Tag Archives: văn học Mỹ

Lydia Davis – Chùm truyện cực ngắn

Lydia Davis (1947), là tiểu thuyết gia, cây bút tiểu luận, dịch giả của những tác phẩm quan trọng của văn chương Pháp ngữ nhưng trước hết bà là một cây bút truyện ngắn của văn chương Mỹ. Tôi không để ý nhiều đến bà, cho đến hôm nay khi tình cờ tìm được tuyển tập truyện ngắn của bà, tôi mới biết năm 2013, bà đã được trao giải Man Booker International Prize. Cũng năm đó, giải Nobel vinh danh Alice Munro, nhà văn Canada chuyên trị thể loại truyện ngắn.

Truyện ngắn của Lydia Davis thuộc về một dòng mạch khác với Alice Munro. Chúng gần với truyền thống của thơ, của cách ngôn mà nhiều khi chỉ một hai câu, câu chuyện cho thể chạm vào những đau đớn tột cùng của con người như truyện “Đứa con”, hoặc gợi ra suy tư sâu sắc như truyện “Những bà mẹ”…

mother_and_son_walking_by_Panaer

Con đường náo nhiệt

Giờ tôi đã quen với nó

đến nỗi khi xe cộ trên đường im bặt

tôi nghĩ là một cơn bão đang về.

 

Vụ hành hình

câu chuyện từ Flaubert

Một câu chuyện nữa về lòng cảm thương của chúng ta. Ở một ngôi làng không cách xa đây lắm, một thanh niên đã giết chết một ông chủ ngân hàng và vợ ông ta, sau đó cưỡng hiếp cô hầu gái của nhà đó và uống hết rượu trong hầm chứa. Hắn ta bị bắt, bị đưa ra xét xử, tỏ ra hối hận, bị kết án tử hình và bị đem ra hành hình. Chuyện một gã bị xử chém, cố nhiên, là chuyện dễ thu hút sự quan tâm của dân tình, thế nên từ khắp nơi trong vùng, người ta đã đổ về ngôi làng ấy từ đêm hôm trước – có lẽ phải hơn mười ngàn người. Bởi số người muốn xem vụ xử chém quá đông nên những cửa hàng bánh ngọt không còn bánh mì để bán. Và bởi vì các quán trọ cũng kín chỗ, người ta đã phải ngủ qua đêm ngoài trời để chờ xem gã thanh niên kia chết như thế nào, họ phải ngủ trong tuyết.

Và chúng ta lắc đầu ngán ngẩm trước những đấu sĩ La Mã. Ôi, những kẻ chuyên lòe người.

 

Đứa con

Chị cúi gập người xuống đứa con của mình. Chị không thể nào rời nó. Đứa bé được khâm liệm trên bàn. Chị muốn chụp thêm một tấm ảnh nữa của đứa con, có thể là tấm cuối cùng. Khi còn sống, con chị chẳng bao giờ ngồi yên để chụp một tấm ảnh cả. Chị nói một mình, “Mẹ sẽ đi lấy máy ảnh”, cứ như thể chị đang nói với con, “Ở yên đó nhé.”

 

Bọn chuột

 

Bọn chuột sống trên tường nhà chúng tôi nhưng không hề quấy rối gian bếp. Điều này làm chúng tôi dễ chịu nhưng chúng tôi lại không hiểu vì sao chúng không mò vào bếp, nơi chúng tôi đặt bẫy, như ở gian bếp những nhà khác. Và dù thấy dễ chịu, chúng tôi vẫn có cảm giác hơi buồn vì thấy bọn chuột cư xử như thể có gì đó không ổn ở gian bếp của nhà tôi. Mà cái cảm giác này càng khó hiểu hơn khi nhà tôi ít gọn gàng hơn những ngôi nhà hàng xóm. Có nhiều thức ăn vương vãi trong gian bếp hơn, nhiều vụn bánh trên bàn ăn hơn, và cả những mẩu hành bẩn thỉu bết lại ở đáy giá để bát đĩa. Trên thực tế, gian bếp nhà tôi nhiều thức ăn dây dưa đến nỗi tôi nghĩ bọn chuột sẽ chết vì ăn không chừng. Ở một căn bếp gọn gàng, sạch sẽ, sẽ là thách thức đối với bọn chuột khi phải kiếm đủ thức ăn hàng đêm để sống sót cho đến mùa xuân. Chúng sẽ phải kiên nhẫn sục sạo, gặm nhấm hàng giờ cho đến khi nào no thì thôi. Trong gian bếp nhà tôi, chúng phải đối mặt với một cái gì đó hoàn toàn không tương xứng với kinh nghiệm của chúng, đến mức chúng không thể xoay sở nổi. Chúng sẽ phải đánh liều dấn thêm vài bước nhưng ngay lập tức, cảnh tượng và mùi của gian bếp làm chúng ngợp, đẩy chúng trở lại ổ của chúng, rồi chúng sẽ khó chịu, sẽ bối rối vì đã không thể kiếm được thức ăn như chúng có thể.

 

Những bà mẹ

Ai cũng có một bà mẹ ở đâu đó. Một bà mẹ ăn tối cùng chúng ta. Bà là một phụ nữ nhỏ bé, đeo kính một mắt dày đến nỗi chúng dường như biến thành màu đen khi bà quay đầu đi. Rồi bà mẹ của người chủ trì bữa tiệc gọi điện đến khi chúng ta đang ăn. Điều này khiến cho người chủ trì bữa tiệc phải rời bàn ăn lâu hơn người ta nghĩ. Bà mẹ này có thể đang ở New York. Bà mẹ của một vị khác được nhắc đến trong cuộc chuyện trò: bà mẹ này đang ở Oregon, một bang hình như trong chúng ta chẳng ai biết mấy dù có vẻ như trước kia cũng có một người bà con nào đó sống ở đấy. Một biên đạo múa được nhắc đến sau đó, khi chúng ta ngồi trong ô tô. Đêm nay, ông ta sẽ nghỉ tại thị trấn này, trong chuyến đi của mình, mà thực ra, cũng là đến thăm mẹ của mình, cũng lại đang sống ở một bang khác

Những bà mẹ, khi họ là khách ở bữa tôi, họ ăn uống ngon lành, như đám trẻ con, nhưng dường như họ vắng mặt. Thường họ không thể nào theo kịp những gì chúng ta nói hay làm. Cũng thường là họ chỉ bắt chuyện khi nào câu chuyện chuyển sang chủ đề về tuổi trẻ của chúng ta; hoặc là họ dọn phòng cho chúng ta nghỉ khi thực ra chúng ta nào muốn nghỉ lại; họ mỉm cười và bị hiểu nhầm. Thế nhưng những bà mẹ luôn được nhìn thầy, luôn được nói đến, thậm chí cả trong những ngày nghỉ. Họ đã chịu đựng vì chúng ta và hầu như luôn là thế, họ ở một nơi chúng ta không thể thấy được họ.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Lydia Davis, The Collected Stories (NY: Farrar,Straus & Giroux) & Collected Stories (GB: Harmish Hamilton, 2010)

Stuart Dybek – Sức mạnh kinh ngạc của những câu chuyện “ngắn hơn cả truyện ngắn”

paper lantern

Nhớ lại quá khứ một chút. Từ thời trung học, tôi đã viết những mẩu văn xuôi rất ngắn, lạ, đa dạng, dường như chẳng vừa vặn với bất cứ thể loại nào đã định hình. Tôi không có một chút gì tự phụ về những gì mình đang làm – chỉ là tôi thích viết những thứ như thế. Tôi nghĩ mình viết truyện, nhưng rất nhanh, tôi nhận ra mình đang theo đuổi một thứ hình thức không nằm trong một khung phân loại dễ dàng nào. Thời đó, người ta chỉ có thể xuất bản những mẩu văn xuôi rất ngắn trên những tạp chí thơ, nơi các biên tập viên thường nhất trí xem chúng như những bài “thơ văn xuôi”. Tôi đã giới thiệu những gì mình viết theo cách đó – bởi cũng chẳng có cách nào khác – dù trong thâm tâm, tôi nghĩ mình đang ăn gian.

Chúng ta vẫn chưa có cái tên thỏa đáng cho loại sáng tác này. Giờ đây, nó được gọi là “truyện chớp” (flash fiction), dù tôi nhớ có thời người ta đã gọi nó là truyện “ngắn ngắn” (short-short). (Grace Paley, một nhà văn mà tôi yêu quý cả về con người lẫn tác phẩm, có lần nói với tôi, “Truyện ngắn ngắn – cái tên đó nghe như một tiếng nói lắp hơn là một hình thức văn chương.”) Việc hình thức ngắn này thiếu một cái tên chắc chắn cho thấy nó rất đa dạng, rất biến động, khó xác định và những giới hạn của nó không ngừng gây nên những tranh cãi. Truyện chớp sở hữu một phẩm chất tự sự khiến chúng phân biệt với những bài thơ văn xuôi kinh điển; đồng thời chúng cũng lại có yếu tố trữ tình đậm nét, khiến chúng ngang hàng với thơ. Tính chất không tất định về hình thức này có thể có một sức hấp dẫn: nó có thể tạo ra những sự ngạc nhiên về hình thức và cảm xúc. Những bạn cũng có thể không muốn có quá nhiều khoảng trắng. Bạn chẳng bao giờ muốn bước vào một lãnh địa nơi bạn nghĩ, “Ôi dào, tôi có thể viết bất kỳ thứ gì, tôi muốn thoát khỏi khoảng trắng này”.

Vì tôi viết cả thơ lẫn truyện và chưa bao giờ tôi muốn dựng lên bức tường ngăn cách hai thể loại ấy nên tôi luôn muốn xóa nhòa ranh giới giữa những hình thức vốn ổn định hơn. Những nhà văn làm được điều này luôn gây hứng thú cho tôi. Nhưng rất hiếm có những nhà văn như thế, tôi nghĩ vậy, một phần vì thơ bị hờ hững trong văn hóa Mỹ. Thơ là thể loại có ý nghĩa cơ bản đối với con người, tình yêu dành cho thơ nằm sâu trong chúng ta, nhưng có cảm giác ở thời điểm này, phần lớn người ta nhận ra thơ từ những thể loại khác – ca khúc phổ thông, hip-hop, rap. Người ta cũng tranh cãi về điều này – có lần, có người nói với Paul Simon rằng ông viết những lời thơ còn ông thì đáp lại, “Ồ, không, thơ thì phải như Wallace Stevens chứ”- thế nhưng ca từ trong những bài hát của Bob Dylan, Bruce Springsteen hay của một vài nghệ sĩ hip-hop rõ ràng mang tính thơ. Trong văn xuôi hư cấu, xung lực thơ thường được dồn nén ở đoạn kết của câu chuyện, ở khoảnh khắc hiển linh (epiphany) mà chúng ta có thể bắt gặp được kể từ Joyce. Ở đoạn kết của một câu chuyện có khoảnh khắc hiển linh điển hình, ta có thấy được rất rõ sự sang số (gearshift) đột ngột từ tính tự sự sang tính trữ tình này; ta bắt đầu có cảm giác thơ bất ngờ hiện hữu ngay bên trong văn xuôi. Nhưng thường trạng thái ấy do một cái gì đó lớn bùng nổ, tạo ra sự đột biến – thơ được chứng thực trong những khoảnh khắc cảm xúc được đẩy đến cực điểm như vậy, còn không, nó chỉ là yếu tố rất phụ trong văn xuôi hư cấu Mỹ.

Tôi thích những nhà văn có thể tạo ra một sự tích hợp hòa quyện hơn giữa xung lực tự sự và trữ tình – và tôi nhận thấy, trong hình thức ngắn, xung lực trữ tình trở nên rất nổi bật. Một trong những tiếp xúc sớm nhất của tôi với loại tác phẩm này là khi tôi đọc In Our Time (Trong thời đại chúng ta) của Hemingway, vốn từ lâu đã khiến tôi chú ý. Những câu chuyện trong cuốn sách này được đặt rải rác lẫn với những phác thảo ngắn, đầy sức mạnh, đa phần không quá một đoạn văn. Cách mà Hemingway xây dựng một chỉnh thể gây ấn tượng mạnh về cảm xúc từ những phân mảnh này là một mẫu mực bậc thầy. Nhưng tôi luôn có cảm giác chúng vẫn cần dựa vào một cái gì đó nằm ngoài văn cảnh trong In Our Time. Khi đọc riêng những đoạn văn này, tôi không thích chúng như khi chúng hiện diện những khoảng lặng trong cuốn sách.

Vì thế, tôi bắt đầu tìm kiếm những câu chuyện cũng thể nghiệm với ý niệm tương tự về sự cô đọng và phân mảnh, nhưng chúng có thể tương đối độc lập. Tôi muốn tìm một bậc thầy của thể loại này – người có thể viết thứ văn xuôi cực ngắn có khả năng dồn nén cảm xúc mà chúng ta vẫn nghĩ chỉ những tác phẩm dài hơi hơn mới có thể đạt được.

Một trong những nguồn cảm hứng đến với tôi đó là tác phẩm Invisible Cities (Những thành phố vô hình) của Italo Calvino, cho dù việc tách các đoạn văn ngắn trong cuốn sách thành những khoảng trắng có ý nghĩa như một thủ pháp nhiều hơn (tác phẩm thực sự mang phẩm chất của một tiểu thuyết). Isaac Babel, một nhà văn tôi yêu thích ở nhiều khía cạnh, đã thẻ nghiệm một hình thức dồn nén cao độ mà tôi muốn thấy ở những truyện cực ngắn – hễ khi nào một nhà văn có thể nén thật nhiều vào một không gian thật nhỏ, tôi luôn có cảm giác cái mà chúng ta vẫn gọi là “thơ” đang ẩn náu cận kề. Primo Levi là một trường hợp khác – mẩu viết ngắn của ông, “Tranquil Star”(Ngôi sao lặng lẽ), là một tác phẩm đem đến cho tôi khoái cảm lớn. Khi học đại học, tôi tìm thấy một mô hình mới: tôi nằm trong số những người bị quyến rũ bởi vẻ đẹp của thơ haiku. Phân mảnh, phức hợp, nhưng cuối cùng luôn đem đến một cảm giác thỏa mãn, hình thức này hội tụ nhiều đặc điểm mà tôi muốn tìm kiếm trong văn xuôi.

Bây giờ, ở Mỹ, thơ haiku nhan nhản đến nỗi nó gần như trở thành một trò đùa. Ở đây, haiku có tính chất như một phát súng không cần ngắm: nó là một cách để trẻ con lớp bốn học viết các hình ảnh. Nhưng đây không phải là đặc điểm của thơ haiku ở Nhật Bản, hình thức của nó rất được chú trọng – nó là một bộ phận của văn học cổ điển. Một khía cạnh mà thơ haiku hầu như bị đánh mất ở các phiên bản phương Tây chính là phẩm chất, có thể gọi đại thể, của sự “song chiếu” (double vision). Đó là một cách nói về một hình thức sắp đặt những tương phản cận kề nhau (juxtaposition). Ý niệm này từng ảnh hưởng rất sâu sắc đến Ezra Pound, người, cố nhiên, còn hơn cả một dịch giả vĩ đại: ông muốn du nhập những hiệu quả văn chương từ những nền văn học khác vào trong nghệ thuật kể chuyện và kho từ vựng thi ca của văn chương Anh ngữ. Ta có thể cảm nhận được sự song chiếu này thể hiện như thế nào trong bài thơ nổi tiếng của Pound – “In a Station of Metro” (Ở ga xe điện ngầm)”:

Sự xuất hiện của những gương mặt này giữa đám dông

Những cánh hoa trên cành cây đen, ướt

(These apparition of these faces in the crowd;

Petals on a wet, black bough)

Cách mà bài thơ đặt một khoảnh khắc hiện tại – một ga xe điện ngầm đông đúc – bên cạnh hình ảnh của những cánh hoa tươi tắn tạo nên một kiểu một hình thức đồng hiện mang tính thơ. Hai hình ảnh, hai ý niệm được chồng lên nhau đồng thời – cả hai đều được làm nổi bật bởi phép so sánh. Chính sự song chiếu này mới là đặc điểm nổi bật của thơ haiku.

Tuy nhiên, haiku không phải là văn xuôi, những bài thơ haiku thậm chí còn ngắn hơn hầu hết các mẩu truyện chớp, chúng thực sự không cung cấp mô hình văn xuôi mà tôi muốn tìm kiếm. Nhưng cuối cùng, mối quan tâm của tôi về văn học Nhật Bản đã đưa tôi gặp gỡ với một nhà văn mà với cá nhân tôi, ông chính là người thực hành xuất sắc bậc nhất thứ ngôn ngữ tiết chế, giàu sức ám gợi: Yasunari Kawabata – cũng là bậc thầy của việc tạo ra những hình ảnh song chiếu mà ta vẫn thấy trong thơ haiku truyền thống.

Tác phẩm đầu tiên của ông mà tôi đọc là Người đẹp say ngủ. Ở cây bút văn xuôi này, tôi lập tức nhận thấy tất cả những gì mình yêu thích ở thơ ca Nhật Bản – một sự đơn giản nhưng đồng thời quá đỗi sâu sắc, giàu sức gợi mở. Tôi đọc tiếp một tiểu thuyết nữa của ông, cuốn Xứ tuyết và dẫu cuốn sách đó không dài quá 150 trang, nhưng hình như luôn luôn còn có một cái gì đó chưa hết ở đó. Và đến tuyển tập những tác phẩm ngắn của ông, Những truyện ngắn trong lòng bàn tay, tôi đã tìm được mô hình lý tưởng cho một loại tác phẩm mà mình muốn thể nghiệm.

Một hình thức phổ biến của thủ pháp song chiếu trong thơ haiku là đặt một cái gì đó thuộc quá khứ bên dưới một cái gì đó ở hiện tại. Một trong những truyện ngắn của Kawabata mà tôi yêu thích đã tạo ra sự cách tân – truyện “The Grasshopper and the Bell Criket” (Châu chấu và dế chuông): ở đây, một hình ảnh hiện tại tạo sinh một phóng chiếu về tương lai.

Câu chuyện mở đầu với hình ảnh một người đàn ông – ta không biết gì nhiều về ông – tản bộ vào lúc chiều tối theo thói quen vốn có. Ông bắt gặp một đám trẻ nhỏ đã chơi trò gì đó trong lễ hội mùa xuân. Chúng làm những chiếc đèn lồng bằng giấy – một loại đèn thủ công nhiều màu sắc rực rỡ, có thể hắt ra những mô hình ánh sáng. Một vài đứa trẻ cắt tên mình dán lên đèn, vì thế chiếc đèn có thể phóng chiếu những ký tự Nhật Bản vào màn đêm.

Ông lặng lẽ quan sát những em bé, khi chúng hào hứng đi bắt côn trùng dưới ánh sáng của những chiếc đèn lồng. Ở Nhật Bản, người ta vẫn thường ra ngoài trời bắt những con côn trùng như dế, bọ ngựa, hay những loại côn trùng có thể phát ra những âm thanh du dương khác rồi đặt chúng vào trong những cái lồng nhỏ. Cũng giống như trẻ em ở Mỹ chơi với những con đom đóm – bất ngờ vào một buổi tối mùa hè nào đó, trời làm ấm những con côn trung đẹp đẽ này, khiến chúng phát sáng trong bóng tối, bọn trẻ ra ngoài trời với chiếc hũ thủy tinh trong tay, đi bắt những con đom đóm, rồi quan sát chúng phát sáng cho đến khi bố mẹ nói, giờ các con thả chúng đi được rồi đấy. Trong câu chuyện này, một cậu bé bắt được một con côn trùng mà cậu nghĩ là châu chấu – một phần thưởng tuyệt vời mà tất cả những đứa trẻ khác đều thèm thuồng. Khi cậu bé trao cho cho cô bé mà cậu thích nhất, cô bé nói với cậu con côn trùng ấy thực ra là một con dế chuông, một loài côn trùng thậm chí còn hiếm hơn, được săn tìm nhiều hơn.

Có một cảnh tượng thật đẹp đẽ sau cuộc trao đổi này, hai em bé đứng nhìn nhau và có vẻ như cả hai em đều không để ý, ánh sáng từ những chiếc đèn lồng của mình, đỏ và xanh, hắt ngang qua ngực. Cậu bé dán tên mình lên chiếc đèn lồng của mình và cô bé thì cũng làm việc tương tự với cái tên và chiếc đèn của cô – tất nhiên, bạn phải hình dung được sự cô đúc tuyệt vời của một ký tự Nhật Bản, những con chữ ấy hắt sáng trong đêm – trong khoảnh khắc, tên của cậu bé rọi sáng trên ngực áo cô bé còn tên của cô lại hắt đỏ lên phần thắt lưng của cậu. Cả hai đều không biết điều này và đấy là điều gây xúc động – cứ như thể giữa cô bé và cậu bé đã hình thành một sự kết nối mà họ sẽ bao giờ không hiểu rõ, cho đến khi đã quá muộn.

Ở đoạn kết tuyệt vời, bất ngờ của câu chuyện này, người kể chuyện như muốn nói với cậu bé, ông biết tên cậu ta khi nhìn thấy cái tên ấy phóng chiếu lên người cô bé:

Fujio này, sau này lớn lên, cháu vẫn cứ cười thật thoải mái đi nhé trước vẻ vui mừng của người bạn gái khi nói với cô ấy, này, đây là một con châu chấu, dù thực ra cô ấy đang được tặng một con dế chuông. Và hãy cứ cười thật trìu mến trước nỗi thất vọng của cô bé ấy khi nói, này, đây, tặng em một con dế chuông nhưng thực ra cô ấy chỉ đang nhìn thấy một con châu chấu.

Thậm chí nếu cháu thật thông minh, tách khỏi đám bạn bè, một mình tìm kiếm nơi một bụi cây nào đấy, cháu cũng sẽ thấy thế gian này chẳng còn nhiều dế chuông nữa đâu. Có lẽ rồi cháu cũng sẽ chỉ tìm thấy một cô gái giống như một con châu chấu mà cháu lại nghĩ cô ấy là một con dế chuông.

Và cuối cùng cháu ơi, khi trái tim cháu nếm trải tổn thương, trở nên u uẩn thì một con dế chuông đích thực cũng chỉ như một con châu chấu mà thôi. Ngày đó rồi sẽ đến thôi, cái ngày dường như đối với cháu, thế giới này chỉ toàn châu chấu. Và ta nghĩ thật tiếc làm sao, chẳng có cách nào để cháu nhớ lại trò chơi ánh sáng đêm nay, khi tên cháu in hình màu xanh lên ngực cô gái nhờ chiếc đèn lồng đẹp đẽ của cháu.

Kawabata vốn bị ám ảnh bởi sự phản chiếu của các hình ảnh – tôi lại nhớ đến một câu chuyện, ở đó nhân vật nam bị lôi cuốn bởi một người phụ nữ khi thoáng nhìn thấy gương mặt nàng phản chiếu qua cửa sổ một con tàu. Trong truyện ngắn này,có thật nhiều hình ảnh phản chiếu, có thật nhiều cặp đôi theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng vốn rất đặc trưng cho phép song chiếu ở thể thơ haiku. Đó là các cặp ánh sáng-bóng tối, cô bé-cậu bé, người trưởng thành-trẻ thơ, hiện tại-tương lai, và ngay cả những con côn trùng bị bắt nhốt dường như cũng gợi ra một ý nghĩa kép nhất định.

Nhưng đây cũng là một trong những khoảnh khắc tuyệt vời nhất của câu chuyện. Một người kể chuyện dường như chỉ ra ngoài đi dạo, nhìn ngắm những đứa trẻ từ xa, người hầu như không hé lộ điều gì về chính mình, chỉ có thể có sự thấu thị như vậy vì ông ta đã trải nghiệm chính sự vỡ mộng khi mình trưởng thành. Những suy nghĩ thầm kín của ông có lẽ hé lộ về một quá khứ buồn đau của ông, về một trái tim từng chịu tổn thương, trở nên u uẩn và cả một nhận thức chín chắn rọi chiếu về tương lai của Fujio. Và ông nhìn thấy gì? Một giả thiết mà ta vừa thấy trước đó – một con côn trùng bị nhầm với một con côn trùng khác – trở thành một ẩn dụ giàu sức nặng về việc chúng ta thường lại không nhận ra được một sự tương hợp hiếm hoi, thật sự lãng mạn khi chúng ta nhìn thấy. Ông nhìn vào tương lai của Fujio, ông như thấy cậu bé không những sẽ không thấy được mối tơ duyên cho một tình yêu lớn mà còn sẽ trở nên thất vọng vì đã không nhận ra tình yêu lớn của đời mình khi cô bé ấy đang hiện hữu. Như thế, chỉ trong một đoạn văn ngắn, Kawabata đã đặt cận kề hiện tại và tương lai, người lớn và trẻ thơ, sự ngây thơ và sự mất mát. Tất cả chồng xếp lên nhau trong một khoảnh khắc đơn nhất – và trong một không gian nhỏ, những sự chồng xếp này tạo nên một cảm thức đẹp về con đường tất yếu mà tuổi thơ rồi sẽ đánh mất, sẽ phải trả giá cho sự trưởng thành.

Điều mà tôi cũng thích ở truyện ngắn này là cái kết bất ngờ – nhưng đấy không phải là cái kết theo kiểu O’Henry vốn đem đến sự ngạc nhiên bằng một khúc ngoặt nào đó. Thay vào đó, sự ngạc nhiên ở truyện ngắn này bắt nguồn từ sự tươi tắn của ngôn ngữ, sự chồng xếp tinh tế các lớp chủ đề. Đó là sự ngạc nhiên giàu cảm xúc và tính thơ, hơn bất cứ điều gì khác. “Châu chấu và dế chuông” là một truyện ngắn, độc lập; như có phép màu, nó tạo nên những cảm xúc phong phú, dồi dào. Tôi có đó là một kiệt tác nhỏ. Với tôi, nó là một sự xác nhận: bạn có thể làm việc với hình thức ngắn như vậy mà vẫn có thể tạo ra nhiều tầng lớp, nhiều hàm nghĩa.

Người ta có thể ngồi xuống, viết một cuốn sách với nhiều chủ ý khác nhau – họ chẳng biết những chủ ý ấy có được hiện ra hay không. Nhưng trong cuốn sách mới của tôi, Paper Lantern: Love Stories (Đèn lồng giấy: Những câu chuyện tình), tôi đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi phép song chiếu mà tôi bắt gặp ở Kawabata. Tất cả những câu chuyện trong cuốn sách này đều thuộc thể loại truyện tình, những mỗi truyện lại được chồng xếp với những thể loại khác nữa. Truyện ngắn đầu tiên, “Tosca”, gợi liên tưởng đến thể loại opera, đến cảm xúc hoành tráng và âm hưởng nhạc kịch của hình thức ấy. Truyện “Oceanic” lại có sự song chiếu với thơ ca lãng mạn của Keats, Shelley và Byron. Một truyện ngắn khác có sự sắp đặt với một bộ phim loại B trong khi một truyện nữa lại có sự tương ứng với bản “Wild Horses” của ban Rolling Stones. Với phép song chiếu này, tôi hy vọng độc giả có thể có những bước nhảy trong liên tưởng, cảm xúc và nhận thức giữa hình thức vay mượn và câu chuyện về những người tình ở những truyện ngắn trong tập. Những đặc thù ở các nhân vật của tôi và khung thể loại rộng lớn hơn mà các truyện ngắn của tôi luôn cố gắng quy chiếu đến không ngừng có sự tương tác – đó là một nỗ lực nhằm tạo ra nhiều tầng liên tưởng mà tôi luôn ngưỡng mộ ở thể thơ haiku.

Tôi nghĩ những chiếc đèn lồng rực rỡ của Kawabata – một trong những hình ảnh yêu thích của ông – đã bước vào kho từ vựng thi pháp của tôi. Khi đặt nhan đề cho tập truyện là Đèn lồng giấy, trong đầu tôi thật sự không nghĩ đến ông một cách ý thức – nhưng có phải văn chương Kawabata đầy hình ảnh của chúng? Quả là vậy. Chúng nằm trong số những hình ảnh quan trọng của văn chương châu Á, cùng với những chiếc ô, những cánh hoa anh đào nổi tiếng. Đối với tôi, đèn lồng giấy chính là một ẩn dụ về nghệ thuật văn chương, cho cách mà ý nghĩa xuyên rọi qua trang viết. Cho dù giờ chúng ta đều viết bằng máy tính, tôi vẫn nghĩ về sự viết như là hành vi trải ngôn từ lên trang giấy. Và khi ta viết một câu chuyện hay một bài thơ, nó rọi sáng. Ý nghĩa chiếu qua ngôn từ như ánh sáng hắt qua lớp giấy của chiếc đèn, hắt vào đêm tối, phóng chiếu hình ảnh của nó lên trái tim của người khác.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Stuart Dybek, “The Surprising Power of Stories That are Shorter than Short Stories”, http://www.theatlantic.com/entertainment/archive/2014/06/the-enormous-power-of-extremely-short-stories/372570/

Joseph Brodsky – Ngợi ca nỗi buồn chán

anh dep 2

“Ngợi ca nỗi buồn chán” của Joseph Brodsky là bài nói chuyện của nhà thơ trong buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho hơn 1000 sinh viên Dartmouth College, tháng 7-1989. Tôi dịch bài viết này với nhiều cảm xúc, đặc biệt đến đoạn gần cuối, tôi đã tự cho phép bản thân mình dịch thoát hơn nguyên bản của Brodsky một số chi tiết, bởi lẽ những gì ông nói với các sinh viên cũng là những điều tôi từng ao ước giá như có ai nói với mình trong ngày ra trường, và mình cũng muốn nói với những bạn sinh viên sắp ra trường bây giờ. Không phải là một lời chúc thành công, một động viên về nghị lực, một hứa hẹn về cơ hội… mà là sự đối mặt với nỗi buồn chán như là phần tất yếu của đời sống.

Cách đây một thời gian, tình cờ tôi có đọc được một ghi chép của một sinh viên. Em chia sẻ rất chân thành rằng ở đại học, những giờ học của tôi rất đáng sợ. Mà đáng sợ nhất là bài giảng của tôi dường như thường mang màu sắc bi quan, từ cách tôi lấy dẫn chứng đến cách tôi tự thú về chính sự hoang mang của mình, cho dù tôi đã đi hơn nửa quãng đường đời của mình. Hoang mang về sự vô tận của tri thức, hoang mang vì không biết sống sao cho tử tế, hoang mang vì cảm thấy mỗi giờ lên lớp đều phải cố diễn, cố dối một điều gì đó. Mỗi giảng viên dường như đều có thể chia sẻ với sinh viên một cái gì đó có ý nghĩa: người thì kiến thức, người thì kinh nghiệm sống, người thì sự vui vẻ hay ý chí phấn đấu… Hình như tôi không chia sẻ được sinh viên tất cả những điều ấy. Tôi chỉ có một nỗi hoang mang cố giấu xuống mà không thể.

Brodsky nói chuyện với sinh viên về sự buồn chán, về cách ứng xử với nỗi buồn chán theo cách của một người yếu đuối. Sự chân thành ấy làm tôi xúc động thật sự. Đầu năm, đọc và dịch một bài viết hay, chia sẻ với mọi người như là một động lực cho một năm muốn nghĩ, muốn viết và hơn hết là muốn sống.

*

Joseph-Brodsky-Quotes-4Song nếu ngươi không thể giữ lại vương quốc của người

Và giống như cha của ngươi, trước khi ngươi xuất hiện trên cõi đời

Nơi ý nghĩ cáo buộc và cảm xúc thì chế nhạo

thì ngươi hãy tin vào nỗi đau của chính mình…

W.H.Auden, “Alonso to Ferdinand”

Một phần đáng kể đón đợi bạn phía trước sẽ được xác nhận bởi nỗi chán. Lý do hôm nay tôi muốn nói về nỗi buồn chán với các bạn, trong một dịp trang trọng như thế này, là vì tôi nghĩ không có một trường đại học nào sẽ giúp bạn chuẩn bị cho tình huống sẽ xảy ra đó. Dartmouth không là ngoại lệ. Không một ngành nhân văn hay khoa học nào lại mở những khóa học về sự buồn chán. Cùng lắm, trường học chỉ giúp bạn làm quen với cảm giác ấy bằng việc làm bạn phải chịu đựng hay nếm trải nó. Nhưng đâu là sự tiếp xúc thông thường với căn bệnh muộn phiền vô phương cứu chữa này? Giọng nói đều đều, đơn điệu từ bục giảng kinh hay những cuốn giáo trình làm hoa mắt người bằng một thứ Anh văn khoa trương chẳng là gì nếu so với một sa mạc tâm trạng mênh mông bắt đầu ngay từ phòng ngủ của bạn và hất tung mọi chân trời.

Cùng trường nghĩa với một loạt từ chỉ trạng thái khác – đau khổ, sầu muộn, mỏi mệt, uể oải, tẻ nhạt, vô vị, thờ ơ, bơ phờ, dửng dưng, hờ hững, yếm khí, buông xuôi, v.v… – sự buồn chán là một hiện tượng phức tạp và nhìn chung, là sản phẩm của sự lặp lại. Như thế, dường như phương thức tốt nhất để chống lại căn bệnh này sẽ là sự sáng tạo, phát kiến không ngừng. Đấy là những gì mà các bạn – những con người trẻ trung, tươi mới – hy vọng. Nhưng hỡi ôi, cuộc đời lại không dành cho bạn lựa chọn ấy vì phương tiện chính của đời sống lại chính là sự lặp lại.

Đương nhiên, người ta có thể lập luận rằng những nỗ lực lặp đi lặp lại hướng đến sự sáng tạo, phát kiến là động lực của tiến bộ – và đồng thời – của văn minh. Tuy nhiên, như là một nhận thức muộn, đây lại không phải là điều có ý nghĩa nhất. Vì nếu ta phân định lịch sử loài người bằng những phát kiến khoa học – đấy là chưa đề cập đến những khái niệm đạo đức – kết quả sẽ không có lợi cho ta. Nói một cách chính xác, cái chúng ta sẽ thấy là hàng bao thế kỷ chán nản. Chính ý niệm về sự sáng tạo hay cách tân lại nảy sinh từ sự đơn điệu của hiện thực thường nhật, của đời sống mà phương tiện của nó – không, nói đúng hơn, đặc trưng của nó – là sự buồn tẻ.

Theo nghĩa đó, đời sống phân biệt với nghệ thuật mà như các bạn đã biết, kẻ thù tồi tệ nhất của nghệ thuật là sự sáo mòn. Một ngạc nhiên nho nhỏ là chính nghệ thuật cũng không giúp bạn làm thế nào để xoay sở với sự buồn chán. Một vài tiểu thuyết xoay quanh chủ đề này; hội họa càng ít hơn, còn âm nhạc, về cơ bản, đó là một thứ nghệ thuật phi ngữ nghĩa. Nói chung, nghệ thuật ứng xử với nỗi buồn chán theo phương thức tự vệ, mang tính châm biếm. Điều duy nhất để nghệ thuật trở thành nơi an ủi bạn khỏi nỗi chán chường, khỏi đời sống vốn dĩ vận hành theo xu hướng trở thành sự dập khuôn là bạn hãy trở thành nghệ sĩ. Song, đâu phải ai cũng có số thành nghệ sĩ, triển vọng này có vẻ cũng khó khả thi.

Nhưng ngay cả khi bạn bước ra buổi lễ phát bằng này và đến ngay bên bàn viết, toan vẽ hay cây dương cầm, bạn cũng sẽ không tránh khỏi nỗi chán chường hoàn toàn được. Nếu sự lặp lại là mẹ của nỗi buồn chán, thì bạn, những con người trẻ trung, tươi mới, sẽ nhanh chóng thấy ngạt thở khi không được thừa nhận cũng như được trả giá rất thấp cho những thể nghiệm của mình, cả hai đều là tình trạng kinh niên trong thế giới nghệ thuật. Ở phương diện này, làm việc cho một hãng luật, một ngân hàng, thậm chí trong một phòng thí nghiệm còn tốt hơn là viết văn, vẽ tranh hay soạn nhạc.

Dĩ nhiên, ở đây, ta thấy được ân cứu rỗi của nghệ thuật. Không phải thứ sinh lợi, nghệ thuật chịu thua nhân khẩu học một cách tất yếu chứ không phải miễn cưỡng. Vì, nếu như ta vừa nói ở trên, sự lặp lại là mẹ của nỗi buồn chán thì ngành nhân khẩu học (vốn có tầm quan trọng trong đời sống của bạn lớn hơn nhiều so với tất cả những lĩnh vực ta vừa kể) là một bậc cha mẹ khác của nó. Điều này nghe như giọng của kẻ khinh ghét loài người, nhưng tôi nhiều gấp đôi tuổi các bạn, tôi đã sống và thấy dân số toàn cầu tăng lên gấp đôi. Đến khi bạn bằng tuổi tôi, con số đó sẽ tăng lên gấp bốn và không hoàn toàn trong hình hài mà bạn chờ đợi. Chẳng hạn, đến năm 2000, sẽ có sự cấu trúc lại văn hóa và tộc người thách thức lại ý niệm của bạn về nhân tính.

Riêng điều này thôi sẽ giảm thiểu những triển vọng về sự độc đáo, phát kiến như là thuốc giải độc cho sự buồn chán. Mà thậm chí trong một thế giới đơn sắc, rắc rối khác đối với sự độc đáo hay phát kiến lại chính là ở chỗ người ta có thể mua được nó – từ “mua” ở đây hoàn toàn theo nghĩa đen. Giả định rằng hoặc bạn có khả năng sáng tạo hoặc có khả năng tài chính, bạn sẽ nhanh chóng có đời sống sung túc, vương giả. Cuộc sống ấy có vẻ đáng khao khát thật đấy nhưng phần lớn chúng ta lại cũng nhớ ngay rằng không ai dễ chán nản như những người giàu có, vì tiền thì mua thời gian và thời gian thì mang bản chất của sự tái diễn, lặp lại. Giả định rằng bạn không sa vào cảnh khốn cùng – vì nếu không, có lẽ bạn đã không bước chân được vào trường đại học – người ta sẽ mong đợi bạn sẽ bị nỗi chán chường đánh gục ngay khi những công cụ làm bạn tự thỏa mãn sẵn có cho bạn.

Nhờ công nghệ hiện đại, những công cụ này giờ đây cũng nhiều vô số như những từ đồng nghĩa với buồn chán. Nhìn từ chức năng của chúng – trao cho bạn sự thừa mứa thời gian mà bạn không ý thức được – ta mới thấy chúng dồi dào như thế nào. Cùng với sự dồi dào của những công cụ này, ta cũng thấy rõ hơn ham muốn truy cầu quyền lực của chính chúng ta, thứ quyền lực ngày càng gia tăng, được thao túng bởi những cú nhấp, cú bấm một thứ máy móc nào đó khiến việc bạn bỏ về trong buổi lễ phát bằng này thôi cũng sẽ được cha mẹ hay họ hàng của mình nhìn thấy. Đấy là một cảnh tượng tiên tri, thưa các quý ông quý bà của khóa học 1989 này, vì các vị đang bước vào một thế giới nơi việc ghi lại một sự kiện sẽ thu nhỏ chính bản thân sự kiện – thế giới của các phương tiện nghe nhìn, điều khiển từ xa, trang phục thể thao, máy tập thể dục giúp bạn vừa vặn để sống lại quá khứ của mình hay của ai khác: những khoái cảm đóng hộp sẽ xác nhận thay cho những gì bằng xương bằng thịt.

Bất cứ thứ gì mang tính khuôn mẫu đều chất chứa chán chường. Điều này đúng với cả tiền bạc và đúng ở nhiều bình diện, cả ở trên tờ giấy bạc lẫn ở việc sở hữu chúng. Tất nhiên, nói thế không có nghĩa là quảng cáo cho sự nghèo khốn như là lối thoát khỏi sự buồn chán, dù dường như Thánh Francis đã làm theo đúng cách này. Tuy nhiên, trước tất cả sự tước đoạt xung quanh ta, ý tưởng về những phép tắc theo đường lối khổ tu kiểu mới có vẻ không phù hợp lắm trong thời đại Ky-tô video hóa này. Thêm nữa, các bạn trẻ, các bạn có lẽ hào hứng khi làm công việc từ thiện ở Nam Phi hay nơi nào đó khác hơn là ngay cạnh nhà mình, sẵn sàng từ bỏ nhãn hàng soda mình yêu thích hơn là mạo hiểm thử một thứ chất gây nghiện khác. Vì thế không ai quảng bá sự nghèo khốn cho các bạn cả. Tất cả những gì tôi muốn gợi ý ở đây chỉ là một chút hiểu biết hơn về tiền bạc, vì số không trong tài khoản của bạn lại có thể khơi dậy những năng lượng tinh thần bên trong bạn.

Về sự nghèo khốn, buồn chán là phần tàn nhẫn nhất trong nỗi khốn cùng của họ và xuất phát điểm từ đó, có những hình thức cực đoan hơn: nó dẫn đến những hành vi nổi loạn bạo lực hay nghiện ngập. Những hình thức giải thoát này đều chỉ có tình tạm thời mà nỗi khốn khổ lại là vô tận; và bởi sự vô tận này nên hai hình thức trên đều đòi phải trả giá. Nhìn chung, một người tiêm heroin vào tĩnh mạch của mình cũng có lý do từa tựa như khi ta mua một cuốn video: để né tránh sự thừa mứa thời gian. Song khác biệt ở chỗ anh ta tiêu tốn nhiều hơn anh ta nhận được, phương tiện giải thoát của anh ta cũng dồi dào không kém cái mà anh ta muốn thoát khỏi đồng thời chúng lại còn giúp anh ta giải thoát nhanh hơn cách của bạn nữa. Về cơ bản, sự khác biệt về mặt thủ thuật giữa một mũi xi-ranh với một nút bấm âm thanh nổi, nói một cách thô sơ, tương ứng với sự khác biệt giữa sự sắc nét và mờ đục của tác động thời gian lên kẻ không có và có. Tóm lại, dù nghèo hay giàu, sớm muộn gì bạn cũng sẽ bị khốn khổ bởi sự thừa mứa thời gian.

Rồi sẽ đến một ngày bạn sẽ thấy chán công việc của mình, chán bạn bè, chồng vợ, tình nhân, chán phong cảnh từ cửa sổ nhà mình, chán đồ đạc hay giấy dán tường trong phòng, chán nghĩ suy của mình, chán chính bản thân mình nữa. Rồi theo đó, bạn sẽ nghĩ đến những cách giải thoát. Ngoài những phương tiện giúp bạn tự thỏa mãn mà ở trên đã nói đến, bạn có thể nghĩ đến chuyển chuyển nghề, chuyển nơi ở, công ty, đất nước, vùng khí hậu; bạn cũng có thể bắt đầu sống phóng đãng hơn, sa vào rượu, mải mê xê dịch hay nấu nướng, mà cũng có thể xài ma túy hay cần đến những cách trị liệu phân tâm học.

Thực ra thì bạn có thể thử tất cả những giải pháp này và trong một lúc, có thể chúng sẽ hiệu nghiệm. Tất nhiên, cho đến một ngày, khi bạn tỉnh dậy trong phòng ngủ giữa một gia đình mới, với giấy dán tường mới, ở một bang khác, một khí hậu khác, với cả xấp hóa đơn của hãng du lịch và của văn phòng bác sĩ tâm thần, bạn sẽ lại nhìn thứ ánh sáng tràn qua ô cửa nhà mình với nỗi chán chường như xưa. Bạn lại muốn tiếp tục biếng lười chỉ để phát hiện ra rằng sự lười nhác ấy không đủ sức mạnh để nâng bạn khỏi những gì bạn nhận thức được. Tùy thuộc vào khí chất hay độ tuổi của bạn, bạn sẽ thấy hốt hoảng hoặc cam chịu chấp nhận sự quen thuộc của cảm giác; hoặc bạn cũng có thể một lần nữa thể nghiệm lại tất cả những giải pháp không đến đâu này.

Chứng loạn thần kinh chức năng và sự chán đời sẽ nhập vào kho từ vựng của bạn; đủ loại thuốc sẽ có mặt trong hộp thuốc của bạn. Về cơ bản, chẳng có gì sai khi biến cuộc đời thành sự truy tìm không ngừng những sự thay thế khác, thử nhảy việc, thay người yêu, thay môi trường như thay áo, miễn là bạn có đủ tiền để cấp dưỡng và trí nhớ không bị rối tung lên. Phương thức này, thực ra, đã được tôn vinh trên màn bạc và trong thơ ca lãng mạn rồi. Tuy nhiên, cái khó là ở chỗ đã từ lâu, cuộc kiếm tìm này trở thành một mối bận tâm choán hết thời gian, với nhu cầu của con người cần có cái gì đó thay thế tương tự như liều thuốc hàng ngày của một kẻ nghiện ma túy.

Song vẫn còn có cách khác để thoát khỏi tình trạng buồn chán này. Không hẳn là cách tốt hơn, từ điểm nhìn của bạn, và cũng không chắc chắn bảo đảm, nhưng trực tiếp và không đắt. Những ai từng đọc bài thơ “Servant to Servants” của Robert Frost có thể còn nhớ câu thơ này của ông: “Cách tốt nhất để thoát khỏi bao giờ cũng là đi qua”. Vì thế, những gì tôi gợi ra đây chính là một biến tấu từ câu thơ vừa dẫn.

Khi chạm mặt với nỗi buồn chán, hãy cứ điềm nhiên đón nhận. Hãy cứ để nó chà xát lên bạn, để nó nhấn mình xuống, vùi xuống tận đáy. Nói chung, với những thứ khó chịu, quy luật là, càng sớm chạm đáy bao nhiêu, bạn càng nhanh nổi lên bấy nhiêu. Ý tưởng ở đây là, để nhắc lại một nhà thơ vĩ đại khác của văn chương Anh ngữ, hãy nhìn thật chăm chú vào chính điều tồi tệ nhất. Lý do để sự buồn chán xứng đáng được chú mục là nó phản ánh dòng thời gian thuần khiết, nguyên chất trong tất cả vẻ lộng lẫy được lặp đi lặp lại, trở thành thừa mứa, đơn điệu của nó.

Nói theo cách nào đó, nỗi chán chính là cửa sổ của bạn để nhìn thời gian, nhìn về những đặc điểm của nó mà người ta vốn muốn phớt lờ đi, xem như thể mối nguy đối với trạng thái cân bằng tinh thần của mình. Nói gọn hơn, nó là cửa số để bạn nhìn thấy sự vô tận của thời gian, điều đó cũng có nghĩa là bạn nhìn thấy ý nghĩa của chính mình. Có lẽ điều này giải thích vì sao người ta có thể ngồi lặng thẫn thờ trong những buổi chiều cô quạnh, vì sao người ta đôi khi lại có khoái thú ngắm những hạt bụi li ti cuộn bay lửng lơ trong nắng, và ở đâu đó, đồng hồ điểm nhịp đều đều, ngày thì nóng nực và sức mạnh ý chí của con người chỉ còn là không.

Khi cảnh cửa này mở ra, đừng cố đóng sập nó; ngược lại, hãy mở toang nó ra. Vì nỗi chán nói ngôn ngữ của thời gian, chính nó sẽ dạy bạn những bài học giá trị nhất trong cuộc đời – những bài học bạn sẽ không thu nhận được ở đây, trên những bãi cỏ xanh này – bài học về sự vô nghĩa tuyệt đối của bạn. Điều này thực sự rất ý nghĩa với bạn đấy, và cả với những người mà bạn đang tựa vai vào nữa. “Mi là thân phận hữu hạn”, thời gian nói với ta như thế, bằng giọng của sự buồn chán, “và bất kể mi làm cái gì, từ điểm nhìn của ta, đều là vô nghĩa cả.” Giống như âm nhạc vẳng bên tai bạn, điều này, cố nhiên, cũng có thể chẳng mấy quan trọng; tuy nhiên cảm quan về sự vô nghĩa, về ý nghĩa rất hạn chế của ngay những hành động tốt nhất, nhiệt huyết nhất của bạn vẫn tốt hơn những ảo tưởng về kết quả từ những hành động ấy và từ sự phóng đại bản thân đi kèm.

Vì nỗi chán là sự xâm nhập của thời gian vào trong tập hợp những giá trị của bạn. Nó đặt sự hiện sinh của bạn vào trong góc nhìn của nó – một mạng lưới, mà từ góc nhìn này, ta sẽ thấy ta chính xác và nhỏ bé. Cần nhớ rằng việc đặt mình vào góc nhìn thời gian sẽ làm phát sinh cảm thức về sự hiện hữu của chính mình. Càng hiểu rõ sự nhỏ bé của mình bao nhiêu, ta càng khiêm nhường hơn, càng dễ cảm thông hơn với những gì nhỏ bé như chính mình, như hạt bụi lửng lơ trong nắng kia hay đang nằm yên trên bàn của bạn. Đã bao cuộc đời đã hóa thành những hạt bụi li ti này? Không phải từ điểm nhìn của bạn, mà từ điểm nhìn của bụi mới khơi lên nỗi băn khoăn ấy. Tương quan giữa ta và bụi không khác gì tương quan giữa ta với thời gian; đó là lý do vì sao trông bụi lại nhỏ nhoi đến thế. Và bạn có biết bụi nói gì khi ta lau nó đi trên bàn không?

“Nhớ tôi nhé bạn,

Hạt bụi thầm thì”

Sẽ chẳng có gì đi xa khỏi lịch trình tinh thần của bất kỳ ai trong các bạn, những con người trẻ trung, tươi mới, hơn là tình cảm được biểu hiện ở hai câu thơ trên của nhà thơ Đức, Peter Hutchel, người nay đã qua đời.

Tôi trích dẫn hai câu thơ ấy không phải vì tôi muốn gieo nơi các bạn niềm trắc ẩn đối với những sự vật nhỏ bé – hạt giống, cỏ cây, cát, muỗi – chúng đều nhỏ và đồng thời cũng rất nhiều. Tôi trích dẫn chúng vì tôi thích, vì tôi nhận ra bản thân mình trong hai câu thơ ấy, rằng, bất cứ một sinh vật sống nào cũng sẽ đến lúc bị chùi, bị quét khỏi bề mặt hiện có. Nhớ tôi nhé bạn/Hạt bụi thầm thì. Và người ta sẽ nghe được lời thầm thì đó nếu như ta học về chính bản thân mình từ thời gian, và có lẽ thời gian, đến lượt nó, sẽ học được gì đó từ chính chúng ta. Đó sẽ là điều gì? Không phải là cái gì to tát về ý nghĩa lắm đâu, nhưng chúng ta hơn thời gian ở khả năng nhạy cảm.

Và đấy là điều tôi muốn nói – đừng sợ sự vô nghĩa. Nếu phải cần đến một sự buồn chán đến tê liệt ý chí để trải nghiệm sự vô nghĩa này thì hãy cứ xin chào nỗi buồn. Bạn vô nghĩa vì bạn hữu hạn. Nhưng một sinh thể càng hữu hạn bao nhiêu, nó lại càng chất đầy sự sống, xúc cảm, hoan lạc, sợ hãi, cảm thông bấy nhiêu. Vì cái vô hạn lại không chứa thật đầy sự sống, thật đầy cảm xúc. Nỗi buồn chán của bạn, ít nhất, nói với bạn về điều ấy rất nhiều. Vì nỗi buồn chán của bạn là nỗi buồn chán về sự vô hạn.

Vậy đó, hãy trân trọng cội nguồn của nó – như thể đấy cũng chính là cội nguồn của bạn. Vì nó là sự tiên cảm về cái vô hạn trơ ì, thiếu vắng sự sống động, điều này lý giải cho độ căng của những tình cảm nhân tính, thường dẫn đến một hình dung về một cuộc sống mới. Nói như thế không có nghĩa là bạn được hình thành từ sự buồn chán, hay cái hữu hạn này phát sinh cái hữu hạn kia (dù cả hai có thể đều đúng). Đúng hơn, nó cho thấy đam mê chính là đặc quyền của sự vô nghĩa.

Và vì thế, hãy nuôi dưỡng đam mê, hãy trả sự hững hờ, lãnh đạm của bạn cho những vì sao. Đam mê, hơn tất thảy, là phương thuốc chống lại nỗi buồn chán. Một phương thức khác, dĩ nhiên, là sự đớn đau – nỗi đau trên phương diện thể xác cũng có ý nghĩa không kém nỗi đau tinh thần, hậu quả thường xuyên của đam mê; mặc dù thật lòng tôi không muốn các bạn phải nếm trải đớn đau cả ở thể xác lẫn tinh thần. Thế nhưng, khi bạn đau, ít nhất, bạn biết rằng bạn không bị đánh lừa (bởi thân thể hay tinh thần của bạn). Vì vậy, điều tích cực của nỗi buồn chán, sầu muộn, cảm giác về sự vô nghĩa của chính mình, của sự hiện hữu của mọi thứ khác là ở chỗ đó không phải là sự đánh lừa.

Bạn có thể thử đọc tiểu thuyết trinh thám, xem phim hành động – những thứ sẽ để bạn ở lại nơi bạn chưa từng ở đó, nếu xét về mặt tinh thần, hình ảnh hay ngôn từ – không gian ấy sẽ được duy trì liên tục, nhưng chỉ trong đôi ba giờ đồng hồ. Hãy tránh xa ti vi, nhất là đừng loay hoay chuyển kênh này kênh nó – đó là hiện thân của sự thừa mứa. Thế nhưng nếu những giải pháp này thất bại thì cứ để nỗi buồn xâm chiếm bạn, “nương tâm hồn mình theo dải ánh sáng mờ mờ ảm đạm đang lớn dần, lớn dần”. Hãy ôm lấy, hay hãy để nó ôm lấy bạn, nỗi buồn chán, muộn phiền ấy. Nó, dù sao đi nữa, cũng rộng lớn hơn bạn. Chắc chắn bạn sẽ cảm thấy nội tâm mình trĩu nặng, thế nhưng hãy cố chịu đựng điều đó đi, ở mức cao nhất bạn có thể chịu đựng, thậm chí thêm một chút cũng được. Trên hết, đừng nghĩ hình như trên đường đời mình đã đi, có một nơi nào đó tử tế hơn, đừng cố tìm lại dấu chân mình để sửa chữa sai lầm. Không, như nhà thơ đã nói, “Hãy tin vào nỗi đau của bạn.” Nỗi sầu muộn ôm xiết lấy bạn, làm bạn ngạt thở, nhưng đó không phải là sự nhầm lẫn. Hãy cứ khổ đau đi, đó không phải là sự quấy rầy. Hãy nhớ rằng không có sự ôm xiết nào trên thế giới này mà cuối cùng bạn lại không tìm được cách nới ra.

Nếu bạn cho rằng tôi đang nói những điều thật ảm đạm, có lẽ bạn chưa hiểu thế nào là sự ảm đạm. Nếu bạn thấy những điều này thật chẳng liên quan gì đến mình, tôi hy vọng thời gian sẽ chừng minh là bạn đúng. Nếu bạn bực bội vì tại sao tôi lại nói với các bạn những điều như thế trong một dịp trang trọng như hôm nay, tôi sẽ không đồng ý đâu.

Đúng, ngày hôm nay là lễ kỷ niệm thời gian học tập tại trường của các bạn, nhưng đồng thời nó cũng đánh dấu sự xuất phát của các bạn. Ngày mai thôi, bạn sẽ rời khỏi trường vì cha mẹ của các bạn chỉ trả học phí cho bốn năm học của bạn mà thôi, không thêm một ngày nào. Vì thế, bạn phải đi đến một nơi nào đó, lập nghiệp, kiếm tiền, xây dựng gia đình, gặp gỡ định mệnh dành riêng cho bạn. Về cái nơi nào đó chưa xác định được ấy, không có ngôi sao nào cho ta biết trước, mà các ngôi sao cũng đâu có để ý rằng hôm nay là buổi lễ ra trường của hơn một ngàn tân cử nhân trẻ trung.

Bạn sẽ rời khỏi nơi này, những thành viên của khóa học 1989. Bạn sẽ bước vào thế giới, nơi  sẽ rậm rạp hơn rất nhiều cánh rừng trong khuôn viên của trường này, nơi bạn sẽ ít được chú ý hơn rất nhiều so với bốn năm đại học. Bạn đang đi một mình trên con đường lớn. Để nói về ý nghĩa, về tầm quan trọng của bạn ư, hãy cứ so sánh tương quan giữa 1.100 các bạn, những tân cử nhân của trường Dartmouth này với dân số 4.9 tỉ của nhân loại này. Sự thận trọng, khiêm nhường, bởi thế, cũng cần thiết trong dịp này không kém niềm kiêu hãnh, vinh dự.

Tôi không chúc các bạn điều gì hơn ngoài sự hạnh phúc. Thế nhưng sẽ còn nhiều những giờ khắc tối tăm, mà tệ hơn nữa, trống rỗng mà thế giới bên ngoài cũng như chính tâm trí của bạn tạo ra. Bạn cần phải được làm cho trở nên bình tinh để đối mặt với chúng theo cách nào đó, đấy cũng là việc tôi gắng làm ở đây, theo cái cách của một kẻ vốn dĩ yếu đuối, dù hiển nhiên điều này là không đủ.

Vì phía trước bạn là một hành trình thú vị đấy, nhưng cũng mỏi mệt: hôm nay, nói một cách hình ảnh, bạn đang lên một chuyến tàu. Không ai có thể nói với bạn những gì đón đợi ở phía trước, nhất là những người còn ở lại phía sau. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn đó không phải là một hành trình theo đường vòng. Vì thế, hãy cố tìm một vài sự động viên, an ủi từ ý niệm rằng bất kể sân ga này hay sân ga kia có ngột ngạt, bốc mùi, xấu xí thế nào đi nữa thì con tàu cũng đâu có dừng ở đó mãi. Như vậy, bạn chẳng bao giờ bị mắc kẹt cả – thậm chí ngay cả khi bạn cảm tưởng thế, nơi chốn hôm nay sẽ trở thành quá khứ của bạn. Từ giờ trở đi, nơi này sẽ lùi lại, sẽ khuất sau lưng bạn vì con tàu kia không ngừng chạy. Nó vẫn cứ sẽ lùi lại, khuất dần ngay cả khi bạn nghĩ mình đang bị tắc lại… Vì thế, hãy nhìn lại lần cuối nơi này, dẫu không gian này chỉ có quy mô rất bình thường, dẫu nó còn chưa đi vào một bức ảnh nào. Hãy nhìn nơi đây với tất cả sự dịu dàng mà bạn có, vì bạn đang lặng ngắm quá khứ của mình đấy. Nói thế nào nhỉ, hãy nhìn chăm chú nơi đây như nhìn điều tốt đẹp nhất. Vì tôi ngờ rằng bạn còn có thể thấy nơi nào đẹp hơn nơi đây.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Joseph Brodsky, “In Praise of Boredom”, in trong On Grief and Reason – Essays, NY: Farrar Straus Giroux 1996, trang 104-113.

Yiyun Li – Nàng công chúa của Nebraska

Thỉnh thoảng mình cũng thấy cảm động vì chính bản thân mình. Như là lúc này, khi tôi ngồi đọc lại blog cũ, thưở tập tành chơi Yahoo 360, giờ được lưu lại trên một blog không nhiều người biết. Truyện được dịch vào khoảng thời gian mà đời sống của gia đình tôi xảy ra nhiều biến cố nhất, và những lúc để đỡ mệt mỏi nhất, tôi đã cặm cụi tìm kiếm các truyện ngắn trên mạng, lọ mọ dịch dù thừa biết, những truyện này sẽ chẳng thể cho mình được một đồng nhuận bút nào, dù đó cũng là lúc tôi rất cần tiền. Nhưng tôi đã giữ văn chương như một không gian ly cách khỏi những tính toán thực dụng của mình khi đó. Có lẽ thời đó tôi còn nhiều niềm tin vào bản thân, vào khả năng dịch thuật, vào việc mình có thể làm được điều gì đó có ý nghĩa, có dấu ấn trong văn chương.

Nói chung, đó là thưở mình còn rất nhiều mơ mộng về bản thân. Hôm nay khi phải biên soạn lại một số truyện đã dịch, tôi vẫn thấy những ngày đó, mình sống đẹp hơn bây giờ. Giờ, hình như tôi rất thiếu kiên nhẫn và tự tin để ngồi dịch một cái truyện dài dài thế này, chẳng có mấy người đọc và chẳng đăng được ở đâu. Giờ, tôi cũng ít mày mò các trang web tìm kiếm các tác giả là lạ, chả mấy ai biết để dịch, như thể dịch là sự tìm kiếm và phát hiện của cá nhân. Bao giờ trở lại được ngày ấy…

*

2008_the_princess_of_nebraska_001

Nàng công chúa của Nebraska

Yiyun Li

Sasha ước sau chuyến đi này, cô sẽ không bao giờ phải gặp lại Boshen nữa. Cô chạy ào vào phòng vệ sinh ngay khi họ bước chân vào quán ăn nhanh McDonald, để mặc anh ta gọi món cho cả hai người. Anh ta định mời cô một bữa đàng hoàng ở Chinatown nhưng cô đã từ chối. Cô muốn đi chơi khu downtown Chicago trước khi đến phòng khám tại Trung tâm tư vấn sức khoẻ sinh sản vào buổi sáng hôm sau. Đó là lý do duy nhất khiến cô phải ngồi trên xe buýt đường dài chạy từ Nebraska ròng rã cả một ngày trời. Kansas City có lẽ là sự lựa chọn sáng suốt hơn, đến đó gần hơn và giá cả cũng rẻ hơn nhưng ở đấy chẳng có gì đáng xem hết – chuyến đi này không phải là tham quan nhưng Sasha vẫn hy vọng ít nhất thì mình cũng có thể thu nhận được một số điều gì đó. Cô không muốn phải tiêu hết số tiền mình có để rồi cuối cùng, tất cả những gì có thể nhớ lại được chỉ là một giấc ngủ li bì trong một nhà nghỉ tồi tàn ở một xó xỉnh nào không biết. Sasha lớn lên ở một thị trấn nhỏ thuộc vùng Nội Mông; những khung cảnh mênh mông và trống trải luôn làm cô mệt mỏi.

“Chắc cô thấy mệt”, Boshen vừa nói vừa đẩy khay thức ăn về phía Sasha, lúc này đã ngồi bên một cái bàn cạnh cửa sổ. Cô gái trông thật nhỏ nhắn trong chiếc áo len quá khổ. Mặt cô hơi sưng và cái cách cô nhìn thật chăm chú, dán mắt khá lâu vào những khách hàng trong quán khiến anh xúc động. Cô ta mới có hai mươi mốt tuổi. Vẫn còn là một cô bé.

“Tôi đã lấy cho cô một chiếc bánh kẹp cá”. Boshen lên tiếng khi thấy cô gái không nói năng gì.

“Kể từ khi đến đây, tôi chẳng nhìn thấy người nào có khuôn mặt vui vẻ cả”. Sasha nói. “Thế cái kia là loại gì?”

“Bánh kẹp thịt gà.”

Sasha đẩy chiếc bánh kẹp cá về phía Boshen và chộp lấy chiếc bánh kẹp thịt gà trên khay của anh. “Tôi ghét loại bánh kẹp cá”, cô bảo.

“ Bây giờ thì tốt cho cô rồi,” Boshen nói,

“ Cái ‘bây giờ’ ấy sẽ qua ngay thôi.” Sasha nói. Cô chỉ chực chờ đến khi nào có thể “move on”[1] . “Move on” là cụm từ mà cô vừa học được, một khái niệm Mỹ mà cô rất tâm đắc. Một cụm từ kỳ diệu đến nỗi Sasha như hình dung thấy chính cô đang đóng ghim quá khứ Trung Hoa của đời mình lại, trang này dập lên trang kia, ghim viền xung quanh, cho đến khi những trang quá khứ ấy trở thành một khối rắn chắc không ai có thể mở ra và đọc nó được. Khi đó, cô có thể lật sang một trang mới cho cuộc sống của mình – cuộc sống trên đất Mỹ. Cô đã để trễ việc này mất bốn tháng rồi.

Boshen không nói gì cả, lẳng lặng ngồi bóc chiếc bánh kẹp cá. Đối với anh, đây là một sự thay đổi – ngồi ở bàn và ăn đồ đã gọi – sau hàng tháng trời phải ngồi ăn trong bếp tại một nhà hàng Trung Hoa nơi anh làm thợ phụ cho một đầu bếp người Tứ Xuyên. Boshen đến Mỹ nhờ một cuộc hôn nhân giả với một người bạn năm tháng trước đây, sau khi anh bị nhà cầm quyền bắt giữ vì có trao đổi thư từ với một phóng viên phương Tây về nguy cơ tiềm ẩn của đại dịch AIDS ở một tỉnh trung tâm. Anh đã buộc phải công bố một bản thú tội viết tay về những việc làm sai trái của mình để được thả tự do. Một người bạn đồng tính nữ, một người vừa mới được nhập quốc tịch Mỹ, đã chấp nhận kết hôn với anh để có thể đưa anh rời khỏi Trung Hoa nhằm bảo đảm an toàn cho anh. Trước đó, anh đã sống một cuộc sống phóng túng của một người đồng tính ở Bắc Kinh, yêu say đắm một chàng trai mười tám tuổi tên Dương. Boshen đã tìm nhiều cách để liên lạc với Dương kể từ khi đến Mỹ nhưng chàng trai chưa bao giờ hồi âm. Những tấm séc mà Boshen gửi cho cậu cũng không có người lĩnh.

Hai người ngồi ăn mà chẳng ai nói điều gì. Sasha nuốt chiếc bánh một cách vội vã và đợi Boshen ăn xong phần của mình. Bên ngoài cửa sổ, ngày càng có nhiều người xuất hiện, tất cả đều đang đổ về khu trung tâm, những đứa trẻ đội trên đầu những chiếc gạc tuần lộc màu đỏ ngả trên vai các ông bố. Boshen nhận thấy câu hỏi trong mắt Sasha, anh nói cho cô biết tối nay sẽ có một cuộc diễu hành và tất cả các cây trên đại lộ Michigan sẽ được thắp đèn để chào mừng Lễ tạ ơn và ngày Giáng Sinh đang tới. “Cô có muốn ở đây để xem không?”, Boshen hỏi cho có chuyện, lòng thầm mong Sasha sẽ làm vậy thay vì về nghỉ sau một cuộc hành trình dài trên xe bus.

“Sao lại không cơ chứ?” Sasha vừa nói vừa mặc áo khoác.

Boshen gấp lại mảnh giấy bọc chiếc bánh kẹp như thể gấp một chiếc tạp dề vừa mới được là. “Chúng ta có thể nói chuyện với nhau một chút được không?”, Boshen đề nghị.

Sasha thở dài. Cô chẳng ưa gì Boshen cả, người mà cô mới chỉ gặp có một lần. Ấn tượng mà anh ta để lại trong cô là hình ảnh của một loại đàn ông kiểu cách như thể con gà mái già. Tuy nhiên, cô lại không hề do dự gọi cho Boshen để nhờ giúp đỡ khi tìm được số điện thoại của anh ta qua một người quen. Một cách khô khan, không biểu lộ cảm xúc, cô nói về cái thai mà cô đang mang, cái thai đã để quá lâu để có thể đi nạo ở Nebraska. Dương là cha của đứa bé, cô đã báo cho Boshen biết điều này ngay từ cuộc gọi đầu tiên. Cô không hề có ý định muốn giấu Boshen sự thật; theo một cách nào đó, cô còn cảm thấy chính Boshen cũng phải có trách nhiệm đối với sự bất hạnh này của cô.

“À, thế cô đã quyết định về việc phẫu thuật hay chưa?” Boshen hỏi

“Thế anh nghĩ tôi đến đây để làm gì?” Sasha hỏi lại. Cả tuần vừa rồi, Boshen đã gọi cho cô hai lần, lần nào cũng đặt vấn đề muốn cô giữ đứa trẻ lại. Cả hai lần cô đều dập máy ngay. Điều anh ta quan tâm ở đứa trẻ thật ngớ ngẩn và ích kỷ, cô nghĩ vậy.

Ở đời, giải pháp dễ nhất có thể không phải là giải pháp tốt nhất. Boshen đã tính nói như vậy với Sasha nhưng rồi lại nghĩ, anh có quyền gì để nói về những sự lựa chọn, khi mà những quyết định của anh đối với cuộc đời mình, tất cả, đều là chỉ là những sự thoả hiệp? Ở tuổi ba mươi tám, Boshen cảm thấy mình đã mất nhiều hơn là được. Anh đã từng là một bác sĩ bình thường trước khi anh bị người ta lịch sự đề nghị thôi việc tại bệnh viện vì chuyện lập ra đường dây nóng đầu tiên để tư vấn cho những người đồng tính tại một thành phố nhỏ của Trung Hoa, nơi anh sống. Anh chuyển đến Bắc Kinh và làm việc ngoài giờ cho một phòng mạch tư đồng thời là một nhà hoạt động đấu tranh cho quyền lợi của giới gay. Nhưng rồi sau một vài lần phải làm việc với cảnh sát mật, anh nhận ra ở thời kỳ hậu Thiên An Môn này, nói bất cứ điều gì liên quan đến nhân quyền đều nguy hiểm. Anh quyết định dấn thân vào một lĩnh vực ít quá khích hơn và cũng thiết thực hơn – tuyên truyền nhận thức về bệnh AIDS, nhưng ngay cả hoạt động này anh cũng đành phải từ bỏ sau những áp lực của công an và gia đình. Anh yêu một chàng trai kém mình đến hai mươi tuổi và nghĩ rằng mình có thể làm thay đổi cuộc đời của cậu ấy. Thế nhưng, cuối cùng anh lại đi kết hôn với một người phụ nữ và ra đi. Boshen đã nghĩ đến việc nhận nuôi đứa bé – đứa bé thực sự mang trong mình dòng máu của Dương – nhưng ánh mắt sắc sói, lạnh lùng của Sasha làm anh chùn lòng. Anh đành mỉm cười một cách yếu ớt: “Tôi chỉ muốn biết chắc mà thôi.”

Sasha trùm khăn lên đầu và đứng lên. Boshen không nhúc nhích, đến khi cô gái hỏi anh có định đi hay không, anh nói: “Tôi nghe bạn bè tôi bảo rằng Dương lại đi làm tiền rồi.”

Chẳng có gì ngạc nhiên, Sasha nghĩ vậy, nhưng người đàn ông đang ngồi ở bàn kia, một người đã quá tuổi, lại cũng quá nghiêm túc, để có thể vào vai một chàng tình nhân đau khổ, trông thật tội nghiệp. Dịu giọng hơn, cô nói: “Đành biết vậy thôi chứ sao?”

Boshen không phải là người đàn ông đầu tiên si mê Dương, nhưng, trong một khoảng thời gian khá dài, anh đã tin rằng mình là người duy nhất đã nhìn thấy và chạm được vào tâm hồn của chàng trai này. Từ năm bảy tuổi, Dương đã được đào tạo để trở thành một nam đán – một diễn viên nam chuyên đóng vai nữ trên sân khấu Kinh kịch – và sống trong trường kịch nghệ. Năm mười bảy tuổi, Dương bị đuổi khỏi nhà hát khi bị phát hiện có quan hệ luyến ái với một người đồng giới. Boshen đã viết mấy bài báo về sự việc này nhưng anh chưa hề gặp mặt Dương cho đến khi cậu ta trở thành trai làm tiền. Dương có thể dễ dàng tìm một người đàn ông sẵn lòng bao mình với giá cao nhưng người ta đồn rằng cậu ta chỉ thực sự đi khách nhiều khi bị người tình đầu tiên của mình ruồng bỏ.

Khi biết tin Dương đi làm mãi dâm, Boshen đã tìm đến công viên nơi những người đàn ông có thể tìm được đối tượng thoả mãn những nhu cầu của mình. Trời đã nhá nhem khi Boshen đến nơi và đàn ông, đủ mọi lứa tuổi, len lén vào trong công viên như những con cá lặng lẽ. Bóng tối trùm xuống; dưới những cột đèn, người ta thoả thuận với nhau một cách thì thào. Cảnh tượng ấy, với Boshen, không lạ nhưng đứng trong một bóng cây – trong vai của một khách hàng thay vì một người tìm kiếm – tự dưng anh cũng thấy run. Không khó để nhận ra Dương trong bộ đồ lụa màu trắng ngà mà người ta đồn rằng ngày nào cậu cũng diện để đến công viên. Boshen quan sát chàng trai và thầm nghĩ: cậu ấy quá đẹp, hoàn toàn không xứng với nơi tối tăm bụi bặm này, khác nào một bông sen chẳng lấm mùi bùn.

Sau mấy ngày để ý chàng trai, cuối cùng Boshen chấp nhận trả cho Dương cái giá mà cậu đòi hỏi. Cái đêm anh cùng Dương trở về nhà, Boshen đã dốc cạn lời mình. Suốt một hồi lâu, anh say sưa nói về công việc của anh, ước mơ của anh muốn xóa bỏ sự bất công và xây dựng một thế giới khoan dung hơn; Dương nằm cuộn mình trên giường và lắng nghe. Boshen định thôi không nói nữa; càng nói, anh lại càng cảm thấy tuyệt vọng trước khuôn mặt đẹp và thờ ơ của Dương – trong mắt của Dương, hẳn anh cũng chỉ như tất cả những người đàn ông khác, những kẻ đầy tự phụ mà thôi. Cuối cùng, Boshen nói: “Một ngày nào đó, anh sẽ đưa em trở lại sàn diễn.”

“Một lời hứa suông của đàn ông cũng lấp đầy trái tim người đàn bà” Dương khe khẽ ngâm câu hát.

“Nhưng,” Boshen vừa nói vừa trỏ tay về phía chồng giấy tờ trên bàn làm việc của anh. “Công việc này sẽ vạch trần sự bất hợp pháp của bọn họ khi buộc em phải rời sân khấu chỉ vì con người của em”.

Khuôn mặt của Dương mềm lại. Boshen đọc được niềm hy vọng hiện rõ trong mắt của chàng trai. Dương còn quá trẻ để có thể biết giấu nỗi đau của mình, mặc dù cậu đã có bao năm đứng trên sân khấu đeo mặt nạ nữ, diễn tả nỗi đau đớn của những người đàn bà khác, và Boshen muốn giúp Dương hoá giải nỗi khổ tâm của mình. Sau một vài tuần đeo đuổi, Boshen thuyết phục Dương thử bắt đầu một cuộc sống mới. Boshen trang trí lại căn hộ của mình với những tấm rèm cửa đắt tiền được vẽ tay mô tả những bộ trang phục Kinh kịch và những chiếc đèn lồng giấy rất lớn in hình những tấm mặt nạ sân khấu. Anh bán đi mấy món đồ đạc để tạo không gian và còn mượn cả một tấm thảm của một người bạn để cho Dương luyện tập. Dương an phận với cuộc sống bình lặng ấy như những người đàn bà đức hạnh mà cậu thủ diễn trên sân khấu. Sáng nào cậu cũng dậy sớm, tập uốn mình theo những tư thế khó có thể tin nổi và những động tác vũ đạo cực kỳ phức tạp. Cậu chui vào phòng tắm luyện giọng để tránh hàng xóm nghe thấy. Boshen luôn đứng ở bên ngoài và lắng nghe; giọng của Dương như đâm xuyên tiếng nước chảy, xé toạc tấm màn che phòng tắm, làm nứt vỡ cánh cửa và toàn bộ phần còn lại của cái thế giới nhàm tẻ này, tựa hồ một lưỡi dao bạc. Những lúc ấy, trong lòng Boshen như dâng trào một nỗi hàm ơn – anh không chỉ là người duy nhất nhìn thấu tâm hồn của chàng trai ấy mà còn là người che chở và chăm sóc cho nó. Điều đó, chỉ một mình điều đó thôi, đã nâng anh lên khỏi cái cuộc sống tầm thường và đáng thất vọng của mình.

Khi Boshen làm việc thì Dương luyện vẽ và thư pháp – những bộ môn mà cậu cũng được học ở trường kịch nghệ. Thỉnh thoảng, hai người cũng đi dự các buổi tiệc nhưng hầu hết các buổi tối, họ chỉ ngồi nhà, sống những giờ khắc yên tĩnh, bằng lặng. Dương chưa bao giờ biểu diễn cho Boshen thưởng thức và Boshen cũng không dám đòi hỏi điều đó ở cậu ấy. Dương là một thiên thần sa giáng từ thiên đường và ngày nào Boshen cũng sống với một nỗi sợ ám ảnh thường trực rằng có thể anh sẽ chẳng có cách gì để đưa Dương trở lại với cái thế giới mà cậu vốn thuộc về.

Nỗi sợ hãi ấy hoá ra chẳng phải không có lý. Sau hai tháng làm bạn cùng nhau, Dương bắt đầu có những biểu hiện cho thấy sự mệt mỏi. Ban ngày, cậu đi ra ngoài phố nhiều hơn trước đây và hoàn toàn bỏ bê việc luyện vẽ và thư pháp. Boshen băn khoăn không hiểu có phải là vì Dương thấy bức bối bởi cuộc sống lặng lẽ của hai người.

Rồi đến một ngày, không lâu trước khi Boshen bị trục xuất khỏi Bắc Kinh và bị bắt giữ tại quê nhà, Dương đột nhiên hỏi anh về công việc mà anh đang thực hiện. Ổn, Boshen trả lời, nhưng không thấy thoải mái. Dương chưa bao giờ hỏi anh bất cứ điều gì liên quan đến công việc; nó là một phần thuộc về cái thế giới xấu xa, cái thế giới mà Boshen đã muốn tránh cho Dương phải dính dáng đến nó.

“Anh đang làm việc gì đấy?” Dương hỏi.

“Sao cơ? Thì vẫn việc hàng ngày vậy thôi.” Boshen trả lời.

“Em nghe đồn rằng anh đang làm việc liên quan đến bệnh AIDS,” Dương nói. “Căn bệnh đó thì có quan hệ gì đến anh cơ chứ?”

Sững sờ trước câu hỏi của Dương, Boshen cố tìm cách giải thích. Cuối cùng anh chỉ biết nói: “Em không hiểu, Dương à!”

“Em không phải là một đứa trẻ con,” Dương đáp. “Tại sao anh lại phải bận tâm đến cái căn bệnh bẩn thỉu ấy? Anh càng làm những việc liên quan đến nó thì người ta lại càng gắn nó với những người đồng tính. Điều đó thì có gì tốt đẹp cho chúng ta?”

“Anh đang cố gắng để giúp đỡ được nhiều người hơn là chỉ hai chúng ta,” Boshen nói.

“Nhưng anh đã hứa sẽ giúp em trở lại sân khấu,” Dương nói. “Nếu anh vẫn cứ đeo đuổi những công việc không chính đáng, anh sẽ chẳng bao giờ thực hiện được lời hứa của mình.”

Boshen không trả lời được câu hỏi của Dương. Từ hôm đó, Dương càng thường xuyên ra bên ngoài, và không lâu sau, lần đầu tiên kể từ khi hai người sống chung với nhau, cậu không về nhà. Boshen hình dung ra tất cả những hiểm hoạ đang rình rập để giáng xuống Dương. Cả đêm đó, anh không tài nào chợp mắt được.

“Có gì mà anh phải lo lắng,” Dương trả lời với một nụ cười lạ lùng khi đối mặt với Boshen. “Em chẳng hề gặp nguy hiểm nào như anh tưởng tượng đâu.”

“Ít nhất thì em cũng phải cho anh biết em đã ở đâu chứ,” Boshen nói.

“Em ở cùng một cô gái,” Dương trả lời và nhắc đến một cái tên Boshen thấy quen quen – Sasha. Họ đã gặp cô gái này trong một buổi tiệc, Dương nhắc để Boshen nhớ lại nhưng anh không thể nào hình dung nổi cô ta là ai; anh không hiểu tại sao Dương lại đi chơi với cô ta.

“Tại sao ư? Thật là một câu hỏi buồn cười,” Dương nói. “Người ta được làm những gì mà mình muốn chứ. Đúng không?”

Lần đầu tiên gặp Dương tại buổi tiệc, Sasha có cảm giác như mình đang nhìn vào một tấm gương không phản chiếu khuôn mặt cô, mà là của một ai đó cô không bao giờ có thể trở thành được. Cô quan sát cậu ta đang ngồi làm động tác vũ đạo với những ngón tay dài của mình trên mặt bàn trong khi lơ đãng lắng nghe những người khác chuyện trò xung quanh. Cô chú ý đến những hình bán nguyệt thật ngây thơ sơn trên móng tay của cậu ta, rồi nhìn lại những ngón tay to và thô tháp của mình. Khuôn mặt thoa kem, chiếc mũi và cái miệng thanh tú của cậu ta khiến cô liên tưởng đến một con búp bê sứ xinh đẹp. Sau đó, khi có cơ hội ngồi gần nhau hơn, cô nhận ra trong ánh mắt của cậu ta có một nỗi u uẩn nào đó, điều ấy khiến cô nghĩ cậu ta giống một pho tượng Quan Âm, vị Phật nam giới nhưng lại mang hình hài của một người phụ nữ, nhiều hơn – vị Phật chuyên lắng nghe và đáp lại lời cầu khẩn của những người đàn bà và những đứa trẻ đau khổ. Trước mặt Dương, Sasha cảm thấy mình giống như một con búp bê cao su được sản xuất hàng loạt vậy.

Cảm giác khó chịu chỉ kéo dài trong giây lát. Sasha đã từng nghe nhiều câu chuyện về cậu ta; giờ đây được gặp trực tiếp con người này, cô thấy cũng hay. Cô ngả người về phía cậu ta và hỏi, cứ như thể đang tiếp tục một câu chuyện mà họ đã bỏ lửng ở đâu đó, “Này, anh nghĩ gì về các cô gái?”

Dương ngước nhìn Sasha; khi ấy, cô bắt gặp một đốm sáng lạ lùng trong đôi mắt của cậu. Đôi mắt ấy gợi cô nhớ đến một con chim sẻ bị thương mà cô đã từng nuôi trong suốt một mùa đông lạnh giá, hồi còn sống ở Mông Cổ. Sẻ là loài chim bướng bỉnh; nó không bao giờ chịu ăn uống một khi bị nhốt trong lồng – mẹ cô đã bảo thế. Sasha không tin. Cô nhốt con chim suốt bao ngày và con chim nhỏ cứ tự đâm sầm vào thành lồng cho đến khi đầu nó bắt đầu trụi lông. Thế nhưng, đến khi đó, cô vẫn không chịu thả nó ra. Cô dùng khuỷu tay để nhích bát kê ướt gần hơn về phía con sẻ nhưng nó hoàn toàn đui mù trước thiện ý của cô. Đó là giống chim rẻ tiền, một người hàng xóm nói với cô như vậy; chỉ những con chim rẻ tiền mới ngoan cố đến thế. Hãy nuôi một con chim yến, người hàng xóm khuyên, sáng nào nó cũng sẽ hót cho mình nghe.

Chàng trai cúi mặt trước cái nhìn soi mói của Sasha và cô gái cảm thấy có một sự hối thúc bên trong mình: cô muốn chiếm lĩnh được đôi mắt đẹp ấy, cô như thể là một thợ săn nữ đang đuổi bắt cái đốm sáng lạ lùng trong mắt chàng trai. “Chắc chắn anh phải biết một vài cô gái chứ, đúng không?” cô nói. “Ở trường kịch nghệ anh từng học có học viên nữ không?”

“Có,” Dương trả lời, giọng nói của cậu khiến cô liên tưởng đến một chiếc váy satin.

“Thế rồi sao?”

“Chúng tôi không nói chuyện với nhau. Họ chuyên đóng vai các a hoàn hay nhũ mẫu, những vai làm nền mà thôi.”

“ Thế chắc anh là công chúa, đúng không?” Sasha bật cười, cô nhìn thấy sự thẹn thùng, có lẽ kèm theo cả sự giận dữ nữa ở chàng trai, nhưng điều đó càng khiến cô tò mò và tiếp tục hỏi vặn cậu ta. “Tên anh là gì?”

“Tên nào cơ?”

“ Vậy anh có bao nhiêu tên?”

“ Hai. Một là tên khai sinh. Cái tên thứ hai là nghệ danh do trường kịch nghệ đặt.”

“ Những tên đó là gì?”

Chàng trai những ngón tay vào một ly nước cam rồi viết lên trên mặt bàn cẩm thạch sẫm màu. Sasha nhìn theo vệt nước từ ngón tay của cậu ta. Đó là Dương, một cái tên phổ biến của con trai, tượng trưng cho mặt trời, nguyên lý tự nhiên thuộc giống đực, đối lập với Âm.

“Một cái tên cũng bình thường. Thế nghệ danh của anh là gì?”

“Tố Mộng”, Dương đáp. Có nghĩa là một người mơ mộng trầm lặng và thanh khiết.

“Nghe còn tệ hơn. Giống như một cái tên ướt át trong một cuốn tiểu thuyết diễm tình vậy,” Sasha nói. “Anh cần một cái tên hay hơn. Tôi sẽ nghĩ một cái tên cho anh.”

Cuối cùng, cô không gọi Dương bằng cả hai tên đó, cũng chẳng nghĩ được một cái tên nào hay ho hơn cho cậu ta. Cô gọi cậu ta là “cậu bé nam đán của tôi” và đối với cô, Dương là thế, một chàng trai mà cuộc đời đã bị sắp đặt từ trước để chuyên môn diễn những vai nữ. Cô thường xuyên nhắn tin cho Dương, rủ cậu ta đi xem phim hay dạo công viên. Cô đưa ra những quyết định cho cả hai người và Dương không có ý kiến gì. Cô cố gắng khám phá con người Dương với những câu hỏi – cô hết sức tò mò về cậu ta – và dần dần Dương bắt đầu hé mở câu chuyện về người đàn ông mà cậu từng yêu và những người đàn ông yêu cậu. Chưa bao giờ cậu nói gì về trường kịch nghệ hay đời diễn viên của mình và Sasha biết không nên thúc ép Dương. Một kẻ điệu đàng, Sasha nghĩ về Dương như vậy khi thấy cậu ta phải mất cả tiếng đồng hồ để chải đầu hay biểu lộ một thái độ khinh khỉnh trước sự chú ý hết sức bình thường của một người xa lạ; cô chọc ghẹo cậu ta và rồi lại cảm thấy trắc ẩn và hối hận khi cậu ta không tự bảo vệ được mình. Cô còn châm biếm cả những người khác trong cuộc đời của Dương nữa: người tình của cậu, Boshen, người mà cô cho rằng chỉ là một tay mơ mộng viển vông, rồi cả những người đàn ông trâng tráo hỏi xin số điện thoại của cậu. Cô tin rằng mình là người đầu tiên mà Dương từng gặp trong đời không thèm ngưỡng mộ cậu ta và cậu ta phải bám lấy cô bởi chính điều đó. Ý nghĩ ấy khiến cô thấy vui vui.

Có phải cô đang hò hẹn chàng trai này? Bạn cùng lớp của Sasha hỏi khi bắt gặp cô ở bên Dương hơn một lần. Tất nhiên là không rồi, cô trả lời sự thắc mắc của bọn họ. Một tháng nữa, Sasha phải sang Mỹ để học bằng hai, và vì thế thật vô nghĩa khi bây giờ bắt đầu một mối quan hệ. Vả lại, có sáng suốt không khi cặp với một chàng trai chẳng yêu ai cả, ngoại trừ chính bản thân mình?

Ngay cả gió cũng không thể luồn vào những con người đang mặc thật ấm đứng xếp hàng ở cả hai bên đường đại lộ Michigan. Sasha lách qua đám đông. Trông những người Mỹ này thật trẻ trung, vô tư, và vui vẻ như thể một đoàn học sinh trong một chuyến tham quan điền dã. Cô thèm muốn được như những người đang đứng xếp thành hàng dài trước một cửa hiệu bán bỏng ngô để đợi mua một túi bỏng ngô mới, những tình nhân ngả người vào nhau, những đứa trẻ được được cõng trên vai ba mẹ chúng. Họ được sinh ra để là chính mình, hồn nhiên và mãn nguyện với sự hồn nhiên của mình.

“Tôi sẵn sàng bán cái mình đang có cho bất cứ ai trong số họ,” Sasha nói với Boshen nhưng khi anh hắng giọng bảo cô nói lại những gì vừa nói thì cô lắc đầu. Giá như ở nước Mỹ này có một đạo luật ràng buộc cô với nơi mà đứa trẻ cô đang mang trong bụng thuộc về, như thế đứa bé sẽ có lý do để được tồn tại. Chính Sasha cũng đã từng bị luật pháp sử dụng như một cái bẫy để chôn chân mẹ cô tại vùng thảo nguyên. Là một trong số hàng ngàn sinh viên bị đày từ Bắc Kinh đến vùng Nội Mông để lao động cải tạo, để được vào Đảng, mẹ cô đã kết hôn với một người Mông Cổ làm nghề chăn đàn gia súc, một trong những cuộc hôn nhân theo mẫu hình liên minh các dân tộc anh em được tuyên truyền khắp vùng thảo nguyên thời bấy giờ. Năm năm sau, vào cuối thời kỳ Cách mạng văn hoá, tất cả các sinh viên được phép trở lại Bắc Kinh. Nhưng mẹ của Sasha buộc phải ở lại, thậm chí sau khi bà đã ly hôn với người chồng Mông Cổ của mình. Hai đứa con gái của bà được sinh ra trên thảo nguyên, không được quyền đăng ký hộ khẩu hợp pháp tại Bắc Kinh và người mẹ buộc phải ở lại nơi mà những đứa trẻ thuộc về.

Sasha dấn bước về phía trước, cô nhìn ngắm tất cả các tủ trưng bày của các cửa hiệu. Những tấm khăn lụa ngoan ngoãn quấn quanh cổ những hình nộm ma nơ canh. Nhũng hạt kim cương lấp lánh trên lớp vải nhung sẫm. Ở một góc phố, trẻ con tụ tập xem những hình ảnh hoạt hoạ được chiếu trên cửa kính hiệu Marshall Field. Giá như đứa bé mà cô đang mang trong bụng là thị thực cho phép cô nhập vào cái thế giới phồn hoa này! Sasha nghĩ ngợi và rồi bỗng se lòng bởi những ký ức về Nebraska và vùng Nội Mông, về bầu trời ban đêm ở cả hai nơi, bao giờ cũng đen thẫm với những ngôi sao lẻ loi, vô hồn.

“Có chỗ trống kìa,” Boshen nói. “Cô có muốn ra chỗ ấy đứng xem không?”

Sasha gật đầu, và Boshen đi theo cô ta. Ngoài cuộc gặp gỡ ngắn ngủi tại buổi tiệc ở Bắc Kinh và một vài cuộc điện thoại, anh không biết gì về Sasha cả. Anh nghĩ về cô ta nhiều hơn kể từ khi cô gọi cho anh báo tin về cái thai của cô. Anh đã ngạc nhiên không hiểu cô ta là cô gái như thế nào mà có thể biến Dương trở thành một người cha? Anh hình dung cô ta hẳn phải là một cô gái chín chắn và hiểu biết. Tất nhiên, xinh đẹp nữa. Anh đã tưởng tượng ra một cô gái lý tưởng đối với Dương, và điều ấy cũng để cho lòng anh thanh thản, nhưng Sasha đã khiến anh thất vọng. Khi họ đang cùng đi dọc theo lề đường, anh hỏi cô: “Thế kế hoạch của cô sau cuộc phẫu thuật là gì?”

Sasha kiễng chân lên, nhìn thẳng về hướng mà cuộc diễu hành sẽ bắt đầu như một đứa trẻ. Ngay lập tức, Boshen thấy ân hận vì đã nói với cô ta với một giọng thù địch như thế. Không trông thấy gì hết, Sasha quay lại nhìn Dương và hỏi lại: “Thế còn kế hoạch của anh ở Mỹ thì sao? Mà này, cô vợ mới của anh ở đâu?”

Boshen tái mặt. Anh đã từng nói với Dương rằng cuộc hôn nhân ấy chỉ là một tấm màn che và sự ra đi của anh chỉ là tạm thời. Anh cũng đã hứa với Dương nhiều điều khác, anh sẽ gửi tiền, sẽ tìm sự trợ giúp của cộng đồng Hoa kiều ở hải ngoại để đưa Dương trở lại sân khấu. Không một ngày nào từ khi đặt chân đến đất Mỹ này, anh quên những lời hứa đó, nhưng những lời của Sasha đã làm anh đau nhói. Cuộc hôn nhân của anh dứt khoát là một sự phản bội không thể tha thứ trong mắt của cả Sasha và Dương. “Tôi không còn cách nào khác được,” cuối cùng Boshen phải bật ra thành lời.

“Tất nhiên là không rồi. Chính anh là người đã ném Dương trở lại đường phố,” Sasha nói.

“Đó là một thời kỳ có nhiều chuyện không hay,” Boshen khó khăn lắm mới có thể nói ra được. “Tất cả chúng ta đều gặp khó khăn. Nhưng chắc chắn chúng ta sẽ tìm cách để giúp cậu ấy.”

Sasha lại quay lại nhìn Boshen với một nụ cười châm chọc. “Anh nói hệt như một tay chính trị gia hạng bét vậy,” cô nói. “Hãy cho tôi biết giải pháp của anh”.

“Tôi đang nghĩ,” Boshen nói rồi ngừng lại. “Tôi đang tính liệu chúng ta có nên nói với Dương rằng cậu ấy có thể sẽ được biểu diễn ở Mỹ, như thế có lẽ cậu ấy sẽ muốn rời bỏ Bắc Kinh.”

“Rồi sau đó?”

“Chúng ta sẽ thử tìm cách ở đây. Có một nghệ sĩ nam đán ở New York. Có lẽ chúng ta sẽ liên hệ với ông ta và xin giúp đỡ. Nhưng trước hết, điều chúng ta phải làm là đưa Dương ra khỏi đất nước.”

“Trong chữ ‘chúng ta’ đó có bao hàm cả tôi không đấy?”

“Nếu như cô có thể kết hôn với Dương, cậu ấy sẽ sang đây sớm thôi. Tôi hiểu cậu ấy. Nếu như có một phần trăm cơ hội để trở lại sân khấu, cậu ấy sẽ cố gắng.”

“Một kế hoạch rất hay, Boshen à,” Sasha nói. “Nhưng tại sao tôi lại nên chấp thuận đề nghị đó nhỉ? Như thế thì tôi được gì?”

Boshen không muốn nhìn Sasha nữa, anh đứng ngắm một đôi tình nhân đang hôn nhau ở bên kia phố. “Ít nhất thì cô cũng phải có một lần thấy yêu Dương chứ Sasha,” anh nói với giọng run run.

Sasha không hề nghĩ đến một mối tình, thậm chí cả chuyện hẹn hò cũng không. Tình bạn của hai người nảy sinh một cách hơi bất thường, nó giống như một sự lấp đầy cho những tháng ngày trống trải trước khi tốt nghiệp của cô. Bộ phim mà họ xem vào cái đêm tháng bảy ấy cũng không nằm trong dự tính. Lúc đó đã mười giờ khi Sasha mua vé, đúng vào phút cuối cùng trước giờ chiếu. Dương nhìn đồng hồ treo ở quầy bán vé, thảng thốt kêu muộn. Sasha phải bật cười, hỏi Dương có còn là trẻ con và người tình của cậu có ra lệnh giới nghiêm hay không?

Bộ phim họ xem hôm ấy là Người đàn bà đẹp với phần phụ đề tiếng Trung Hoa không tài nào đọc nổi. Khi họ ra về thì đã nửa đêm. Sasha hỏi: “Anh có thích Julia Robert không?”

“Cô ta thì có gì hay?” Dương đáp.

Sasha liếc nhìn Dương. Suốt cả bộ phim, cậu ấy chỉ ngồi im – cậu ta không biết tiếng Anh nhưng chí ít thì cậu ta cũng có thể thích vẻ đẹp của cô diễn viên xinh tươi này chứ. “Cô ấy đẹp này, vui tính này, và rất Mỹ,” Sasha nói. “Nước Mỹ là một nơi tốt đẹp. Mọi thứ đều có thể xảy ra ở đấy. Một cô điếm có thể biến thành một nàng công chúa; một con quạ có thể biến thành thiên nga chỉ sau một đêm.”

“Gái điếm thì không bao giờ có thể trở thành công chúa được,” Dương nói.

“Làm sao anh biết được?” Sasha nói. “Giá như anh có thể đến Mỹ cùng tôi để nhìn lại chính mình.”

Sau một hồi lâu, Dương mới lên tiếng: “Nơi nào cũng là nơi tốt đẹp cả. Chỉ có thời thế là lầm lẫn.”

Sasha không nói gì cả. Cô không muốn mất cả đêm để thuyết lý. Khi đi qua một khách sạn nhỏ, cô hỏi Dương có muốn vào đấy cùng cô hay không. Chỉ là để hưởng cái thú một đêm không nằm nhà mà thôi, cô bảo thế. Dương ngần ngừ, cô bèn nắm tay cậu ta kéo vào tiền sảnh. Một người phụ nữ trung niên ở phòng tiếp tân mở cửa sổ và hỏi: “Cô cần gì?”

“Đồng chí, khách sạn có một phòng cho hai người không?” Sasha hỏi.

Người phụ nữ đưa cho cô một tờ giấy đăng ký rồi kéo cửa lại. Sasha điền vào giấy đăng ký. Người phụ nữ xem xét kỹ tờ giấy rồi hỏi: “Chứng minh thư của cô đâu?”

Sasha đưa cho bà ta chứng minh thư của mình. Người phụ nữ săm soi nó một hồi lâu rồi hếch cằm về phía Dương. “Còn của cậu kia?”

“ Cậu ấy là em họ tôi, từ vùng Nội Mông đến,” Sasha đáp với một giọng vui vẻ. “Cậu ấy quên không mang theo chứng minh thư.”

“ Thế thì đêm nay hết phòng rồi.” Bà ta vứt trả Sasha chứng minh thư và đóng cửa sổ lại.

“Thưa đồng chí…” Sasha gõ vào cửa kính.

Người đàn bà mở cửa ra và nói: “Đi ngay. Em họ của cô ư? Nói cho cô hay – hoặc là cô có giấy đăng ký kết hôn, tôi sẽ cho cô mượn phòng hoặc là biến đi, ra ngoài đường mà làm những chuyện trơ trẽn ấy và để cho công an tóm cổ. Cô nghĩ là chúng tôi không biết loại con gái như cô sao?”

Sasha kéo Dương ra khỏi cửa trong khi môi của cậu bật lên run rẩy. “Tôi không tin mình không thể tìm được một căn phòng cho cả hai chúng ta,” Sasha cuối cùng cũng lên tiếng.

Dương nhìn Sasha bối rối: “Tại sao chúng ta lại phải làm thế chứ?”

“ Hả. Bây giờ thì anh sợ rồi ư? Vậy thì cứ đi đi nếu anh không muốn đến cùng tôi,” Sasha nói rồi đi ngay. Dương lẽo đẽo theo Sasha đến một nhà nghỉ còn nhỏ hơn nơi trước đó ở cuối một hẻm phố. Một ông già đang ngồi ở bàn chơi bài một mình. “Bố à,” Sasha vừa nói vừa trình chứng minh thư cho ông già, “bố còn một phòng đơn nào cho con và em trai con không?”

Ông già ngước nhìn Sasha rồi lại nhìn Dương. “Cậu ấy chưa đến mười lăm tuổi nên chưa có chứng minh thư,” Sasha nói còn Dương thì chỉ biết cười ngượng nghịu trước ông già, hàm răng trắng của cậu lấp loá trong bóng tối.

Ông lão gật đầu rồi đưa cho Sasha một tờ phiếu đăng ký. Năm phút sau, họ được nhận chìa khoá. Đó là một phòng nhỏ trên tầng hai với hai giường đơn, một cái bệ đã han gỉ trên có đặt hai cái chậu, một cửa sổ không rèm che. Lũ gián nhớn nhác tìm chỗ nấp khi Sasha bật đèn lên. Hai người vẫn cứ đứng trong phòng và đột nhiên lúc ấy, Sasha mới ngỡ ngàng không hiểu việc ở cùng nhau qua đêm trong cái nhà nghỉ bẩn thỉu này sẽ đem đến nỗi hứng thú gì. “Sao chúng ta không về nhà đi?” Dương đứng ở sau cô lên tiếng.

“Anh gọi nơi nào là nhà cơ chứ?” Sasha gắt. Cô tắt đèn đi và nằm vật xuống giường mà chẳng buồn cởi đồ. “Về đi, về với cái người suốt ngày giữ rịt lấy anh đi, nếu đây không phải là nơi dành cho một công chúa như anh,” cô bảo Dương.

Dương đứng im một hồi lâu rồi đành ngả người xuống chiếc giường còn lại. Sasha chờ nghe Dương mở lời nhưng khi cậu ta cứ im lặng như vậy, cô bỗng cảm thấy nổi giận với anh ta, và cả với chính mình.

Sáng hôm sau, khi thành phố bắt đầu thức giấc, cả hai người vẫn nằm thao thức trên giường của mình, không ai nói năng gì. Những con bồ câu bay qua bầu trời, những chiếc còi đồng nhỏ nhắn gắn với đuôi chúng phát ra một giai điệu trầm trầm dễ chịu. Cách đó không xa, tiếng nhạc Đạo2 phát ra từ một chiếc máy hát gọi những người dậy sớm ra tập Thái cực quyền. Những cụ già – những người hâm mộ Kinh kịch, hát những đoạn họ yêu thích trong vở kịch, giọng của họ vỡ ra ở những nốt cao. Rồi những ngôi nhà trong đường hẻm mở cửa, nghe vọng ra từ đó tiếng í ới gọi nhau đi học của lũ trẻ và tiếng chuông xe đạp inh ỏi của người lớn lục tục kéo nhau đi làm.

Sau đó, có ai đó bật máy hát và tiếng nhạc vọng khắp con hẻm. Sasha ngồi dậy, nhìn ra bên ngoài cửa sổ. Một gã trai đứng ở cuối con hẻm đang cuộn một tờ báo trên tay, làm động tác trình diễn một bài hát như thể một ca sĩ nhạc rock đang rú gào: “Ôi, Thành Cát Tư Hãn, Thành Cát Tư Hãn, ông ấy là một ông già quyền lực. Ông ấy lắm tiền, ông ấy lại còn sung sức, em muốn cưới ông ấy.

Sasha lắng nghe đoạn nhắc lại của bài hát và nói: “Tôi không hiểu vì sao những người này lại nghĩ rằng họ có quyền nhạo báng Thành Cát Tư Hãn.”

“Đó là đám người điếc nhạc,” Dương đáp.

“Hồi còn nhỏ, bố tôi từng dạy cho tôi một bài hát về Thành Cát Tư Hãn. Đó là bài hát Mông Cổ duy nhất mà đến giờ tôi còn nhớ,” Sasha nói rồi ngâm nga. Giai điệu của bài hát ấy cô vẫn thuộc nhưng không thể nào hát thành lời. Cô hầu như đã quên hết những từ Mông Cổ mình đã biết kể từ sau khi cha mẹ cô ly dị; đã mười lăm năm rồi, cô không gặp bố mình. “Ôi, tôi không còn nhớ gì về nó nữa.”

Những hàng cột đổ, những mái nhà xiêu,” Dương ngâm câu hát khe khẽ, “họ đã từng chứng kiến bao buổi đại lễ; những cây úa chết, những hoa mẫu đơn héo tàn, họ đã từng múa khúc nghê thường. Những thiếu nữ mơ về tình lang của mình, những người bị điều ra sa trường chiến đấu với quân nhà Hán. Họ đâu biết người họ thương đã hoá thành nắm xương trắng nằm phơi dưới ánh trăng.” Dương nhìn chằm chằm lên trần nhà. “Những người thầy của tôi nói rằng nghệ thuật đích thực sẽ chẳng bao giờ chết. Nghệ thuật đích thực bao giờ cũng nói về những hồi ức.”

“Mà nhớ lại bài hát ấy để làm gì nhỉ?” Sasha hỏi. “Thậm chí tôi còn không nhớ nổi bố mình trông như thế nào.” Cô nghĩ đến người cha của mình, một trong những hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn. Thành Cát Tư Hãn đã biến thành một anh hề trong một bài hát nhạc pop. Mông Cổ đã từng là đế chế lớn nhất thế giới nhưng bây giờ nó chỉ như một mẩu thịt bị kẹp giữa Trung Hoa và Nga mà thôi.

“Chúng ta đã sống nhầm thời,” Dương nói.

Sasha quay lại nhìn Dương. Cậu ta đang gối đầu lên tay trân trân nhìn lên tường nhà, khuôn mặt của cậu ta toát lên một vẻ nhẫn nhục của một ông già. Nó làm cô đau, và cả sợ hãi nữa, khi bất chợt nhận ra một thế giới ẩn bên dưới vẻ đẹp trống rỗng của Dương. “Chúng ta đã sinh nhầm nơi – đấy mới là vấn đề của chúng ta,” cô nói, cố gắng làm Dương, và cả chính cô nữa, vui vẻ lên. “Tại sao anh không sang Mỹ cùng tôi, Dương?”

Dương mỉm cười: “Tôi là ai mà đi theo cô?”

“Là chồng, là tình nhân, là em trai, là gì cũng được, tôi không quan tâm. Tại sao anh không thoát khỏi Bắc Kinh và bắt đầu một cuộc đời mới ở Mỹ?” Những lời vừa mới nói ra ấy như một lớp sương mù dày đặc lơ lửng trong phòng và Sasha không hiểu nó có làm Dương nghẹt thở hay không. Bên ngoài cửa sổ, một người bán dạo đang mài dao trên đá mài và âm thanh lạ đó khiến miệng của hai người ứa nước một cách khó chịu. Thế rồi người bán dạo bắt đầu dài giọng hát mời chào món thịt thủ ngon lành mà mình bán.

“Sasha,” Dương nói, sau một hồi im lặng. “Sasha có phải là một cái tên Mông Cổ hay không?”

“Không hoàn toàn. Đó là một cái tên Nga, tên của một nhân vật nữ trong một cuốn tiểu thuyết chiến tranh của Liên Xô mà mẹ tôi yêu thích.”

“Vì thế mà nghe nó không giống tên Trung Hoa. Tôi thích một cái tên Mông Cổ hơn,” Dương nói. “Sasha, nàng công chúa Mông Cổ.”

Sasha đi chân trần sang giường của Dương và quỳ xuống bên cậu ta. Dương không phản ứng gì cả, cậu để yên cho Sasha nâng khuôn mặt của mình bằng cả hai tay. “Đến Mỹ cùng tôi đi,” cô bảo. “Chúng mình sẽ trở thành hoàng tử và công chúa của Nebraska.”

“Tôi không được dạy để đóng vai hoàng tử,” Dương nói.

“Kịch bản đã thay đổi,” Sasha nói. “Kể từ ngày hôm nay.”

Dương quay lại nhìn Sasha. Cô cố hôn Dương nhưng Dương đã nhẹ nhàng đẩy cô ra. “Một cơ thể đẹp chỉ là một bộ xương thôi,” Dương lại hát lẩm nhẩm.

Sasha chưa bao giờ xem Dương biểu diễn và không thể hình dung nổi khi đứng trên sân khấu, cậu ấy sẽ thế nào; Dương luôn đóng những vai công chúa và kỹ nữ nhưng việc gì mà cậu ấy buộc phải sống với tấm mặt nạ và váy áo lụa là? “Kinh kịch chết rồi,” cô bảo Dương. “Tại sao anh không rũ bỏ nó?”

“Cô là ai mà dám nói về Kinh kịch như vậy?” Dương hỏi.

Sasha nhận ra một tia nhìn lạnh giá bất ngờ loé lên trong mắt Dương và đành phải bỏ dở câu chuyện. Kể từ đó, cả hai người, không ai nói đến chuyện ở lại nhà nghỉ nữa. Một tuần sau, khi Boshen buộc phải rời khỏi Bắc Kinh, Sasha vừa cảm thấy may mắn vì không bị dính dáng lại vừa lo lắng. Bỗng nhiên lại còn thời gian cho họ lấp đầy. Sasha nhẹ nhõm nhưng đồng thời cũng lại có phần thất vọng bởi dường như Dương đã quên khoảng thời gian họ đã thân thiết, đến độ tưởng chừng như họ đã yêu nhau.

Cuộc diễu hành bắt đầu rộn lên với tiếng nhạc và tiếng cười; trên những cỗ xe rước rực rỡ sắc màu, những con người với nét mặt hân hoan vẫy tay chào những khán giả đang hớn hở đứng xem. Boshen nhìn khuôn mặt của Sasha cũng đang ngời lên bởi sự tò mò thích thú rồi thở dài. Mặc dù cô ta thật sắt đá, lạnh lùng, nhưng chính đứa trẻ- đứa trẻ mang dòng máu của Dương – khiến anh có thể sẵn lòng độ lượng với Sasha. “Cô vẫn không muốn cho Dương biết về đứa trẻ ư?” Boshen hỏi.

“Anh hỏi câu này đến cả trăm lần rồi”. Sasha nói. “Tại sao tôi lại phải nói với Dương?”

“Có thể cậu ấy sẽ muốn đến Mỹ nếu như biết chuyện về đứa bé,” Boshen trả lời.

“Ngay sau ngày mai sẽ không còn có đứa bé nào hết,” Sasha nói. Cô đã thử gọi cho Dương khi biết mình mang thai; cô cũng thử cả cách gọi vào máy nhắn tin của cậu ta nữa. Ban đầu, cô chờ hồi âm của Dương từng giờ từng ngày, rồi hàng tuần trôi đi kể từ khi cô gửi lại tin nhắn. Có thể Dương đã chuyển đến một căn hộ mới và có một số điện thoại mới. Có thể cái máy nhắn tin đã không còn thuộc về Dương nữa. Cô biết Dương có thể có đủ mọi lý do để không nhận được tin nhắn của cô nhưng cô không thể tha thứ được cho sự im lặng của cậu ấy. Đúng lúc đó, cơ thể của cô thay đổi. Cô cảm nhận được một cái gì đó lớn dần bên trong mình và cô cảm thấy bực bội vì nó. Đôi lúc cô căm ghét nó không lúc nào nguôi và chỉ mong nó tiêu biến đi bằng cách nào đó trước sức mạnh của lòng oán hận trong cô. Lại có những lúc cô cố không nghĩ đến nó nữa, càng lâu càng tốt, những mong nó có thể biến mất như chưa hề từng tồn tại. Thế nhưng, cuối cùng, nó đòi hỏi hành động của cô. Cuối cùng nó cũng chỉ là một khối huyết nhục.

“Nhưng tại sao chuyện đứa bé lại là vấn đề đầu tiên chứ?” Boshen hỏi. Tại sao? Và chuyện đó đã xảy ra như thế nào? Những câu hỏi ấy cứ ám ảnh anh kể từ khi nghe chuyện của Sasha. Anh muốn hỏi Sasha xem có phải cả cô ta nữa cũng bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của chàng trai, vẻ đẹp của một cơ thể mềm mại, uyển chuyển, cân đối hay không? Anh muốn biết liệu Sasha có yêu cậu ấy như anh không, và nếu có, tại sao cô ta lại nỡ vứt bỏ cái được để lại trong cơ thể của mình?

Sasha quay lại nhìn Boshen. Lần đầu tiên, cô nhìn người đàn ông này một cách chăm chú. Anh ta không đẹp cũng chẳng xấu, anh ta có một khuôn mặt thật thà, một người mà Sasha nghĩ rằng mình không thể yêu nhưng hoàn toàn có thể tin cậy. Một người đàn ông như Boshen đáng ra phải hưởng một cuộc sống bình thường, nhàm nhạt và phong lưu, tuy nhiên mối cuồng si đối với Dương đã khiến anh trở thành một con người thú vị hơn thực chất. Song đó lại chính là giá trị của Dương – cậu ấy khiến người ta si mê và tình yêu đó dẫn họ rẽ ngoặt khỏi những lối mòn buồn tẻ khác của đời mình một cách tự nguyện. Chính Dương là người đề xuất việc ở cùng nhau thêm một lần nữa và Sasha đã mượn phòng trọ của bạn cô để hai người qua đêm. Chuyện xảy ra vài ngày trước chuyến bay của Sasha. Đó là một trong những buổi tối mùa hè oi ả nhất. Sau cuộc ân ái ngọt ngào, ngắn ngủi và bình lặng, họ nằm dài trên sàn nhà, hai người nằm cách nhau cả một sải tay, đắp tấm chăn mà Sasha đã mua từ trước; cả hai đều tự thấy ấm áp, chẳng cần đụng vào nhau. Bên ngoài, gia đình bà chủ nhà cùng hai gia đình hàng xóm đang ngồi ngoài sân xem TV, giọng của họ lẫn với tiếng bộp tay đập muỗi. Sasha quay lại nhìn Dương, lúc này đang nằm xây lưng lại về phía cô. Gói bao cao su mà cô đã mua còn nhét ở dưới chăn, chưa bóc. Cô đã gợi ý Dương dùng nó nhưng cậu từ chối. Bao cao su chỉ dành cho những kẻ chung đụng với nhau mà không có tình yêu, Dương đã nói vậy. Những lời nói ấy khiến cô hy vọng. “ Bây giờ anh muốn sang Mỹ cùng tôi rồi chứ?” cô lấy ngón tay vuốt ve sống lưng Dương và hỏi.

“Tôi sẽ làm gì ở Mỹ? Làm một con chim yến mà cô nuôi chăng?” Dương hỏi lại, đồng thời nhích ra xa hơn khỏi ngón tay của cô.

“Anh có thể bỏ thời gian học tiếng Anh rồi kiếm lấy một cái bằng nào đó có ích ở Mỹ.”

“Có ích ư? Cô không biết tôi là kẻ vô dụng sao? Hơn nữa, không gì sỉ nhục đàn ông hơn là việc phải sống bám vào đàn bà,” Dương nói rồi với tay lấy tấm áo choàng lụa mà cậu mang theo. Cậu bước ra cửa trước khi Sasha kịp ngăn lại. Sasha nhổm dậy, quan sát từ sau rèm cửa; Dương bước đi với một dáng điệu õng ẹo cố ý, không nhìn thấy những người xung quanh đang rời mắt khỏi ti vi dõi theo mình. Khi đến bên chiếc bồn nước xây gạch, cậu ngồi xuống trên mép của nó, nhấc cặp đùi trần của mình lên chỗ vòi nước. Nước chảy một hồi lâu cho đến khi bà chủ nhà định thần lại được trước một cảnh tượng quá đỗi kinh ngạc, thảng thốt kêu lên: “Ê này! Tôi phải trả tiền nước đấy!”

Dương mỉm cười. “Trời nóng quá,” cậu đáp lại với một giọng dễ chịu.

“Ừ, đúng vậy,” bà chủ nhà đồng ý.

Dương khoá vòi nước, bước trở lại về phòng vẫn với điệu bộ lả lơi, yểu điệu ấy, cậu thừa biết những người trong sân đều đang nhìn mình, nhìn theo vóc dáng thướt tha của cậu trong tấm áo choàng màu trắng ngà. Sasha đứng bên cửa sổ, lạnh nhạt và ngao ngán. Cô đã biến thành khán giả của cậu ta, một trong những điều khó ép buộc nhất, nhưng có lẽ cuối cùng thì cậu ta đã thành công.

Một cỗ xe rước mô phỏng theo phim hoạt hình Walt Disney tiến gần đến chỗ mà Sasha và Boshen đang đứng xem. “Nhìn kìa,” Sasha chỉ vào chiếc găng tay khổng lồ của chú chuột Mickey, nhân vật đang đi dẫn lối cho đoàn xe rước. “Chiếc găng đó chỉ có bốn ngón.”

“Tôi không biết điều đó.”

“Dương chỉ cần chúng ta chiêm ngưỡng, thán phục, không hơn gì chiếc găng tay kia muốn khêu gợi sự trầm trồ của chúng ta.” Sasha nói.

“Nhưng tình yêu của chúng ta là điều duy nhất có thể bảo vệ cũng như cứu rỗi cậu ấy.”

Sasha nhìn thẳng vào mắt Boshen. “Chính những người như chúng ta đã huỷ hoại cậu ấy, đúng không? Trước hết, tại sao lại có cái gọi là nam đán trong Kinh kịch? Đàn ông yêu cậu ấy vì cậu ấy đóng vai đàn bà còn đàn bà yêu cậu ấy bởi vì cậu ấy là diễn viên nam thủ vai,” cô nói.

“ Điều đó hoàn toàn sai.”

“ Thế thì tại sao anh lại muốn đưa cậu ấy trở lại sàn diễn đến vậy? Anh tưởng tôi sung sướng lắm khi biết cậu ấy ra nông nỗi này hay sao? Tin tôi đi, tôi cũng muốn giúp đỡ cậu ấy nhiều như anh muốn vậy. Cậu ấy không việc gì phải làm một người đàn ông chuyên đóng vai đàn bà – Tôi nghĩ mình có thể làm cho cậu ấy hiểu điều đó. Thế nhưng kết cục của tôi là gì đây? Anh không phải là người mang đứa bé trong bụng; cậu ta không phải là người phải đi nạo thai,” Sasha bật khóc.

Boshen ngập ngừng đưa tay ra, chạm vào bờ vai Sasha. Giá như cô ấy có thể yêu Dương thêm một lần nữa, Boshen nghĩ thầm. Dương có thể lựa chọn sống cùng với một trong hai người; Dương không cần thiết phải lựa chọn yêu ai nhưng tình yêu của họ có thể làm cho cậu ấy được chở che, không bị thương tổn, họ – ba người bọn họ – sẽ cùng nuôi đứa bé ấy. Dương sẽ vẫn là công chúa, một nàng công chúa bị lưu đày, đúng vậy, nhưng đó là nàng công chúa đích thực, một nàng công chúa xinh đẹp ở giữa xứ người. Giá như anh biết cách làm thế nào để Sasha yêu Dương trở lại, Boshen nghĩ.

Sasha không vùng vằng khi Boshen quàng tay lên vai cô. Đối với những người xa lạ, họ cũng trông giống như hầu hết những cặp tình nhân thông thường, cô nghĩ thế. Anh ta giống một anh chồng lo lắng tìm cách an ủi vợ mình sau một trận cãi vã. Mà họ cũng có thể là một cặp được chứ sao, một cặp không tình yêu, anh ta chỉ quan tâm đến đứa trẻ còn cô, cô chẳng còn cảm xúc cho bất cứ điều gì nữa, kể cả đứa trẻ đang trong bụng.

Như để phản ứng, đứa trẻ đạp. Một tiếng đập, rồi lại tiếng tiếp theo, nhẹ nhàng và ngập ngừng như có ý thăm dò. Đó là lời chào đầu tiên mà Sasha đã từng ao ước mình không bao giờ phải đáp lại, nhưng khi nó đã xuất hiện, thì tự nhiên nó sẽ khiến người ta muốn nghe ngóng nó nhiều hơn, tâm lý đó không thể cưỡng lại được. Sasha nín thở chờ đợi. Sau một hồi lâu, người trên phố hò reo, bọn trẻ con thì gào lên sung sướng. Sasha ngước nhìn lên – những ngọn đèn trên những hàng cây đã được thắp sáng, hàng ngàn ngôi sao quy tụ lại thành cả một chòm. Sasha nhớ đến cái thị trấn nhỏ bé ở vùng Nội Mông, nơi mà giờ đây, mẹ cô đang sống trong cô đơn, nhớ tới dáng mẹ cô lủi thủi bước về nhà, bóng đổ dài sau lưng trong ánh sáng tù mù của ngõ hẻm. Mẹ của cô khi được sinh ra đã chẳng gặp thời. Đến khi trưởng thành thì lại sống nhầm nơi suốt cả một đời. Thế nhưng chưa bao giờ bà hối hận vì đã sinh hai đứa con gái cả. Sasha nín thở để chờ đợi thêm thông điệp của đứa bé. Nước Mỹ là một nơi tốt đẹp, cô tự nhủ, một nơi đáng để cho con người ta sinh ra. Mọi thứ đều có thể ở Mỹ, và cô mường tượng về một đứa bé gái mang vẻ đẹp của cha nó, nhưng sẽ hạnh phúc hơn, may mắn hơn cha mình. Sasha mỉm cười nhưng khi đứa bé đạp lần nữa thì cô bật khóc. Làm mẹ, cô thầm nghĩ, đó hẳn phải là một trong những điều buồn bã nhất nhưng cũng đáng hy vọng nhất trên thế gian này, khi con người ta vương vào một mối tình nếu đã bắt đầu thì sẽ chẳng bao giờ kết thúc.

Chú thích:

1. move on: có nghĩa là: 1 – “đi tiếp”, “tiến lên”; 2- “bắt đầu lại”, “lật sang trang mới”…

Ở đây có thể hiểu theo nghĩa thứ hai.

2. Tao music:một loại âm nhạc giúp thư giãn tinh thần và thể xác. Đó là loại nhạc có hoà âm trong sáng, sử dụng những motif lặp đi lặp lại, diễn tả những ý tưởng về tự nhiên (ví dụ: trăng, nước, suối, biển…) Khi nghe nhạc này, người ta thường thắp nến, đốt trầm và ngồi im lặng để cảm nhận.

Đôi nét về tác giả:

Yiyun Li là nhà văn trẻ gốc Hoa viết tiếng Anh hiện đang sống tại Mỹ. Cô được đánh giá là một trong những gương mặt trẻ sáng giá của văn học Mỹ đương đại. David Remmick, chủ bút tạp chí The New Yorker cho rằng cô là “người sinh ra để trở thành nhà văn hàng đầu trong số những người viết ở thế hệ cô”. Còn tiểu thuyết gia Elinor Lipman cho rằng: “… đọc văn cô, có thể liên tưởng đến F.Scott Fitzgerald hoặc Hemingway thời trẻ.” Truyện ngắn của cô đã được in trong các tạp chí uy tín như Ploughshares, The New Yorker, The Paris Review, The Glimmer Train…Năm 2005, tập truyện A Thousand Years Of Good Prayers đã được trao giải thưởng truyện ngắn quốc tế Frank O’Connor.

Hải Ngọc dịch

Nguyên tác: “The Princess Of Nebraska”, đăng trên tạp chí Ploughshares, Winter 2004 -2005.

Bản dịch được đăng lần đầu trên website: http://www.damau.org, tháng 10 năm 2006

Raymond Carver – Tôi thuộc về chủ nghĩa hiện thực

(Phỏng vấn Raymond Carver – Larry McCaffery và Sinda Gregory thực hiện)

carver

 

Raymond Carver sinh năm 1938, mất năm 1988, là một trong những nhà văn kiệt xuất của nền văn học Hoa Kỳ. Tên tuổi ông gắn liền với truyện ngắn và thơ. Đặc biệt, ông được coi là người hồi sinh thể loại truyện ngắn vào những năm 80 của thế kỉ trước với lối viết tối giản đầy ám ảnh.

Trước khi mất ở tuổi 50 vì bệnh ung thư phổi, Raymond Carver đã để lại năm tập truyện ngắn, khoảng sáu tập thơ và một vở kịch viết chung. Hai tuyển tập truyện ngắn trong số di sản này đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam là Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện tình (2009) và Em làm ơn im đi được không (2012). Chúng tôi xin trích dịch cuộc trò chuyện với Raymond Carver do Larry McCaffery và Sinda Gregory thực hiện để thấy được những quan niệm của nhà văn về nghệ thuật truyện ngắn. Cuộc phỏng vấn được đăng trên tạp chí Mississippi Review, số 14, Mùa đông năm 1985

*

Ở một tiểu luận trong tập Fires (Những ngọn lửa) ông nói rằng, “Để viết tiểu thuyết, nhà văn cần sống trong một thế giới có ý nghĩa, một thế giới mà anh ta có thể tin vào, hướng đến và viết về nó một cách chính xác. Một thế giới dù thế nào cũng đến lúc sẽ cố định ở một chốn nhất định. Song hành với điều đó phải là một niềm tin vào sự đúng đắn thuộc về bản chất của thế giới ấy.” Liệu tôi có đúng khi cho rằng ông đã tới được một chốn như vậy, cả trong thực tại lẫn tâm lý, nơi niềm tin của ông vào “tính đúng đắn” của thế giới ấy đủ mạnh để làm bệ đỡ cho một thế giới tưởng tượng có dung lượng của một tiểu thuyết?

Tôi cảm thấy mình đã đến một nơi như vậy. Đời tôi nay đã khác xưa, với tôi nó dường như trở nên dễ hiểu hơn rất nhiều. Trước đây tôi gần như không thể tưởng tượng được mình có thể viết tiểu thuyết trong tình trạng tuyệt vọng, không thể hiểu nổi mình mà bản thân đang rơi vào. Giờ tôi đã có hi vọng, trước đây thì không – “hi vọng” theo nghĩa có một đức tin. Giờ đây tôi tin rằng ngày mai trước mắt tôi thế giới sẽ tồn tại hệt như nó đã tồn tại ngày hôm nay. Trước đây mọi thứ thật khác. Có một thời gian dài tôi thấy mình đã sống rất bản năng, tôi tự làm mọi thứ trở nên khó khăn thậm tệ đối với chính mình và người thân vì thói rượu chè. Nay, trong cuộc đời thứ hai này, giai đoạn hậu-say sưa, dù trong tôi vẫn còn đôi chút cảm giác bi quan, nhưng tôi đã có niềm tin và tình yêu vào nhiều điều trong thế giới này. Tôi không đề cập đến lò vi sóng, máy bay hay xe hơi đắt tiền nhé.

Niềm tin và tình yêu vào nhiều điều trong thế giới này” mà ông mới tìm thấy được thể hiện rất rõ trong một số truyện ở tập Cathedral (Thánh đường), đặc biệt là trong tác phẩm được lấy làm nhan đề của tập truyện.

RC: Với tôi, truyện ngắn đó là một quá trình “khai mở” ở mọi phương diện. “Thánh đường” là một câu chuyện rộng lớn và có tầm vóc hơn bất cứ thứ gì tôi từng viết trước đây. Khi bắt đầu viết truyện ngắn này, tôi cảm giác mình đang bứt phá ra khỏi thứ mà tôi từng say mê, cả về phương diện cá nhân lẫn phương diện thẩm mỹ. Đơn giản là tôi không thể đi xa hơn theo hướng tôi đã đi trong What We Talk About When We Talk About Love (Chúng mình nói chuyện gì khi chúng mình nói chuyện tình). Ồ, thực ra tôi nghĩ mình vẫn có thể, nhưng tôi không muốn. Vài truyện bắt đầu bị loãng đi. Tôi không viết thêm bất cứ thứ gì trong khoảng 5, 6 tháng sau khi cuốn sách đó ra đời. Thật vậy. Không gì cả ngoài thư từ. Vậy nên tôi hết sức hài lòng rằng khi rốt cục tôi cũng ngồi xuống, sáng tác trở lại và tôi đã viết “Thánh đường”. Cảm giác như trước đây tôi chưa từng viết bất cứ thứ gì như vậy. Tôi có thể để mình ngẫu hứng, không phải áp đặt những giới hạn cho bản thân như tôi từng làm ở những câu chuyện trước đó. Truyện cuối cùng tôi viết cho tuyển tập này là “Fever” (Cơn sốt), cũng là truyện dài nhất mà tôi từng viết. Và đó cũng tác phẩm đáng ghi nhận, tôi nghĩ vậy, một câu chuyện có cách tiếp cận vấn đề tích cực. Quả thực, toàn bộ tuyển tập hoàn toàn khác biệt, và cuốn sách tiếp theo cũng sẽ khác biệt không kém!

Việc một nhà văn như ông gần như đột nhiên thấy mình ở trong một không gian tinh thần khác có ý nghĩa như thế nào? Liệu bây giờ ông có gặp khó khăn khi viết về sự suy sụp, cảm giác hoảng loạn và tuyệt vọng, những điều từng là một phần quan trọng trong nhãn quan sáng tác của ông trước đây không?

Không, bởi khi nào tôi cần mở cửa cho trí tưởng tượng của mình, nhìn chăm chú ra bên ngoài qua khung cửa sổ mà Keats gọi là “khung cửa thần kỳ” của ông, tôi vẫn có thể nhớ lại chính xác hình hài của sự suy sụp và tuyệt vọng, vẫn có thể nếm trải và cảm nhận chúng. Những điều thấm thía như vậy vẫn luôn sống động, hiển hiện trước tôi, ngay cả khi cuộc đời riêng của tôi đã đổi thay. Đơn giản là vì, thế giới vật chất quanh tôi và trạng thái tinh thần của tôi khác đi không có nghĩa là tôi không còn biết rõ về những gì từng nói đến trong các truyện trước đây nữa. Tôi có thể nhớ lại tất cả nếu muốn, nhưng tôi không còn thấy bị thôi thúc chỉ viết về độc nhất thứ cảm xúc đó nữa. Không hẳn là tôi chỉ thích viết về cuộc sống nơi đây, tại trang trại Bốn Mùa, một giai đoạn đời sống cảnh vẻ của tôi). Nếu đọc kĩ tập Thánh đường, anh sẽ thấy nhiều truyện vẫn còn liên hệ tới cuộc đời kia, mà với tôi nó vẫn còn rất nhiều ý nghĩa. Nhưng không phải tất cả các truyện đều vậy. Đó là lí do tôi cảm thấy cuốn sách thật khác biệt.

Nhiều truyện của ông mở đầu bằng việc sự sống bình thường bị xáo động đôi chút bởi cảm giác về một mối đe dọa bất an, hoặc chúng được phát triển theo hướng nhân vật đi đến chỗ chạm mặt với tình thế bị đe dọa đó. Phải chăng khuynh hướng này là kết quả từ niềm tin của ông rằng thế giới này đầy đe đọa đối với hầu hết chúng ta? Hay điều này còn có gì khác liên quan đến một sự lựa chọn thẩm mỹ, thí dụ, mối đe dọa gây bất an kia hàm chứa những khả năng thú vị đối với nghệ thuật kể chuyện?

Đúng, thế giới là một nơi bất an đối với nhiều nhân vật trong truyện của tôi. Tôi viết về những người cảm thấy bất an, và tôi nghĩ rất nhiều người, nếu không phải hầu hết, đều cảm thấy rằng thế giới là một chốn bất an như vậy. Có lẽ không nhiều những người đọc bài phỏng vấn này sẽ cảm thấy sự bất an theo nghĩa tôi đang nói. Phần lớn bạn bè và người quen của ta, những mối quan hệ của ta, của anh và tôi, không cảm nhận theo cách ấy. Nhưng hãy đi và thử sống ở phía bên kia của con đường một chút xem sao. Mối đe dọa ở đó, nó là thứ ta có thể sờ mó được. Về phần thứ hai trong câu hỏi của anh, điều đó cũng đúng vậy. Mối đe dọa hàm chứa những khả năng thú vị cần thăm dò, ít nhất đối với tôi.

Việc di chuyển qua lại giữa hai thể loại văn học –thơ và truyện ngắn – có phải là một vấn đề khó khăn với ông? Có sự khác nhau nào trong quá trình sáng tác ở từng thể loại không?

Tung hứng giữa các thể loại chưa bao giờ là vấn đề với tôi. Tôi cho rằng đối với một nhà văn chưa từng làm việc ở cả hai thể loại đến mức độ như tôi thì đấy là một việc không bình thường. Còn thực sự, tôi luôn cảm thấy và tin rằng về mặt hiệu ứng, cách viết một bài thơ gần với cách viết một truyện ngắn hơn là cách viết một truyện ngắn so với cách viết một tiểu thuyết. Truyện và thơ có nhiều điểm chung trong mục tiêu của sự viết, trong sự cô đọng của ngôn ngữ và cảm xúc cũng như trong sự thận trọng và kìm nén cần thiết để đạt đến hiệu quả nghệ thuật. Với tôi, quá trình viết một truyện hay một bài thơ dường như chưa bao giờ quá khác nhau. Mọi thứ tôi viết đến từ cùng một nguồn cảm hứng, dù đó là truyện, tiểu luận, thơ hay kịch bản. Khi tôi ngồi xuống viết, tôi hoàn toàn bắt đầu với chỉ một câu hoặc một dòng. Tôi luôn phải có dòng đầu tiên trong đầu, dù đó là một bài thơ hay một truyện ngắn. Về sau những phần khác có thể thay đổi, nhưng dòng đầu tiên ấy thì rất hiếm khi. Bằng cách nào đấy, nó đẩy tôi sang dòng thứ hai, và rồi quá trình viết bắt đầu lấy được đà và đi theo một hướng. Gần như mọi thứ tôi viết đều qua nhiều lần sửa chữa, vậy nên tôi làm công việc dự phòng và trở đi trở lại giữa các ý tưởng rất nhiều. Tôi không ngại sửa chữa, thậm chí còn thích thú việc này.

Có thể sự tương tác giữa thơ và văn xuôi hư cấu có liên quan đến hiệu quả mà truyện ngắn của ông đem đến cho độc giả: dường như truyện của ông thường chỉ xoay quanh một hình ảnh đơn nhất: một con công, một điếu xì gà hay một chiếc ô tô. Dường như những hình ảnh ấy vận hành hệt như những hình ảnh trong thơ – tức là, chúng tổ chức câu chuyện, kéo phản ứng của chúng ta vào một chuỗi những kết hợp phức tạp. Ông đã tự ý thức như thế nào khi viết và phát triển kiểu xử lý hình ảnh đó?

Tôi không ý thức tạo ra một hình ảnh trung tâm trong tác phẩm hư cấu để chi phối câu chuyện theo cách mà các hình ảnh, hay một hình ảnh, chi phối một tác phẩm thơ ca. Tôi có một hình ảnh trong đầu nhưng dường như nó trồi lên từ câu chuyện như một sinh thể tự nhiên. Lúc viết, tôi không bận tâm đến việc phát triển các biểu tượng hay suy tính xem hình ảnh sẽ đóng vai trò gì. Khi tôi gặp một hình ảnh có khả năng tạo được hiệu quả tác động, một hình ảnh đại diện cho đúng cái mà nó cần đại diện (nó cũng có thể đại diện cho vài thứ khác nữa) thì đó là điều tuyệt vời. Nhưng tôi không nghĩ về chúng một cách tự giác: chúng dường như tiến hóa và tự nảy sinh. Tôi sáng tạo ra chúng và rồi mọi thứ xung quanh bắt đầu thành hình: những sự kiện diễn ra, hồi ức và tưởng tượng bắt đầu tô màu cho chúng v.v…

Ở một tiểu luận trong tập Fires (Những ngọn lửa), ông có đưa ra một nhận định mà với tôi nó là sự mô tả hoàn hảo cho một trong những đặc điểm độc đáo nhất trong văn xuôi hư cấu của ông: “Trong một bài thơ hay truyện ngắn, ta có thể viết về những điều tầm thường, sự vật tầm thường với một thứ ngôn ngữ tầm thường và phú cho những sự vật đó – một cái ghế, một tấm rèm cửa, một cái nĩa, hòn đá, hoa tai – sức mạnh lớn lao, thậm chí gây sửng sốt.” Tôi nhận thấy về điểm này mọi câu chuyện đều khác nhau, nhưng làm sao nhà văn có thể cấp cho những sự vật bình thường này một sức mạnh và tầm quan trọng nhường ấy?

Tôi không quen dùng phép tu từ hay sự trừu tượng hóa trong đời sống, cũng như trong suy nghĩ hay trong lối viết, nên khi tôi viết về con người, tôi muốn đặt họ trong một khung cảnh được xây dựng chân thực, đến mức có thể gây cảm giác tiếp xúc được trực tiếp với nó. Vậy nghĩa là một cái ti vi, một cái bàn ăn hay một cái bút dạ nằm trên bàn làm việc đều là những yếu tố trong một bối cảnh ngoài đời sống, nhưng nếu đưa chúng vào trong hoạt cảnh văn chương thì chúng phải mất đi vẻ trơ lì. Tôi không nói là chúng luôn phải có một đời sống tự thân nhưng bằng cách nào đó, chúng phải làm cho sự hiện diện của mình khơi gợi được cảm giác. Nếu anh định mô tả một cái thìa, cái ghế hay cái ti vi, anh sẽ không muốn chỉ đặt chúng vào hoạt cảnh một cách đơn giản. Anh muốn trao cho chúng một trọng lượng nhất định, liên kết chúng với những sự sống xung quanh. Với tôi, các sự vật đó đóng một vai trò trong câu chuyện: chúng không phải là “nhân vật” hiểu theo nghĩa là con người trong truyện của tôi, nhưng chúng ở đó và tôi muốn độc giả của mình ý thức rằng chúng ở đó, biết rằng cái gạt tàn này ở đây, cái ti vi ở kia (nó đang bật hay tắt)…

Người đọc thường lập tức bị ấn tượng mạnh bởi tính chất “tối giản” trong tác phẩm của ông, đặc biệt là những tác phẩm trước tập Thánh đường. Phong cách này là sự tiến triển của lối viết hay ngay từ đầu ông đã lựa chọn nó?

Ngay từ đầu. Tôi thích quá trình viết lại không kém gì lúc đặt bút viết một câu chuyện. Tôi luôn luôn yêu thích việc nhặt lên và chơi đùa với những câu văn, viết lại chúng, giản lược cho tới khi chúng trở nên cô đặc theo một cách nào đó. Điều này có lẽ do tôi vốn là học trò của John Gardner; ông đã từng nói một điều mà tôi hưởng ứng ngay: “Nếu anh có thể diễn đạt một điều trong 15 từ hơn là 20, 30 từ thì hãy nói 15 từ thôi”. Điều này có ý nghĩa với tôi như một sức mạnh của sự khải thị. Khi tôi đang mò mẫm tìm lối đi riêng, người ta đã nói với tôi một điều  mà theo cách nào đó lại gặp gỡ với thứ tôi vẫn muốn làm. Tôi trở lại những gì đã viết, tinh lọc chúng rồi xóa bỏ phần thừa như thể đó là hành động tự nhiên nhất trần đời. Mấy ngày gần đây, tôi đọc lại thư từ của Flaubert và nhận thấy ông đã nói những điều dường như thật gần gũi với quan điểm thẩm mỹ của tôi. Một lần khi đang viết Bà Bovary, Flaubert dừng bút lúc quá nửa đêm và viết thư cho tình nhân của ông, Louise Colet kể về việc viết cuốn sách và chia sẻ quan điểm của ông về mỹ học. Có một đoạn đã thực sự khiến tôi rất ấn tượng: “Người nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo của mình phải giống như Đấng sáng thế? vô hình và toàn năng; ta cảm thấy Người ở khắp mọi nơi nhưng người ta lại không thấy Người ở đâu cả.” Tôi đặc biệt thích vế cuối của đoạn văn này. Có một bình luận thú vị nữa khi Flaubert viết cho biên tập viên tạp chí sẽ đăng dài kỳ cuốn Bà Bovary. Họ sắp sửa chia cuốn tiểu thuyết ra thành nhiều kì và lược bỏ nhiều chỗ vì sợ rằng nếu đăng nguyên văn như Flaubert viết thì chính quyền sẽ buộc họ đóng cửa. Flaubert nói rằng nếu lược bỏ thì họ sẽ không được phép xuất bản cuốn sách, nhưng hai bên sẽ vẫn là bạn. Dòng cuối cùng của bức thư viết: “Tôi biết phân biệt văn chương và việc kinh doanh văn chương” – đây là một sự thấu suốt khác mà tôi rất đồng tình. Ngay cả trong các bức thư ấy, văn xuôi của ông vẫn khiến ta kinh ngạc: “Văn xuôi phải được tổ chức nghiêm ngắn, cẩn trọng từ đầu đến cuối, như một bức tường được phủ kín sơn đến tận chân tường.” “Văn xuôi chính là công trình kiến trúc.” “Mọi thứ phải được thực hiện một cách lạnh lùng, nghiêm nghị.” “Tuần trước tôi đã dành năm ngày chỉ để viết một trang.”

Bên cạnh John Gardner, có nhà văn nào khác có ảnh hưởng tới cảm quan sáng tạo của ông ở thời kỳ đầu không? Tôi nghĩ ngay đến Hemingway…

Chắc chắn Hemingway là một nguồn ảnh hưởng. Tôi không đọc ông tới tận khi tôi vào đại học, sau đó tôi lại đọc phải cuốn sách tồi của ông ấy (Across the River and Into the Trees – Qua sông vào rừng) và thật sự không mê Hemingway. Nhưng không lâu sau, khi đọc In our time (Trong thời đại chúng ta) ở một lớp học, tôi nhận ra ông ấy thật phi thường. Tôi nhớ mình đã nghĩ, “Chính là nó – nếu mày có thể viết văn xuôi như thế này, mày sẽ làm được cái gì đấy”. Một trong những điều thú vị ở tác phẩm của Flaubert chính là nó cho ta thấy ông đã tự giác như thế nào khi bắt đầu thể nghiệm một điều gì đó rất đặc biệt và khác biệt với văn xuôi. Ông rất ý thức khi nỗ lực biến văn xuôi thành một hình thức nghệ thuật. Nếu anh nhìn vào những thứ được xuất bản ở Châu Âu vào năm 1865 khi Bà Bovary ra đời, anh sẽ thấy cuốn sách đó quả là một kì tích.

Trong các tiểu luận của mình, ông lên tiếng chống lại những “thủ thuật” hay “mánh lới” màu mè[1] trong văn chương – nhưng tôi lại nghĩ rằng chính tác phẩm của ông cũng mang tính “thể nghiệm” theo nghĩa mà người ta nói về văn xuôi hư cấu của Hemingway. Đâu là khác biệt giữa sự thể nghiệm văn học mà ông xem là chính đáng với những thứ không phải nó?

Tôi chống lại những thủ thuật thu hút sự chú ý về chính bản thân chúng, cố ra vẻ thông minh hay chỉ đơn thuần là sự bí hiểm, ngoắt ngoéo. Sáng nay tôi có đọc một bài điểm sách trên tờ Publishers Weekly về một tiểu thuyết đồng tác giả sẽ ra mắt mùa xuân năm sau; cuốn sách có vẻ rất rời rạc và chứa đầy những thứ chẳng có nghĩa lý gì với cuộc đời hay với văn chương như tôi biết; chắc chắn là tôi thà chết chứ không đọc nó. Một nhà văn không được xao lãng khỏi câu chuyện của mình. Tôi không hứng thú với những tác phẩm toàn thiên về kỹ thuật mà thiếu vắng chất đời. Chắc tôi lỗi thời rồi nên mới thấy rằng độc giả, như là những con người, bằng cách nào đó, phải được quan tâm đến trong quá trình viết. Vẫn cần phải có một khế ước nào đó giữa nhà văn và độc giả. Viết hay bất kì hình thái lao ðộng nghệ thuật nào, không chỉ là sự phô bày; nó là sự giao tiếp. Khi một nhà văn không còn thực sự hứng thú với việc giao tiếp mà chỉ nhắm đến phô bày điều gì đó thì thật đáng buồn; họ có thể phô bày bản thân bằng cách ra ngoài và hò hét ở góc phố. Một truyện ngắn, một tiểu thuyết hay một bài thơ nên cố gắng tạo được một số “cú đấm cảm xúc” (emotional punches). Anh có thể đánh giá tác phẩm đó qua  cường độ và số lượng những cú đấm đó. Nếu nó chỉ rặt những chiêu trò lóa mắt và tự thỏa mãn thì chao ôi, tôi xin kiếu. Tác phẩm như thế chỉ là rơm rác: chúng sẽ bị cuốn bay theo cơn gió đầu tiên.

Một trong những khía cạnh phi truyền thống trong sáng tác hư cấu của ông là các truyện ngắn không hướng đến “khuôn mẫu” của những truyện được viết theo lối cổ điển vốn thường tuân theo cấu trúc nhập đề/xung đột/phát triển/giải quyết. Thay vào đó thường là một tính chất tĩnh tại hay mơ hồ, bỏ ngỏ trong các truyện của ông. Tôi cho rằng ông thường xuyên cảm thấy những kinh nghiệm mà ông đang diễn tả đơn giản là không thích hợp với sự biểu đạt bằng kiểu cấu trúc quen thuộc.

Đối với các nhân vật cũng như những tình huống mà tôi miêu tả trong tác phẩm của mình, sẽ không phù hợp nếu đưa ra cách giải quyết mọi thứ một cách gọn ghẽ và ở một mức độ nhất định, đây còn là điều bất khả. Một điều khá phổ biến ở những người cầm bút là họ có xu hướng ngưỡng mộ những người trái ngược với mình về mục đích và cách tạo hiệu quả trong sáng tác, và tôi thừa nhận mình cực kì ngưỡng mộ những truyện được triển khai theo mô thức cổ điển ấy, với xung đột, giải quyết và kết thúc. Nhưng dù tôi có thể kính trọng những tác phẩm ấy, thậm chí đôi lúc còn hơi ghen tị, thì tôi vẫn không thể viết như vậy được. Công việc của nhà văn, nếu quả thực anh/cô ta có một công việc, không phải là mang lại những kết luận hay câu trả lời. Nếu câu chuyện tự trả lời chính mình, trả lời những vấn đề và xung đột chính nó đặt ra và thỏa mãn những đòi hỏi tự thân, thì thế là đủ. Mặt khác, tôi muốn chắc chắn rằng độc giả của mình không cảm thấy bị chơi khăm cách này hay cách khác khi họ đọc hết câu chuyện của tôi. Điều quan trọng với nhà văn chính là anh ta phải cung cấp vừa đủ để thỏa mãn độc giả, ngay cả khi họ không đem đến những câu trả lời hay cách giải quyết rõ ràng nào.

 Một đặc trưng trong tác phẩm của ông là ông thường thể hiện những nhân vật mà hầu hết các nhà văn khác ít khi khai thác – đó là những người về cơ bản không có khả năng diễn đạt, những người không thể nói ra bằng lời cảnh ngộ của mình, họ thường không thực sự nắm bắt được chuyện gì đang xảy ra với họ, điều gì trở nên bất ổn.

Tôi không nghĩ đó là dấu hiệu đặc trưng hay phi truyền thống, bởi tôi cảm thấy hoàn toàn thoải mái khi viết về những con người đó. Tôi đã gặp những người như vậy suốt cả đời. Mà cơ bản thì, tôi cũng là một trong những con người lúng túng và ngơ ngẩn ấy, tôi xuất thân từ những người như thế, tôi làm việc và kiếm sống bên họ suốt nhiều năm. Đó là lý do tại sao tôi không bao giờ có chút hứng khởi nào với việc viết một truyện hay một bài thơ dính dáng đến đời sống học thuật, đến thầy hoặc trò, v.v… Đơn giản là tôi không thích. Những gì tạo nên ấn tượng không phai mờ trong tôi là những gì tôi nhìn thấy ở những cuộc đời quanh mình và trong chính cuộc đời bản thân tôi đang sống. Có những cuộc đời mà ở đó người ta thực sự hoảng sợ khi ai đó gõ cửa dù ngày hay đêm, hay khi chuông điện thoại reo; và họ không biết mình sẽ trả tiền thuê nhà ra sao hay làm thế nào nếu chiếc tủ lạnh ngừng hoạt động. Anatole Broyard đã cố phê phán truyện “Preservation” (Bảo hành) của tôi khi nói: “Thế là cái tủ lạnh hỏng – tại sao họ không gọi thợ điện đến và sửa chữa nó?” Kiểu bình phẩm đó thật là ngu xuẩn. Anh gọi thợ đến sửa tủ lạnh hết 60$; và ai mà biết sẽ còn tốn bao nhiêu nếu cái tủ lạnh đó hỏng hẳn. Có lẽ Broyard không ý thức được nhưng nhiều người không đủ tiền để gọi thợ nếu việc đó lấy đi của họ 60$; cũng như họ không đến nha sĩ nếu họ không có bảo hiểm, còn răng của họ trở nên tệ hơn bởi họ không đủ tiền đến gặp nha sĩ khi họ cần. Những hoàn cảnh như thế không có vẻ gì là phi thực hay giả tạo với tôi. Cũng không phải là vì chú tâm vào nhóm người ấy mà tôi lại tạo ra thứ gì hoàn toàn khác biệt với những nhà văn khác. Chekhov từng viết về những kẻ bên lề bị khuất lấp cả trăm năm trước. Với tôi, dường như các tác gia truyện ngắn vẫn luôn luôn làm vậy. Không phải mọi truyện của Chekhov đều là về những kẻ thất thế, nhưng vẫn có một số lượng đáng kể tác phẩm của ông xoay quanh những kẻ bên lề bị khuất lấp mà tôi đang nói đến. Ông có viết về các bác sĩ, thương gia, nhà giáo nhưng ông cũng viết về những kẻ rất khó nói nên lời và tìm được phương tiện để những nhân vật đó cất lời. Vậy nên, viết về những người hay ấp úng, những người bối rối và sợ hãi, không phải là tôi đang làm điều gì hoàn toàn khác biệt so với một số nhà văn khác đâu.

Người ta thường nhấn mạnh khía cạnh hiện thực trong tác phẩm của ông, nhưng tôi thấy có một đặc tính nào đó trong tác phẩm của ông không phải là hiện thực thuần túy. Giống như một cái gì đó xảy ra ngoài trang văn, một cảm giác mơ hồ về sự phi lý, gần như tiểu thuyết Kafka.

Có lẽ tác phẩm của tôi nằm trong truyền thống hiện thực chủ nghĩa (đối lập với phái hoàn toàn thoát ly), nhưng nếu chỉ kể về sự việc như là chính nó thì tôi thấy rất chán. Mà đúng là như thế. Người ta không cần đọc về cách con người nói chuyện với nhau trong đời thực và về những gì đã thật sự xảy ra trong cuộc sống của họ. Kiểu gì họ cũng ngủ gật mất thôi. Nếu đọc kĩ truyện của tôi, tôi không nghĩ anh sẽ thấy con người nói chuyện với nhau theo cách thông thường. Người ta luôn luôn nói rằng Hemingway có một khả năng đặc biệt trong việc miêu tả trò chuyện, và sự thật đúng là như thế. Nhưng chẳng ai từng nói chuyện ngoài đời như trong hư cấu của Hemingway. Ít nhất là cho tới trước khi họ đọc Hemingway.

Đức AnhNgọc Hà trích dịch


[1] Từ gimmick liên hệ đến những tác phẩm mà sự đổi mới về hình thức thực ra không tạo nên một hiệu quả thẩm mỹ nào. Ở đây dịch là mánh lới hoa mỹ ngụ ý chỉ các tác phẩm cố ra vẻ khác biệt và độc đáo về hình thức nhưng thực ra chẳng có tác dụng gì cả/