra văn chương luôn có thể bổ khuyết những gì mà lịch sử đã không nói. Nó, vì thế, thực sự là một cuốn tiểu thuyết trắc ẩn và can đảm.

TRẦN NGỌC HIẾU

[1] Trích bài tựa Quán gió, bản in của Nhà xuất bản Ngày mai, 1949.

Bài viết được sử dụng làm lời giới thiệu tiểu thuyết Quán Gió của Ngọc Giao, Nhã Nam & NXB Hội nhà văn, 2017.

 

 

Đọc lại Xóm Rá của Ngọc Giao

Thỉnh thoảng mình cũng nhận được lời mời viết giới thiệu sách. Hoặc là những tác phẩm mới, hoặc là một tác phẩm ra đời từ lâu, trước đó chính mình cũng chưa thực sự chú ý đến nó. Vì vậy, việc viết lời giới thiệu sách, với mình, luôn có tính chất như những sự khám phá.

Bài viết dưới đây được sử dụng làm lời bạt cho cuốn tiểu thuyết thực ra không chỉ bản thân mình mà có lẽ nhiều người cũng không biết đến nó – tiểu thuyết Xóm Rá (được hoàn thành tại miền Bắc vào năm 1957) của nhà văn Ngọc Giao. Phải hơn 50 năm sau, cuốn tiểu thuyết này mới được xuất bản chính thức. Năm 2015,  Nhã Nam đã tái bản Xóm Rá. Việc đọc Xóm Rá, với cá nhân mình, là một bất ngờ khi nhìn thấy một Ngọc Giao rất khác so với những gì mình đã đọc trước đó về ông. Một cuốn tiểu thuyết khốc liệt, dữ dội và nghiệt ngã.

 

*

Xom Ra

Đọc lại Xóm Rá của Ngọc Giao

“Cho nên, muốn làm văn nghệ, phải có một nghệ thuật phi thường, xúc cảm mãnh liệt, để diễn tả tinh vi sự thực. Sự thực nằm trong muôn vàn cái mà người ta cho là tầm thường, nhỏ bé, li ti như cát bụi… Bao nhiêu nhà văn say sưa tả thực, nhưng họ có thói quen khêu gợi cái ghê tởm, cái rùng rợn quái đản cho người đọc bằng những danh từ khủng khiếp…Nhưng kỹ thuật đó chỉ mới đánh trúng đầu, chứ chưa chạm được mảy may gì tới trái tim người đọc hết.”

Những lời trên của Vũ Linh, một nhân vật trong cuốn sách này, phần nào đó thể hiện chính quan niệm nghệ thuật của Ngọc Giao khi viết Xóm Rá. Vũ Linh, “một nhà báo, một nhà thơ, một họa sĩ, một cây bút phóng sự vào bậc đàn anh của giới văn nghệ miền Nam”, đã ở trọ sáu tháng tại Xóm Rá, một khu nhà thổ nơi ngoại ô Sài Gòn cuối những năm 1940, với tham vọng viết được một phóng sự lột tả toàn diện và sâu sắc sự thật về cái “xã hội mãi dâm”, “cái xã hội kỳ quái, tối đen mà mà hiện nay ta còn ù tai, mờ mắt, chưa nhận xét được gì chân xác”. Ngọc Giao cũng đã có hai tháng thâm nhập vào Xóm Rá, chung sống giữa “một cõi địa ngục” với ý thức chỉ bằng cách tiếp cận thực tế như thế, mạnh dạt gạt bỏ những định kiến, nghi ngại về đạo lý, chối từ việc đứng ở ngoài ngưỡng cửa nhòm vào, mới có thể mô tả được một thực trạng xã hội phức tạp, gai góc và đặc biệt hơn, theo nhà văn, chứa đựng những “vấn đề nhân loại”.

Giá trị của Xóm Rá, trước hết, nằm ở tính chất phóng sự của tác phẩm, ở góc nhìn cận cảnh vào một không gian trụy lạc, với những mảnh đời bên lề, ở việc phơi bày những khoảng tối của đời sống đô thị và của những dục vọng, ở thái độ phê phán của tác giả trước sự suy đồi của đạo đức, tình trạng con người bị bóc lột, những bất công xã hội và cả ở một thứ ngôn ngữ rất đời, rất “bụi”, cho đến giờ phần nào vẫn còn giữ nguyên được nét sống động. Trên phương diện này, Xóm Rá là sự tiếp nối đáng chú ý dòng văn chương phóng sự từ trước 1945, một thể loại mà sau Cách mạng tháng Tám, vì nhiều lý do, đã trở nên thưa thớt.

Nhưng Xóm Rá không đơn thuần chỉ là một phóng sự, dù Ngọc Giao đã gọi tác phẩm của mình như thế. Vũ Linh thừa nhận cái thế giới mãi dâm ở Xóm Rá, nơi người ta có thể sẵn sàng miệt thị, khinh rẻ, kết án nó từ những thành kiến của kẻ đứng ngoài, hóa ra bề bộn và phức tạp đến mức ngôn ngữ bất lực để nói về nó, không dễ ngày một ngày hai đã có thể tái hiện, phân tích, lý giải được. Xóm Rá, thực chất, là mảnh đất dành cho tiểu thuyết, nơi người ta nghe thấy nhiều ý nghĩ được vang lên, nhìn thấy những con người thuộc nhiều loại va chạm, những lằn ranh giá trị luôn ở trong trạng thái xê dịch. Những nhân vật sống trong Xóm Rá hay ghé qua nơi này đều được cá tính hóa khá sắc nét và phần lớn đều là những nhân vật lưỡng hóa: một bà chủ chứa đối xử với các cô gái điếm như nô lệ những lại là một người mẹ mẫu mực, tìm mọi cách để khiến con mình không tiếp xúc với thế giới đầy mầm bệnh nhân cách mà bà ta đang nhúng vào; một gã bồi săn côn đồ, dâm tà, tàn nhẫn nhưng đồng thời lại là kẻ có lòng tin vững chắc vào đạo Phật; một gã sinh viên bốc đồng ra tay cứu vớt một cô gái điếm nhưng rồi lại không thắng nổi sĩ diện của chính mình…Đặc biệt hơn cả là những cô gái điếm, những Nhạn, Tân, Liên…trong tác phẩm đều là những nhân vật không dễ khuôn lại để đánh giá. Họ đều là nạn nhân của xã hội mà ở đó, họ chỉ được xem như là nguồn thỏa mãn dục tình của đàn ông, là đối tượng để nhận về sự miệt thị, nguyền rủa. Nhưng từ chỗ là nạn nhân, là những kẻ phải chịu đựng sự khinh bỉ của cuộc đời, họ có những cách thức riêng – bất cần, ngạo nghễ và phần nào có cả sự kiêu hãnh trong đó – để phản kháng cái xã hội đạo đức giả ấy: họ coi thường những gã đàn ông không vượt qua cám dỗ nhục dục nhưng vẫn ra điều răn dạy họ; họ không ngại ngần ném trả lại sự mai mỉa đối với những quý bà, quý cô trưởng giả, hãnh tiến, muốn nhìn họ như những con thú lạ. Tất cả những phản kháng ấy được tập trung lại ở đoạn kết của tác phẩm, xoay quanh cái chết của Nhạn, nhân vật nữ chính. Nhạn tự tử không phải chỉ vì căn bệnh tim la mà cô nhiễm phải rốt cục cũng sẽ dẫn cô đến cái chết, không phải chỉ vì không còn khả năng trả thù thế giới đàn ông đã đọa đày thân xác cô, đẩy cô vào đường cùng. Trước lúc đi đến tự tử, cô đã dừng lại ý định đó khi nạn nhân trong tầm tay của cô là một gã thanh niên cường tráng, chỉ muốn tìm đến Nhạn để khám phá bí mật của những quyến rũ dục tình. Chỉ là Nhạn không muốn, đúng hơn, Nhạn không đủ tàn nhẫn đến tận cùng để trả thù đời. Nhưng chính sự yếu đuối ấy lại là một khoảnh khắc của đạo đức. Hành động của Tân khi tìm mọi cách xoay sở để lo tang lễ cho người bạn của mình và đặc biệt là việc các cô gái điếm tự động cởi bỏ trang phục của mình để mặc lại cho Nhạn – người lúc này đã bị tay làm nghề liệm xác tham lam trong nhà quàn lột bỏ hết áo quần – mang tính khiêu khích mạnh mẽ. Trước một xã hội phi nhân, nhân tính phải sẵn sàng đối chọi với nó trong tính khiêu khích cao nhất, sỗ sàng nhất, thách thức nhất, như một lựa chọn không thể khác: “Tao nhường quần cho con Nhạn. Tao cởi truồng đi đưa đám nó. Chứ sao! Tao cởi truồng đi giữa cái châu thành xa hoa lộng lẫy. Tao dí vào tận mặt, tận mắt cả bàn dân thiên hạ. Một con đĩ điếm cởi truồng đi tiễn một con đĩ điếm bị lột trần ra nghĩa địa tha ma! Mắc cỡ chính thiên hạ nó xấu mặt, chứ cái mặt tao không xấu!”

Xóm Rá là sự tiếp nối những tự sự về thế giới và thân phận của những cô gái điếm trong văn chương Việt Nam. Truyện Kiều, kiệt tác của văn học cổ điển Việt Nam, chẳng phải cũng đã xoay quanh cái không gian mà người ta thường mặc định là nhớp nháp, đọa lạc, đã nhìn thật sâu vào cuộc đời kỹ nữ bị chà đạp, rẻ rúng hay sao? Cả văn chương lãng mạn và văn chương hiện thực Việt Nam trước 1945 cũng có nhiều tác phẩm theo đuổi đề tài này: kẻ muốn bước vào không gian ấy để cận cảnh dục vọng của con người, kẻ muốn qua đó vạch trần mặt trái xã hội. Viết về thế giới ấy, như nhân vật Vũ Linh đã thú nhận, là điều khó khăn. Nó cần những kinh nghiệm nhận thức và kinh nghiệm đạo đức mới. Nó phải đem đến những kinh nghiệm nhận thức và kinh nghiệm đạo đức mới. Đọc lại Xóm Rá sau hơn nửa thế kỷ, ta vẫn có thể ghi nhận ý nghĩa của những kinh nghiệm ấy. Thế giới nơi Xóm Rá là thế giới chực chờ bùng vỡ, phá đổ. Và trên thực tế, hình ảnh cô gái điếm nổi loạn không mặc quần để đi đưa ma bạn mình giữa phố phường hoa lệ, là một thông điệp về sự đổi thay tất yếu cần phải có, ở mức độ nào đó, còn trọng lượng hơn cả lời an ủi của Vũ Linh kết lại tác phẩm: “Cố sống! Cố sống! Nghiến chặt răng mà sống.”

Hiện thực của Xóm Rá, với Ngọc Giao, là thứ không thể không viết, cho dù dưới nhiều áp lực, tác giả đã bắt buộc phải kết thúc tác phẩm trong khi “lẽ ra nó còn sống trên một trăm trang nữa!”[1]. Tuy “yểu mệnh” (chữ của chính Ngọc Giao), Xóm Rá vẫn đáng được coi là tác phẩm khốc liệt nhất, gai góc nhất trong di sản văn chương của Ngọc Giao. Sau hơn nửa thế kỷ, có thể người đọc sẽ không chỉ nhìn nhận về nó như là một tác phẩm vốn nằm im trong ngăn kéo từ lâu của một nhà văn cũng từng bị quên lãng khá lâu, viết về một thời kỳ và một không gian ít được ghi chép, tái hiện trong văn học sử. Như nhiều tác phẩm giá trị khác, Xóm Rá là một tác phẩm tiềm tàng chất liệu cho những cách đọc mới. Một lối đọc tân duy sử (new historicism) hẳn sẽ chú ý đến mối quan hệ giữa những cô gái điếm với các tác phẩm viết về đời kỹ nữ mà các cô được đọc như một gợi dẫn để tìm kiếm một “vi lịch sử” nào đó về hình ảnh những cô gái điếm trong văn học đầu thế kỷ. Người thích đọc tác phẩm từ góc độ nữ quyền luận hẳn sẽ phải dừng lại ngẫm nghĩ nhiều trước lời động viên của Vũ Linh dành cho Nhạn, khi anh vẽ ra cho vô viễn cảnh một thế giới mà đàn bà đang làm nó ngả nghiêng, chao đảo: “Đàn bà làm cho nhà băng nổ, làm cho vũ đài chính trị lung lay, làm cho hăm-bốn tiếng đồng hồ lập hai nội các, làm cho thằng đầu cơ chính sự chỉ chờ bạn đồng nghiệp vô ý nhấc đít lên là ôm ghế chạy rao bán kín ở chợ đen…Nhạn đập vào mõm chúng, ngồi lên cổ chúng, bắt chúng bò bằng bốn cẳng. Tôi sẽ đứng xa mà chiêm ngưỡng Nhạn, một nhân vật lạ nhất của pho tiểu thuyết vĩ đại nhất của nữa trái địa cầu đang loạn xạ.”… Một cuốn sách có thể kích thích sự phiêu lưu của nhiều cách đọc như thế, chắc chắn, không chỉ có giá trị của một tư liệu.

Trần Ngọc Hiếu

[1] Ngọc Giao, Xóm Rá, Nhã Nam & NXB Hội nhà văn, 2015, trang 6.