Tag Archives: trí thức

MỘT HÀNH TRÌNH NỘI TÂM

(Đọc “Thiện, Ác và Smartphone” của Đặng Hoàng Giang, Nhã Nam & NXB Hội nhà văn Hà Nội, 2017)

thien-ac-smartphone

Nhân vật bảo mẫu trong bài báo này cũng chính là nhân vật hiện diện trực tiếp ở những trang cuối cùng cuốn sách mới nhất của Đặng Hoàng Giang. Cuộc trò chuyện giữa Đặng Hoàng Giang và một cô gái từng là tâm điểm của làn sóng căm ghét của cư dân mạng cách đây mấy năm, bị coi là “ác thú” khi có những hành động bạo hành đối với trẻ nhỏ chính là những trang viết tác động mạnh nhất đến nhận thức của tôi khi đọc cuốn sách này. Tôi đã có một hình dung khác về Đặng Hoàng Giang: với anh, viết tiểu luận không chỉ là một cách anh khẳng định vai trò của một nhà hoạt động xã hội. Cuốn sách này, trong suy nghĩ của tôi, là một hành trình nội tâm của một người trí thức: đi từ hoang mang, lo âu, cố gắng dùng lý trí để phân tích, vạch ra dự án, giải pháp, nhưng cuối cùng chỉ thực sự yên tâm là niềm tin mình nuôi dưỡng có cơ sở. Đặng Hoàng Giang, từ cuốn tiểu luận thứ nhất, vẫn là người nghiêng về niềm tin vào những cá nhân, vào những sự thay đổi từ dưới lên. Anh có sự lạc quan, nhưng hơn hết, có sự kiên nhẫn – phẩm chất mà tôi tin những người muốn cải cách xã hội ở thời điểm này cần phải có trước hết.

*

1.Thiện, Ác và Smartphone là tập tiểu luận thứ hai của Đặng Hoàng Giang, sau “Bức xúc không làm ta vô can” – cuốn sách ra mắt năm 2015 và gây được tiếng vang rộng rãi. Điểm khác biệt dễ thấy ở tác phẩm mới này là thay vì xoay quanh nhiều chủ đề đa dạng, nhiều sự kiện thời sự, Đặng Hoàng Giang chủ yếu tập trung vào một hiện tượng: hành vi làm nhục công cộng trong thời đại số. Song không dừng ở việc mô tả bề mặt, mong muốn lý giải đến ngọn ngành của vấn đề khiến tác giả phải phát triển vấn đề xa hơn và sâu hơn, từ đó mở rộng sang nhiều khía cạnh khác: thiện và ác, trừng phạt và tha thứ, cái công cộng và cái riêng tư, tự do và trách nhiệm… Đó đều là những khía cạnh mà nếu không cho phép mình hời hợt, càng suy nghĩ, con người ta lại càng thấy ranh giới giữa những phạm trù tưởng như đối lập này thực ra rất bất định. Những lằn ranh bất định ấy vừa thách thức mà cũng lại vừa cám dỗ đối với tư duy vì chỉ có thể từ đó, những tư tưởng mới mới có thể nảy sinh. Đặng Hoàng Giang hiểu được những cám dỗ này, nhưng hơn hết, có lẽ anh hiểu những thử thách đặt ra cho mình khi theo đuổi chủ đề của cuốn sách. Tìm hiểu nguồn gốc của vấn đề, móc nối hiện tượng mình đang bàn luận với những cách tiếp cận của triết học, tâm lý học, đạo đức, xã hội học… để có thể có thêm nhiều góc nhìn tham chiếu, tiểu luận của Đặng Hoàng Giang có xu hướng mang tính khảo cứu. Một danh mục gần 200 tư liệu tham khảo ở cuối sách nhắc chúng ta nhớ rằng trước khi xuất hiện trong tư cách của một cây bút tiểu luận sắc sảo, Đặng Hoàng Giang là một nhà khoa học.

2. Xu hướng gắn tiểu luận với tính khảo cứu là đặc điểm nổi bật ngay từ cuốn sách đầu tiên của Đặng Hoàng Giang. Nhưng điều làm tôi phải suy nghĩ nhiều hơn về Thiện Ác và Smartphone chính là ở khía cạnh văn học của nó. Đặng Hoàng Giang được biết đến nhiều như một nhà hoạt động xã hội có ảnh hưởng; ngay ở cuốn sách này, vai trò đó của anh được thể hiện rõ nét, đặc biệt ở đề xuất mà tôi tin sẽ nhận được nhiều chia sẻ từ công chúng về “Dự án trắc ẩn” được trình bày trong phần kết. Song chính từ những trang cuối cùng của cuốn sách này, tôi đã có một hình dung khác về người viết. Đặng Hoàng Giang viết cuốn sách với đúng với tâm thế của người theo đuổi thể loại tiểu luận, theo đó: “Viết tiểu luận tức là nỗ lực, thử nghiệm, cố gắng đạt đến một điều gì đó mà không chắc mình có thành công không… Có một điều gì đó thật can đảm ở hành động của người viết tiểu luận: anh ta lao vào cái chưa biết, không những không có tấm bản đồ nào trong tay mà còn không chắc chắn có điều gì giá trị có thể tìm thấy được hay chăng…”[1]

Trên thực tế, cuốn sách đã bắt đầu từ sự băn khoăn, thậm chí có thể nói là hoang mang của tác giả về cơn bão căm ghét, thịnh nộ của đám đông đôi khi lại kịch phát dữ dội nhắm vào một vài đối tượng bị xem là làm ô uế danh dự cộng đồng hay xâm phạm vào giá trị mà một nhóm, một bộ phận xã hội coi như chuẩn mực. Những cơn bão ấy được hình thành qua lớp ngôn từ bạo lực và nhờ sự hiện đại của công nghệ, sức công phá của chúng lại càng nhanh và mạnh, để lại những tổn thương lớn song ít được chú ý đến. Và điều đáng nói là có vẻ chúng được xem như hiện thân của công lý đám đông, chúng thực thi sức mạnh ở nơi pháp luật chưa chạm đến. Đặng Hoàng Giang không giấu việc anh từng là người phải hứng chịu cơn bão căm ghét ấy. Vị thế nạn nhân cho phép anh có thể nhìn những trường hợp mà anh quan tâm từ điểm nhìn của người trong cuộc để có thể thấu cảm được các nhân vật của mình. Nhưng để khảo cứu hiện tượng, anh cũng đủ điềm tĩnh để tách mình ra, cố gắng phân tích, lý giải hiện tượng từ nhiều góc độ khác nhau và giữ độ lý tính cần thiết.

3. Nhưng thực ra những nhân vật mà cuốn sách này lấy làm xuất phát điểm là ai? Một cặp anh em có điều kiện kinh tế khá giả đã ăn trộm kính tại một cửa hàng ở Thụy Sĩ trong chuyến đi du lịch của mình; một cô bảo mẫu có những hành vi bạo hành với trẻ nhỏ để bắt chúng ăn; một ngôi sao hạng A trong showbiz bị xem là người thứ ba phá nát gia đình của người khác. Những nhân vật với những hành vi rất khó cảm thông này có hẳn là “chất liệu” tốt để khơi dậy những suy tư trí thức? Người đọc ở thời điểm này hẳn sẽ thiện cảm hơn với người trí thức ưu tư về thời cuộc, cất tiếng nói cho những số phận cơ hàn, những mảnh đời nhọc nhằn, phải chịu nhiều bất công, thiệt thòi từ đời sống mưu sinh đến đời sống tinh thần. Trong khi đó, những nhân vật của Đặng Hoàng Giang dường như chỉ phải chịu đựng những tấn công từ thế giới mạng: mạng là ảo, trên mạng mọi thứ có dấy lên rất nhanh và tan đi cũng rất nhanh – người ta thường nghĩ vậy. Những suy tư của Đặng Hoàng Giang, vì thế, rất có thể bị xem là suy tư của “trí thức salon”: chúng “cảnh vẻ”, “cải lương”, “ít thực tế”.

Song cũng chính ở đây, Đặng Hoàng Giang đã thực thi cái quyền có vẻ như thường ít được coi là quyền – “quyền riêng tư”. Đây cũng chính là một nội dung được bàn luận đến trong cuốn sách này và đối với trường hợp của anh, quyền riêng tư là quyền được theo đuổi suy nghĩ cá nhân một cách độc lập. Lựa chọn của anh, trên thực tế, thách thức định kiến vẫn thường xuyên được nuôi trong suy nghĩ của nhiều người, trong đó không trừ giới trí thức, rằng có những nhóm người này đáng được quan tâm hơn những đối tượng khác. Mọi con người đều bình đẳng như nhau, mọi sự bất công và tổn thương trong đời sống đều đáng được lắng nghe, thấu cảm và cần phải đấu tranh để giảm thiểu chúng. Ngay cả những kẻ “khó ưa”, đáng bị kết án này, họ cũng có phần “con người” cần được hiểu, được bao dung. Câu tục ngữ quen thuộc “Sông có khúc, người có lúc” được dùng làm đề từ cuốn sách này cho thấy Đặng Hoàng Giang muốn tiếp cận các nhân vật của mình từ một cảm quan tương đối luận. Và anh không lý thuyết chay: những cuộc trò chuyện của anh với cặp anh em ăn trộm kính hay cô bảo mẫu từng bị lên án vì bạo hành trẻ em thực ra sẽ  khó có thể xảy ra nếu chúng chỉ bắt đầu từ tâm lý tò mò. Đó vừa là những cuộc trò chuyện để hiểu người khác, mà cũng là để hiểu về chính bản thân, hiểu về những khả năng và nguy cơ của con người nói chung.

Nếu để hiểu con người, nhất là những kẻ đã bị đám đông nhất trí tẩy chay, lòng trắc ẩn trở thành phẩm chất cần thiết thì để phân tích cơ chế và đặc biệt là môi trường nuôi dưỡng cho cơn bão căm ghét, biện hộ cho việc làm nhục công cộng lại cần đến một lý trí đủ lạnh. Những phân tích của Đặng Hoàng Giang về cơ chế ghi nhớ của thế giới mạng, tính chất mặt nạ của mạng xã hội cho phép con người ta thoái thác trách nhiệm trong những tương tác trên không gian vốn bị xem là “ảo” này… có sức thuyết phục. Nhưng điều có thể đánh động nhận thức của người đọc qua những phân tích ấy là sự đồng dạng giữa cơ chế của những cơn bão căm ghét và hành vi sỉ nhục công cộng diễn ra trên mạng với những hành vi xúc phạm nhân phẩm con người trong các thiết chế xã hội cũ. Những vết thích mà cư dân mạng khắc lên những kẻ bị coi là tội nhân, theo Đặng Hoàng Giang, không lu mờ nhanh như người ta vẫn tưởng, bởi cùng với đó là những tổn thương, những hệ lụy khó lường. Sự đồng dạng mà Đặng Hoàng Giang chỉ ra ở đây không khỏi làm tôi nghĩ đến một hiện tượng khác, rộng hơn đã được anh cảnh báo trong cuốn sách trước – sự trở lại của tư duy phong kiến. Với sự xuất hiện của những dân phòng mạng, những hình thức đấu tố, xét xử công cộng và hình thức gắn nhãn cho những cá nhân nào đó, không gian mạng rất có thể đã bị thu hẹp dần chiều kích tự do của nó. Và nguy cơ thấy ngay được của điều này chính là sự nghèo nàn của cảnh quan văn hóa, sự thoái hóa của nhu cầu tự do biểu đạt.

Tất nhiên, ở đây, một đòi hỏi cao hơn sẽ muốn tác giả cuốn sách không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra cơ chế của tâm lý đám đông trong hành vi sỉ nhục công cộng hay sự tương đồng về tính chất kỹ thuật của việc thực hiện hành vi này ở thời đại số với những hình phạt thời phong kiến. Sự cô đơn của đám đông, nhu cầu góp mình vào công lý của đám đông… những căn nguyên ấy đều đã cuốn sách phân tích một cách có lý.  Nhưng đằng sau những cơn cuồng nộ của đám đông mà đối tượng mà họ kết án còn là một tâm lý bất an. Trạng thái bất an ấy chắc hẳn có căn nguyên sâu hơn từ sự khủng hoảng niềm tin, sự hồ nghi vào công lý xã hội trong đời sống, từ đó, mới dẫn đến sự trỗi dậy và lớn mạnh của “chủ nghĩa tự xử” mà Đặng Hoàng Giang đã nói đến trong cuốn sách. Thiết nghĩ, cũng chính vì sự khủng hoảng, hồ nghi này, “chủ nghĩa tự xử” từ cơn thịnh nộ của đám đông lại được biện hộ hơn là bị chất vấn.

4. Nếu hành vi sỉ nhục công cộng và cơn bão căm ghét biến ngôn từ thành bạo lực thì để hạn chế nó, xây dựng một môi trường xã hội nhân văn hơn, cũng có thể bắt đầu từ ngôn từ. Đặng Hoàng Giang đã chia sẻ những kinh nghiệm cho việc này qua những phần viết về nghệ thuật phê bình người khác, về sự lắng nghe để thấu cảm. Không quay lưng, ẩn mình trước những vấn đề bức xúc của xã hội, những hiện tượng đáng báo động trong đời sống, những nguy cơ nghiêm trọng mà con người đang phải đối mặt, Đặng Hoàng Giang không phải là con người dành thời gian chỉ để bi phẫn. Anh nuôi niềm tin vào những đổi thay theo chiều hướng tích cực và niềm tin ấy có cơ sở. Có thể minh chứng cho điều này bằng những trang khép lại của cuốn sách – những trang văn đẹp nhất, đối với tôi, ghi lại cuộc gặp gỡ và trò chuyện giữa tác giả và Nguyễn Lê Thiên Lý, cô bảo mẫu bạo hành trẻ em đã có thời là đối tượng của sự sỉ nhục công cộng.

Sau thời gian chịu cải tạo, cô gái ấy đã trở lại đời thường. Và dường như mọi thứ diễn ra bất ngờ với đám đông đã từng tạo nên vết thích cho cô, bất ngờ với cả hình dung của tác giả. Lý đang sống một cuộc sống yên ổn, người yêu của cô đã đợi cô ra tù để làm lễ cưới. Cô gái không quên những việc đã làm, cô không thanh minh cho mình, cô nhìn thẳng vào mắt của tác giả, cô hiểu vì sao người ta đã từng đả kích, căm phẫn mình. Đặng Hoàng Giang không dành nhiều lời bình luận. Anh cố gắng quan sát, lắng nghe. Trong những gì anh nhìn thấy, trong câu chuyện của Lý kể, anh chú ý đến vai trò của người cha xứ, người đã im lặng nghe Lý xưng tội sau khi ra tù, đến hình ảnh của tượng Chúa trong phòng khách của nhà Lý. Các chi tiết đều chỉ là những nét chấm phá nhưng gợi ra rất nhiều điều: về những khía cạnh sâu xa vừa đáng cảm thông, vừa đáng trân trọng ở một con người từng bị xã hội lên án là mất hết tính người, về khả năng chấp nhận, tha thứ, không phải chỉ của luật pháp, mà quan trọng hơn của những con người trong giáo xứ, về điểm tựa để những mầm thiện nơi con người có thể bám trụ… Thiện, Ác, và Smartphone, vì thế, có thể xem như một hành trình nội tâm của Đặng Hoàng Giang: bắt đầu tự sự giật mình trước cái ác công nhiên của đám đông, từ nỗi ái ngại trước khả năng cái ác trở thành bình thường, thậm chí được biện hộ trong thời đại số để kết lại bằng một niềm tin vào việc nuôi dưỡng sự tử tế, lòng vị tha và thấu cảm. Đó không phải là một niềm tin được cường điệu để khiến cuốn sách trở thành một cẩm nang bài học cuộc sống. Tôi muốn gọi đó là một niềm tin điềm tĩnh khi nhận ra vẫn có những giá trị bền vững ở con người và cuộc đời. Đương nhiên, cùng với niềm tin, còn rất nhiều việc phải làm.  Nhưng hoàn toàn có thể làm được. Bởi vậy, tôi nghĩ “Dự án trắc ẩn” – một đề nghị tâm huyết của Đặng Hoàng Giang ở cuốn sách này – hoàn toàn khả thi.

TRẦN NGỌC HIẾU

[1] Phillip Lopate,  “The Art of Personal Essay” in trong The Art of Personal Essay: An Anthology from the Classical Era to the Present, New York & London: Anchor Books, Doubleday, 1994, trang XLII.

Vẻ đẹp của trí tuệ

 (Nhân xem triển lãm ảnh “Những người giải mã, khám phá toán học” – Espace Hà Nội)

 

les_dechiffreurs_ihes12

1. “Sợ sai và sợ sự thật đều là một và giống nhau hết. Ai sợ sai có nghĩa là người đó không có khả năng khám phá. Chính khi chúng ta sợ nhầm lẫn là khi cái sai lầm ngự trị trong chúng ta lại lớn như một tảng đá không gì lay chuyển được. Bởi khi chúng ta sợ, chúng ta thường bám vào những gì chúng ta cho là “đúng” trước kia, hay vào những điều mà từ lâu đã được cho là vậy. Khi chúng ta muốn thay đổi suy nghĩ đó, không phải vì sợ rằng cái vỏ bọc an toàn nhưng không đúng đó sẽ biến mất mà bởi chúng ta khao khát được hiểu biết, thì khi đó sự sai lầm, cũng như những đau khổ hay buồn phiền trong cuộc sống sẽ luôn luân chuyển trong chúng ta và dấu vết của nó để lại chính là sự hiểu biết ngày càng hoàn thiện”.

Đó là một trích đoạn mà nhà toán học Alain Connes đặc biệt yêu thích. Tôi đã ghi nó lại (có thể không chính xác 100% vì viết khá vội trên một mảnh giấy nhỏ) khi xem triển lãm ảnh về hoạt động của các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu khoa học cấp cao IHES. Một trong những thông điệp nhiều ý nghĩa mà tôi ghi nhận được khi xem hơn một chục bức hình đen trắng chụp được trưng bày ở triển lãm này.

2. Các nhà nhiếp ảnh khi thực hiện dự án này quả thật phải đối mặt với một thách thức không nhỏ: Nghiên cứu khoa học cơ bản là hoạt động của tư duy, những lao động, nỗ lực của tư duy thường là thứ vô hình, là những căng thẳng, vận động diễn ra ở chiều sâu, nhiếp ảnh lại là nghệ thuật của cái hữu hình, của cái bề mặt. Rõ ràng, đối tượng và chủ đề của dự án nhiếp ảnh này là một đề bài khó.

Nhiều bức ảnh chụp các nhà khoa học trong những hoạt động đặc trưng cho lao động của họ: ở những buổi hội nghị, khi giảng bài cho học trò, trao đổi với đồng nghiệp, làm việc bên máy tính. Cũng có những bức ảnh chụp họ ở bên ngoài môi trường hàn lâm ấy: một giáo sư trẻ mải miết đi trên con đường xào xạc lá, một nhà khoa học nữ đăm chiêu trong nắng nhạt. Nhưng ngay cả những khoảnh khắc ấy, ta vẫn thấy họ hiện lên như là những con người đang mải mê suy nghĩ, đang theo đuổi một cuộc phiêu lưu nào đó trong tư tưởng. Ở các nhà khoa học ấy, có sự chia sẻ chân tình giữa những đồng nghiệp: hai vị giáo sư già vừa tản bộ vừa như đang tiếp tục câu chuyện khoa học, ông thầy chăm chú nghe nhà khoa học trẻ diễn giải ý tưởng khoa học của mình trên bảng đen. Những ký hiệu toán học giống như một hành tinh xa lạ, bí ẩn, đầy sức hút đang thách thức tư duy con người… Cái mà tôi cảm nhận được từ đây là một điều khó diễn tả rạch ròi nhưng nó là một cảm giác rất thực: tất cả các bức ảnh đều toát lên cái gọi là vẻ đẹp trí tuệ. Các nhà khoa học có thể hào hứng nhưng không hớn hở; họ có vẻ đang đăm chiêu, đang tập trung cao độ trong suy nghĩ nhưng họ không dằn vặt, nhàu nhĩ, mặc cảm. Không phải giáo sư nào cũng hiện lên với trang phục sang trọng, họ giản dị, đủ lịch lãm và đặc biệt ở ai cũng toát lên tác phong nhanh nhẹn và một thần thái hiền từ. Trí tuệ ở đây chính là một thứ trí tuệ ấm áp, hướng đến sự chia sẻ và lan tỏa, không phải là một thứ trí tuệ muốn vươn lên chiếm lấy quyền lực, hiểu theo nghĩa thô sơ nhất của khái niệm này, một thứ trí tuệ kiêu hãnh và độc tôn.

Với tôi, vẻ đẹp ấy có một sức hấp dẫn đặc biệt. Môi trường làm việc của tôi cũng là một môi trường hàn lâm và tôi không tiếp xúc đủ nhiều với giới học giả Việt Nam nên có lẽ cái cảm giác sau đây của tôi là một định kiến, một cái nhìn phiến diện. Nhưng đó cũng là cảm giác rất thật. Rằng vẻ đẹp của trí tuệ ấy là điều tôi khó bắt gặp ở chân dung các trí thức VN bây giờ. Họ hoặc phấn khích thái quá khi truyền bá một tư tưởng nào đấy, hoặc lại quá nghiêm nghị, khắc kỷ đến độ xa lạ. Họ gần với những viên chức trong những bộ trang phục thanh lịch, trong những câu chuyện tán gẫu về đời thường hơn là những trí thức. Họ gần với những quan chức ở phong thái bệ vệ, uy nghi, hay ra lệnh hơn là người có thể kiên nhẫn và hào hứng lắng nghe người ở thế hệ sau nói lên chính kiến của mình. Họ có thể rất quyền lực, nhưng họ thiếu cái sáng sủa và nhẹ nhõm ở thần thái, cái khiến nét mặt của họ toát lên khí chất của một người hiền. Những cái đó là thứ không thể diễn mà có được. Vẻ đẹp của trí tuệ không phải cứ có tấm bằng, có danh hiệu là ngời lên.

3. Trong số chân dung các nhà khoa học được giới thiệu ở triển lãm này, có một nhà khoa học được nhiều người biết đến nhất: Ngô Bảo Châu. Tôi rất nhớ tâm sự Ngô Bảo Châu chia sẻ dưới bức ảnh chụp ông. Bức ảnh chụp ông vào thời điểm mà ông nhớ lại: Đó là những ngày ông phải đánh vật để hiểu một bài toán của Falting và rồi sau đó, ông bắt tay vào viết bổ đề, chỉ khoảng 10 dòng. Cảm giác khi hoàn thành bổ đề ấy là gì? Nó không phải là một trạng thái ngất ngây, tự sướng mà lại là một nỗi hoang mang. Ngô Bảo Châu chỉ có một cảm giác: 10 dòng đấy hình như trước đó chưa ai viết. Cái nỗi hoang mang ấy đeo đẳng ông. Ông giải tỏa bằng cách chia sẻ cái cảm giác không mấy dễ chịu ấy với một nhà khoa học đồng nghiệp. Người bạn ấy nói với Ngô Bảo Châu một câu: “Nhưng đó là việc chúng ta phải làm!”. Câu nói đó, đối với Ngô Bảo Châu, có một ý nghĩa quyết định. Hơn cả sự chia sẻ, nó củng cố cho ông niềm tin vào ý nghĩa của công việc khoa học.

Tôi không dám tự nhận mình là người làm khoa học (mà thật thế, trường tôi giờ chỉ là trường dạy nghề), lại càng không ảo tưởng lao động học thuật của mình có cái gì đó tương tự như Ngô Bảo Châu. Nhưng cứ cho là tôi đang ảo tưởng đi, bất cứ ai khi nghiên cứu cơ bản, dù ở lĩnh vực nào, dù chỉ làm một cái gì đó thật nhỏ nhưng thật nghiêm túc, sẽ có khoảnh khắc nào đó rơi vào nỗi trống rỗng của Ngô Bảo Châu. Nỗi trống rỗng khi thấy ý nghĩa nghiên cứu của mình thật nhỏ, thật xa vời, hình như nó không có điểm tựa nào trên mặt đất cả. Nói như Chế Lan Viên, đó là nỗi trống rỗng của kẻ cố hái hoa trên trời, một thứ hoa không thật mà quên đi “nước mắt dưới xa kia” mới là điều cần quan tâm hơn cả. Nỗi mặc cảm của kẻ hái hoa trên trời ấy làm họ nhàu nhĩ, khiến họ có một thứ cô đơn thật không dễ bày tỏ cùng ai. Tôi chưa làm nên công trạng gì nhưng đến giờ, tôi chưa bao giờ tha thứ cho bản thân mình khi bỏ môi trường phổ thông – nơi đáng ra tôi đã có thể có một cuộc sống ổn hơn về nhiều mặt – để bám trụ lại môi trường đại học, nơi mà tôi đã cho rằng mình lựa chọn vì “háo danh”.

Những ngày này, khi bắt đầu đọc những nghiên cứu mới về bản chất của ngành nhân văn, tôi lại có cảm giác mình điên rồ đi theo đuổi một thứ nhọc nhằn. Ngành nhân văn vốn dĩ đã là cái ngành chẳng ai thấy thiết thực ở đâu nhất là trong bối cảnh sự chụp giật trở thành một lối sống hiện sinh tầm thường và thời thượng. Giờ nó còn là cái ngành không tìm kiếm những câu trả lời tất định, nó chỉ thắc mắc, chất vấn, làm bất an bản thân, chối từ những mặc định của xã hội. Nó giờ còn là cái ngành mang bản chất nổi loạn đúng nghĩa. Nghiên cứu nhân văn là tiêng nói rất nhỏ, may mắn lắm, nó vọng được vào một hai cá nhân nào đó. Mình có đủ mạnh mẽ để sống băng thứ hy vọng nhỏ bé ấy?

Như một kẻ yếu đuối điển hình, tôi chỉ biết mong chờ vào thế hệ sau, dẫu biết rằng xung quanh ta, vẻ đẹp của trí tuệ, của tri thức đang khan hiếm, quyền năng của quan chức, sự nhàn hạ của đời sống viên chức mới là cái giàu sức hấp dẫn hơn. Nhưng biết làm sao?

4. Bài viết này còn là một câu trả lời cho những dằn vặt của một người đồng nghiệp trẻ. Mà không, nó chẳng phải là câu trả lời vì thực tế, tôi không thể trả lời, càng không thể nói với cậu bạn đó: dở hơi à, nghĩ nhiều làm gì. Không, cứ dằn vặt đi, cứ cảm thấy bất ổn đi vì chừng đó bạn còn đang là người mạnh mẽ đấy. Vì bất ổn hay dằn vặt đều là một biểu hiện kháng cự.