Tag Archives: joseph brodsky

Joseph Brodsky – Ngợi ca nỗi buồn chán

anh dep 2

“Ngợi ca nỗi buồn chán” của Joseph Brodsky là bài nói chuyện của nhà thơ trong buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho hơn 1000 sinh viên Dartmouth College, tháng 7-1989. Tôi dịch bài viết này với nhiều cảm xúc, đặc biệt đến đoạn gần cuối, tôi đã tự cho phép bản thân mình dịch thoát hơn nguyên bản của Brodsky một số chi tiết, bởi lẽ những gì ông nói với các sinh viên cũng là những điều tôi từng ao ước giá như có ai nói với mình trong ngày ra trường, và mình cũng muốn nói với những bạn sinh viên sắp ra trường bây giờ. Không phải là một lời chúc thành công, một động viên về nghị lực, một hứa hẹn về cơ hội… mà là sự đối mặt với nỗi buồn chán như là phần tất yếu của đời sống.

Cách đây một thời gian, tình cờ tôi có đọc được một ghi chép của một sinh viên. Em chia sẻ rất chân thành rằng ở đại học, những giờ học của tôi rất đáng sợ. Mà đáng sợ nhất là bài giảng của tôi dường như thường mang màu sắc bi quan, từ cách tôi lấy dẫn chứng đến cách tôi tự thú về chính sự hoang mang của mình, cho dù tôi đã đi hơn nửa quãng đường đời của mình. Hoang mang về sự vô tận của tri thức, hoang mang vì không biết sống sao cho tử tế, hoang mang vì cảm thấy mỗi giờ lên lớp đều phải cố diễn, cố dối một điều gì đó. Mỗi giảng viên dường như đều có thể chia sẻ với sinh viên một cái gì đó có ý nghĩa: người thì kiến thức, người thì kinh nghiệm sống, người thì sự vui vẻ hay ý chí phấn đấu… Hình như tôi không chia sẻ được sinh viên tất cả những điều ấy. Tôi chỉ có một nỗi hoang mang cố giấu xuống mà không thể.

Brodsky nói chuyện với sinh viên về sự buồn chán, về cách ứng xử với nỗi buồn chán theo cách của một người yếu đuối. Sự chân thành ấy làm tôi xúc động thật sự. Đầu năm, đọc và dịch một bài viết hay, chia sẻ với mọi người như là một động lực cho một năm muốn nghĩ, muốn viết và hơn hết là muốn sống.

*

Joseph-Brodsky-Quotes-4Song nếu ngươi không thể giữ lại vương quốc của người

Và giống như cha của ngươi, trước khi ngươi xuất hiện trên cõi đời

Nơi ý nghĩ cáo buộc và cảm xúc thì chế nhạo

thì ngươi hãy tin vào nỗi đau của chính mình…

W.H.Auden, “Alonso to Ferdinand”

Một phần đáng kể đón đợi bạn phía trước sẽ được xác nhận bởi nỗi chán. Lý do hôm nay tôi muốn nói về nỗi buồn chán với các bạn, trong một dịp trang trọng như thế này, là vì tôi nghĩ không có một trường đại học nào sẽ giúp bạn chuẩn bị cho tình huống sẽ xảy ra đó. Dartmouth không là ngoại lệ. Không một ngành nhân văn hay khoa học nào lại mở những khóa học về sự buồn chán. Cùng lắm, trường học chỉ giúp bạn làm quen với cảm giác ấy bằng việc làm bạn phải chịu đựng hay nếm trải nó. Nhưng đâu là sự tiếp xúc thông thường với căn bệnh muộn phiền vô phương cứu chữa này? Giọng nói đều đều, đơn điệu từ bục giảng kinh hay những cuốn giáo trình làm hoa mắt người bằng một thứ Anh văn khoa trương chẳng là gì nếu so với một sa mạc tâm trạng mênh mông bắt đầu ngay từ phòng ngủ của bạn và hất tung mọi chân trời.

Cùng trường nghĩa với một loạt từ chỉ trạng thái khác – đau khổ, sầu muộn, mỏi mệt, uể oải, tẻ nhạt, vô vị, thờ ơ, bơ phờ, dửng dưng, hờ hững, yếm khí, buông xuôi, v.v… – sự buồn chán là một hiện tượng phức tạp và nhìn chung, là sản phẩm của sự lặp lại. Như thế, dường như phương thức tốt nhất để chống lại căn bệnh này sẽ là sự sáng tạo, phát kiến không ngừng. Đấy là những gì mà các bạn – những con người trẻ trung, tươi mới – hy vọng. Nhưng hỡi ôi, cuộc đời lại không dành cho bạn lựa chọn ấy vì phương tiện chính của đời sống lại chính là sự lặp lại.

Đương nhiên, người ta có thể lập luận rằng những nỗ lực lặp đi lặp lại hướng đến sự sáng tạo, phát kiến là động lực của tiến bộ – và đồng thời – của văn minh. Tuy nhiên, như là một nhận thức muộn, đây lại không phải là điều có ý nghĩa nhất. Vì nếu ta phân định lịch sử loài người bằng những phát kiến khoa học – đấy là chưa đề cập đến những khái niệm đạo đức – kết quả sẽ không có lợi cho ta. Nói một cách chính xác, cái chúng ta sẽ thấy là hàng bao thế kỷ chán nản. Chính ý niệm về sự sáng tạo hay cách tân lại nảy sinh từ sự đơn điệu của hiện thực thường nhật, của đời sống mà phương tiện của nó – không, nói đúng hơn, đặc trưng của nó – là sự buồn tẻ.

Theo nghĩa đó, đời sống phân biệt với nghệ thuật mà như các bạn đã biết, kẻ thù tồi tệ nhất của nghệ thuật là sự sáo mòn. Một ngạc nhiên nho nhỏ là chính nghệ thuật cũng không giúp bạn làm thế nào để xoay sở với sự buồn chán. Một vài tiểu thuyết xoay quanh chủ đề này; hội họa càng ít hơn, còn âm nhạc, về cơ bản, đó là một thứ nghệ thuật phi ngữ nghĩa. Nói chung, nghệ thuật ứng xử với nỗi buồn chán theo phương thức tự vệ, mang tính châm biếm. Điều duy nhất để nghệ thuật trở thành nơi an ủi bạn khỏi nỗi chán chường, khỏi đời sống vốn dĩ vận hành theo xu hướng trở thành sự dập khuôn là bạn hãy trở thành nghệ sĩ. Song, đâu phải ai cũng có số thành nghệ sĩ, triển vọng này có vẻ cũng khó khả thi.

Nhưng ngay cả khi bạn bước ra buổi lễ phát bằng này và đến ngay bên bàn viết, toan vẽ hay cây dương cầm, bạn cũng sẽ không tránh khỏi nỗi chán chường hoàn toàn được. Nếu sự lặp lại là mẹ của nỗi buồn chán, thì bạn, những con người trẻ trung, tươi mới, sẽ nhanh chóng thấy ngạt thở khi không được thừa nhận cũng như được trả giá rất thấp cho những thể nghiệm của mình, cả hai đều là tình trạng kinh niên trong thế giới nghệ thuật. Ở phương diện này, làm việc cho một hãng luật, một ngân hàng, thậm chí trong một phòng thí nghiệm còn tốt hơn là viết văn, vẽ tranh hay soạn nhạc.

Dĩ nhiên, ở đây, ta thấy được ân cứu rỗi của nghệ thuật. Không phải thứ sinh lợi, nghệ thuật chịu thua nhân khẩu học một cách tất yếu chứ không phải miễn cưỡng. Vì, nếu như ta vừa nói ở trên, sự lặp lại là mẹ của nỗi buồn chán thì ngành nhân khẩu học (vốn có tầm quan trọng trong đời sống của bạn lớn hơn nhiều so với tất cả những lĩnh vực ta vừa kể) là một bậc cha mẹ khác của nó. Điều này nghe như giọng của kẻ khinh ghét loài người, nhưng tôi nhiều gấp đôi tuổi các bạn, tôi đã sống và thấy dân số toàn cầu tăng lên gấp đôi. Đến khi bạn bằng tuổi tôi, con số đó sẽ tăng lên gấp bốn và không hoàn toàn trong hình hài mà bạn chờ đợi. Chẳng hạn, đến năm 2000, sẽ có sự cấu trúc lại văn hóa và tộc người thách thức lại ý niệm của bạn về nhân tính.

Riêng điều này thôi sẽ giảm thiểu những triển vọng về sự độc đáo, phát kiến như là thuốc giải độc cho sự buồn chán. Mà thậm chí trong một thế giới đơn sắc, rắc rối khác đối với sự độc đáo hay phát kiến lại chính là ở chỗ người ta có thể mua được nó – từ “mua” ở đây hoàn toàn theo nghĩa đen. Giả định rằng hoặc bạn có khả năng sáng tạo hoặc có khả năng tài chính, bạn sẽ nhanh chóng có đời sống sung túc, vương giả. Cuộc sống ấy có vẻ đáng khao khát thật đấy nhưng phần lớn chúng ta lại cũng nhớ ngay rằng không ai dễ chán nản như những người giàu có, vì tiền thì mua thời gian và thời gian thì mang bản chất của sự tái diễn, lặp lại. Giả định rằng bạn không sa vào cảnh khốn cùng – vì nếu không, có lẽ bạn đã không bước chân được vào trường đại học – người ta sẽ mong đợi bạn sẽ bị nỗi chán chường đánh gục ngay khi những công cụ làm bạn tự thỏa mãn sẵn có cho bạn.

Nhờ công nghệ hiện đại, những công cụ này giờ đây cũng nhiều vô số như những từ đồng nghĩa với buồn chán. Nhìn từ chức năng của chúng – trao cho bạn sự thừa mứa thời gian mà bạn không ý thức được – ta mới thấy chúng dồi dào như thế nào. Cùng với sự dồi dào của những công cụ này, ta cũng thấy rõ hơn ham muốn truy cầu quyền lực của chính chúng ta, thứ quyền lực ngày càng gia tăng, được thao túng bởi những cú nhấp, cú bấm một thứ máy móc nào đó khiến việc bạn bỏ về trong buổi lễ phát bằng này thôi cũng sẽ được cha mẹ hay họ hàng của mình nhìn thấy. Đấy là một cảnh tượng tiên tri, thưa các quý ông quý bà của khóa học 1989 này, vì các vị đang bước vào một thế giới nơi việc ghi lại một sự kiện sẽ thu nhỏ chính bản thân sự kiện – thế giới của các phương tiện nghe nhìn, điều khiển từ xa, trang phục thể thao, máy tập thể dục giúp bạn vừa vặn để sống lại quá khứ của mình hay của ai khác: những khoái cảm đóng hộp sẽ xác nhận thay cho những gì bằng xương bằng thịt.

Bất cứ thứ gì mang tính khuôn mẫu đều chất chứa chán chường. Điều này đúng với cả tiền bạc và đúng ở nhiều bình diện, cả ở trên tờ giấy bạc lẫn ở việc sở hữu chúng. Tất nhiên, nói thế không có nghĩa là quảng cáo cho sự nghèo khốn như là lối thoát khỏi sự buồn chán, dù dường như Thánh Francis đã làm theo đúng cách này. Tuy nhiên, trước tất cả sự tước đoạt xung quanh ta, ý tưởng về những phép tắc theo đường lối khổ tu kiểu mới có vẻ không phù hợp lắm trong thời đại Ky-tô video hóa này. Thêm nữa, các bạn trẻ, các bạn có lẽ hào hứng khi làm công việc từ thiện ở Nam Phi hay nơi nào đó khác hơn là ngay cạnh nhà mình, sẵn sàng từ bỏ nhãn hàng soda mình yêu thích hơn là mạo hiểm thử một thứ chất gây nghiện khác. Vì thế không ai quảng bá sự nghèo khốn cho các bạn cả. Tất cả những gì tôi muốn gợi ý ở đây chỉ là một chút hiểu biết hơn về tiền bạc, vì số không trong tài khoản của bạn lại có thể khơi dậy những năng lượng tinh thần bên trong bạn.

Về sự nghèo khốn, buồn chán là phần tàn nhẫn nhất trong nỗi khốn cùng của họ và xuất phát điểm từ đó, có những hình thức cực đoan hơn: nó dẫn đến những hành vi nổi loạn bạo lực hay nghiện ngập. Những hình thức giải thoát này đều chỉ có tình tạm thời mà nỗi khốn khổ lại là vô tận; và bởi sự vô tận này nên hai hình thức trên đều đòi phải trả giá. Nhìn chung, một người tiêm heroin vào tĩnh mạch của mình cũng có lý do từa tựa như khi ta mua một cuốn video: để né tránh sự thừa mứa thời gian. Song khác biệt ở chỗ anh ta tiêu tốn nhiều hơn anh ta nhận được, phương tiện giải thoát của anh ta cũng dồi dào không kém cái mà anh ta muốn thoát khỏi đồng thời chúng lại còn giúp anh ta giải thoát nhanh hơn cách của bạn nữa. Về cơ bản, sự khác biệt về mặt thủ thuật giữa một mũi xi-ranh với một nút bấm âm thanh nổi, nói một cách thô sơ, tương ứng với sự khác biệt giữa sự sắc nét và mờ đục của tác động thời gian lên kẻ không có và có. Tóm lại, dù nghèo hay giàu, sớm muộn gì bạn cũng sẽ bị khốn khổ bởi sự thừa mứa thời gian.

Rồi sẽ đến một ngày bạn sẽ thấy chán công việc của mình, chán bạn bè, chồng vợ, tình nhân, chán phong cảnh từ cửa sổ nhà mình, chán đồ đạc hay giấy dán tường trong phòng, chán nghĩ suy của mình, chán chính bản thân mình nữa. Rồi theo đó, bạn sẽ nghĩ đến những cách giải thoát. Ngoài những phương tiện giúp bạn tự thỏa mãn mà ở trên đã nói đến, bạn có thể nghĩ đến chuyển chuyển nghề, chuyển nơi ở, công ty, đất nước, vùng khí hậu; bạn cũng có thể bắt đầu sống phóng đãng hơn, sa vào rượu, mải mê xê dịch hay nấu nướng, mà cũng có thể xài ma túy hay cần đến những cách trị liệu phân tâm học.

Thực ra thì bạn có thể thử tất cả những giải pháp này và trong một lúc, có thể chúng sẽ hiệu nghiệm. Tất nhiên, cho đến một ngày, khi bạn tỉnh dậy trong phòng ngủ giữa một gia đình mới, với giấy dán tường mới, ở một bang khác, một khí hậu khác, với cả xấp hóa đơn của hãng du lịch và của văn phòng bác sĩ tâm thần, bạn sẽ lại nhìn thứ ánh sáng tràn qua ô cửa nhà mình với nỗi chán chường như xưa. Bạn lại muốn tiếp tục biếng lười chỉ để phát hiện ra rằng sự lười nhác ấy không đủ sức mạnh để nâng bạn khỏi những gì bạn nhận thức được. Tùy thuộc vào khí chất hay độ tuổi của bạn, bạn sẽ thấy hốt hoảng hoặc cam chịu chấp nhận sự quen thuộc của cảm giác; hoặc bạn cũng có thể một lần nữa thể nghiệm lại tất cả những giải pháp không đến đâu này.

Chứng loạn thần kinh chức năng và sự chán đời sẽ nhập vào kho từ vựng của bạn; đủ loại thuốc sẽ có mặt trong hộp thuốc của bạn. Về cơ bản, chẳng có gì sai khi biến cuộc đời thành sự truy tìm không ngừng những sự thay thế khác, thử nhảy việc, thay người yêu, thay môi trường như thay áo, miễn là bạn có đủ tiền để cấp dưỡng và trí nhớ không bị rối tung lên. Phương thức này, thực ra, đã được tôn vinh trên màn bạc và trong thơ ca lãng mạn rồi. Tuy nhiên, cái khó là ở chỗ đã từ lâu, cuộc kiếm tìm này trở thành một mối bận tâm choán hết thời gian, với nhu cầu của con người cần có cái gì đó thay thế tương tự như liều thuốc hàng ngày của một kẻ nghiện ma túy.

Song vẫn còn có cách khác để thoát khỏi tình trạng buồn chán này. Không hẳn là cách tốt hơn, từ điểm nhìn của bạn, và cũng không chắc chắn bảo đảm, nhưng trực tiếp và không đắt. Những ai từng đọc bài thơ “Servant to Servants” của Robert Frost có thể còn nhớ câu thơ này của ông: “Cách tốt nhất để thoát khỏi bao giờ cũng là đi qua”. Vì thế, những gì tôi gợi ra đây chính là một biến tấu từ câu thơ vừa dẫn.

Khi chạm mặt với nỗi buồn chán, hãy cứ điềm nhiên đón nhận. Hãy cứ để nó chà xát lên bạn, để nó nhấn mình xuống, vùi xuống tận đáy. Nói chung, với những thứ khó chịu, quy luật là, càng sớm chạm đáy bao nhiêu, bạn càng nhanh nổi lên bấy nhiêu. Ý tưởng ở đây là, để nhắc lại một nhà thơ vĩ đại khác của văn chương Anh ngữ, hãy nhìn thật chăm chú vào chính điều tồi tệ nhất. Lý do để sự buồn chán xứng đáng được chú mục là nó phản ánh dòng thời gian thuần khiết, nguyên chất trong tất cả vẻ lộng lẫy được lặp đi lặp lại, trở thành thừa mứa, đơn điệu của nó.

Nói theo cách nào đó, nỗi chán chính là cửa sổ của bạn để nhìn thời gian, nhìn về những đặc điểm của nó mà người ta vốn muốn phớt lờ đi, xem như thể mối nguy đối với trạng thái cân bằng tinh thần của mình. Nói gọn hơn, nó là cửa số để bạn nhìn thấy sự vô tận của thời gian, điều đó cũng có nghĩa là bạn nhìn thấy ý nghĩa của chính mình. Có lẽ điều này giải thích vì sao người ta có thể ngồi lặng thẫn thờ trong những buổi chiều cô quạnh, vì sao người ta đôi khi lại có khoái thú ngắm những hạt bụi li ti cuộn bay lửng lơ trong nắng, và ở đâu đó, đồng hồ điểm nhịp đều đều, ngày thì nóng nực và sức mạnh ý chí của con người chỉ còn là không.

Khi cảnh cửa này mở ra, đừng cố đóng sập nó; ngược lại, hãy mở toang nó ra. Vì nỗi chán nói ngôn ngữ của thời gian, chính nó sẽ dạy bạn những bài học giá trị nhất trong cuộc đời – những bài học bạn sẽ không thu nhận được ở đây, trên những bãi cỏ xanh này – bài học về sự vô nghĩa tuyệt đối của bạn. Điều này thực sự rất ý nghĩa với bạn đấy, và cả với những người mà bạn đang tựa vai vào nữa. “Mi là thân phận hữu hạn”, thời gian nói với ta như thế, bằng giọng của sự buồn chán, “và bất kể mi làm cái gì, từ điểm nhìn của ta, đều là vô nghĩa cả.” Giống như âm nhạc vẳng bên tai bạn, điều này, cố nhiên, cũng có thể chẳng mấy quan trọng; tuy nhiên cảm quan về sự vô nghĩa, về ý nghĩa rất hạn chế của ngay những hành động tốt nhất, nhiệt huyết nhất của bạn vẫn tốt hơn những ảo tưởng về kết quả từ những hành động ấy và từ sự phóng đại bản thân đi kèm.

Vì nỗi chán là sự xâm nhập của thời gian vào trong tập hợp những giá trị của bạn. Nó đặt sự hiện sinh của bạn vào trong góc nhìn của nó – một mạng lưới, mà từ góc nhìn này, ta sẽ thấy ta chính xác và nhỏ bé. Cần nhớ rằng việc đặt mình vào góc nhìn thời gian sẽ làm phát sinh cảm thức về sự hiện hữu của chính mình. Càng hiểu rõ sự nhỏ bé của mình bao nhiêu, ta càng khiêm nhường hơn, càng dễ cảm thông hơn với những gì nhỏ bé như chính mình, như hạt bụi lửng lơ trong nắng kia hay đang nằm yên trên bàn của bạn. Đã bao cuộc đời đã hóa thành những hạt bụi li ti này? Không phải từ điểm nhìn của bạn, mà từ điểm nhìn của bụi mới khơi lên nỗi băn khoăn ấy. Tương quan giữa ta và bụi không khác gì tương quan giữa ta với thời gian; đó là lý do vì sao trông bụi lại nhỏ nhoi đến thế. Và bạn có biết bụi nói gì khi ta lau nó đi trên bàn không?

“Nhớ tôi nhé bạn,

Hạt bụi thầm thì”

Sẽ chẳng có gì đi xa khỏi lịch trình tinh thần của bất kỳ ai trong các bạn, những con người trẻ trung, tươi mới, hơn là tình cảm được biểu hiện ở hai câu thơ trên của nhà thơ Đức, Peter Hutchel, người nay đã qua đời.

Tôi trích dẫn hai câu thơ ấy không phải vì tôi muốn gieo nơi các bạn niềm trắc ẩn đối với những sự vật nhỏ bé – hạt giống, cỏ cây, cát, muỗi – chúng đều nhỏ và đồng thời cũng rất nhiều. Tôi trích dẫn chúng vì tôi thích, vì tôi nhận ra bản thân mình trong hai câu thơ ấy, rằng, bất cứ một sinh vật sống nào cũng sẽ đến lúc bị chùi, bị quét khỏi bề mặt hiện có. Nhớ tôi nhé bạn/Hạt bụi thầm thì. Và người ta sẽ nghe được lời thầm thì đó nếu như ta học về chính bản thân mình từ thời gian, và có lẽ thời gian, đến lượt nó, sẽ học được gì đó từ chính chúng ta. Đó sẽ là điều gì? Không phải là cái gì to tát về ý nghĩa lắm đâu, nhưng chúng ta hơn thời gian ở khả năng nhạy cảm.

Và đấy là điều tôi muốn nói – đừng sợ sự vô nghĩa. Nếu phải cần đến một sự buồn chán đến tê liệt ý chí để trải nghiệm sự vô nghĩa này thì hãy cứ xin chào nỗi buồn. Bạn vô nghĩa vì bạn hữu hạn. Nhưng một sinh thể càng hữu hạn bao nhiêu, nó lại càng chất đầy sự sống, xúc cảm, hoan lạc, sợ hãi, cảm thông bấy nhiêu. Vì cái vô hạn lại không chứa thật đầy sự sống, thật đầy cảm xúc. Nỗi buồn chán của bạn, ít nhất, nói với bạn về điều ấy rất nhiều. Vì nỗi buồn chán của bạn là nỗi buồn chán về sự vô hạn.

Vậy đó, hãy trân trọng cội nguồn của nó – như thể đấy cũng chính là cội nguồn của bạn. Vì nó là sự tiên cảm về cái vô hạn trơ ì, thiếu vắng sự sống động, điều này lý giải cho độ căng của những tình cảm nhân tính, thường dẫn đến một hình dung về một cuộc sống mới. Nói như thế không có nghĩa là bạn được hình thành từ sự buồn chán, hay cái hữu hạn này phát sinh cái hữu hạn kia (dù cả hai có thể đều đúng). Đúng hơn, nó cho thấy đam mê chính là đặc quyền của sự vô nghĩa.

Và vì thế, hãy nuôi dưỡng đam mê, hãy trả sự hững hờ, lãnh đạm của bạn cho những vì sao. Đam mê, hơn tất thảy, là phương thuốc chống lại nỗi buồn chán. Một phương thức khác, dĩ nhiên, là sự đớn đau – nỗi đau trên phương diện thể xác cũng có ý nghĩa không kém nỗi đau tinh thần, hậu quả thường xuyên của đam mê; mặc dù thật lòng tôi không muốn các bạn phải nếm trải đớn đau cả ở thể xác lẫn tinh thần. Thế nhưng, khi bạn đau, ít nhất, bạn biết rằng bạn không bị đánh lừa (bởi thân thể hay tinh thần của bạn). Vì vậy, điều tích cực của nỗi buồn chán, sầu muộn, cảm giác về sự vô nghĩa của chính mình, của sự hiện hữu của mọi thứ khác là ở chỗ đó không phải là sự đánh lừa.

Bạn có thể thử đọc tiểu thuyết trinh thám, xem phim hành động – những thứ sẽ để bạn ở lại nơi bạn chưa từng ở đó, nếu xét về mặt tinh thần, hình ảnh hay ngôn từ – không gian ấy sẽ được duy trì liên tục, nhưng chỉ trong đôi ba giờ đồng hồ. Hãy tránh xa ti vi, nhất là đừng loay hoay chuyển kênh này kênh nó – đó là hiện thân của sự thừa mứa. Thế nhưng nếu những giải pháp này thất bại thì cứ để nỗi buồn xâm chiếm bạn, “nương tâm hồn mình theo dải ánh sáng mờ mờ ảm đạm đang lớn dần, lớn dần”. Hãy ôm lấy, hay hãy để nó ôm lấy bạn, nỗi buồn chán, muộn phiền ấy. Nó, dù sao đi nữa, cũng rộng lớn hơn bạn. Chắc chắn bạn sẽ cảm thấy nội tâm mình trĩu nặng, thế nhưng hãy cố chịu đựng điều đó đi, ở mức cao nhất bạn có thể chịu đựng, thậm chí thêm một chút cũng được. Trên hết, đừng nghĩ hình như trên đường đời mình đã đi, có một nơi nào đó tử tế hơn, đừng cố tìm lại dấu chân mình để sửa chữa sai lầm. Không, như nhà thơ đã nói, “Hãy tin vào nỗi đau của bạn.” Nỗi sầu muộn ôm xiết lấy bạn, làm bạn ngạt thở, nhưng đó không phải là sự nhầm lẫn. Hãy cứ khổ đau đi, đó không phải là sự quấy rầy. Hãy nhớ rằng không có sự ôm xiết nào trên thế giới này mà cuối cùng bạn lại không tìm được cách nới ra.

Nếu bạn cho rằng tôi đang nói những điều thật ảm đạm, có lẽ bạn chưa hiểu thế nào là sự ảm đạm. Nếu bạn thấy những điều này thật chẳng liên quan gì đến mình, tôi hy vọng thời gian sẽ chừng minh là bạn đúng. Nếu bạn bực bội vì tại sao tôi lại nói với các bạn những điều như thế trong một dịp trang trọng như hôm nay, tôi sẽ không đồng ý đâu.

Đúng, ngày hôm nay là lễ kỷ niệm thời gian học tập tại trường của các bạn, nhưng đồng thời nó cũng đánh dấu sự xuất phát của các bạn. Ngày mai thôi, bạn sẽ rời khỏi trường vì cha mẹ của các bạn chỉ trả học phí cho bốn năm học của bạn mà thôi, không thêm một ngày nào. Vì thế, bạn phải đi đến một nơi nào đó, lập nghiệp, kiếm tiền, xây dựng gia đình, gặp gỡ định mệnh dành riêng cho bạn. Về cái nơi nào đó chưa xác định được ấy, không có ngôi sao nào cho ta biết trước, mà các ngôi sao cũng đâu có để ý rằng hôm nay là buổi lễ ra trường của hơn một ngàn tân cử nhân trẻ trung.

Bạn sẽ rời khỏi nơi này, những thành viên của khóa học 1989. Bạn sẽ bước vào thế giới, nơi  sẽ rậm rạp hơn rất nhiều cánh rừng trong khuôn viên của trường này, nơi bạn sẽ ít được chú ý hơn rất nhiều so với bốn năm đại học. Bạn đang đi một mình trên con đường lớn. Để nói về ý nghĩa, về tầm quan trọng của bạn ư, hãy cứ so sánh tương quan giữa 1.100 các bạn, những tân cử nhân của trường Dartmouth này với dân số 4.9 tỉ của nhân loại này. Sự thận trọng, khiêm nhường, bởi thế, cũng cần thiết trong dịp này không kém niềm kiêu hãnh, vinh dự.

Tôi không chúc các bạn điều gì hơn ngoài sự hạnh phúc. Thế nhưng sẽ còn nhiều những giờ khắc tối tăm, mà tệ hơn nữa, trống rỗng mà thế giới bên ngoài cũng như chính tâm trí của bạn tạo ra. Bạn cần phải được làm cho trở nên bình tinh để đối mặt với chúng theo cách nào đó, đấy cũng là việc tôi gắng làm ở đây, theo cái cách của một kẻ vốn dĩ yếu đuối, dù hiển nhiên điều này là không đủ.

Vì phía trước bạn là một hành trình thú vị đấy, nhưng cũng mỏi mệt: hôm nay, nói một cách hình ảnh, bạn đang lên một chuyến tàu. Không ai có thể nói với bạn những gì đón đợi ở phía trước, nhất là những người còn ở lại phía sau. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn đó không phải là một hành trình theo đường vòng. Vì thế, hãy cố tìm một vài sự động viên, an ủi từ ý niệm rằng bất kể sân ga này hay sân ga kia có ngột ngạt, bốc mùi, xấu xí thế nào đi nữa thì con tàu cũng đâu có dừng ở đó mãi. Như vậy, bạn chẳng bao giờ bị mắc kẹt cả – thậm chí ngay cả khi bạn cảm tưởng thế, nơi chốn hôm nay sẽ trở thành quá khứ của bạn. Từ giờ trở đi, nơi này sẽ lùi lại, sẽ khuất sau lưng bạn vì con tàu kia không ngừng chạy. Nó vẫn cứ sẽ lùi lại, khuất dần ngay cả khi bạn nghĩ mình đang bị tắc lại… Vì thế, hãy nhìn lại lần cuối nơi này, dẫu không gian này chỉ có quy mô rất bình thường, dẫu nó còn chưa đi vào một bức ảnh nào. Hãy nhìn nơi đây với tất cả sự dịu dàng mà bạn có, vì bạn đang lặng ngắm quá khứ của mình đấy. Nói thế nào nhỉ, hãy nhìn chăm chú nơi đây như nhìn điều tốt đẹp nhất. Vì tôi ngờ rằng bạn còn có thể thấy nơi nào đẹp hơn nơi đây.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Joseph Brodsky, “In Praise of Boredom”, in trong On Grief and Reason – Essays, NY: Farrar Straus Giroux 1996, trang 104-113.

Octavio Paz – Joseph Brodsky – Ko Un – Nói về thơ

Octavio Paz (Nhà thơ Mexico – Giải Nobel Văn học 1990)

Giọng nói khác

octavio-paz-120812

… Giữa cách mạng và tôn giáo, thơ là giọng nói khác. Thơ là giọng nói khác bởi lẽ đó là giọng nói của đam mê và của tưởng tượng. Đó là giọng nói của một thế giới khác và cũng là của thế giới này, của những dĩ vãng xa xưa và đồng thời của chính ngày hôm nay, một thời cổ đại không ngày tháng. Dị giáo và sùng mộ, ngây thơ và đồi trụy, trong trẻo và âm u, lơ lửng trên không và chìm sâu dưới đất, thuộc về những tu viện và thuộc về những quán rượu bình dân, nằm trong tầm tay và luôn ở nơi xa. Mọi thi sĩ trong những khoảnh khắc của thơ ca, dù ngắn hay dài, đều nghe thấy giọng nói khác ấy, nếu họ là thi sĩ đích thực. Đó là giọng nói của họ, của ai đó khác, của không ai khác nữa, của không ai cả và của tất cả. Chẳng có gì phân biệt nhà thơ với những người đàn ông hay đàn bà khác ngoại trừ nhưng khoảnh khắc ấy – những khoảnh khắc đặc biệt nhưng cũng thường xuyên – lúc đó, khi là chính mình, họ là kẻ khác. Đó là sự sở hữu những sức mạnh và quyền năng lạ kỳ, sự xuất hiện bất ngờ của một khối tri thức về tâm linh vốn bị vùi chôn nơi sâu kín, riêng tư nhất của nhà thơ hay chỉ là một năng lực cá biệt kết hợp từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, hình thức? Không dễ để trả lời những câu hỏi như vậy. Song tôi không tin thơ đơn thuần chỉ là một thứ năng lực. Mà ngay cả nếu có như thế thì năng lực đó đến từ đâu? Tóm lại, dù có là gì đi nữa, điều chắc chắn là sự lập dị phi thường nhất của hiện tượng thơ gợi ta liên tưởng đến một thứ bệnh ốm vẫn còn đợi sự chẩn đoán của bác sĩ. Y học cổ đại, và cả triết học cổ đại nữa, bắt đầu từ Plato, đã gắn năng lực sáng tạo thơ ca với trạng thái rối loạn tâm thần. Một trạng thái nghiện, nói khác đi, một cơn cuồng nộ linh thiêng, một thứ nhiệt hứng, một sự chuyên chở. Nhưng nghiện chỉ một cực của tình trạng rối loạn; cực kia là sự khuyết diện, sự trống rỗng bên trong, là “sự lãnh đạm sầu muộn” mà nhà thơ nói đến. Đầy và rỗng, thăng hoa và sa giáng, nhiệt hứng và sầu muộn: thơ là thế…

Sự cá biệt của thơ ca hiện đại không bắt nguồn từ những ý niệm hay khuynh hướng của nhà thơ mà từ giọng của anh ta. Nghĩa là, từ âm sắc của giọng nói đó. Chính sự chuyển giọng (modulation) không thể xác định nhưng không thể nhầm lẫn được này khiến giọng nói của nhà thơ trở thành giọng nói khác. Đó là dấu hiệu không phải của tội lỗi nguyên thủy mà của sự khác biệt nguyên thủy. Tính hiện đại phản hiện đại của thơ ca thời đại chúng ta, nền thơ ca bị giằng xé giữa cách mạng và tôn giáo, do dự giữa tiếng khóc của Heraclitus và tiếng cười của Democritus, là một sự vi phạm (transgression). Nhưng đó là sự vi phạm dường như luôn không chủ đích, không gắn với ý định của nhà thơ. Nó òa vỡ ra, như tôi đã nói, từ một sự khác biệt nguyên thủy; nó không phải là một sự bổ sung hay gắn thêm vào một cách giả tạo giống như một cái răng hay một mớ tóc giả. Sự vi phạm này là bản chất của thơ của thơ Hiện Đại. Lý do cho sự cá biệt này là tính lịch sử. Một bài thơ có thể mang phẩm chất hiện đại ở chủ đề, ngôn ngữ, hình thức của nó, nhưng bởi bản chất sâu sắc của nó, giọng nói của thơ là giọng nói phản hiện đại, biểu đạt những thực tại không những xa xưa hơn rất nhiều những biến động của lịch sử mà còn không thẩm thấu được những đổi thay này. Kể từ thời kỳ đồ đá cũ, thơ đã là một phần trong đời sống của toàn bộ các xã hội của loài người; không có một xã hội nào tồn tại mà không từng biết đến một hình thức nào đó của thơ ca. Nhưng dẫu bị ràng buộc với một mảnh đất đặc thù và một lịch sử đặc thù, thơ luôn luôn mở về phía xa hơn, xuyên lịch sử, trong mọi biểu hiện của nó. Tôi không có ý nói rằng cái khoảng xa hơn mà thơ mở ra ấy giống như một ý niệm tôn giáo: tôi đang nói đến sự hình dung về một phía khác của thực tại. Hình dung đó là điểm chung của con người ở mọi thời đại; nó là một thứ kinh nghiệm mà dường như đối với tôi, có trước mọi tôn giáo và triết học…

Như nhiều người đã nói, giờ đây, chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi lớn lao. Chúng ta băn khoăn không biết mình đang trải nghiệm sự cuối kết của tính hiện đại hay là sự đổi mới của nó. Chức năng của thơ ở thời điểm này sẽ là gì? Nếu, như tôi hy vọng và tin tưởng, một hình thái tư tưởng chính trị mới đang hiện hình, những người sáng tạo nên hình thái tư tưởng chính trị ấy sẽ phải biết ơn giọng nói khác. Giọng nói đó không phải được cất lên bởi những nhà tư tưởng cách mạng của thời đại chúng ta và điều này lý giải, ít nhất là một phần, sự thất bại thảm hại của những dự phóng mà họ theo đuổi. Sẽ là thảm họa nếu triết học chính trị mới không chú ý đến những hiện thực bị vùi chôn, che giấu bởi những người đàn ông và những người đàn bà của thời kỳ hiện đại. Chức năng của thơ, trong khoảng 200 năm qua, là nhắc ta nhớ đến sự tồn tại của những hiện thực ấy; thơ ca của ngày mai cũng không thể làm gì khác hơn. Nhiệm vụ của nó không phải là cung cấp những tư tưởng mới mà là nói lên những gì đã bị quên lãng một cách dai dẳng suốt nhiều thế kỷ. Thơ là ký ức trở thành hình ảnh, và hình ảnh trở thành giọng nói. Giọng nói khác không phải là giọng nói từ bên kia huyệt mộ: đó là giọng nói của con người ngủ vùi ngay ở trung tâm trái tim nhân loại. Giọng nói ấy đã có cả nghìn năm tuổi, nó bằng tuổi của tôi và của bạn và đồng thời, nó vẫn còn chưa được sinh ra. Nó là ông bà của ta, anh em của ta và là con cháu của ta…

Có thể nói không phóng đại rằng chủ đề chính trong những ngày cuối cùng của thế kỷ của chúng ta không phải là tổ chức chính trị hay tái cấu trúc các xã hội mà là một câu hỏi khẩn thiết hơn: Làm thế nào để chúng ta có thể đảm bảo cho sự tồn tại của nhân tính? Đối mặt với thực tại này, thơ ca có thể làm được gì? Cái giọng nói khác kia phải nói những gì? Như tôi đã nói trước đó, nếu một hình thái tư tưởng chính trị mới được hình thành, ảnh hưởng của thơ ca sẽ là gián tiếp: nó nhắc chúng ta nhớ đến những hiện thực nào đó bị vùi lấp, khôi phục chúng trở lại đời sống và thể hiện chúng. Và đối mặt với câu hỏi về khả năng tồn tại của loài người trên một hành tinh bị nhiễm độc và tàn phá, thơ ca không thể có cách phản ứng nào khác. Ảnh hưởng của thơ ca phải là thứ ảnh hưởng gián tiếp: nó nhắn nhủ, khơi mở, gợi hứng. Không phải là bằng cách chứng minh một cách logic mà chỉ là trình bày ra.

Hải Ngọc trích dịch

Nguồn: Octavio Paz, The Other Voice- Essays on Modern Poetry, Harcourt Brace Jovanovich, Publishers, 1991.

Joseph Brodsky (Nhà thơ Nga lưu vong – Giải Nobel Văn học 1987)

Thơ như là hình thức kháng cự thực tại

joseph-brodsky-2

Thế kỷ XX, nay đã sắp đi hết chặng đường của mình, dường như đã bắt tất cả các nghệ thuật khác phải khuất phục, trừ thơ. Được nhìn nhận như một thứ ít mang tính biên niên hơn và đồng thời được xưng tụng nhiều hơn, lịch sử đã áp đặt cái hiện thực của nó lên nghệ thuật. Cái chúng ta ngụ ý khi nói về mỹ học hiện đại không có gì khác hơn là những tiếng ồn của lịch sử giáng xuống, lấn át bài ca của nghệ thuật. Mọi thứ chủ nghĩa vừa là bằng chứng, trực tiếp hay gián tiếp, về sự thất bại của nghệ thuật, vừa là một vết sẹo phủ lên nỗi tủi hổ vì sự thất bại này. Mặc dù nói như thế có thể là thô thiển nhưng thực tế hiện sinh đã chứng minh có thể xác định được ý thức của người nghệ sĩ và bằng chứng của điều này có thể tìm thấy ở phương tiện mà người nghệ sĩ sử dụng. Bởi vậy, mọi đề cập về phương tiện, tự nó, đã là dấu hiệu của sự thích nghi…

Đối với văn học (và đặc biệt là thơ ca), bất cứ cố gắng nào muốn dùng hai cuộc thế chiến, vũ khí hạt nhân, những biến động xã hội hay sự thần thánh hóa các phương pháp trấn áp để biện hộ (hay giải thích) cho sự xói mòn, cạn kiệt của các hình thức và thể loại đơn giản là một sự lố bịch, nếu không muốn nói là một sự xúc phạm, trong sự không tương xứng của nó. Con người cá nhân không định kiến khúm núm trước ngọn núi của những thân xác đã khai sinh con chuột thơ tự do. Hắn còn khúm núm hơn nữa trước những đòi hỏi ở những thời đại ít kịch tính hơn, trong những thời kỳ bùng nổ dân số, muốn biến con chuột này trở thành con bò thiêng.

Không có gì hấp dẫn hơn đối với trí tưởng tượng nhạy cảm hơn là thứ bi kịch có sức lan tỏa; nó trao cho người nghệ sĩ cảm quan về “sự khủng hoảng của thế giới” mà không đe doạ trực tiếp sự giải phẫu của chính anh ta. Chẳng hạn, các trường phái, trào lưu trong hội họa thường nảy nở nhiều chính tại những thời kỳ thịnh vượng và yên bình. Sự trùng hợp ngẫu nhiên này, cố nhiên, có thể phản ánh nỗ lực hồi phục sau những thảm họa, hoặc để hiểu hơn về chúng. Tuy nhiên, dường như chính những người đã trải qua bi kịch không xem họ là nhân vật trung tâm và không thật sự để ý đến những phương tiện mà nhờ đó, bi kịch được biểu hiện, họ là hiện thân của chính họ mà thôi.

Thế giới quan bi kịch, sự nguyên tử hóa và phân mảnh ý thức hiện đại, vân vân, đang trở thành một xu hướng phổ biến hiện nay đến mức việc diễn đạt chúng hay sử dụng những phương tiện liên quan đến chúng chỉ hơn mức thỏa mãn những đòi hỏi của thị trường một chút mà thôi. Xác nhận những mệnh lệnh của thị trường về bản chất cũng là những mệnh lệnh của chính lịch sử, do đó, không đơn thuần là một sự phóng đại vô cảm. Đòi hỏi cách tân nghệ thuật, cũng như ý thức đấu tranh vì cái mới ở người nghệ sĩ, chứng minh cho sự phong phú của trí tưởng tượng hay tiềm năng của chất liệu ít hơn là chứng minh cho sự tổn thương của nghệ thuật trước thực tế của thị trường và mong muốn của người nghệ sĩ muốn hợp tác với nó.

Sự phi logic, sự biến dạng, tính trừu tượng, sự chói tai, phi mạch lạc, những kết hợp tùy tiện, trận lụt của vô thức – tất cả những yếu tố của mỹ học hiện đại, về mặt lý thuyết, đều được sử dụng, một cách riêng rẽ hay kết hợp với nhau, để biểu đạt những trạng thái tâm lý hiện đại, song trên thực tế, lại là những phạm trù của thị trường một cách nghiêm ngặt, đấy là cái thực tế mà bảng giá của thị trường đã xác nhận. Một gợi ý rằng hình dung về thế giới của người nghệ sĩ phải phức tạp hơn, rắc rối hơn hình dung của công chúng (ở đâu không đề cập đến những bậc thầy sáng tạo tiền bối của anh ta) thực chất là một gợi ý cực kỳ phản dân chủ và không thuyết phục, vì tất cả các hoạt động của nhân loại, trong hay sau những thảm họa, đều dựa trên tính cấp thiết của sự diễn giải, phụ thuộc vào sự diễn giải.

Nghệ thuật là một hình thức kháng cự lại sự bất toàn của hiện thực, cũng như là một cố gắng để sáng tạo nên một hiện thực khác mà con người hy vọng nó sẽ sở hữu những dấu hiệu của cái có thể nhận thức được, có thể hiểu được, nếu không phải là cái có thể đạt được, cái hoàn thiện. Khoảnh khắc nghệ thuật từ bỏ nguyên tắc của cái tất yếu và cái khả thụ cũng là khoảnh khắc mà nó từ bỏ vị trí của mình, cam chịu làm chức năng trang trí đơn thuần. Đó là số phận của một phần lớn trào lưu tiên phong của nghệ thuật châu Âu và Nga mà vòng nguyệt quế của chúng vẫn còn khiến cho nhiều người mất ngủ. Cả “vòng nguyệt quế” lẫn “tiền phong”, một lần nữa, về bản chất, đều là những khái niệm của thị trường.

Ý niệm về những “phương tiện mới” được sử dụng bởi người nghệ sĩ “đi nhanh hơn sự tiến bộ” chỉ phản ánh ý niệm lãng mạn về người nghệ sĩ như là “người được lựa chọn”, một dạng Demiurge (Đấng sáng tạo). Cho rằng cái mà người nghệ sĩ cảm thấy, hiểu được, biểu đạt luôn là cái gì đó mà người bình thường không thể đạt được không hề thuyết phục hơn mệnh đề nỗi đau thể xác của người nghệ sĩ, sự đói khát hay cảm giác thỏa mãn về tình dục ở anh ta mãnh liệt hơn so với người bình thường. Nghệ thuật đích thực luôn là một thứ nghệ thuật dân chủ chính là ở chỗ nó không có mẫu số nào chung, trong cả xã hội và lịch sử, ngoài cảm quan rằng thực tại là bất toàn và một khả thể khác, tốt đẹp hơn là cái có thể tìm kiếm được…

Hải Ngọc trích dịch

Nguồn:  Joseph Brodsky, “Poetry as a Form of Resistance to Reality”, PMLA, Vol.107, No.2, (Mar.1992), p.220-225.

Ko Un (Nhà thơ Hàn Quốc)

Bản chất con người tự nó đã mang thi tính

KoUn

Nỗi buồn là mẹ của thơ. Trên thực tế, đã mang thân phận người tức là đã mang theo nỗi buồn; kể cả tình yêu cũng là nỗi buồn. Ở phương Đông, hình tượng Đức Quan Âm là hình tượng của nỗi cảm thông nhưng cũng là một hình ảnh buồn; ở phương Tây, chúng ta có hình ảnh Đức Mẹ mang nỗi buồn của người nữ đồng trinh. Và nhà thơ là bạn của nỗi buồn, nhưng tôi không dám chắc liệu trong những thế kỷ tới, mỗi quan hệ giữa con người và nỗi buồn liệu có vẫn còn nguyên; văn hóa sẽ thay đổi, sẽ có nhiều khác biệt…

Tôi cho rằng nhà thơ không phải là thầy của người khác, mà là một người bạn. Khi người khác buồn phiền hay đau ốm, nếu không có nhà thơ để nói về điều đó, vậy sẽ là cái gì thay thế? Tuy nhiên, về cái Tôi của nhà thơ, tự bản thân tôi cảm thấy ngờ vực chữ Tôi ấy. Dường như đây là thời đại của cái Tôi cá nhân. Tôi hoài nghi cái Tôi hiện đại này, vì cái Tôi đó càng mạnh mẽ bao nhiêu thì nó càng làm cho kẻ/cái khác bị thu nhỏ đi và xa cách hơn bấy nhiêu…

Cái Tôi đích thực phải hàm chứa nhiều người khác; chỉ khi ấy thơ ca mới có thể khơi dậy những phản ứng tích cực. Ngày nay, nhìn vào thơ ca Hàn Quốc và thơ ca thế giới nói chung, dường như thơ không còn chứa đựng những lịch sử lớn nữa mà ngày càng tự dịch chuyển mình và trở thành một thung lũng nhỏ hẹp của bản ngã. Dĩ nhiên, nhà thơ phải là một cá nhân với đời sống bên trong sâu thẳm nhưng sẽ chẳng là gì nếu đó chỉ là thế giới bên trong của riêng anh và anh không thể thoát ra khỏi nó.

… Mọi người sinh ra đã là một thi sĩ hoặc đã được sinh ra trong chất thơ. Tôi đã viết như thế, từ những trải nghiệm của mình về đạo Phật. Phật giáo bảo rằng mọi giống hữu tình đều mang Phật tính; như theo cách suy nghĩ của tôi thì Phật tính tự bản thân nó đã là thi tính. Bản chất con người tự nó đã mang thi tính. Đó là quan niệm đã xuyên suốt sáng tác của tôi.

Hải Ngọc  trích dịch

Nguồn: Ko Un, “Human Nature Itself is Poetic”, an interview with Patricia Donegan, Manoa, Vol.18, No.1, 2006, p. 1-8.

Joseph Brodsky – Để đọc một cuốn sách

Ảnh

(Bài nói chuyện tại lễ khai mạc hội chợ sách Turin (Italy) lần thứ I, tháng 5-1989)

Ý tưởng về một hội chợ sách ở thành phố nơi cách đây một thế kỷ, Nietzsche đã bị mất trí nhớ, đến lượt nó, tạo thành một vòng tròn tuyệt đẹp. Điều này giống như một dải Mobius (thường được hiểu nhiều hơn như là một vòng luẩn quẩn) vì một vài gian hàng tại hội chợ sách này có trưng bày toàn tập hoặc tuyển tập tác phẩm của tác gia người Đức vĩ đại này. Nhìn chung, sự vô hạn là một phương diện hoàn toàn có thể cảm thấy được trực tiếp của ngành xuất bản vì nó mở rộng sự hiện hữu của một tác giả quá cố vượt ra bên ngoài những giới hạn mà ông ta hình dung được cũng như có thể cung cấp cho một tác giả còn đang sống một tương lai mà tất cả chúng ta đều muốn xem nó như là bất tận.

Nói chung, sự hữu hạn của đời sách thực ra nào bằng sự hữu hạn của đời người. Thậm chí những cuốn sách tệ nhất cũng sống lâu hơn tác giả của chúng – chủ yếu vì chúng chiếm một ví trí nhỏ hơn trong không gian vật chất so với người viết ra chúng. Thường thì chúng ngồi trên giá sách phủ bụi trong khi bản thân tác giả thì đã biến thành một nắm bụi. Thế nhưng ngay cả hình thức của tương lai này vẫn còn khả dĩ hơn ký ức của vài họ hàng, bạn bè còn sống, thứ ký ức người ta không thể tin cậy được và thường thì chính sự thèm muốn về đời sống sau khi chết này đã thôi thúc người ta cầm bút.

Vì thế, khi chúng ta loay hoay với những vật thể hình chữ nhật này trong tay-những cuốn sách khổ mười, khổ bốn, khổ 12, v.v…- chúng ta không sai lầm đâu nếu nghĩ rằng mình đang mơn trớn trên tay, nói theo cách nào đó, cái bình tro thật sự hay tiềm năng của thân phận trở về cát bụi của mình. Rút cục, cái đi vào sự viết một cuốn sách – dù đó là tiểu thuyết, một luận văn triết học, một tuyển tập thơ, một cuốn tự truyện, một tác phẩm có nội dung giật gân – cuối cùng cũng vẫn chỉ là cuộc đời duy nhất của một con người: dù tốt dù xấu nhưng bao giờ cũng hữu hạn. Ai đó đã nói rằng triết lý hóa là cách tập chết – người đó nói đúng theo nhiều nghĩa, vì chẳng có ai trở nên trẻ hơn bằng việc viết một cuốn sách cả.

Cũng chẳng có ai trở nên trẻ hơn bằng việc đọc một cuốn sách. Chính vì thế, một cách tự nhiên, chúng ta thiên vị hơn cho những cuốn sách hay. Song nghịch lý nằm ở chỗ, trong văn chương, cũng như ở hầu hết mọi chỗ khác, “hay” không phải là một phạm trù tự trị: nó được xác định trong sự phân biệt với cái “dở”. Hơn thế, để viết một cuốn sách hay, một nhà văn hẳn phải đọc một lượng kha khá những cuốn sách tầm thường – nếu không anh ta sẽ không thể hình thành được sự phê phán cần thiết. Điều này có thể trở thành lời biện hộ tốt nhất của thứ văn chương dở trong ngày Phán xử cuối cùng; đấy cũng là lý do của buổi lễ mà chúng ta tham gia ngày hôm nay.

Vì chúng ta ai rồi cũng chết, và vì đọc sách là tiêu tốn thời gian, chúng ta phải nghĩ ra một hệ thống cho phép ta có được một thứ giống như sự tiết kiệm. Tất nhiên, có lý do nào để chối từ khoái cảm được ngủ đông trong một cuốn tiểu thuyết xoàng dày dặn, chậm rãi; song chúng ta đều biết mình chỉ có thể phép thỏa mãn bản thân đến mức đó mà thôi. Cuối cùng thì  ta đọc không phải chỉ để đọc mà để biết, để học. Do đó mà nảy sinh nhu cầu về sự giản lược, cô đọng, pha trộn – về những tác phẩm đem những tình thế phức tạp, khó khăn của con người, với tất cả sự đa dạng của chúng, vào một tiêu điểm có thể quan sát rõ nét nhất; nói khác đi, chúng ta có muốn đi tắt. Và cũng do đó, như là một sản phẩm phụ của lòng hoài nghi trong chúng ta, rằng có hay không những con đường tắt (và quả là có, nhưng về vấn đề này, ta sẽ nói sau)- nảy sinh nhu cầu cần có một chiếc la bàn nào đó giữa mênh mông biển sách được in ra.

Vai trò của chiếc la bàn ấy, hiển nhiên, được đảm nhận bởi các nhà phê bình văn học, các cây bút điểm sách. Những hỡi ôi, chiếc kim la bàn ấy dao động dữ dội. Cái là hướng bắc, đối với vài người thì theo những người khác lại là hướng nam (điểm hình là trường hợp Nam Mỹ); mức độ dao động còn mạnh hơn đối với hướng đông – hướng tây. Khó khăn đối với người điểm sách, ít nhất, là ở ba điểm: (a) anh ta có thể là một tay viết thuê, và cũng có thể ngu ngốc như chúng ta; (b) anh ta có thể có thiên kiến mạnh đối với một số lối viết hoặc đơn giản là người hợp tác với bên xuất bản; (c) nếu anh ta là một nhà văn tài năng, anh ta sẽ biến bài điểm sách của mình thành một hình thức nghệ thuật độc lập – Jorge Luis Borges là một trường hợp như thế – và như thế có thể bạn thà đọc bài điểm sách hơn là bản thân cuốn sách.

Trong bất cứ trường hợp nào, bạn đều thấy mình trôi dạt giữa đại dương, với từng trang, từng trang sách sột soạt theo mọi hướng, bám víu vào một chiếc bè mà bạn không dám chắc liệu nó có thể nổi được trên mặt biển. Vì thế, lựa chọn khác là bạn phải hình thành được gu của riêng mình, tự thiết kế riêng cho mình một chiếc la bàn, làm cho mình quen thuộc với  những vì sao và những chòm sao cụ thể – nói theo một cách nào đó  – dù mờ hay tỏ vẫn luôn xa xôi. Thế nhưng việc này lại tốn thời gian vô cùng và bạn sẽ dễ dàng cảm thấy già nua, mỏi mệt, chỉ những muốn thoát ra và đành vớ đại lấy một quyển sách. Một lựa chọn khác – hay có lẽ cũng nằm trong lựa chọn trên – là dựa vào những lời đồn: lời khuyên của bạn bè, sự tham khảo mà bạn bắt gặp trong một văn bản có vẻ như bạn thích. Mặc dù chưa được chế định hóa dưới bất cứ hình thức nào (mà đây không phải là ý tưởng tồi), việc chọn sách dựa vào lời người khác này lại rất quen thuộc với tất cả chúng ta từ khi còn ở độ tuổi hoa niên. Song ngay cả điều này nữa cũng là một sự bảo đảm chẳng lấy gì làm chắc chắn, vì đại dương sách kia không ngừng phồng lên, rộng ra mãi, như chính hội chợ sách này đã chứng minh: nó như một trận bão nữa giữa đại dương kia.

Vậy đâu là đất liền của chúng ta, những kẻ đang bơi giữa đại dương mênh mông kia, cho dù có thể đó chỉ là hòn đảo hoang, không người cư trú? Chàng Thứ Sáu tốt bụng của chúng ta ở nơi nào, hay cứ để mặc con báo Cheetah một mình?

Trước khi nói về gợi ý của mình – đúng hơn, điều mà tôi xem như giải pháp duy nhất để hình thành thị hiếu cá nhân tốt trong lĩnh vực văn chương- tôi muốn được nói đôi điều về nhân tố khởi nguồn của giải pháp này, tức về cái tôi nhỏ bé của mình – không phải vì sự phù phiếm cá nhân, mà vì tôi tin rằng giá trị của một ý tưởng luôn có mối liên hệ với bối cảnh từ đó nó nảy sinh. Thực sự, nếu là người làm xuất bản, tôi sẽ in trên trang bìa không chỉ tên của tác giả mà còn cả khoảng thời gian chính xác mà các nhà văn viết nên cuốn sách, để cho phép độc giả có thể quyết định liệu mình có cần thiết phải quan tâm đến thông tin hay quan điểm hàm chứa trong một cuốn sách được viết ra bởi một kẻ còn trẻ tuổi hơn mình rất nhiều – hay, cũng tương tự- một bởi người còn già hơn cả mình.

Gợi ý này bắt nguồn từ một nhóm người (than ôi, tôi không còn có thể sử dụng từ “thế hệ” được nữa, vì từ này hàm ẩn nét nghĩa nhất định về đám đông và sự thống nhất), những người mà văn chương đối với họ văn chương luôn có hàng trăm tên gọi; những người mà sự nhiệt tình xã hội của họ có thể khiến cho Robinson Crusoe hay thậm chí Tarzan phải nhăn mặt; những người luôn ngượng nghịu trong những buổi tụ tập đông đảo, họ không khiêu vĩ ở các buổi tiệc, họ muốn tìm những lời bào chữa siêu hình cho tội thông dâm của mình và rất cầu kỳ khi bàn luận về chính trị; những người ghét chính mình thậm chí còn hơn cả những kẻ ưa nói xấu về họ; những người vẫn thích rượu và thuốc lá hơn heroin và cần sa; những người theo lời của W.H.Auden, “người ta sẽ không tìm thấy trên những vật chướng ngại; những người sẽ không bao giờ bắn mình và bắn những nhân tình của mình”. Nếu những người như thế thỉnh thoảng lại thấy mình bơi trên vũng máu mà họ đổ xuống sàn nhà tù hay cất tiếng trên diễn đàn, thì đó là vì họ đang nổi loạn chống lại (hay chính xác hơn, họ muốn phản đối) không phải một thứ bất công cụ thể nào mà là một trật tự thế giới nói chung. Họ không có những ảo tưởng về tính khách quan của những quan điểm mà mình nêu lên; trái lại, họ nhấn mạnh tính chủ quan không thể tha thứ được của mình ngay từ ngưỡng. Tuy nhiên, họ ứng xử như thế không phải nhằm che chắn bản thân mình khỏi những sự tấn công có thể xảy ra: như một luật lệ, họ ý thức rất rõ về tính dễ tổn thương gắn liền với những quan điểm và lập trường mà họ bảo vệ. Song ở thế phần nào đó đối lập với Darwin, họ lại xem tính dễ tổn thương này là đặc điểm quan trọng nhất của sự sống. Điều này – tôi phải nói thêm ở đây – ít liên quan đến khuynh hướng khổ dâm mà giờ đây được gán cho hầu hết những người trong giới văn chương hơn là thứ tri thức bản năng, thường mang tính trực tiếp ở họ, theo đó, họ nghĩ rằng tính chủ quan cực đoan, định kiến và sự đặc dị là những phẩm chất giúp nghệ thuật tránh khỏi sự mòn sáo. Và sự kháng cự cái mòn sáo là điều phân biệt nghệ thuật với cuộc đời.

Bây giờ chắc các bạn đã hiểu nền tảng mà tôi định nói đến là gì. Tôi muốn nói thế này: muốn hình thành một gu văn chương tốt, bạn hãy đọc thơ. Nếu bạn cho rằng tôi nói vậy là vì bệnh nghề nghiệp, bạn đã nhầm: tôi là người xa lạ với mọi hình thức khiêu khích sự phát cuồng. Vấn đề nằm ở chỗ: là hình thức ưu việt nhất trong các phương thức diễn đạt của con người, thơ không chỉ là phương thức hàm súc nhất, cô đọng nhất để biểu hiện kinh nghiệm nhân tính, nó còn trở thành những chuẩn mực cao nhất có thể đối với bất kỳ hoạt động ngôn ngữ nào – đặc biệt là trên trang giấy.

Càng đọc thơ, người ta càng khó lòng khoan thứ được cho bất cứ sự lắm lời nào, dù là trong diễn ngôn chính trị hay triết học, trong lịch sử, nghiên cứu xã hội, hay trong nghệ thuật hư cấu. Một bút pháp văn xuôi tốt bao giờ cũng là con tin của sự chính xác, tốc độ, súc tích và sự hàm súc cao độ của cách diễn đạt mang tính thơ. Là đứa con của văn bia và chữ khắc, thơ được quan niệm như là lối tắt dẫn vào bất cứ chủ đề nào có thể hình dung được, nó là người giám thị tuyệt vời đối với văn xuôi. Thơ không chỉ dạy cho văn xuôi nhận thức được giá trị của mỗi từ mà còn cả về những mô thức tinh thần luôn biến thiên của thể loại, những khả năng khác ngoài bố cục tuyến tính, sự tỉnh lược khôn ngoan những yếu tố hiển nhiên, sự nhấn mạnh đến chi tiết, kỹ thuật thoái dần. Và trên hết, thơ nuôi dưỡng trong văn xuôi nỗi khao khát cái siêu hình, điều phân biệt một tác phẩm nghệ thuật với thứ chữ nghĩa hoa mỹ đơn thuần. Song phải thừa nhận, dưới sự chỉ dạy đặc biệt này, văn xuôi chứng tỏ nó là một cậu học sinh lười.

Xin đừng hiểu lầm tôi: tôi không cố gắng để lột trần văn xuôi. Sự thật của vấn đề chỉ là ở chỗ thơ lâu đời hơn văn xuôi, do đó, nó bao trùm một khoảng cách xa hơn rất nhiều so với văn xuôi. Văn chương khởi đầu bằng thơ, với những bài ca của những người du cư, vốn xuất hiện sớm hơn những chữ viết loằng ngoằng của một kẻ định cư. Và dẫu rằng đây đó tôi có so sánh sự khác biệt giữa thơ và văn xuôi như là sự khác biệt giữa không lực và bộ binh nhưng tôi vẫn lưu ý rằng sự so sánh này không có liên quan gì đến những cội nguồn có tính chất thứ bậc, đẳng cấp hay nhân chủng của văn học. Việc tôi làm là mang tính thực tế, giúp nhãn quan và trí não của bạn khỏi phải vướng bận đến vô số những sản phẩm in ấn vô dụng. Người ta có thể nói thơ ca được phát kiến chỉ để cho mục đích này thôi, vì nó đồng nghĩa với sự tiết kiệm. Vì thế, điều người ta nên làm là tóm lược lại, cho dù bằng cách thu nhỏ, cái quá trình đã diễn ra trong nền văn mình của chúng ta suốt hai thiên niên kỷ qua. Điều này dễ hơn bạn nghĩ vì thơ ca ít cồng kềnh hơn văn xuôi rất nhiều. Hơn nữa, nếu bạn chỉ quan tâm chủ yếu đến văn chương đương đại, công việc của bạn thật sự chỉ là một mẩu bánh. Tất cả những gì bạn phải làm là trong khoảng đôi ba tháng, hãy trang bị cho mình những tác phẩm của các thi sĩ viết bằng tiếng mẹ đẻ của bạn, tốt hơn là từ nửa đầu thế kỷ này. Tôi đoán rằng bạn sẽ kết thúc việc này với độ hơn mười tập sách mỏng, và chỉ đến cuối mùa hè, bạn đã có thể có một hình dáng đẹp.

Nếu tiếng mẹ đẻ của bạn là tiếng Anh, tôi muốn giới thiệu để bạn đọc Robert Frost, Thomas Hardy, W.B.Yeats, T.S.Eliot, W.H.Auden, Marianne Moore và Elizabeth Bishop. Nếu đó là tiếng Đức thì bạn hãy đọc Rainer Maria Rilke, Georg Trakl, Peter Huchel và Gottfried Benn. Còn nếu đó là tiếng Tây Ban Nha, danh sách nhất định sẽ có tên Antonio Machado, Federico Garcia Lorca, Luis Cernuda, Rafael Alberti, Juan Ramon Jimenez và Octavio Paz. Nếu tiếng mẹ đẻ của bạn là tiếng Ba Lan, hoặc nếu bạn biết ngôn ngữ này (điều này sẽ là một lợi thế lớn của bạn vì thứ thơ ca phi thường nhất của thế kỷ này được viết bằng ngôn ngữ ấy), tôi đặc biệt nhấn mạnh đến những cái tên như Leopold Staff, Czelaw Milosz, Zbigniew Herbert và Wislawa Szymborska. Nếu đó là tiếng Pháp, dĩ nhiên, phải bao gồm Guillaume Apollinaire, Jules Superville, Pierre Reverdy, Blaise Cendrars, một vài bài của Paul Eluard, Louis Aragon, Victor Segalen và Henri Michaux. Với tiếng Hy Lạp, bạn nên đọc Constantine Cavafy,, George Seferis, Yannis Ritsos. Còn với tiếng Hà Lan, rất nên đọc Martinus Nijhoff, đặc biệt là tuyệt tác của ông “Awater”. Với tiếng Bồ Đào Nha, nên đọc Fernando Pessoa và có lẽ cả Carlos Drummond de Andrade. Với tiếng Thụy Điển, hãy đọc Gunnar Ekelof, Harry Martinson, Thomas Transtromer. Với tiếng Nga, chí ít hãy nên đọc Marina Tsetaeva, Osip Mandelstam, Anna Akhmatova, Boris Pasternak, Vladimir Khodasevich, Velemir Khlebnikov, Nikolai Klyuev. Và với tiếng Italia, tôi không dám mạo muội đề xuất một cái tên thi sĩ nào trước công chúng thuộc cộng đồng ngôn ngữ này và nếu tôi nhắc đến teencuar Quasimodo, Saba, Ungaretti và Montale thì đơn giản vì đã từ lâu tôi muốn được bày tỏ lòng biết ơn của mình, một sự tri ân riêng tư đối với bốn thi sĩ vĩ đại này, những dòng thơ của họ đã có tác động sâu sắc, mãnh liệt đến đời tôi, và tôi hạnh phúc khi được nói lời cảm tạ này khi đứng trên mảnh đất Italia.

Nếu đã từng đọc tác phẩm của bất cứ thi sĩ nào được nhắc đến ở trên, một ngày nào đó, bạn bỏ rơi một cuốn văn xuôi rút ra từ giá sách của bạn, đấy không phải là lỗi của bạn đâu. Nếu bạn vẫn tiếp tục đọc cuốn văn xuôi ấy, hẳn là vì uy tín của tác giả, điều đó cũng có nghĩa là ông ta  thực sự có cái gì đó để thêm vào sự thật về cuộc hiện sinh của chúng ta, điều mà  mới chỉ ít nhà thơ đề cập đến. Điều đó chứng tỏ tác giả này không phải là kẻ thừa thãi, ngôn ngữ của ông ta có một năng lượng độc lập, một nét duyên dáng riêng biệt. Nếu không thì điều đó có nghĩa bệnh nghiện đọc của bạn đã đến hồi vô phương cứu chữa. Mà trong mọi thứ nghiện, nghiện đọc chắc chắn không phải là điều tệ hại nhất.

Hãy cho phép tôi phác một bức biếm họa ở đây, vì những bức biếm họa luôn có khả năng phóng đại khía cạnh bản chất. Trong bức biếm họa này, tôi vẽ một độc giả hai tay cầm hai cuốn sách mở ngỏ. Trên tay trái, anh ta cầm một tập thơ; trên tay phải là một tập văn xuôi. Hãy xem anh ta vứt cuốn sách nào trước. Cố nhiên, anh ta có thể cầm cả trên hai tay hai tập văn xuôi nhưng khi đó, anh ta sẽ phải đối mặt với những tiêu chuẩn tự phủ định lẫn nhau. Và tất nhiên, anh ta cũng có thể đặt câu hỏi cái gì phân biệt thơ hay và thơ dở, đâu là sự bảo đảm rằng cuốn sách anh ta cầm bên tay trái thực sự đáng để bận tâm hơn.

Vâng, trước hết, cuốn trên tay trái của anh ta rất có khả năng nhẹ hơn so với cuốn anh ta cầm trên tay phải. Thứ hai, thơ ca, như Montale có lần đã nói, là một thứ nghệ thuật thuộc về ngữ nghĩa không thể nào thay đổi được, và những cơ may cho những ngón bịp là rất thấp. Chỉ cần đọc đến dòng thứ ba, độc giả sẽ nhận ra ngay mình đang cầm thứ gì trên tay trái, vì thơ thường có thể hiểu được rất nhanh và phẩm chất của ngôn từ trong thơ khiến nó có thể được cảm nhận ngay lập tức. Sau ba dòng thơ, độc giả có thể liếc nhìn sang cuốn sách mình đang cầm trên tay phải.

Ngay cả chi tiết này, như tôi đã nói với các bạn, cũng là một biếm họa. Đồng thời tôi tin rằng đây cũng chính là hình ảnh mà nhiều người trong số các bạn – những người tham dự hội chợ sách này – sẽ nhận thấy có mình trong đó. Ít nhất hãy chắc chắn những cuốn sách trên tay bạn thuộc những thể loại văn học khác nhau. Bây giờ, việc đảo mắt từ trái qua phải, đương nhiên rồi, thật chẳng khác một việc gây khó chịu; tuy nhiên, trên đường phố Turin giờ đây không còn đâu những kỵ sĩ và hình ảnh một tay đánh xe ngựa quất roi lên lưng con vật của mình sẽ không khơi sâu hơn nỗi nhức nhối mà bạn có thể rơi vào khi bạn phó mặc những giả định này. Thêm nữa, đã một trăm năm trôi qua, kể từ đó, không có sự điên rồ của ai có ý nghĩa nhiều nhặn đối với đám đông mà con số sẽ vượt xa tổng số những con chữ nhỏ màu đen trong các cuốn sách trưng bày tại hội chợ này. Thế nên bạn cứ thử cái mẹo nhỏ mà tôi vừa gợi ý đi.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Joseph Brodsky, “How to read a book”, On Grief and Reason – Essays, NY: Farrar Straus Giroux 1995 [1996], p.96-103.