Tag Archives: socrates

Costica Bradatan – Ngợi ca sự lưu đày

Tango

Đã có thời, điệu tango rất phổ biến trong thế giới của các nhà thổ tại Buenos Aires. Đến cuối thế kỷ XIX, những người di dân trẻ tuổi – còn độc thân, nam giới, thuộc tầng lớp lao động – đến Argentine để thử vận may thường giải khuây bằng men rượu, các trò tiêu khiển và cặp kè với các cô gái ở đó. Những nhân vật xuất chúng của Argentine như Jorge Luis Borges đã khẳng định điệu tango được sinh ra trong những nhà thổ này. Những người khác kịch liệt phủ nhận điều này. Nhưng vẫn còn đó một thực tế, rằng điệu tango đã bảo lưu chút gì đó muộn sầu ở những con người trẻ tuổi và bật rễ, những kẻ nhảy theo điệu nhạc ấy ở đó. Phải nói rằng điệu nảy của họ là một màn trình diễn. Những chàng trai mà ta thấy hơi thở của họ hổn hển trên sàn nhảy không phải là những gã tuổi trẻ bình thường, nhảy múa để tiêu khiển. Họ là những người đã trải qua cỗ xay người bởi bật rễ và đã sống sót qua nó; họ đã đến gần nhất với cái chết, mà không phải chết. Dường như ký ức về một thảm họa cá nhân, theo sau đó là một sự sống màu nhiệm, bằng cách nào đó, đã in khắc vào những động tác của điệu vũ. Một phần khiến cho điệu tango gợi cảm đến vậy chính là vì nó chứa đựng cảm thức về cái chết lúc nào cũng cận kề. Cho đến bây giờ, tango vẫn mang nó theo sự kết hợp lạ lùng của sự tổn thương và sức mạnh.

*

Có nhiều kiểu bật rễ. Có những sự trục xuất khốc liệt, tàn phá cuộc đời của hàng trăm ngàn con người như những gì đang xảy ra ở những nước như Iraq hay Syria – và đó cũng là hiện tượng phổ biến trong lịch sử chính trị và chiến tranh. Nhưng cũng có thể có trường hợp mà tính chính trị của nó tình thế có thể tinh vi hơn, như trường hợp của Dante, người bị phe Black Guelph nắm quyền tại Florence trục xuất; hoặc cũng có những trường hợp bật rễ vì lý do kinh tế chẳng hạn, như những người di cư khiêu vũ trong những nhà thổ tại Argentine. Mỗi người, khi sống sót qua sự kiện bật rễ này và bị đẩy vào tình trạng bị lưu đày trải qua một kinh nghiệm tương tự như một trận động đất hiện sinh: Mọi thứ lộn nhào; tất cả những gì chắc chắn bị vỡ vụn. Thế giới xung quanh anh thôi không còn là một sự hiện diện vững bền, đáng tin mà ở đó anh từng có cảm giác thoải mái, tất cả biến thành một đống hoang tàn – lạnh lẽo, xa lạ. “Mi sẽ phải bỏ lại những gì mi yêu nhất: đây là mũi tên mà cây cung của sự lưu đày bắn ra đầu tiên,” Dante đã viết như vậy trong “Paradiso”.

Từ Ovid đến Dante, đến Czeslaw Milosz, lưu đày đã được khắc họa như một sự kiện thảm kịch. Nếu một kiểu bật rễ như thế đến từ sự lưu đày như một hình thức của cái chết, đó không chỉ là cái chết của kẻ mang án lưu đày, mà còn là cái chết của thế giới hắn đã từng sống trong, sống với nó.

Sống, tức là cắm rễ. Đời sống khả dĩ chừng nào ta tìm được một nơi đủ thân thiện để đón nhận ta, cho phép ta trú ngụ lâu dài. Những gì theo sau đó như thể một sự cộng sinh: khi ta sống trong thế giới thì thế giới cũng sống trong ta. Không chỉ ta chiếm lĩnh một nơi nào đó mà nơi ấy, đến lượt nó, cũng chiếm lĩnh ta. Văn hóa của nó nhào nặn nên cách ta nhìn thế giới; ngôn ngữ của nó định hướng cách ta nghĩ; tập tục của nó cấu trúc nên ta như một tồn tại xã hội. Cái mà rốt cục làm nên ta phụ thuộc ở mức độ rất lớn vào mạng lưới mênh mông những vướng víu, thắt buộc của “nhà”.

Bật rễ là một đòn đánh chí tử vì nó buộc anh phải tách mình, trong chốc lát, khỏi những gì mà, chừng nào anh còn có thể nhớ được, đã từng là một phần quan trọng làm nên căn tính của anh. Theo nghĩa nào đó, anh là văn hóa, tập quán, ngôn ngữ, xứ sở, gia đình, người tình của anh. Tuy nhiên, lưu đày, nếu anh sống sót qua tình thế ấy, nó có thể là món quà triết học tuyệt vời nhất, một phúc lành được che giấu. Trên thực tế, các triết gia nữa cũng nên bị bật rễ. Ít nhất một lần trong đời họ. Họ nên bị lưu đày, bị trục xuất, bị đổi chỗ – đó nên là một phần của quá trình đào luyện mà họ cần trải qua. Bởi khi thế giới cũ của anh sụp đổ, nó cũng mang theo tất cả những giả định, những gì đã trở nên quen thân, những ý niệm định kiến hay đã được mặc định. Sống tức là quá trình phong kín bản thân trong một bức màn không ngừng dày lên của sự quen thuộc đến mức nó bịt mắt ta, khiến ta không thể thấy cái gì ở ngay dưới mũi mình. Anh càng cảm thấy thoải mái trong thế giới bao nhiêu, những công cụ mà anh dùng để tiếp cận nó lại càng trở nên cùn mòn bấy nhiêu. Bởi mọi thứ với anh hiển nhiên quá đỗi nên anh đã không còn thấy gì nữa. Lưu đày trao anh một cơ hội để giải phóng. Tất cả những hành lý nặng nề của những “chân lý” cũ – chúng dường như được coi là chân lý chỉ vì chúng quá quen thuộc – bị bỏ lại sau lưng. Lưu đày lúc nào cũng là một cuộc lữ nhẹ tênh.

Điều mang ý nghĩa cứu rỗi ở sự lưu đày nằm ở chỗ khi “thế giới cũ” của ta biến mất, đột nhiên ta được trao cơ hội để nếm trải một thế giới khác. Tại chính khoảnh khắc khi anh mất mọi thứ, anh lại có được một cái khác: một con mắt mới. Thực chất, thứ cuối cùng mà anh có không chỉ là một “thế giới mới” mà còn là một cái gì giống như hệ quả triết học: đó là cái nhìn thấu thị, rằng thế giới không đơn thuần tồn tại, nó là cái gì đó ta có thể tháo dỡ và lắp ráp lại, một thứ gì đó ta có thể chơi với nó, kiến tạo, tái kiến tạo, giải kiến tạo nó. Trong tư cách một kẻ lưu đày, anh hiểu rằng thế giới là một câu chuyện có thể được kể theo nhiều cách. Chắc chắn, anh có thể học được điều này qua sách vở, song không có tri thức nào sâu sắc hơn những gì đến cùng với máu và nước mắt – tri thức đến từ sự bật rễ.

Lưu đày là cuộc lữ nhẹ tênh vì đó là một sự tồn tại trơ trọi. Đây là một bài học khác mà các triết gia có thể học được từ lưu đày. Bật rễ trao cho anh cơ hội không những để sáng tạo mới thế giới mà còn sáng tạo mới chính anh. Bị trục xuất khỏi thế giới cũ, bản ngã cũ của anh bị bỏ lại trong tình trạng hiện sinh trần trụi. Không chỉ thế giới mới có thể bị đổ sụp và tái thiết, mà cả bản ngã nữa. Bản ngã có thể được làm lại từ đầu, từ số không, được lắp ráp lại, đánh bóng lại. Vì bản ngã, cả nó nữa, cũng là câu chuyện có thể được kể theo nhiều cách. “Từ từng từ một, tôi đã tạo nên con người mà tôi đang là và xứ sở được phát minh mà tôi đang sống trong nó,” Isabel Allende đã viết như thế[1]. Thường đi cùng với sự bật rễ là sự thay đổi ngôn ngữ, điều khiến cho quá trình phục trang lại cho bản ngã lại càng sinh động hơn bao giờ. Anh có thể phục trang cho bản ngã của anh theo cách rất gần với việc nhà văn tạo hình cho nhân vật của mình.

Socrates hầu như không rời bỏ thành Athens, quê hương ông, song ông hiểu sâu sắc về sự cần thiết của việc thực hành bật rễ đối với các triết gia, nếu thực sự họ làm công việc của mình một cách đúng nghĩa. Ông đã phục trang lại chính bản ngã của ông thành một người ngoại quốc như là một vấn đề triết học.  Theo một nhà nghiên cứu tiểu sử của ông gần đây, Socrates đã “sống như một người ngoại quốc ở chính thành bang của mình, đến mức ông còn không nói cả phương ngữ Athens.”[2] Không bằng lòng với việc chỉ giữ một “khoảng cách châm biếm” với người Athens, ông còn chủ ý bật rễ khỏi thành bang, cắt đứt những mối ràng buộc và đốt rụi cả những cây cầu của mình.

Socrates đã tự biến mình thành một người xa lạ trong thành bang của mình, nhưng ông không chuyển sang một nơi khác. Ông trở thành kẻ “không ở đúng chỗ”, nhưng cứ luôn “gây bất an” và “làm phức tạp”. Trở thành kẻ không ở đúng chỗ là điều kiện vô cùng quan trọng đối với một triết gia làm công việc nói thẳng sự thật như Socrates. Ở mọi cộng đồng, luôn có cái gì đó còn không được phép nói ra, không được gọi tên, không được phát ngôn; và ta ký cam kết thuộc về một cộng đồng chình bằng việc tham dự vào sự im lặng chung đó. Tiết lộ mọi thứ, “nói hết tất cả”, là công việc của một kẻ lạ. Hoặc đó là vì những kẻ lạ không rõ những mã văn hóa địa phương, hoặc là vì họ không bị buộc phải tôn trọng chúng, họ có thể nói thẳng. Mà, triết học, ở mức độ nào đó, lại là sự phơi bày “mọi thứ”, nhất là những thứ khôg ai muốn nghe, do đó, sự xa lạ đặc biệt cần thiết để thực hành nó. Triết gia, ít nhất là loại triết gia nói thẳng, cần phải là một gã di-gan.

Trường hợp Socrates gây ấn tượng mạnh. Như một số ít người khác, ông nhận thấy sự cần thiết của triết gia trong việc tự bật rễ khỏi cộng đồng. Tuy nhiên, ông lại từ chối một cuộc lưu đày thực sự mà lựa chọn một cuộc lưu đày nghiêng về ý nghĩa tượng trưng hơn. Ông sống tại Athens như một người lạ. Điều này có nghĩa ông đã thực hành triết học như một cuộc truy cầu khá nguy hiểm. Một hành động đi trên dây có thể chẳng bao giờ đưa anh đi được quá xa, nhất là khi anh trình diễn nó mà không có lưới bảo hiểm nào và lại còn không ngớt chế nhạo công chúng của anh.

Một thi sĩ người Argentine đã gọi tango là “un pensamiento triste que se baila”: một ý nghĩ buồn bã hiện thân qua điệu vũ. Tôi không chắc lắm. Tango không hẳn là cái gì đó buồn bã – tự nó là nỗi buồn xoay theo bước nhảy. Nỗi buồn tột cùng bắt nguồn từ cơn chấn động làm bật rễ. Nếu triết gia không thể tự đưa họ vào cuộc lưu đày thì ít nhất họ cũng nên nhảy điệu tango một lúc.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Costica Bradatan, “In Praise of Exile”,  The New York Times, 16.08.2014.

[1] Isabel Allende,  My Invented Country. A Memoir. Bản dịch từ tiếng Tây Ban Nha của Margaret Sayers Peden (London: Flamingo, 2003), trang 198.

[2] Emily Wilson,  The Death of Socrates. Hero, Villain, Chatterbox, Villain, Saint (London: Profile Books, 2007), trang 76-7.

Costica Bradatan – Triết học như là nghệ thuật chết

Bài dịch khai bút đầu năm. Nếu mọi sự thuận lợi, bài dịch này sẽ là khởi điểm cho một dự án trong năm nay của bản thân.

Cảm ơn tác giả của bài viết này, một người bạn đặc biệt mà tôi may mắn được làm quen trong năm qua. Và năm nay, hy vọng sẽ gặp được thêm những người bạn đáng quý khác nữa.

*

David_-_The_Death_of_SocratesBức tranh”Cái chết của Socrates” của danh họa Jacques-Louis David sáng tác năm 1787.

Chuyện này hiếm xảy ra, song khi xảy ra, nó thường phá vỡ tình trạng cân bằng, yên ổn của đời sống: nó thu hút sự chú ý của tất cả, trở thành chủ đề phổ biến của những thảo luận và tranh cãi nơi chợ búa hay quán rượu. Nó thôi thúc người ta phải lựa chọn lập trường, cãi vã và gây gổ. Đối với những thứ vốn được mặc định là kinh viện như triết học, những sự việc bùng nổ như thế quả là rất đặc biệt. Câu chuyện ấy đã xảy ra với Socrates, Hypatia, Thomas More, Giordano Bruno, Jan Patocka[1] và một số người khác. Đối diện với một án tử hình không thể hủy bỏ – một vụ hành quyết trước đám đông sắp diễn ra hay phải chịu tra tấn cho đến chết -, những triết gia này thường thấy mình rơi vào một trong những tình huống nghịch lý nhất: là những kẻ yêu logic và sự lập luận duy lý, giờ họ bị buộc phải câm lặng bởi những thế lực tàn nhẫn; là những người tạo lập diễn ngôn chuyên nghiệp, giờ lại bị cấm sử dụng ngôn ngữ; là bậc thầy của tranh luận và phát hiện mâu thuẫn, giờ họ không thể tranh cãi được nữa. Vậy những triết gia này còn lại gì? Chỉ còn sự im lặng và sự hiện diện tuyệt đối của thân xác. Phương tiện biểu đạt duy nhất còn lại của họ chính là thân thể của họ – mà lại là những thân thể đang đi đến sự chết.

Tình huống này có sự mai mỉa của nó. Có một tập quán hình thành từ lâu ở các triết gia thuộc nhiều dòng phái khác nhau: anh phải thể hiện một thái độ coi thường nhất định đối với thân thể. Trong truyền thống, ít nhất là trong triết học phương Tây, thân thể, trừ một vài biệt lệ rất ít ỏi, thường được xem là thứ có địa vị thấp kém hơn so với tinh thần, trí tuệ hay tâm hồn – nó là lãnh địa của “xác thịt”, vùng của cái không thể hiểu nổi, của những bản năng mù lòa với những động cơ không trong sạch. Và đây là những triết gia bị kết án: không có lời nói, họ chỉ còn cái thân đang đi đến sự chết để biểu đạt chính mình. Người ta có thể châm biếm một cách chua chát: cuối cùng thì thân xác cũng có cơ hội của nó để báo thù các triết gia.

Nhưng trước hết, làm thế nào họ lại đi đến tình trạng ấy? Dường như có một số triết gia yêu thích và tuyên ngôn một số ý tưởng nào đó thôi thúc họ phải sống theo một cách nào đó. Tuy nhiên, đôi khi cách sống của họ dẫn họ đến một tình huống buộc họ phải lựa chọn giữa việc trung thành với ý tưởng của họ hoặc phải khước từ chúng. Trường hợp đầu có thể được dịch là “chết cho tư tưởng”, trong khi trường hợp sau không đơn thuần chỉ là sự từ bỏ một cách sống của triết gia mà, một cách hàm ẩn, hành động đó còn là sự phi hiệu lực hóa những triết lý đã gợi cảm hứng cho cách sống mà họ từng lựa chọn. Điều này có lẽ là một trong những lựa chọn nghiệt ngã bậc nhất. Theo nghĩa đơn giản hơn, tình huống này có thể tóm tắt lại thành nan đề sau: nếu anh quyết định trung thành với tư tưởng của mình, anh sẽ không còn tồn tại nữa. Cái chết của chính anh sẽ là cơ hội cuối cùng để đưa tư tưởng của anh vào thực tế. Mặt khác, nếu anh lựa chọn “phản bội” tư tưởng của mình (và có lẽ cả chính bản thân anh nữa), anh sẽ sống nhưng không còn niềm tin nào để sống.

Tình huống mà triết gia đối mặt với một chọn lựa như thế là cái thường được gọi là một “tình huống giới hạn” (limit situation). Song giới hạn này đâu chỉ liên đới với riêng mỗi cuộc đời của nhà triết học không thôi; theo một nghĩa quan trọng, đó chính là giới hạn của bản thân triết học, một ngưỡng nơi triết học gặp gỡ với kẻ khác của nó (tức những gì không phải là triết học) và trong quá trình này, nó được đặt vào thử thách.

Từ rất lâu trước khi bị đặt vào tình huống lựa chọn như thế nhờ “sự tử tế” của các cơ quan an ninh chính trị tại Czechoslovakia năm 1977, Jan Patocka có lẽ đã trực cảm được giới hạn này khi nhận định rằng “triết học đã phát triển đến giai đoạn mà việc nêu những câu hỏi và trả lời chúng, cho dù với nguồn năng lượng cực đoan nhất, cũng sẽ là không đủ; nhà triết học sẽ không đi thêm được bước nào nếu như ông ta không có khả năng đưa ra một quyết định.”[2] Quyết định ấy cho dù có thể mang ý nghĩa nào đi nữa trong những ngữ cảnh khác thì hàm ý của Patocka cho cuộc thảo luận này không hề mập mờ. Có một điểm mà vượt qua nó, triết học, nếu không muốn đánh mất khuôn mặt của mình, phải biến thành một cái gì khác: màn trình diễn. Nó phải vượt qua bài kiểm tra ở một mảnh đất xa lạ, một địa hạt vốn không thuộc về nó. Vì bài kiểm tra cuối cùng của nền triết học của chúng ta được diễn ra không phải ở trong phạm vi của những hoạt động mang tính duy lý nghiêm ngặt (viết, dạy, giảng bài), mà ở chỗ khác: trong sự đối đầu dữ dội với cái chết của chúng ta như một loài thú. Giá trị của triết lý mà một người nào đó xác lập, nếu nằm ở đâu đó, sẽ bộc lộ chính nó ở màn trình diễn sống của người ấy khi trực diện với chính cái chết của bản thân mình, qua đó, chúng ta sẽ nhận ra liệu những tư tưởng ấy có ý nghĩa quan trọng nào không hay hoàn toàn phù phiếm. Hãy nói cho tôi biết anh đối diện với nỗi sợ hư vô của mình như thế nào, tôi sẽ nói cho anh về triết lý của anh.

Hơn nữa, cái chết là một sự kiện khủng khiếp, nỗi sợ chết là một tâm lý phổ quát đến nỗi mời mọc nó bằng ý niệm về sự trung thành với tư tưởng của một ai đó là một điều cùng lúc vừa hấp dẫn và vừa bất an. Những người làm được điều này là những kẻ mang một khí tiết lạ lùng, một đặc trưng dường như không thuộc về con người; tất cả chúng ta đều đứng trước họ kính nể. Cùng với điều này, xuất hiện một hình thức quyền năng mới. Đó là lý do vì sao, sự tuẫn tiết của một người nào đó (có ý nghĩa như một sự phản kháng chính trị), chẳng hạn, lai có thể có những hiệu ứng về xã hội và chính trị rộng lớn, như ta vừa mới chứng kiến gần đây ở Tunisia, khi người thanh niên 26 tuổi, Mohamad Bouazizi, tự thiêu. Đó cũng là lý do vì sao cái chết của những triết gia – những người lựa chọn chết cho một tư tưởng lại sớm trở thành một phần quan trọng trong trước tác của họ. Trên thực tế, những cái chết của họ thường trở nên quan trọng hơn rất nhiều so với chính sự sống của họ. Tại sao Socrates lại là một hình tượng quan trọng và nhiều ảnh hưởng như thế? Phần lớn là vì tình huống và cách ông đi đến cái chết. Có thể ông chưa từng viết một cuốn sách nào nhưng ông đã kiến tạo nên một trong những cách kết thúc nổi tiếng nhất của mọi thời đại: kết thúc chính sự sống của mình. Bất cứ một văn bản triết học nào cũng nhợt nhạt hơn nếu đem so sánh với kết cục ấy. Những trước tác của Hypatia giờ cũng không còn lại: tuy nhiên, màn trình diễn cái chết gây xúc cảm mãnh liệt, tuy thụ động, của bà hồi đầu thế kỷ V vẫn không thôi hấp dẫn chúng ta. Một học giả hiện đại, Maria Dzielska, đã hình dung lại làm thế nào mà từ sự xúi giục của trưởng lão Cyril (sau này được giáo hội phong thánh), một số tín đồ Cơ đốc giáo nhiệt thành ở Alexandria đã khiến bà trở thành người nối tiếp truyền thống tử vì đạo kể từ Socrates:

“Một vụ hành quyết trước đám đông diễn ra vào một ngày tháng Ba năm 415, năm thứ 10 dưới thời trị vì của Honorius – Hoàng đế Tây La Mã và là năm thứ 6 dưới thời hoàng đế Theodosius – Hoàng đế Đông La Mã, đúng thời điểm của mùa chay. Hypatia đang trên đường trở về nhà…sau cuộc đi chơi bằng xe ngựa quanh thành phố như thường lệ. Bà bị người ta lôi khỏi xe ngựa và bị kéo lê đến nhà thơ Caesarion… Tại đó, họ xé váy áo của bà và giết bà bằng cách ném túi bụi “những mảnh đá gốm vỡ” vào bà… Sau đó, họ lôi xác bà ra ngoài thành phố, đến một nơi được gọi là Kinaron để thiêu trên giàn hỏa.”[3]

Một trong những mô tả về cái chết của Giordano Bruno cũng gây ấn tượng khốc liệt không kém. Biên niên sử ở thời ấy (Thông cáo của thành Roma, 19 tháng Hai, năm 1600) còn ghi: “Vào ngày thứ Sáu, tại Campo di Fiore, người ta đã thiêu sống một tu sĩ dòng Anh Em Thuyết Giáo, người xứ Nola, một kẻ dị giáo cố chấp; lưỡi của y bị làm cho bất động [con la lingua in giova] vì những điều ghê tởm mà y đã nói ra, y ngoan cố không nghe những người khuyên giải cũng như bất cứ ai khác.”[4]

Con la lingua in giova! Khó có thể tìm được một minh họa nào tốt hơn cho cái gọi là “bịt miệng đối thủ”. Tôi không có ý định công kích Tòa án Giáo hội ở đây, chỉ là tôi thấy rằng đôi khi họ có xu hướng hiện thực hóa diễn ngôn của mình theo đúng nghĩa đen.

Phải thừa nhận rằng “chết cho một tư tưởng” theo hình thức này là sự kiện hi hữu. Lạy Chúa, các triết gia không thường xuyên bị đẩy vào chỗ chết như thế. Tuy nhiên, tôi cần phải nói thêm ngay: tuy hiêm hoi, hi hữu như thế, tình huống này không phải là một giải thuyết. Những chuyện như thế đã từng xảy ra và sẽ còn xảy ra. Theo một nghĩa nào đó, khả năng cái chết của một người nào đó có mối liên hệ với suy nghĩ của người ấy chính là hạt nhân trung tâm trong định nghĩa của phương Tây về triết học. Khi Socrates phát biểu trong tác phẩm Phaedo của Plato rằng triết học là melete thanatou – tức một sự thực hiện cái chết một cách mạnh mẽ – có thể ông không chỉ muốn khẳng định mục đích của triết học là giúp chúng ta thích ứng tốt hơn với sự hữu tử của con người, mà ông còn muốn nói thêm: những người thực hành triết học nên hiểu những nguy cơ của lĩnh vực này. Mà rốt cục, định nghĩa về triết học này lại bắt nguồn từ một người bị buộc tội chết bởi những tư tưởng mà ông ta biểu đạt, nó được nói ra trước khi ông bị hành hình mấy tiếng đồng hồ. Bài học gì ư? Phải chăng để trở thành một triết gia, còn hơn cả việc sẵn sàng “chịu đựng” cái chết, người ta còn phải biết chấp nhận nó một cách thụ động ở một thời điểm nào đó không xác định trong thời gian? Nó cũng có thể đòi hỏi người ta phải biết khiêu khích cái chết của chính bản thân mình, gặp gỡ nó – theo cách nào đó- ở giữa đường. Đó chính là sự làm chủ cái chết. Triết học đôi khi được hiểu như là “nghệ thuật sống” và quả thật, điều này đúng. Nhưng cũng có những lý do hay để tin rằng triết học có thể còn là “nghệ thuật chết”.

“Chết cho một tư tưởng” là cái chết của những kẻ tử vì đạo, những nhà triết học chết cho tư tưởng. Tuy nhiên, sự tuẫn tiết cho một tư tưởng không chỉ cần đến cái chết, cho dù có thể rất vĩ đại, của một người nào đó là đã đủ. Chết mới chỉ là một nửa công việc; còn nửa kia là đan dệt một câu chuyện hay về cái chết, về người chết và phải tìm một công chúng cho câu chuyện ấy. Cái chết của một triết gia có thể sẽ không có ý nghĩa nếu như không có người kể chuyện phù hợp, cũng như nếu không gợi được sự day dứt lương tâm của công chúng đón nhận. Một cảm thức dằn vặt tập thể có thể tạo ra những điều phi thường mà một tự sự về một bậc thánh tử vì đạo sắp xuất hiện thường trông đợi. Tôi đã từng có một bài viết nói về tầm quan trọng của nghệ thuật kể chuyện và ký ức tập thể đối với việc kiến tạo những huyền thoại tuẫn tiết vì chính trị. Điều này về cơ bản cũng đúng với những triết gia chết cho tư tưởng. Theo nghĩa nào đó, họ thôi không còn là những con người bằng xương bằng thịt nữa mà trở nên giống như những nhân vật văn chương; những câu chuyện của họ, nếu muốn có hiệu lực, phải tuân theo những luật lệ nhất định, vừa vặn với một thể loại nhất định, đáp ứng những nhu cầu nhất định. Chắc chắn có những sử gia luôn tìm cách xác lập các “sự thực”. Tuy nhiên – tạm thời chưa nói đến việc chép sử, mà như Hayden White từ khá lâu đã chỉ ra, tự nó đã là một hình thức văn chương- những “sự thật” bất lợi hiếm khi có khả năng thách thức được các tự sự thống trị ý thức của đại chúng.

Những tác giả thời Khai Sáng và sau này là các học giả nữ quyền luận ở thế kỷ XX đóng một vai trò lớn trong việc xây dựng hình ảnh Hypatia như một triết gia “chết cho tư tưởng”. Rất nhiều các tác giả phản đối tầng lớp tăng lữ và các trí thức cộng đồng cũng đã làm điều tương tự đối với Bruno, cũng như Vaclav Havel đã làm đối với Patocka. Tuy nhiên, người kiến tạo hình ảnh triết gia-kẻ tuẫn tiết vì tư tưởng gây ảnh hưởng mạnh nhất cho đến giờ vẫn là Plato. Không phải chỉ vì ông đã xây dựng hình ảnh Socrates như là biểu tượng nguyên mẫu của kiểu triết gia chết cho tư tưởng mà trên thực tế, ông còn là người phát kiến thể loại. Nhìn vào cách Plato diễn dịch lại trường hợp của Socrates, chúng ta có thể tìm thấy hầu hết những thành tố của một câu chuyện hay về sự tuẫn tiết cho tư tưởng: một nhân vật chính, người tự cam kết sống một cuộc đời đạo đức và tìm kiếm những minh triết, do đó, xung khắc với cộng đồng của mình; nhân vật đó sẵn sàng chết cho tư tưởng của mình hơn là chấp nhận những mệnh lệnh của đám đông lầm lạc; một môi trường chính trị thù địch được đặc trưng bởi tinh thần thiếu khoan dung và thiển cận; một tình huống khủng hoảng leo thang thành một chuỗi các sự kiện kịch tính; cao trào của nó mang hình thức của một phiên tòa xử công khai và nhân vật phải đối đầu với một đám đông điên cuồng; và cuối cùng, cái chết anh hùng, dẫu bất công của nhân vật, sau đó là sự phong thánh dành cho ông ta.

Xa hơn điều này, trước tác của Plato rõ ràng còn định hình hành vi thực tế của con người khi đối diện với một lựa chọn tương tự như của Socrates. Thí dụ, Thomas More, ngay trước khi bị chém đầu, đã nói: “Ta là người tận tụy với Nhà vua, nhưng hơn hết ta tận trung vơi Chúa”. Câu nói này hiển nhiên quy chiếu đến những lời của Socrates trong phiên tòa xét xử ông, như những gì được ghi lại trong đoạn văn trong tác phẩm Apology: “Thưa các quý vị, tôi là kẻ tận tụy, trung thành đối với các người nhưng tôi vâng mệnh Thượng Đế hơn là vâng mệnh các người.”

Ôi, những triết gia này – họ thậm chí còn không thể chết nếu như không đưa ra một quy chiếu về chữ nghĩa thật xác đáng! Ngay khi nói lên những lời cuối cùng trước khi chết, rất có thể More đột nhiên nhận ra những gì ông sắp sửa làm có vẻ không “thật” như ông muốn nó phải thế; cứ như thể có một cái gì đó “phi thực” – thế giới hư cấu, thế giới của những cuốn sách ông đã từng đó – giờ len vào chính sự tử đạo của ông. Chắc chắn, chết, tự nó, là một kinh nghiệm thật đến tàn khốc, có lẽ là kinh nghiệm tàn khốc nhất. Thế nhưng, tôi lại e More đã đúng: chết cho một tư tưởng không bao giờ mang một hình thức thuần khiết. Bao giờ cũng thế, một phần nó là hiện thực, một phần nó là hư cấu (theo một tỉ lệ không được biết). Cũng như mọi thứ khác ở đời.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Costica Bradatan, “Philosophy as an Art of Dying”, http://opinionator.blogs.nytimes.com/2011/06/12/philosophy-as-an-art-of-dying/?_r=0

[1] Jan Patocka (1907-1977), nhà triết học quan trọng hàng đầu của trường phái Hiện tượng học Czech. Ông đồng thời còn được ghi nhận như là một trong số những triết gia có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ XX. Jan Patocka đồng thời còn là môt trong số những người khởi xướng Bản Hiến chương 77.

[2] Trích từ cuốn sách Vaclav Havel của Eda Kriseova, Caleb Crain dịch sang tiếng Anh (New York: St Martin’s Press, 1993), trang 108

[3] Dzielska, Maria, Hypatia of Alexandria, bản dịch tiếng Anh của F.Lyra (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1995), trang 93.

[4] Firpo, Luigi, Il Processo di Giordano Bruno (Salermo Editrice: Roma, 1998), trang 335-6.