Tag Archives: tâm sự

Về nghề… Mấy ý nghĩ rời

the_classHình ảnh từ phim Entre Les Murs của đạo diễn Lauren Cantet-một trong những bộ phim về đề tài giáo dục mà tôi yêu thích nhất.

1. Nếu được hỏi “Đối với anh, bài văn nào khó dạy nhất trong chương trình”, ở thời điểm này, câu trả lời của tôi sẽ là bài “Sa hành đoản ca” của Cao Bá Quát. Dù cố gắng hết sức để soạn bài, nhưng chưa bao giờ tôi nhìn thấy ở mắt học trò có một sự quan tâm, hứng thú hay xúc động nào. Tôi chưa bao giờ nhận được sự chia sẻ từ các em khi cố gắng giảng cho học trò về một bài thơ hiếm hoi trong chương trình nói lên phẩm chất đích thức của kẻ sĩ giữa đời sống này. Sẽ phải đi về đâu? Chưa biết. Nhưng chẳng thể dừng lại, dừng lại là sa lầy. Kẻ sĩ là kẻ tự đặt cho mình trách nhiệm phải đối mặt với những câu hỏi lớn, cho chính mình và rộng hơn là thời đại. Đó là kẻ không chấp nhận những câu trả lời có sẵn, càng không thể thỏa hiệp với những câu trả lời hời hợt, dễ dãi. Nỗi đau khổ của kẻ sĩ vì thế không dễ thấu hiểu. Nhưng đời sống sẽ thế nào nếu thiếu vắng những kẻ cả nghĩ như thế?

Có một bài thơ của Joseph Brodsky mà tôi đặc biệt yêu thích là bài “The Great Elegy for John Donne” (bản dịch tiếng Việt là “Khúc bi ca lớn cho John Donne”). Lần đầu tiên tôi biết đến kiệt tác này qua bản dịch của Hoàng Ngọc Biên (rất tiếc bản dịch này chưa có phiên bản điện tử) năm 1996. Đó là một tác phẩm ám ảnh tôi đến tận bây giờ. Kẻ sĩ, có lẽ là kẻ mắc bệnh như John Donne, không thể ngủ trong khi tất cả đều đắm chìm trong mộng mị; trí tuệ khiến y tỉnh táo để đối diện với cái rỗng không, cái hư vô đang xâm lấn mọi thứ, khiến y khổ đau, tuyệt vọng vì bất lực không tìm được ý nghĩa của cuộc đời. Nhưng đó là nỗi tuyệt vọng đáng kiêu hãnh.

Tôi đã không thể làm cho học trò của mình đồng cảm với những khắc khoái trí tuệ ấy. Cũng như tôi đã quên chưa nói với các em rằng: đã bao giờ, các em băn khoăn sao trong những bài văn ở chương trình, chúng ta lại phải mất công tìm hiểu những kẻ hay bất mãn với cuộc đời và bất mãn với chính mình? Nào là một Tú Xương tự nhận mình là kẻ nặng nợ chất chồng khổ sở lên vai bà vợ, thấy mình “có cũng như không”, nào là Hộ trong “Đời thừa’ – kẻ rơi vào cái bi kịch khủng khiếp nhất của đời người khi tự chán ghét chính mình, nào là Trương Ba không thể chấp nhận sự tồn tại vay mượn thân xác kẻ khác, cho dù xung quanh ông, cho dù ngay cả Ngọc Hoàng thượng đế, không ai được sống toàn vẹn là mình…? Tại sao những kẻ bất mãn với chính mình, những kẻ không dễ thỏa hiệp với đời sống mới là nguồn cảm hứng mạnh mẽ của văn chương?

Tôi đã quên không đặt câu hỏi ấy cho học trò. Nhưng đó cũng là câu hỏi khó, chính tôi cũng không chắc mình có thể trả lời thấu đáo.

2. Tuần trước, khi đi dạy các em lớp 12, xung quanh chủ đề giá trị của văn chương, tôi lại đưa các em về với câu hỏi “Văn chương ích gì?”. Tôi đã nói với các em khi đặt câu hỏi này, có nghĩa là giá trị của văn chương đang bị nghi ngờ. Sự nghi ngờ đó xuất phát từ chính thực tế của đời sống chúng ta, nơi các giá trị vật chất, thực tê, thực dung lên ngôi, trở thành hệ quy chiếu cho nhiều bình diện của đời sống. Trong bối cảnh ấy, những giá trị tinh thần có nguy cơ bị tổn thương rất lớn. Văn chương, nếu có ích gì, thì với tôi, trước hết, nó biện hộ, nó nâng niu những giá trị đang phải đối mặt với sự tổn thương ấy. Đời sống của chúng ta có hạnh phúc hơn chăng khi ta sẵn sàng đánh đổi những giá trị tinh thần, phi vật chất,vô hình ấy lấy những thứ hữu hình, thực tiễn và quyền lực? Một câu thơ hay cùng lắm chỉ đem đến cho con người một khoái cảm tinh thần; khi chúng ta đang đói, câu thơ hay hình như vô nghĩa; nhưng ngay cả khi chúng ta đã no dạ dày, câu thơ hay liệu có ích gì hơn không. Rất có thể câu thơ hay vẫn vô dụng vậy thôi

Học trò của tôi mới lớp 12. Các em đã không thật hiểu điều tôi nói lắm. Khi nhìn vào những ánh mắt không hiểu ấy, tôi đã nói: Nếu cách đây 6-7 năm, khi tôi nói văn chương chăm chút cho đời sống tinh thần của con người, nhờ đó con người được là người, các em có quyền nghi ngờ tôi đang rao giảng một niềm tin sách vở. Nhưng chính ở thời điểm này, khi nói với các em như thế, tôi mới thấm thía điều mà văn chương mang lại cho riêng tôi.

Lúc nãy thôi, qua lời một người bạn đồng nghiệp, tôi đã được nghe một người thầy khuyên nhủ: cần phải sống hài hòa, chữ nghĩa nhiều làm gì, sách vở nhiều làm gì, sắc sảo để làm gì, tranh cãi đúng-sai để làm gì. Cuối cùng chúng ta đều chết hết. Văn chương, chữ nghĩa vô nghĩa cả thôi. Những luận điểm đó không mới mẻ. Tôi đã được nghe hơn một người nói như thế, thậm chí còn với ngôn ngữ tàn nhẫn hơn. Lần này, tôi đã không chỉ buồn (như mọi lần) mà còn hơi bực mình trước một lời khuyên có vẻ minh triết nhưng cực kỳ độc đoán như thế. Tôi tuyệt nhiên không lý tưởng hóa văn chương, nhưng giữa một thế giới, nơi sự khôn ngoan (được diễn đạt uyển chuyển là “hài hòa”) lên ngôi, nơi con người ta coi sống là một màn trình diễn bất tận, nơi con người ta không thể tồn tại bên ngoài mặt nạ, tôi có thể tìm được sự đồng điệu nào hơn ở thế giới văn chương? Ở đó, sự yếu đuối của con người được lắng nghe; ở đó, những chấn thương dù vô hình của con người được chú mục; ở đó, tôi bắt gặp những gã khờ, những kẻ gàn dở như Don Quixote; ở đó, tôi bắt gặp những kẻ liều lĩnh, sẵn sàng đối mặt với những bất trắc; ở đó, tôi nhìn thấy những người chối từ sự phẳng lặng như là định mệnh đẹp đẽ dành cho mình. Khi xã hội của chúng ta ngại ngần những khác biệt, văn chương lại là nơi chúng ta sống với những kẻ khác, ta có thể đồng cảm, hóa thân vào những khác biệt. Văn chương không nói rằng, con người là dễ hiểu; văn chương chỉ làm ta thấy dễ hiểu vì sao vẫn luôn có những kẻ tự phức tạp hóa đời mình lên, tự đẩy mình vào những tình huống hoang mang. Văn chương không nói với chúng ta rằng rốt cục tất cả chỉ có một giải pháp; không, văn chương nói với chúng ta rằng ta được quyền lựa chọn, mọi lựa chọn đều bất toàn và cũng đều đáng giá, mọi lựa chọn cần được thấu hiểu trước khi phán xét. Và đương nhiên, văn chương vẫn không ngừng nói về cái chết, về hư vô nhưng không phải để chúng ta coi thường đời sống, để chúng ta sống hời hợt, để chúng ta đánh đồng mọi đúng-sai, an phận trong những trật tự giả tạo và gò bó. Tôi đang nghĩ nhiều về sự tuổi già và cái chết được thể hiện trong nghệ thuật. Tôi chưa có những ý tưởng sáng rõ nào, nhưng tôi luôn nghĩ văn chương nói về tuổi già, bệnh tật, cái chết để ta chiêm nghiệm về những giới hạn của đời người cũng như những khả năng con người chiến thắng hư vô. Chẳng phải chỉ khi chết con người ta mới thấy hư vô. Kinh khủng nhất là người ta lợi dụng việc hư vô hóa đời sống để sống một cách vô trách nhiệm.

3. Càng ngày tôi càng cảm thấy chính những người học văn, dạy văn, làm văn…lại là những người dễ làm tổn thương nhau hơn cả. Có thể sẽ có bạn hỏi: nếu văn chương ý nghĩa đến như thế, tôi sẽ lý giải ra sao về những gì vừa xảy ra và hậu quả chưa hết chấm dứt tại môi trường của tôi- Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm? Những người tấn công Nhã Thuyên và PGS. Nguyễn Thị Bình có đọc văn chương không? Tại sao họ lại có thể có những hành động không thể nói là “nhân văn” được? Và cả những người im lặng, không làm gì cả khi những đồng nghiệp học trò của mình rơi vào tình thế bị xúc phạm? Có trớ trêu không khi sự im lặng ấy lại được xem là khôn ngoan? Họ có đọc văn chương không? Văn chương có đem đến cho con người sự khôn ngoan như thế không?

Đến đây, thì tôi bất lực thật sự. Tôi chỉ dám bảo vệ cho niềm tin của tôi mà thôi; tôi không thể nói thay cho người khác. Và bạn ơi, sống cho niềm tin đó, với tôi, khó khăn vô cùng. Vì xét cho đến cùng, cái làm nên một giờ dạy văn trung thực chưa hẳn là kiến thức, mà là con người của anh nữa. Có rất nhiều điều về văn chương, tưởng chừng như đơn giản, nhưng đến giờ phút này, tôi mới có thể diễn giải với học trò từ trải nghiệm của mình. Cũng như văn chương, nếu có làm tôi thay đổi điều gì trong tính cách, thì có lẽ nó làm tôi khiêm tốn hơn hẳn. Nó làm tôi biết thu lại tham vọng muốn khuyên nhủ ai khác, thay vào đó là ý thức chia sẻ, và vì thế tránh mọi áp đặt của mình lên người khác. Rằng, cũng hôm trước, khi nói với học trò về tính có ích của văn chương, tôi đã phải nói đi nói lại: các bạn đừng lệ thuộc vào nhãn quan bi kịch của tôi. Rằng, cốt lõi của giao tiếp văn chương là sự chân thành, mà thời này, sự chân thành thường không phải là hình thức sinh viên, học sinh thấy được ngay. Tôi không có câu chuyện đời tư nào hấp dẫn, tôi không có tài lẻ nào để khoe, tôi không phải là người thành công để chia sẻ… Tôi chỉ có những câu chuyện, những bộ phim, những bài hát. Tôi đã rất hồn nhiên nói về những cuốn sách, những bộ phim đến với tôi đúng thời điểm.

Bạn hỏi: 20-11, vậy thì tôi có gì đáng kiêu hãnh để nói với mọi người về lựa chọn của mình? Có, rằng tôi có những sinh viên, những học trò đã tìm đến những cuốn sách, những bộ phim mà tôi nói.

Trong chừng mực nào đó, tôi tin mình đã làm được một điều có ích cho ai khác, ngoài tôi.

18.11.2014

 

Vẻ đẹp của trí tuệ

 (Nhân xem triển lãm ảnh “Những người giải mã, khám phá toán học” – Espace Hà Nội)

 

les_dechiffreurs_ihes12

1. “Sợ sai và sợ sự thật đều là một và giống nhau hết. Ai sợ sai có nghĩa là người đó không có khả năng khám phá. Chính khi chúng ta sợ nhầm lẫn là khi cái sai lầm ngự trị trong chúng ta lại lớn như một tảng đá không gì lay chuyển được. Bởi khi chúng ta sợ, chúng ta thường bám vào những gì chúng ta cho là “đúng” trước kia, hay vào những điều mà từ lâu đã được cho là vậy. Khi chúng ta muốn thay đổi suy nghĩ đó, không phải vì sợ rằng cái vỏ bọc an toàn nhưng không đúng đó sẽ biến mất mà bởi chúng ta khao khát được hiểu biết, thì khi đó sự sai lầm, cũng như những đau khổ hay buồn phiền trong cuộc sống sẽ luôn luân chuyển trong chúng ta và dấu vết của nó để lại chính là sự hiểu biết ngày càng hoàn thiện”.

Đó là một trích đoạn mà nhà toán học Alain Connes đặc biệt yêu thích. Tôi đã ghi nó lại (có thể không chính xác 100% vì viết khá vội trên một mảnh giấy nhỏ) khi xem triển lãm ảnh về hoạt động của các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu khoa học cấp cao IHES. Một trong những thông điệp nhiều ý nghĩa mà tôi ghi nhận được khi xem hơn một chục bức hình đen trắng chụp được trưng bày ở triển lãm này.

2. Các nhà nhiếp ảnh khi thực hiện dự án này quả thật phải đối mặt với một thách thức không nhỏ: Nghiên cứu khoa học cơ bản là hoạt động của tư duy, những lao động, nỗ lực của tư duy thường là thứ vô hình, là những căng thẳng, vận động diễn ra ở chiều sâu, nhiếp ảnh lại là nghệ thuật của cái hữu hình, của cái bề mặt. Rõ ràng, đối tượng và chủ đề của dự án nhiếp ảnh này là một đề bài khó.

Nhiều bức ảnh chụp các nhà khoa học trong những hoạt động đặc trưng cho lao động của họ: ở những buổi hội nghị, khi giảng bài cho học trò, trao đổi với đồng nghiệp, làm việc bên máy tính. Cũng có những bức ảnh chụp họ ở bên ngoài môi trường hàn lâm ấy: một giáo sư trẻ mải miết đi trên con đường xào xạc lá, một nhà khoa học nữ đăm chiêu trong nắng nhạt. Nhưng ngay cả những khoảnh khắc ấy, ta vẫn thấy họ hiện lên như là những con người đang mải mê suy nghĩ, đang theo đuổi một cuộc phiêu lưu nào đó trong tư tưởng. Ở các nhà khoa học ấy, có sự chia sẻ chân tình giữa những đồng nghiệp: hai vị giáo sư già vừa tản bộ vừa như đang tiếp tục câu chuyện khoa học, ông thầy chăm chú nghe nhà khoa học trẻ diễn giải ý tưởng khoa học của mình trên bảng đen. Những ký hiệu toán học giống như một hành tinh xa lạ, bí ẩn, đầy sức hút đang thách thức tư duy con người… Cái mà tôi cảm nhận được từ đây là một điều khó diễn tả rạch ròi nhưng nó là một cảm giác rất thực: tất cả các bức ảnh đều toát lên cái gọi là vẻ đẹp trí tuệ. Các nhà khoa học có thể hào hứng nhưng không hớn hở; họ có vẻ đang đăm chiêu, đang tập trung cao độ trong suy nghĩ nhưng họ không dằn vặt, nhàu nhĩ, mặc cảm. Không phải giáo sư nào cũng hiện lên với trang phục sang trọng, họ giản dị, đủ lịch lãm và đặc biệt ở ai cũng toát lên tác phong nhanh nhẹn và một thần thái hiền từ. Trí tuệ ở đây chính là một thứ trí tuệ ấm áp, hướng đến sự chia sẻ và lan tỏa, không phải là một thứ trí tuệ muốn vươn lên chiếm lấy quyền lực, hiểu theo nghĩa thô sơ nhất của khái niệm này, một thứ trí tuệ kiêu hãnh và độc tôn.

Với tôi, vẻ đẹp ấy có một sức hấp dẫn đặc biệt. Môi trường làm việc của tôi cũng là một môi trường hàn lâm và tôi không tiếp xúc đủ nhiều với giới học giả Việt Nam nên có lẽ cái cảm giác sau đây của tôi là một định kiến, một cái nhìn phiến diện. Nhưng đó cũng là cảm giác rất thật. Rằng vẻ đẹp của trí tuệ ấy là điều tôi khó bắt gặp ở chân dung các trí thức VN bây giờ. Họ hoặc phấn khích thái quá khi truyền bá một tư tưởng nào đấy, hoặc lại quá nghiêm nghị, khắc kỷ đến độ xa lạ. Họ gần với những viên chức trong những bộ trang phục thanh lịch, trong những câu chuyện tán gẫu về đời thường hơn là những trí thức. Họ gần với những quan chức ở phong thái bệ vệ, uy nghi, hay ra lệnh hơn là người có thể kiên nhẫn và hào hứng lắng nghe người ở thế hệ sau nói lên chính kiến của mình. Họ có thể rất quyền lực, nhưng họ thiếu cái sáng sủa và nhẹ nhõm ở thần thái, cái khiến nét mặt của họ toát lên khí chất của một người hiền. Những cái đó là thứ không thể diễn mà có được. Vẻ đẹp của trí tuệ không phải cứ có tấm bằng, có danh hiệu là ngời lên.

3. Trong số chân dung các nhà khoa học được giới thiệu ở triển lãm này, có một nhà khoa học được nhiều người biết đến nhất: Ngô Bảo Châu. Tôi rất nhớ tâm sự Ngô Bảo Châu chia sẻ dưới bức ảnh chụp ông. Bức ảnh chụp ông vào thời điểm mà ông nhớ lại: Đó là những ngày ông phải đánh vật để hiểu một bài toán của Falting và rồi sau đó, ông bắt tay vào viết bổ đề, chỉ khoảng 10 dòng. Cảm giác khi hoàn thành bổ đề ấy là gì? Nó không phải là một trạng thái ngất ngây, tự sướng mà lại là một nỗi hoang mang. Ngô Bảo Châu chỉ có một cảm giác: 10 dòng đấy hình như trước đó chưa ai viết. Cái nỗi hoang mang ấy đeo đẳng ông. Ông giải tỏa bằng cách chia sẻ cái cảm giác không mấy dễ chịu ấy với một nhà khoa học đồng nghiệp. Người bạn ấy nói với Ngô Bảo Châu một câu: “Nhưng đó là việc chúng ta phải làm!”. Câu nói đó, đối với Ngô Bảo Châu, có một ý nghĩa quyết định. Hơn cả sự chia sẻ, nó củng cố cho ông niềm tin vào ý nghĩa của công việc khoa học.

Tôi không dám tự nhận mình là người làm khoa học (mà thật thế, trường tôi giờ chỉ là trường dạy nghề), lại càng không ảo tưởng lao động học thuật của mình có cái gì đó tương tự như Ngô Bảo Châu. Nhưng cứ cho là tôi đang ảo tưởng đi, bất cứ ai khi nghiên cứu cơ bản, dù ở lĩnh vực nào, dù chỉ làm một cái gì đó thật nhỏ nhưng thật nghiêm túc, sẽ có khoảnh khắc nào đó rơi vào nỗi trống rỗng của Ngô Bảo Châu. Nỗi trống rỗng khi thấy ý nghĩa nghiên cứu của mình thật nhỏ, thật xa vời, hình như nó không có điểm tựa nào trên mặt đất cả. Nói như Chế Lan Viên, đó là nỗi trống rỗng của kẻ cố hái hoa trên trời, một thứ hoa không thật mà quên đi “nước mắt dưới xa kia” mới là điều cần quan tâm hơn cả. Nỗi mặc cảm của kẻ hái hoa trên trời ấy làm họ nhàu nhĩ, khiến họ có một thứ cô đơn thật không dễ bày tỏ cùng ai. Tôi chưa làm nên công trạng gì nhưng đến giờ, tôi chưa bao giờ tha thứ cho bản thân mình khi bỏ môi trường phổ thông – nơi đáng ra tôi đã có thể có một cuộc sống ổn hơn về nhiều mặt – để bám trụ lại môi trường đại học, nơi mà tôi đã cho rằng mình lựa chọn vì “háo danh”.

Những ngày này, khi bắt đầu đọc những nghiên cứu mới về bản chất của ngành nhân văn, tôi lại có cảm giác mình điên rồ đi theo đuổi một thứ nhọc nhằn. Ngành nhân văn vốn dĩ đã là cái ngành chẳng ai thấy thiết thực ở đâu nhất là trong bối cảnh sự chụp giật trở thành một lối sống hiện sinh tầm thường và thời thượng. Giờ nó còn là cái ngành không tìm kiếm những câu trả lời tất định, nó chỉ thắc mắc, chất vấn, làm bất an bản thân, chối từ những mặc định của xã hội. Nó giờ còn là cái ngành mang bản chất nổi loạn đúng nghĩa. Nghiên cứu nhân văn là tiêng nói rất nhỏ, may mắn lắm, nó vọng được vào một hai cá nhân nào đó. Mình có đủ mạnh mẽ để sống băng thứ hy vọng nhỏ bé ấy?

Như một kẻ yếu đuối điển hình, tôi chỉ biết mong chờ vào thế hệ sau, dẫu biết rằng xung quanh ta, vẻ đẹp của trí tuệ, của tri thức đang khan hiếm, quyền năng của quan chức, sự nhàn hạ của đời sống viên chức mới là cái giàu sức hấp dẫn hơn. Nhưng biết làm sao?

4. Bài viết này còn là một câu trả lời cho những dằn vặt của một người đồng nghiệp trẻ. Mà không, nó chẳng phải là câu trả lời vì thực tế, tôi không thể trả lời, càng không thể nói với cậu bạn đó: dở hơi à, nghĩ nhiều làm gì. Không, cứ dằn vặt đi, cứ cảm thấy bất ổn đi vì chừng đó bạn còn đang là người mạnh mẽ đấy. Vì bất ổn hay dằn vặt đều là một biểu hiện kháng cự.

Sưu tầm trên mạng – Những tạp chí văn chương

foot_path

1. Tôi bắt đầu dịch những tác phẩm ngắn cách đây có lẽ cũng đã 10 năm. Bắt đầu là những truyện ngụ ngôn của Franz Kafka, và tác phẩm đầu tiên được giới thiệu trên trang Tiền Vệ trong chuyên đề “Truyện cực ngắn” là  “Một ngụ ngôn nho nhỏ”.

Chuyên đề “Truyện cực ngắn” của Tiền vệ, vào thời điểm đó, với tôi cực kỳ thú vị vì nó đem đến cho tôi một ý niệm rất khác về hình thức cực ngắn của tự sự với những tác phẩm của Đinh Linh, Trần Tất Đạt, Nguyễn Như Núi… cùng với rất nhiều những tác giả trên thế giới. Theo đường link từ một số truyện dịch của Hoàng Ngọc – Tuấn, tôi biết đến tạp chí văn chương điện tử tiếng Anh đầu tiên – trang The Café Irreal.

The Café Irreal là trang chỉ dành cho những thể nghiệm truyện cực ngắn và chỉ chuyên về một phong cách duy nhất mà theo những người chủ trương, có thể gọi phong cách đó là irrealism – tạm dịch là phi thực. Các truyện ngắn đăng trên trang này đều phải hàm chứa những yếu tố phi thực: cái nghịch dị, cái phi lý, cái huyễn tưởng, cái quái đản, cái trái khoáy. Chúng vừa làm thành đặc trưng thẩm mỹ của các truyện cực ngắn, đồng thời có lẽ chính bởi lấy cái phi thực làm yếu tố hạt nhân, truyện cực ngắn chỉ cần một-hai câu cũng đã có tính chỉnh thể. Như một châm ngôn khiêu khích tư duy, như một câu thơ tạo ra liên tưởng bất ngờ, như một câu đố hay như một ám thị. Truyện cực ngắn phi thực hình như lỏng hơn cái khuôn tự sự mà người ta dễ chụp cho nó. Nó – đúng hơn – là một thí nghiệm, một trò chơi của ngôn từ, nơi người viết tự đẩy mình đến tới hạn (cực ngắn) đồng thời được phép thả lỏng trí tưởng tượng cao độ (đến mức phi thực).

Tôi đã dịch khá nhiều truyện trên trang này, có những tác giả khá đáng kể như Carlos Edmundo de Ory, Juan Jose Millas, Evelio Rosero Diago, Ana Maria Shua nhưng đa phần là những tác giả rất vô danh, những tác giả có lẽ chỉ thuộc về dòng phụ của nền văn chương Anh ngữ năng động như Ian Seed, J.B.Mulligan, Sharon Wahl… Có tìm kiếm trên google cũng khó lòng tìm được những tin tức, bình luận gì về tác phẩm của họ.

Nhưng hồi đó, tôi dịch họ với hứng thú thật sự. Như thể là trò chơi với chính bản thân mình, một người chưa có nhiều kinh nghiệm ngôn ngữ. Dịch những tác phẩm ấy cũng giúp tôi hình thành nên một thứ mỹ cảm khác: đọc văn đôi khi chỉ là để thử chơi với ngôn ngữ của tác giả, với dòng liên tưởng bất khả đoán của tác phẩm, không cần phải diễn giải, không trông đợi những triết lý. Đây là một truyện tôi đã dịch ngày ấy, giờ đọc lại, tự nhiên thấy hay hay. Một kiểu viết lại cổ tích khá quái: http://tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&artworkId=1545

Hôm nay vào lại The Cafe Irreal, thấy tạp chí sau 15 năm vẫn còn tiếp tục duy trì và thay đổi giao diện. Số lượng tác phẩm đăng trên mỗi số ít đi, các truyện cũng không quá đặc sắc, hình như phong cách phi thực đang có phần loay hoay. Cái tôi thấy thú vị là đôi khi đọc những ghi chú về tác giả những truyện ngắn ấy, thấy họ ứng xử với văn chương, với những gì mình viết thật nhẹ nhõm và có phần tự trào. Ví dụ: “Andrew Fowler is a writer and editor living in Bangkok. He screams into the void at Subject/Object”:  “Ken Poyner lives in the lower right hand corner of Virginia, with his power-lifter wife and a number of house animals. His 2013 e-book, “Constant Animals”, unruly fictions, is available at all the usual e-book sites; buy it, and feel good about saving jobs in the brewing industry”.

Trên blog cũ của mình, đã có lúc, chính tôi cũng xem những truyện cực ngắn như thế này là một dạng thể nghiệm, một dạng bài tập, hay một thú vui ngăn ngắn của những người vẫn còn giữ chút đam mê và tò mò về ngôn ngữ. Nhưng giờ nghĩ lại, tôi nghĩ, thực ra thì có thể xem họ như những người tài tử trong một xã hội hình như đang muốn chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa mọi thứ. Họ chọn ở bên lề, viết những thứ hình như chẳng quá quan trọng, họ nhẹ nhàng với chữ nghĩa và các quy tắc văn chương. Một sự khinh khoái có lẽ cũng đáng mơ ước.

2. Các trang web văn chương một thời là kênh tôi dựa vào để có những hình dung nhất định về những gì đang diễn ra trên thế giới, khi mà việc tiếp cận với những tác phẩm văn học nước ngoài nguyên bản khá khan hiếm và chỉ có thể trông chờ gặp may ở…đường Láng. Và quả thật, tôi đã gặp may khá nhiều trên con đường sách cũ một thời này. Nhưng chuyện đó để sau.

Có lẽ các trang về thơ vẫn là những trang bền bỉ hơn cả. Có ai ngờ một tạp chí điện tử chuyên về thơ như 2river.org giờ vẫn còn duy trì. Trang Jacketmagazine một thời, với tôi, là một tạp chí thơ cực kỳ dồi dào, nay đã chuyển sang địa chỉ mới và thiên về cung cấp thông tin về các hoạt động thơ ca hơn là giới thiệu thơ. Giờ muốn đọc thơ thế giới, tốt nhất là nên vào trang Poetry International Web nơi ta có thể gặp không chỉ nhiều tiếng thơ mới mà cả những gương mặt quan trọng của thơ ca thế giới. Nhưng cũng có nhiều trang đã không còn update, thậm chí xóa sổ địa chỉ internet. Tạp chí “Action Yes” mà tôi từng rất thích bởi nó giới thiệu không chỉ những tác phẩm thơ hay hư cấu khá phá cách mà còn có cả những bài điểm sách, phê bình và nghệ thuật ý niệm đã dừng lại vào năm 2012. Full Tilt, tạp chí tiếng Anh chuyên về giới thiệu thơ ca Đông Á, do Steve Bradbury chủ biên hình như cũng đã không còn hoạt động như một trang văn chương điện tử. Nói ngoài lề một chút, dù rất nhiều người cho rằng thơ chỉ có thể cảm nhận được khi đọc nguyên bản nhưng khi đọc thơ Trung Hoa hay Nhật Bản qua tiếng Anh, mình vẫn có những khoái cảm nhất định, thậm chí tôi rất thích dịch những bài thơ ấy. Như bài thơ sau đây của Tây Xuyên, nhà thơ Trung Hoa đương đại:

http://wordswithoutborders.org/article/moon

Tôi đang rất băn khoăn tìm một điểm tựa nào đó cho một lý thuyết dịch tự do hơn về thơ. Và đúng như có lần nói chuyện với bạn Nhã Thuyên, nhiều người dịch thơ nhưng không hẳn họ là người quá thạo ngôn ngữ mà họ đang dịch. Thơ, với bản chất nhiều khoảng trống, cho phép sự phóng túng nhiều hơn chăng? Nhưng cái này tôi cần phải đọc sâu hơn về lý thuyết dịch. Tiếc là hình như bản thân lý thuyết dịch lại cũng không tập trung lắm vào dịch thơ.

Có thể kể thêm nhiều trang nữa, khi mới xuất hiện, nó đã rất sung mãn như Fascicle, Slope…nhưng rồi cũng không duy trì được nhiều. Hình như duy trì một trang văn chương điện tử trong thời đại văn chương bị ngoại vị hóa toàn cầu như thế này đòi hỏi quá nhiều nỗ lực. Nhưng đôi khi cũng thật cảm động khi những trang chuyên dành cho những thể nghiệm, cho những thể loại nhỏ như Drunken Boat, hay Diagram hóa ra vẫn còn sống. Và cũng thấy những người ham mê thể nghiệm ở nước ngoài có cái thật may mắn là họ có nhiều không gian để gắn kết, để giới thiệu, dẫu có nhỏ đi chăng nữa. Không gian mạng rõ ràng cũng là nơi dành cho những giá trị thiểu số chứ không phải là không gian làm bão hòa mọi thứ.

3. Một thời gian dài tôi không để ý lắm đến các trang web văn chương nhiều lắm, có lẽ cũng vì mình có nhu cầu tìm hiểu văn chương thế giới ở phong cảnh chủ đạo mainstream của nó nhiều hơn. Tôi cứ nghĩ các tạp chí văn chương điện tử trên thế giới cũng nhạt thôi, như một số trang văn chương tiếng Việt. Nhưng hóa ra không thế. Vẫn có những trang cực kỳ tuyệt vời mà Words Without Borders là một trong số đó. Trang này chuyên về dịch thuật, trong ngữ cảnh của văn chương Hoa Kỳ nơi dịch thuật văn chương không được quan tâm nhiều, với tỉ lệ chỉ 3% sách xuất bản hàng năm là sách dịch, Words Without Borders như chính tên goi của nó đã hàm ẩn một ý hướng giải trung tâm, khi với nỗ lực của nhiều dịch giả trên thế giới, các nền văn chương ngoài Anh ngữ, các thể loại bị coi là cận văn chương như graphic novel, cả chủ đề văn chương mang tính xuyên quốc gia hay toàn cầu được giới thiệu. Asymptote Journal là một trang tuyệt vời khác và dịch thuật cũng là một nội dung quan trọng trên tạp chí này. Ở đây, ta có thể đọc được những tác phẩm của những cây bút đáng giá bậc nhất của văn chương thế giới như Tàn Tuyết (Trung Quốc), Laszlo Krasznahokai (Hungary), Czeslaw Milosz (Ba Lan)…Ngoài ra còn có Cerise Press, The Brooklyn Rail, The White Review (tạp chí này không thuần điện tử vì nó ra bản in, nhưng phần Online Only của tạp chí này cũng quá nhiều cái đáng để ý), hay mới nhất mà tôi biết là Waxwing Literary Journal… Những tạp chí này cũng luôn có sự quan tâm rất lớn đến việc dịch giới thiệu các tác giả thuộc những nền văn chương ngoài Anh ngữ cho công chúng Anh ngữ. Nhờ đó, độc giả có thể biết đến những hiện tượng nằm ngoài hệ thống điển phạm của những khu vực văn chương lớn.

Các tạp chí đều có giao diện rất đẹp, có ban biên tập, có chủ trương rõ ràng…Có lẽ hẳn họ cũng có những nguồn tài trợ đâu đó. Những trang văn chương ấy, đối với tôi, như những góc nhỏ trong thế giới mạng hóa và tưởng như công cộng hóa, chúng dành cho những tiếng nói văn chương lặng lẽ nhưng luôn có khả năng phá vỡ sự đơn cực của bức tranh văn chương. Bài viết này muốn giới thiệu với các bạn những góc nhỏ ấy để khám phá trong thế giới mạng cứ ngỡ không ngớt ồn ào.

Viết trước ngày bảo vệ luận án

Rồi thì cuối cùng cũng đến ngày đánh dấu đích đến của một hành trình hơn mười năm. Cái đích ấy không hẳn là thứ tôi đã nhắm đến ngay từ đầu, khi mới tốt nghiệp trường đại học. Cái đích ấy, nhiều lúc trên hành trình của mình, tôi cũng thấy nó thật phù phiếm. Lại cũng có lúc thấy nó xa đến độ tưởng như mình chỉ muốn bỏ cuộc. Cái đích ấy khi gần đến, bỗng nhiên tôi lại ngập ngừng. Và giờ đây, cảm giác của tôi đúng hơn là sự lo lắng: tôi mơ hồ nhận ra bên kia cái đích ấy là một sự trống rỗng, làm sao có thể lấp đầy?

Trong hơn mười năm, khi tôi vẫn xác định học hành là công việc chính yếu của mình, thế giới của sách vở với những thử thách của tư duy mà tôi phải đối diện có ý nghĩa như một nơi trú ẩn. Nó giúp tôi cảm thấy không cô độc, đúng hơn, là bình tâm trong sự cô độc. Nó giúp tôi có thể chống đỡ lại trước những câu hỏi đời thường nhiều khi như là sự xoáy móc nghiệt ngã. Nó biện hộ cho tôi rằng tôi đang “hái hoa trên trời”, cho dù nhiều khi thảng thốt, khi “đâu biết rằng mẹ tôi đang khóc dưới xa kia”. Khoảnh khắc giật mình ấy chính là lúc tôi cảm giác hơn bao giờ hình như mình đang rất ích kỷ và hình như mình cũng đang làm một điều gì đó có phần vô nghĩa. Những lúc như thế, tôi đã nghĩ đến một sự buông xuôi… Nhưng cũng có lẽ phần ích kỷ trong tôi vẫn mạnh hơn, để khiến tôi tiếp tục đi.

Nhưng thế giới của sách vở cũng đem đến cho tôi những trải nghiệm rộng mở, nó khiến đời sống của tôi không khép kín như bản thân tôi vẫn nghĩ. Tôi hay có cái thú thử đứng lại tại một thời điểm để nhìn lại những gì mình thu nhận được sau một chặng đường. Như chính là lúc này. Có thể là một cách diễn đạt có phần màu mè, nhưng nó làm tôi thấy thích thú, rằng hơn mười năm ấy, tôi đã có trải nghiệm giống như nhân vật trong loại tiểu thuyết bildungsroman, dấn vào một cuộc phiêu lưu, đối mặt với những thử thách, khó khăn, gặp gỡ được những bạn đồng hành, và để rồi đến cuối cuộc hành trình, cái kết quả mà nó nhận được là một sự thay đổi trong nhận thức, sự trưởng thành trong cách nghĩ và tình cảm. Lời cảm ơn viết trước ngày bảo vệ luận án này tôi xin dành cho những người đồng hành ấy.

1. Trước hết là bạn bè, với những sự trợ giúp quý báu cả về tri thức lẫn tình cảm. Trong số những người đã giúp đỡ tôi với lòng tốt không điều kiện này, có những người tôi còn chưa từng được gặp mặt ngoài đời. Chính các bạn đã làm tôi có được sự tự tin trong quá trình làm luận án:

Lời cảm ơn đầu tiên tôi muốn gửi tới Diệu Linh, người bạn đã học cùng lớp với tôi từ những năm cấp 3 cho đến suốt bốn năm đại học. Bạn là người không chỉ giúp tôi có được những tài liệu rất khó kiếm, đặc biệt là chuyên luận của Robert R.Wilson để tôi triển khai luận án mà còn là người mà tôi đã tìm được sự chia sẻ nhiều nhất những khó khăn, những sự mỏi mệt, khủng hoảng dù chính bạn, đấy cũng là thời điểm mọi thứ đều không hề dễ dàng. Tôi có được niềm tin vào điều mình nghĩ, điều mình làm, không cần câu chấp những cách ứng xử kiểu bầy đàn, nhỏ nhen của môi trường xung quanh mình, một phần lớn, là từ những sự động viên của bạn.

Tôi muốn nói lời cảm ơn đến ba người bạn mà những chia sẻ về tài liệu, tri thức của họ cực kỳ có giá trị đối với tôi, không chỉ trong quá trình thực hiện luận án này. Đó là anh Nguyễn Nguyên Phước, người bạn đầu tiên mà tôi quen biết qua blog. Anh là người đầu tiên để lại comment trên blog của tôi từ thời còn Yahoo 360. Những tài liệu mà anh đã tìm kiếm và photo cho tôi đã giúp tôi tìm được những gợi dẫn cực kỳ cần thiết vào những lúc tôi loay hoay nhất trong việc giải quyết những giả thiết của luận án. Đó là Nguyễn An Khương, người mà tôi chưa từng tiếp xúc ở ngoài đời. Không biết Khương có còn nhớ điều này, rằng bạn chính là người đầu tiên giới thiệu cho tôi biết về trang gigapedia, mà nhờ có nó, gần như trong thời gian làm luận án, tôi đã được làm việc trong một môi trường tư liệu tham khảo còn phong phú và cập nhật hơn cả thư viện quốc gia. Tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên nhận được email của Khương cũng gần vào khoảng thời gian này trong ngày. Khương đã nhiệt tình download giùm tôi những bài báo tôi cần sau khi đọc được một comment của tôi trên blog của người khác. Sự hào hiệp của Khương, của những người như Khương, giờ nhớ lại, tôi vẫn thấy cảm động. Nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như đã có dịp Khương ra HN và liên lạc với tôi nhưng không được. Tôi vẫn còn giữ cuốn sách “Miên man tùy bút” của Lý Lan, khi đó, muốn để tặng bạn nhưng rồi cũng lỡ dịp. Nhưng tôi tin rồi sẽ có ngày được gặp bạn. Đó là anh Phạm Quốc Lộc, một người bạn luôn hào hứng, nhiệt tình. Anh là người đầu tiên nói với tôi về giải cấu trúc, về translation studies, về nghiên cứu văn hóa. Những trò chuyện của anh là một dẫn nhập hữu ích để tôi tìm hiểu sâu hơn những vấn đề này. Cả ba người bạn, mà nhờ mạng, tôi có dịp được quen biết này, tôi đều xem là những cơ duyên may mắn trên con đường học hành của mình.

Tôi phải thừa nhận một điều: cái mà tôi được nhiều nhất trong quá trình làm luận án tiến sĩ này là được làm việc trong với lượng tài liệu tham khảo dồi dào, về cơ bản, thư mục mà tôi tham khảo có thể so được với các luận án trên thế giới đi cùng theo hướng nghiên cứu. Sự thuận lợi này một phần lớn là nhờ những người bạn của tôi: Đó là Nguyễn Phúc Anh, Lê Nguyên Long với những chia sẻ password để tiếp cận các cơ sở dữ liệu; là những tài liệu sách vở mà những bạn bè khác như Nguyễn Thanh Phượng, Ngô Vĩnh Long, Hồ Thị Hòa, Phạm Thị Hoài đã nhiệt tình tìm kiếm từ nước ngoài và gửi về. Bên cạnh đó, là những chia sẻ về ý tưởng, những góp ý, trao đổi của Ngô Thanh, Nhã Thuyên, Hà Thanh. Đôi khi từ những cuộc chát, từ những trao đổi nhiêu khi tưởng chừng vu vơ mà từ đó tôi lại lóe lên những suy nghĩ bất ngờ về vấn đề mình đang nghiên cứu. Xin cảm ơn các anh Hoàng Ngọc-Tuấn, Như Huy, Trần Nguyễn Anh, bạn Tôm Ngu… Và như thế để nói rằng, luận án của tôi in dấu ấn của rất nhiều bạn bè.

Những người bạn ấy còn giúp đỡ tôi rất nhiều, từ những việc nhỏ nhặt, với một sự hào hiệp, nhiệt tình như của người thân trong nhà. Xin cảm ơn chị Hồng Hà, Mai Liên, Trà My các bạn Ngọc Minh, Hải Phương, Diệu Linh, Thanh Tùng, Xuân Hương, Mạnh Hoàng vì tất cả những giúp đỡ của các chị, các bạn. Cảm ơn hai em học sinh của tôi – Văn Linh và Đức Anh – đã giúp đỡ trong việc in ấn, chế bản luận án.

Các bạn đã giúp tôi cảm thấy không đơn độc, cái cảm giác luôn có người song hành ngay cả những khi tôi mỏi mệt nhất. Và với tôi đấy là điều hạnh phúc mà tôi được trải nghiệm trong quá trình làm luận văn này.

2. Tôi luôn cho rằng, con đường học hành của tôi, từ cấp học phổ thông, vẫn là một con đường đẹp đẽ, may mắn. Một trong những điều may mắn nhất là tôi đã luôn được học với những người thầy vừa độ lượng, bao dung, nhưng đồng thời cũng là những người cực kỳ nghiêm túc, không cho phép học trò dễ dãi, tự mãn trong công việc. Và hơn hết, đó là đều là những người có khả năng truyền cảm hứng cho học trò. Và đấy là điều tôi luôn muốn học tập từ các thầy.

Thầy Trần Đình Sử với tôi là một người thầy như thế. Có thể chính thầy cũng không để ý rằng tôi là sinh viên cuối cùng của khoa Văn trường Sư phạm được thầy hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp đại học. Và rồi đã đi theo thầy hơn 10 năm, cho đến bậc học tiến sĩ. Hơn 10 năm ấy, từ một cậu học trò rụt rè, có tâm lý sợ thầy (tâm lý cũng có phần dễ hiểu của những đứa sinh viên trước những giáo sư được xem là đại thụ trong ngành), dường như tôi đã có thể nhìn thấy thầy ở một khoảng cách gần hơn: để đôi khi thấy ngậm ngùi khi bắt gặp hình ảnh một vị giáo sư ngồi viền lại chiếc áo đã sờn cổ, để đôi khi chợt xót xa khi nhìn thấy dáng thầy tất tả trên đường, đôi khi lặng người khi được thầy chia sẻ về cảm giác về sự thiếu hụt của mình khi đối diện với tri thức mới, một sự chân thành cực kỳ hiếm hoi trong mối quan hệ thầy-trò, và để rồi lại thấy xúc động hơn khi vẫn bắt gặp sự háo hức, say sưa và quyết tâm của thầy khi đọc được cái gì mới, khi muốn làm một điều gì có ý nghĩa, muốn tạo ra sự thay đổi bất chấp tuổi tác, bệnh tật. Tôi chưa bao giờ dám hứa với thầy về con đường học thuật của mình khi nhìn thấy con đường của thầy đi cần rất nhiều can đảm, nghị lực và sự say mê.

Tôi biết ơn thầy vì chính thầy đã giúp tôi trở thành một người “mạo hiểm” trong tư duy, trong suy nghĩ cho dù ngoài đời tôi lại là hiện thân của kiểu sống phẳng lặng, cầu an. Cái con người sẵn sàng nổi loạn ấy trng tôi khiến tôi không có cảm giác ngại sự phức tạp, né cái gai góc trong cách lựa chọn và giải quyết vấn đề nghiên cứu. Và xét đến cùng đó cũng là cái được của luận án của tôi khi tinh thần chọn cái an toàn, chọn cái nhàn nhạt mà viết đang là xu hướng phổ biến của các đề tài tiến sĩ văn học bây giờ.

Còn có nhiều người thầy nữa mà tôi muốn nói lời tri ân. Đó là thầy Túc, người thầy cấp 3 của tôi, đã ghi trong bài kiểm tra văn cuối cùng của tôi năm lớp 12 một nhận xét rằng chuyện viết lách của tôi (mà chữ thầy dùng, đến giờ, tôi còn nhớ, là “đời viết”) sẽ không dừng ở bài kiểm tra ấy. Là thầy La Khắc Hòa, người với nhiều ý tưởng mang tính kích thích rất cao đối với tư duy của tôi. Là cô Lê Lưu Oanh, thầy Trần Lê Bảo…những người đã giúp đỡ tôi rất nhiều cả về vật chất lẫn tinh thần.

Với các thầy, tôi chỉ muốn nói rằng, được là học trò của các thầy, đấy là một niềm may mắn lớn.

3. Bố mẹ và các chị. Tôi luôn cảm giác mình có lỗi với gia đình. Tôi luôn có cảm giác rằng bố mẹ đã phải chịu đựng quá nhiều vì sự ích kỷ của tôi, vì cái hứng thú riêng hái hoa trên trời của tôi. Có những lúc nhìn ra xung quanh, tôi cảm thấy rõ ràng mình chỉ như ông tiến sĩ giấy, tôi vẫn chưa thể giúp cho bố mẹ, cho các chị nhàn nhã được một ngày nào. Trong hơn 10 năm qua, có những lúc gần như sóng gió ập xuống quá mạnh và liên tục đối với gia đình tôi, nhưng ngay cả khi ấy, bố mẹ và các chị vẫn là những người chống đỡ cho tôi, tôi vẫn là kẻ được an toàn nhất. Hơn 10 năm, gần như không phải làm việc nhà, kiếm tiền cũng không nhiều, tiếng tăm cũng không có, quan hệ cũng không, giờ nói lời cảm ơn gia đình có khác gì một lời nói xin lỗi. Đó là nỗi day dứt tôi còn mang theo.

4.  Nhưng dù gì thì gì, tôi vẫn cho rằng chặng đường mình vừa đi đã cho tôi những trải nghiệm quý giá. Tôi vẫn còn nhớ bằng giờ này năm ngoái, khi đang phải dồn sức viết những chương cuối cùng của luận án, có những ngày gần như tôi làm việc xuyên đêm, khi lực viết cạn cũng là lúc chập 5h sáng. Tôi đã đi bộ, một cách thong dong, đầu trống rỗng một cách nhẹ nhõm, trên con phố. Tôi đã hòa vào dòng người tập dưỡng sinh ở lăng Bác, đôi khi thấy những khoảnh khắc êm đềm, trong trẻo ấy thật vô giá. Đơn độc và bình yên, tôi quan sát mọi người: từ những ông bạn già rủ nhau đi tập thể dục, từ một cặp vợ chồng già lục tục dạy dọn hàng bán nước… Một nhịp sống có gì đó đều đặn, thanh thản, rất bình thường và cũng rất đẹp. Tôi đã lưu giữ những khoảnh khắc ấy như thể nó là một cái được cực kỳ vô hình, rất cá nhân và không gì so sánh được.

Nhưng ngày mai, sau ngày mai thì sẽ ra sao? Tại sao giờ này tôi lại sợ nghĩ đến ngày mai như thế? Chặng đường mới là gì? Có một khoảng trống rỗng vô hình, tôi không muốn nghĩ đến nó nhưng nó vẫn cứ lởn vởn trong đầu. Tôi hình dung rất rõ chiều mai mình sẽ trở về, sẽ ngủ một giấc dài, và sẽ tỉnh dậy trong sự mệt mỏi. Không phải vì những gì đã qua. Mà những gì đang tới.

Và tôi lại hoang mang. Như thể cách đây hơn 10 năm, khi tốt nghiệp trường đại học, mình cũng đã rơi vào trạng thái không trọng lượng như thế.

Phía trước là gì?