Tag Archives: jeffrey nealon

Jeffrey Nealon- Susan Searls Giroux- Queer

Judith Butler

Cái được gọi là thuyết “queer” (thuyết đồng tính) có liên hệ mật thiết đến những phương pháp tiếp cận và những kiến giải của lý thuyết về phái tính: nếu lý thuyết về phái tính đã cho thấy có thể gỡ khái niệm “phái tính’ [gender] ra khỏi một quan điểm bản chất luận về “giống” [sex] (và ngược lại)  thì thuyết đồng tính chứng minh cũng có thể gỡ “hành vi tính dục” [sex acts] khỏi bản sắc phái tính [gender identity]. Nếu kiến giải quan trọng nhất của thuyết phái tính, nói theo chữ của Judith Butler, là “phái tính không phái sinh từ tính dục” [gender does not follow from sex, Gender Troubled], tức là, các phạm trù văn hóa không đơn giản chỉ đi theo những luật lệ được mặc định là tự nhiên thì kiến giải quan trọng nhất của thuyết đồng tính có thể là luận điểm có liên hệ mật thiết với kiến giải nói trên: “tính dục về bản chất không phải là một đặc điểm cá nhân mà là một phạm trù văn hóa có sẵn” (Queer theory). Nói cách khác, thuyết đồng tính sẽ không ngừng cho thấy không hề có mối liên hệ “tự nhiên” nào giữa công cụ giải phẫu với điều được xem là ý nghĩa hay chức năng của công cụ đó trong một ngữ cảnh nhất định – giữa một quan điểm sinh lý về tình dục và một hành vi tính dục cụ thể.

“Queer” đương nhiên ở một mức độ nhất định là từ dùng thay cho “gay” (đồng tính nam) hay “lesbian” (đồng tính nữ), bản thân những từ này lại thay thế cho từ “homosexual” (khuynh hướng tình dục đồng giới) ở thế kỷ XIX. Vấn đề thuật ngữ ở đây là quan trọng. Như Annamaria Jagose gợi nhắc:

Từ “homosexuality” (đồng tính) – vốn được một bác sĩ người Thụy Sĩ, Karoly Maria Benkert, đặt ra vào năm 1869 – vốn không được sử dụng rộng rãi trong tiếng Anh cho đến năm 1890, khi nó được nhà nghiên cứu về tình dục, Havelock Ellis, sử dụng. Từ này vẫn còn được dùng ở một mức độ phổ biến nhất định song vì sự liên đới khá chặt chẽ của nó với những diễn ngôn bệnh lý trong y học nên ngày nay nó hiếm khi được sử dụng như một thuật ngữ của sự tự xác định căn cước [self-identification]… Vào thập niên 1960, các nhà đấu tranh cho chủ nghĩa tự do đã dứt điểm không dùng từ “homosexuality” nữa, mà thay vào đó, bổ sung vào kho từ vựng từ “gay” và do đó, đã cấp một địa vị mới cho một từ lóng mà ở thế kỷ XIX vốn được dùng để chỉ những người phụ nữ có đạo đức đáng ngờ.” (Queer Theory, 72).

Bước chuyển từ “homosexual” sang “gay” như một ký hiệu tự xác định căn cước hoàn toàn nằm trong quá trình giải tự nhiên hóa tính dục. Jagose nói tiếp, “sự thông dụng của từ ‘gay’ cho thấy tiềm năng của nó trở thành một khái niệm phi bệnh lý, trút bỏ gánh nặng của một thứ lịch sử tình dục được chủ yếu nhìn nhận từ khía cạnh bệnh học”. (Queer Theory, 73).

Trên thực tế, nếu như dưới con mắt của các lý thuyết gia về phái tính, sự phân cực đàn ông/đàn bà theo tinh thần bản chất luận là điều đáng ngờ thì đối với một nhà nghiên cứu lý thuyết đồng tính, sự khác biệt giữa dị giới/đồng giới cũng là điều cần phải tra vấn. Làm sao ta có thể từ một phạm vi rất rộng và đa dạng các hành vi tình dục mà con người thực hiện để đi đến ý niệm là chỉ có “hai” bản năng giới tính, “hai” hình thái tình dục? Như Eve Kosofy Sedgwick chỉ ra, có vô số những thứ mà con người ta xem là trải nghiệm về tình dục; cùng một hành vi tình dục dưới những con mắt khác nhau có thể bộc lộ những ý nghĩa khác nhau. Đối với một số người, tình dục là tất cả những gì liên quan đến bộ phận sinh dục, trong khi với kẻ khác, nó không khác một trò chơi của tinh thần; một số người rất quan tâm đến tình dục như thể đó là một phần bản sắc của mình, dành nhiều thời gian để nghĩ về tình dục; người khác lại thấy nó không có liên hệ nhân quả nào đối với sự tự xác định mình và hầu như chẳng mất thời gian để suy tư nó; một số người không thể có quan hệ tình dục bên ngoài những ngữ cảnh đầy ý nghĩa của tình yêu, hồn nhân, niềm đam mê, v.v…; với kẻ khác, tình dục là thứ phải mang tính chất bộc phát nhưng lại có người xem tình dục phải là hành động được lên kịch bản rất rõ, thậm chí đến mức làm sao tạo ra cảm giác đó là sự hưng phấn bộc phát. Và thực tế, chúng ta đã có câu chuyện về cựu tổng thống Bill Clinton và cô nhân viên Monica Lewinsky để minh họa cho một luận điểm hóa ra lại rất quan trọng đối với thuyết đồng tính: Nói đơn giản là, chúng ta bất đồng trong việc xem cái gì cấu thành nên “tình dục”. Tóm lại, đó là một con dốc rất trơn.

Rõ ràng sự phân loại  cái mà Gilles Deleuze gọi là “cả ngàn biểu hiện tình dục nhỏ li ti” [a thousand tiny sexualities] có thể sẽ vẫn còn tiếp diễn trong cả một thời gian dài nữa, nhưng mục đích của việc liệt kê như vậy chỉ là để phức tạp hóa cái mà Sedgwick gọi là một nhận thức mang tính chất tiên đề [axiomatic] về tình dục, sự quy giản vô số những hình thức, kiểu biểu hiện của tình dục và hành vi tình dục thành hai (có thể là ba) loại: đống tính hay dị tính (hoặc lưỡng tính). Sedgwick đặt câu hỏi, “Làm thế nào mà giới tính (bản thân khái niệm này vốn dĩ đã phức tạp, như ta đã thấy) của đối tượng khơi dậy ham muốn tình dục của bạn lại dấu hiệu xác định sự thật về bản năng giới tính của bạn? Tại sao sự khác biệt ấy lại là sự khác biệt tạo nên tất cả những khác biệt khác? Làm thế nào mà tình dục từ chỗ bao gồm vô số những hành vi cuối cùng chỉ quy lại thành hai trạng thái?

Mượn một thuật ngữ từ ngôn ngữ học, cả Sedgwick và Butler đều lập luận rằng phái tính và tình dục là những diễn ngôn biểu hành (performative): chúng đều chỉ nói về các hành vi (acts) và sau đó mới là trạng thái tồn tại. Người ta không sinh ra là đàn bà, đàn ông hay đồng tính: người ta trở thành đàn bà, đàn ông hay đồng tính chỉ trong ngữ cảnh ngữ cảnh sự trình diễn, biểu hành hay không trình diễn, biểu hành những hành vi nhất định nào đó. Đồng tính không gọi tên một trạng thái tồn tại: nó biểu thị một hữu thể (being) thực hiện một số hành vi nhất định nào đó, kẻ được nhận diện và được phân loại bằng những phạm trù xã hội hơn là những thuộc tính bản chất. Hay, nói cách khác, những thuộc tính bản chất của căn cước một con người bị “trì hoãn” (backloaded) từ những hành động chủ quan; ý nghĩa của tính dục, phái tính, chủng tộc bao giờ cũng phụ thuộc vào việc tính dục, phái tính, chủng tộc hoạt động như thế nào. Bản sắc chủ thể, như ta đã quan sát từ đầu đến giờ, hoạt động từ ngoài vào trong hơn là ngược lại.

Trong các thuật ngữ ngôn ngữ học mà ta nhắc đến ở trên, bất cứ một câu  nhận định nào (constative utterance), tức một hành động lời nói chỉ đơn thuần muốn mô tả một dữ kiện hay phát biểu một sự hiển nhiên đã tồn tại trước đó, trên thực tế, đã hoàn toàn là một câu ngôn hành (performative utterance), tức một phát ngôn mà nhận định “biểu diễn/thực hiện” hành động mà nó quy chiếu. Ví dụ, câu “Hoboken ở New Jersey” là câu mà người ta có thể gọi là câu nhận định: nó dường như chỉ thông báo lại một dữ kiện hay mô tả một sự tình đã được chứng minh là đúng. Ngược lại, câu “Tôi hứa ngày mai sẽ trả nợ anh” hay lời của quan tòa “Giờ tôi xin tuyên bố hai anh chị là vợ chồng ” lại là những câu ngôn hành rõ ràng, chúng đòi hỏi phải có một hành động được thực hiện trước khi chúng được phán là “đúng” hay “sai”. Chúng thực sự làm xuất hiện một tình thế mà chúng muốn quy chiếu – hôn nhân hay lời hứa không phải là thứ đã tồn tại sẵn rồi; đó là những chuyện được hiện hữu nhờ hành động cụ thể: kết hôn hay trả nợ. Nói gọn lại, những câu ngôn hành nói về các hành động (acts) trong khi đó những câu nhận định nói về các dữ kiện (facts).

Song như ta đã thấy nhiều lần trong cuốn sách này, dữ kiện thực ra đã và mãi bị lệ thuộc vào những hành động nhất định, hơn là theo chiều ngược lại. Thí dụ, một nhận định đơn giản hay một dữ kiện đơn giản: “Hoboken ở New Jersey” đã bị quy định bởi một số những “hành động” trước đó. “New Jersey”, chẳng hạn, khó có thể nói là một thực thể tự nhiên hay mang tính bản chất; nó được xác định bởi các nhà lập pháp, các chính trị gia, những người làm bản đồ. Đã phải có một số hành động xảy ra để bất cứ một nhận định đơn giản nào có thể được xác nhận là đúng và ngay cả một nhận định đơn giản về sự thật tự thân nó cũng đã là hành động. Trái với niềm tin phổ biến, hóa ra nói một điều gì đó tức là làm một điều gì đó (từ đây ta mới thấy được tầm quan trọng của việc “coming out” [thú nhận về giới tính] trong cộng đồng queer). Sự thật, thậm chí ngay cả sự thật về giới tính, phụ thuộc vào các hành động, hành vi hơn là ngược lại. Bạn là ai là hệ quả của việc bạn làm gì.

Đây là kiến giải quan trọng nhất của lý thuyết đồng tính và nó có nhiều điểm chung với những chương trước của cuốn sách này. Trên thực tế, toàn bộ cuốn sách này gợi ý cho ta thấy các phạm trù của xã hội và cá nhận trước hết và quan trọng hơn hết là những phạm trù biểu hành (performative), được kiến tạo để phán ứng lại những ngữ cảnh cụ thể.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: “Queer” in trong The Theory Toolbox – Critical Concepts for the Humanities, Arts & Social Sciences, p.170-5., Rowman & Littlefield Publishers, Inc., 2003.

(Bản dịch nháp làm tài liệu cá nhân, tôi post lên đây mong nhận được những góp ý về cách dịch, cách hiểu vì quả thật có rất nhiều chỗ tôi thấy mình dịch không thoát. Rất cảm ơn mọi đóng góp).

Jeffrey T. Nealon – Thời đại của những thứ “Hậu” (phần 2)

Hậu cấu trúc luận

 

Với tư cách một thuật ngữ, “hậu cấu trúc luận” cũng phức tạp không kém “hậu hiện đại”: Trước khi nắm được chữ “hậu” trong thuật ngữ này có ý nghĩa gì, ta cần phải biết đôi điều về cấu trúc luận mà về logic, nó xuất hiện trước hậu cấu trúc luận. Cấu trúc luận là hay đã từng là một trào lưu xuyên/liên ngành trong lĩnh vực nhân văn và khoa học xã hội, có tác động lớn nhất đến ngôn ngữ học, dân tộc học, nhân học và phê bình văn học. Về bản chất, cấu trúc luận quan tâm đến việc nghiên cứu hệ thống biểu nghĩa hay biểu tượng và tiền đề cơ bản của trào lưu này đã trao cho nó tên gọi: Đối với bất kỳ một hiện tượng biểu nghĩa có sẵn, phải có một cấu trúc chìm bên dưới khiến cho hành động biểu nghĩa trở nên khả hữu và chi phối hành vi này theo cách thức nào đó.

 

Chẳng hạn, để bất kỳ một hành động ngôn từ nào có thể hiểu được, phải có một ngữ pháp chung giúp giải thích trật tự từ cụ thể, mẫu câu, ví trị của chủ ngữ, động từ, bổ ngữ, v.v… Bất cứ một hiện tượng biểu nghĩa hay có ý nghĩa nào cũng tiền giả định một kiểu cấu trúc nào đó, một hệ thống luật lệ và giá trị mà nhờ đó hiện tượng này được tạo lập và bên trong cấu trúc này, ít nhất, nó có thể hiểu được ở cấp độ tối thiểu đối với những ai nắm được hệ thống này. Theo đó, nghĩa của từ “cấu trúc” trong thuật ngữ “cấu trúc luận” phần nào đó trùng với “tư tưởng hệ” (ideology) trong định nghĩa thứ hai về khái niệm này như là “ý nghĩa chung phổ quát” (“common sense”) có tính chất chỉ đạo – một thỏa thuận được chia sẻ song chủ yếu thuộc về vô thức – của một xã hội (social body).

 

Một ví dụ về cách phân tích theo kiểu cấu trúc luận: để một người hiểu một mệnh lệnh đơn giản trong tiếng Anh “Đóng cửa lại!”, cả người nói và người nghe nhất thiết đã phải nắm được một lượng rất đáng kể thông tin “cấu trúc”, cả về thứ ngôn ngữ mà họ đang nói và cả tình huống giao tiếp của họ lúc này. Hình thức mệnh lệnh là một hình thức đặc biệt khó nắm bắt trong tiếng Anh, nó dựa trên giọng điệu của lời nói và những vấn đề thuộc về ngữ cảnh (vị trí xã hội tương đối giữa người nói và người nghe, sự hiểu lẫn nhau của người nói và người nghe về “vấn đề” được tạo ra từ một cánh cửa còn mở ngỏ, v.v…) cũng như “nội dung” của thông điệp; bên cạnh đó, chủ thể của mệnh lệnh được hàm ẩn hơn là biểu hiện trực tiếp, do vậy, để biết có thật là bạn là đối tượng được nhắm đến hay không, xét một cách nghiêm ngặt, thì dường như không thể nhìn ra ngay được từ bản thân câu nói. Để hiểu được ý nghĩa của mệnh lệnh giản đơn này, bạn cần phải nắm được cả ngữ pháp tiếng Anh và tình huống trong đó câu nói này được phát ngôn.

 

Nói khác đi, một số “cấu trúc” phức tạp chìm bên dưới cần phải nắm được trước khi một hành động tượng trưng đơn giản được trao cho ý nghĩa, và chủ nghĩa cấu trúc quan tâm đến việc phát lộ những hiện tượng ẩn chìm này. Như Robert Scholes đã viết trong cuốn Structuralism in Literature [Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học], “để tồn tại, bất kỳ một lĩnh vực khoa học nhân văn nào cũng phải chuyển trọng tâm từ những hiện tượng mà nó nhận ra đến cái hệ thống chi phối chúng” (14). Trên thực tế, người ta có thể nói rằng bước chuyển từ các sự vật sang các cấu trúc chi phối chúng là sự chuyển dịch mang tính trung tâm của mọi chủ nghĩa cấu trúc.

 

Lẽ dĩ nhiên, mỗi chúng ta, ai cũng vẫn luôn thể hiện những chuyển dịch cấu trúc luận như thế – từ một hành động tượng trưng cụ thể đến cấu trúc làm cho nó trở nên mang tính khả thụ (intelligible) – chúng ta chọn lựa, ít nhiều vô thức, các ký hiệu và biểu trưng theo các cấu trúc của tính khả thụ mà chúng ta đã học từ trước đó rất lâu. Thí dụ, trỏ ngón tay giữa nhằm vào ai đó, tự bản thân nó, là một hành động vô nghĩa, song nếu khi ta hiểu động tác này từ ngữ pháp cấu trúc của xã hội Mỹ, nó lại mang một ý nghĩa đặc biệt. Trên thực tế, quá trình quy chiếu (reference) thường xuyên mang tính tự động đến nỗi chúng ta nhận ra điều này chỉ khi nó bị phá vỡ theo cách nào đó, khi, chẳng hạn, ngôn từ và hình ảnh trở nên khó vì chúng bị “chồng mã” (over-coded) với sự đa bội của ý nghĩa (như trong ngôn ngữ văn chương hay thi ca) hay khi chúng ta tìm cách để hiểu một ngôn ngữ không quen hay tiếng nước ngoài-lúc đó chúng ta không biết được những cấu trúc xã hội và ngôn ngữ chìm bên dưới. Nói cách khác, khi chúng ta không biết hay không thể luận ra được các cấu trúc chìm của ý nghĩa thì ta mấy thấy rõ hơn bao giờ hết sự tồn tại của những cấu trúc này.

 

Câu hỏi thảo luận 1:

 

Hãy nhớ lại và mô tả lần gần đây nhất bạn ở trong một tình huống mà mình không hiểu được những cấu trúc chìm của ý nghĩa chi phối một cuộc chuyện trò. Một lần đến một đất nước khác chẳng hạn? Hay đến một vùng lân cận, một cửa hàng hay một quán bar ngay trong thành phố của mình? Đến dự một buổi tiệc cơ quan tại một nơi mà bạn không làm việc ở đó? Một trận cricket trên TV? Hay một buổi tối đi chơi với một nhóm người đều cùng làm một nghề – nha sĩ, chuyên gia máy tính, lái xe tải, thợ sửa đường nước, nhạc sĩ – và họ cứ nói không biết mệt về công việc hay sở thích của mình bằng một thứ ngôn ngữ có nhiều đặc thù mà bạn không hiểu?

 

Điều gì mà bạn cảm thấy không hiểu nhất khi ở trong một tình huống như thế? Hệ quả của điều đó đối với bạn là gì? Đó có phải là trường hợp mà bạn cần phải biết nhiều các cấu trúc phức tạp để bước vào những cuộc chuyện trò đơn giản?

 

*

Có lẽ diễn ngôn xác lập hệ hình cho chủ nghĩa cấu trúc là ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure. Chúng ta nhớ rằng Saussure đã phân biệt giữa ký hiệu vật chất (material sign) hay hành động ngôn từ (speech act) và các cấu trúc chìm – tương ứng lần lượt với cái được biểu đạt (signified) và ngữ pháp (grammar) – vốn làm cho những hành động tượng trưng như vậy trở nên có thể hiểu được. Saussure vẫn còn có ảnh hưởng quan trọng đối với hậu cấu trúc luận nhưng hậu cấu trúc đã soi rọi và chất vất cấu trúc luận tại chính điểm trọng tâm nhất của nó, tức sự chuyển dịch từ cái cụ thể (cái biểu đạt) sang cái cấu trúc chi phối nó (cái được biểu đạt).

 

Chắc chắn các nhà hậu cấu trúc sẽ đồng ý rằng ở vào một tình huống mà ta không hiểu một điều gì đó, những cấu trúc chìm của ý nghĩa sẽ trở nên hiển lộ rõ nhất: Khi người thợ sửa đường ống nước mô tả cho bạn một cách chi tiết hoạt động bên trong của một toilet, bạn sẽ nhận thấy anh ta đang liên hệ đến những cấu trúc mà bạn không hiểu; tương tự, khi bạn gọi một bữa sáng ở Đức và nhận về một thứ giống như là bữa trưa, bạn nhận ra-giống như Dorothy-mình không còn ở Kansas nữa. Bạn không nói sai nhưng “bữa sáng” trong tiếng Đức (cái mà người ta có thể gọi là cái được biểu đạt của bữa sáng) mang nghĩa khác với tiếng Anh.

 

Tuy nhiên, đối với những vở kịch nhỏ này, các nhà hậu cấu trúc luận sẽ bổ sung một quan sát khác: việc nhận ra mình không hiểu anh thợ sửa đường ống nước nói gì hay không thể gọi một bữa ăn sáng đúng nghĩa bằng tiếng Đức đồng thời cũng kéo theo việc nhận ra các cấu trúc của tính khả thụ không phải mang tính phổ quát hay trừu tượng. Khi hệ thống của bạn bị phá vỡ, bạn nhận thấy những cấu trúc chìm của ý nghĩa (những ngữ cảnh [context] tạo nghĩa) mỗi nơi một khác. Các cấu trúc của ý nghĩa, giống như bản thân ý nghĩa, không trừu tượng hay mang tính siêu nghiệm: Cái được biểu đạt (khái niệm bữa sáng, chẳng hạn) cũng mang tính cụ thể (phụ thuộc vào ngữ cảnh của ý nghĩa của nó) như cái biểu đạt (“breakfast” trong tiếng Anh hay “Fruhstuck” trong tiếng Đức); cái dường như là thứ ngữ pháp trừu tượng và phổ quát (bạn gọi món ?) cũng cụ thể và có thể thay đổi như câu hay từ liên quan đến nó.

 

Đối với một nhà hậu cấu trúc luận, cả cái biểu đạt cái được biểu đạt đều “võ đoán” (arbitrary) như thế này. Không có một liên hệ tất yếu (hay cấu trúc) nào giữa một từ và ý nghĩa của từ đó. Đây có lẽ là sự bổ sung quan trọng nhất của các nhà hậu cấu trúc luận  cho cấu trúc luận: Ngay cả bản thân các cấu trúc bề sâu hay cấu trúc chìm của ý nghĩa cũng mang tính võ đoán; cái chúng ta coi là nguyên nhân (cause) của ý nghĩa hay tính khả thụ tự thân nó đã là một kết quả (effect); ở bất cứ chỗ nào mà bạn nghĩ bạn đang thấy cái tự nhiên (nature) thì hóa ra ở đó văn hóa (culture) đã hiện hữu.

 

Nói một cái gì đó mang tính võ đoán, về cơ bản, nghĩa là nói rằng nó dựa trên sự thiên vị mang tính chất cá nhân và vì thế mà cũng dễ thay đổi nó được. Hiểu như vậy, cái mà hôm qua bạn gọi là bữa trưa là “võ đoán”, tùy tiện – nó là một sự thiên vị mang tính cá nhân không có logic nào ở đây và có thể thay đổi theo từng ngày. Tất nhiên, đây không phải là sự võ đoán theo nghĩa mà Saussure dùng để nói về bản chất của cái biểu đạt. Trong tiếng Anh, bữa ăn giữa ngày hôm qua được gọi là “bữa trưa” (lunch) như nhiều năm trước nó cũng vẫn được gọi như thế và sẽ rất tốt nếu ngày mai và nhiều nhiều năm sau, nó vẫn tiếp tục được gọi như vậy. Bạn có thể thể hiện sự thiên vị cá nhân của mình khi gọi nó là “flanjor” nhưng đừng kỳ vọng bất cứ ai cũng hiểu bạn đang nói gì khi nói “Hey, nào đi ăn flanjor thôi”. Cái biểu đạt, mặc dù mang tính “võ đoán”, không phải là một sự thiên vị cá nhân.

 

Trên thực tế, như Saussure đã viết, “bản chất võ đoán của ký hiệu thực chất chính là cái bảo vệ ngôn ngữ khỏi những mưu toan muốn biến đổi nó”. Nghe có vẻ lạ: Nếu “võ đoán” nghĩa là không có mối liên hệ “tự nhiên” nào giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt (đó là mối liên hệ “bị kiến tạo về văn hóa”, đối lập với cái gọi là “tất yếu” [essential]), thì chẳng phải suy ra từ điều này, mối liên hệ đó sẽ dễ dàng thay đổi hay điều chỉnh hơn sao? Nếu mối liên hệ giữa từ và ý nghĩa là “võ đoán” hơn là “tất yếu”, thế thì chẳng phải tất cả mọi từ đều phụ thuộc vào “sự biến đổi” (modification) dễ dàng theo cách này sao?

 

Câu hỏi thảo luận 2:

 

Vậy thì nói một điều gì đó là “võ đoán” nhưng vì thế nó kháng cự lại sự thay đổi thì có nghĩa lý gì? Để thay đổi một điều gì đó, chẳng phải ta phải chỉ ra nó không phải “tự nhiên” và do đó, có thể bị thay đổi hay sao? Nếu cái biểu đạt là “võ đoán” hay đơn thuần chỉ là “bị kiến tạo về văn hóa”, tại sao không nhiều người muốn gọi “lunch” là “flanjor”?

 

*

Sau cấu trúc luận, nói một điều gì đó mang tính chất “kiến tạo văn hóa” hơn là “bản chất” hay “tự nhiên” cũng có nghĩa hàm ý muốn nói điều đó không khó để thay đổi: Nếu nó không phải là bản chất hay tự nhiên thì sẽ dễ dàng để biến đổi nó, phải không? Ồ, không. Lấy thí dụ, đa số mọi người sẽ đồng ý rằng những vấn đề cấp thiết nhất của thời đại này đều là những kiến tạo xã hội: đói nghèo, tội phạm, phân biệt đối xử, thuế má, chiến tranh. Ai cũng biết những vấn đề này là những kiến tạo xã hội; sự phân biệt đối xử không phải là hiện tượng “tự nhiên” cũng như những thứ thuế cao hay chiến tranh; con người trở thành những tín đồ mù quáng, họ không được sinh ra như thế. Thế nhưng thực tế này dường như lại chẳng có tác động gì lớn lên diễn ngôn về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hay giới tính. Phần lớn mọi người có lẽ đều đồng ý rằng vai trò của phụ nữ không đơn thuần chỉ là làm vợ, làm mẹ nhưng điều này không thay đổi được thực tế của sự phân biệt giới tính trong xã hội. Nói như nhà nữ quyền luận Eve Kosofsky Sedgwick: “Tôi nhớ sự nồng nhiệt thể hiện trên bề mặt khi các học giả nữ quyền luận chào đón những phát hiện về bản chất văn hóa, chứ không phải bản chất sinh học, của hình thức này hay hình thức kia của sự trấn áp. Tôi đã thường băn khoăn rằng cái gì là nền tảng cho niềm lạc quan của chúng ta về khả năng dễ uốn nắn của văn hóa mà bất kỳ một nhóm hay một chương trình nào có thể tạo ra”.

 

Thực tế cho thấy nếu sự phân biệt đối xử là một thứ “tự nhiên” và theo cách nào đó, nó có thể bị vô hiệu hóa về mặt khoa học thì nó còn dễ thay đổi hơn là khi người ta đồng ý rằng sự phân biệt đã là một hiện tượng kiến tạo xã hội ngay từ đầu. Các tập quán xã hội, trên thực tế, cực khó để thay đổi, không phải vì chúng mang tính “tất yếu”/”bản chất” mà chính là vì chúng ta đã quen với nó. Không có lý do nhất thiết nào để hầu hết các trận cầu Mỹ chỉ diễn ra vào ngày chủ nhật (cũng như không có mối liên hệ tất yếu nào giữa từ “football” và phiên bản Mỹ của môn thể thao này) nhưng việc không có lý do nhất thiết nào cho việc nó được diễn ra theo cách này chắc chắn không có nghĩa là thực sự dễ quyết định làm việc đó theo một cách khác.

 

Vì “võ đoán” nghĩa là “được kiến tạo về mặt xã hội” theo Saussure, tất yếu nó cũng có nghĩa là “kháng cự lại sự thay đổi”. Các tập quán xã hội đã trở nên thâm căn cố đế, và các quy ước xã hội, bởi thế, không thể thay đổi chỉ qua bất cứ một hành động của cá nhân nào. Ngôn ngữ, như Saussure chỉ ra, có lẽ là ví dụ tuyệt vời nhất cho điều này: ngôn ngữ là một hệ thống xã hội về ý nghĩa mang tính võ đoán dựa trên những quy ước đã duy trì từ lâu nên nó có sức kháng cự rất cao đối với sự thay đổi. Thay từ “lunch” bằng từ “flanjor” khi từ “lunch” vẫn có một lực hấp dẫn trong cách sử dụng ngôn ngữ hàng ngày thì để làm gì? Chỉ ra một cái gì đó được kiến tạo hay được cấu trúc không giống với việc cuối cùng ta cũng hiểu được nó hay có thể bằng cách nào đó thay đổi nó toàn diện.

 

Tuy nhiên, trong nhiều biến thể của nó, cấu trúc luận mơ ước tìm thấy một kiểu cấu trúc phổ quát cho những hệ thống biểu tượng và một thứ tự nhiên có tính chất nền tảng nhất, xuất hiện trước bất kỳ một thứ văn hóa nào. Nhân học cấu trúc, chẳng hạn, đã lập luận rằng sự cấm kỵ loạn luân là cấu trúc nền tảng hay cấu trúc chìm của mọi hệ thống biểu tượng trong mọi xã hội. Như Jacques Derrida đã viết về tác phẩm của nhà nhân học cấu trúc Claude Levi-Strauss:

 

Xã hội, ngôn ngữ, lịch sử, cách diễn đạt (articulation)…được sinh ra cùng lúc với sự cấm kỵ loạn luân…vốn nằm ở bản lề giữa tự nhiên và văn hóa…[Sự cấm kỵ loạn luân], hơn thế, không đơn giản là một thành tố, giữa những thành tố khác, của văn hóa, vì nó là một lệnh cấm thiêng liêng và phổ quát. Nó là thành tố của bản thân văn hóa, cội nguồn không được công khai của những đam mê, của xã hội của ngôn ngữ.

 

Theo Derrida, một nhà hậu cấu trúc luận, cái đáng ngờ ở đây là phẩm chất “thiêng liêng và phổ quát” của sự cấm kỵ loạn luân mà Levi-Strauss khẳng định. Nói khác đi, điều đáng ngờ đối với một nhà hậu cấu trúc luận là dấu vết của một khẳng định mang hơi hướng thần học hay tính chất siêu nghiệm nào đó về “cấu trúc” theo quan điểm của cấu trúc luận. Tuy nhiên, các cấu trúc dường như chi phối các thực hành văn hóa bản thân chúng cũng là sản phẩm của các thực hành văn hóa. Đây là bài học của chủ nghĩa hậu cấu trúc và cũng là điểm nào mà nó dễ móc nối với chủ nghĩa hậu hiện đại nhất: Cả các nhà hậu hiện đại và hậu cấu trúc đều nhấn mạnh và làm nổi bật bản chất tạm thời của mọi khẳng định về sự thật/chân lý.Các sự thật/chân lý chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh đặc thù, điều đó không có nghĩa bất kỳ điều gì chúng ta nghĩ cũng đúng cả (như ta thấy xuyên suốt văn bản này), mà đúng hơn là các sự thật/chân lý phụ thuộc vào các ngữ cảnh đặc thù.

 

Câu hỏi thảo luận 3:

 

Thuyết big bang dường như là một phiên bản khoa học được chấp nhận về sự ra đời của vũ trụ: Tất cả bắt đầu từ một khối khổng lồ vỡ ra từ một vụ nổ lớn. Vũ trụ sẽ mở rộng ra đến hết khả năng của nó và lại bắt đầu thu nhỏ lại, ghép tất cả những vì vỡ vụn lại thành một khối không phân hóa. (Lý thuyết này đồng thời cũng giúp giải thích thuyết trọng lực, thuyết entropy, thuyết nhiệt động lực học và hàng loạt các khái niệm khoa học khác.)

 

Vậy có điểm gì đáng ngờ về lý thuyết big bang từ quan điểm hậu cấu trúc luận?

 

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Jeffrey Nealon & Susan Searls Giroux, The Theory Toolbox- Critical Concepts for the Humanities, Arts & Social Sciences, Rowman & Littlefield Publishers, Inc, 2003, p.131-140..

Jeffrey T. Nealon – Thời đại của những thứ “Hậu”

Lời người dịch: Loạt bài về Thời đại của những thứ “hậu” sẽ được giới thiệu trên blog này được tôi dịch từ cuốn The Theory Toolbox- Critical Concepts for the Humanities, Arts & Social Sciences của hai tác giả Jeffrey Nealon và Susan Searls Giroux; Rowman & Littlefield Publishers, Inc, ấn bản 2003. Đây là dạng sách nhập môn dành cho sinh viên ngành văn học, nhân văn, nghệ thuật, được viết dưới hình thức như là sự diễn giải các từ khóa đang thời thượng nhất, phức tạp nhất, có sức kích thích tư duy mạnh nhất trong những ngành học này. Cái hay của cuốn sách này là sự diễn giải được tác giả thể hiện bằng một thứ văn phong không quá hàn lâm, thậm chí còn có cả sự hài hước. Viết sách giáo trình mà tự nhiên như thế-đấy là điều mà tôi chưa hề thấy ở các giáo trình văn học hiện nay.

Việc dịch loạt bài này còn có một lý do là thời lượng trên lớp và áp lực thi cử đã không cho phép tôi có thể giảng các bài về chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại. Đấy là điều đáng buồn khi hàng chục năm rồi, sinh viên chỉ cần học đến chủ nghĩa hiện thực và đi thi chỉ xoay quanh mấy bài văn có trong chương trình phổ thông là ổn. Tôi cũng nói ngay, bài dịch về chủ nghĩa hậu hiện đại này chỉ là 1 trong rất nhiều những dẫn nhập về chủ nghĩa hậu hiện đại mà thôi. Tôi không quả quyết nó là tài liệu hay nhất, nhưng  nó được diễn giải trong sáng, vừa sức tiếp nhận của  SV (theo tôi là vậy) và nhất là các câu hỏi thảo luận rất hay. Hy vọng các em có thể lúc nào đó dành thời gian để suy nghĩ về nó.

*

-Hậu

Dường như chúng ta đang sống trong thế giới của những thứ “hậu”: chúng ta là những kẻ thuộc về thời hậu hiện đại, hậu công nghiệp, hậu nữ quyền, hậu thực dân, và với sự xuất hiện của thư điện thử (e-mail), chúng ta còn trở thành những kẻ sống ở thời hậu bưu điện (post-post office) nữa. Chương này sẽ dành để nói về một vài thứ “hậu” như vậy, trong khi vẫn lưu ý đến lời khuyên được đưa ra ở phần đầu cuốn sách – luôn phải đặt mọi vấn đề trong ngữ cảnh – và áp dụng lời khuyên đó vào thời điểm hiện tại của chúng ta.

Chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism)

“Hậu hiện đại” là một trong những từ ngày nay đang bị vứt đi. Có lẽ chúng ta quen với “hậu hiện đại” như một tính từ được dùng để miêu tả các tác phẩm hư cấu của Thomas Pynchon hay Ishmael Reed; nhưng cũng cần nhớ rằng bộ phim Unforgiven của Clint Eastwood cũng được gọi là một “phim miền Tây hậu hiện đại”; Senfield được coi là một chương trình truyền hình hậu hiện đại; Stanley Tigerman, người thiết kế chuỗi quán café Hard Rock, cũng thường được gọi theo thói quen như là một kiến trúc sư hậu hiện đại; và những nghệ sĩ thị giác như Barbara Kruger (người chủ ý trình bày nổi bật thứ ngôn từ khiêu khích trên những tấm ảnh của mình) và Andy Warhol cũng được gọi là những nghệ sĩ hậu hiện đại theo cùng một dòng mạch. Nghệ sĩ trình diễn và là cựu ngôi sao phim khiêu dâm Anni Sprinkle gọi một trong những màn trình diễn của mình là “Hậu-Khiêu dâm-hiện đại” (Post-Porn-Modern). Còn có thể dẫn ra những ví dụ khác nữa: từ nhạc rap cho đến acid jazz rồi phim của anh em nhà Coen (như FargoThe Big Lebowski); danh sách những thứ được gắn nhãn “hậu hiện đại” cứ được mở rộng ra theo từng ngày.

Người ta có thể băn khoăn, vậy tất cả những thứ hoàn toàn khác hẳn nhau liệu có thể có điểm gì chung? Làm thế nào mà “hậu hiện đại” (hay bất kỳ phạm trù nào, tương tự như thế) lại có thể bao quát được cả một tập hợp cực kỳ đa dạng gồm cả Snoop Dog, Clint Eastwood, Jerry Seinfeld, Anni Sprinkle và Andy Warhol? Dường như là bất khả, nhưng suy nghĩ xa hơn, ta có thể tìm thấy một số điểm kết nối chung. Dường như có một cảm quan về phong cách (style) được chia sẻ bởi rất nhiều thứ được gắn nhãn “hậu hiện đại”, một cảm quan về một sự đứt mạch hay một sự xáo trộn, chất mỉa mai, tính trò chơi, tính phản thân (reflexivity) có tính toán, một kiểu tách rời (detachment) lãnh đạm, một sự nhấn mạnh có chủ ý vào bản chất bị kiến tạo (constructedness) của mọi ý niệm được coi là mang tính tự nhiên, nỗi hoài nghi vào mọi kết luận chặt chẽ hay dễ dãi.

Đi theo cảm quan ban đầu này về hậu hiện đại,  chúng ta có thể hiểu bộ phim Unforgiven của Eastwood là một bộ phim hậu hiện đại vì nó chơi giỡn với sự lưỡng phân thiện/ác vốn là đặc điểm của rất nhiều phim thuộc thể loại miền Tây; nó phơi bày một cách lạnh lùng và mỉa mai tính chất kiến tạo của huyền thoại miền Tây và trong suốt bộ phim, nó thách thức giá trị có vẻ như là tự nhiên của huyền thoại này: tên xạ thủ trong phim chẳng phải là một anh hùng hay một Thượng đế nào cả; hắn chỉ là tay giết người hàng loạt được mướn. Tương tự, Seinfeld là một chương trình truyền hình hậu hiện đại vì nó là một sitcom đặc biệt, nó chủ ý làm nổi bật và chơi giỡn với thực tế rằng chẳng có cái gì xảy ra trong các sitcom cả; chương trình thậm chí còn chẳng  buồn có cốt truyện gì trong phần lớn thời gian và khi có thì đó lại là thứ cốt truyện rất giả tạo, đầy những ngẫu nhiên “được lên kế hoạch” thể hiện một cách lộ liễu và mang sắc thái lố bịch một cách chủ ý. Và việc sử dụng các sampling (mẫu nhạc) trong thể loại rap – tức là dùng những âm thanh được cắt từ các bản thu khác – luôn nhấn mạnh một sự thực rằng âm nhạc và âm thanh là thứ được kiến tạo (constructed), chúng được đặt bên cạnh nhau theo một cách nào đó để tạo ra một chuỗi hiệu ứng đối với người nghe. Nói như nhà sản xuất rap Hank Shocker: “Âm nhạc thực chất chỉ là một thứ tiếng ồn (noise) được tổ chức. Bạn có thể lấy bất cứ thứ gì – âm thanh đường phố, cuộc nói chuyện giữa chúng ta, bất cứ thứ gì bạn muốn – và biến nó thành âm nhạc bằng cách tổ chức nó” (Black Noise, 82).

Có lẽ tất cả điều này muốn nói rằng hậu hiện đại chuyên chú vào quá trình (process) hơn là sản phẩm (product): Một tác phẩm văn hóa “hậu hiện đại” là một tác phẩm liên tục chất vấn chính nó và cái ngữ cảnh mà dường như nó được đinh vị trong đó. Có lẽ, trên những nét sơ bộ, chúng ta có thể nói rằng những tác phẩm văn hóa hậu hiện đại không ngừng kêu gọi sự chú ý đến những cách thức mà theo đó, cả tác phẩm lẫn người xem đang kiến tạo, giải kiến tạo và tái kiến tạo ý nghĩa.

Vậy thì cuối cùng, người ta có thể nói Seinfeld là hậu hiện đại vì nó là một sitcom về sitcom và Unforgiven là hậu hiện đại vì đó là một phim miền Tây về chính các bộ phim miền Tây. Tương tự, nghệ thuật của Warhol chủ yếu nói về việc tạo ra nghệ thuật và cũng có thể nói rằng các kiến trúc hậu hiện đại xây dựng những công trình để nói về những công trình: Những hành lang không dẫn đến đâu, những rầm nhà được để lộ ra, những thang máy có thể nhìn thấu bên trong – tất cả đều cho thấy không gian là thứ được kiến tạo chứ không đơn thuần là thứ được tìm thấy. Và những kết cấu kiến trúc cố tình phức tạp như thế này buộc người sử dụng công trình phải suy nghĩ về khả năng những sự vận động của anh/chị ta có thể bị định hướng (thậm chí bị điều khiển) bởi các kiến trúc sư.

Tuy sự mô tả như thế này có thể giúp chúng ta có được những ý niệm bước đầu về hậu hiện đại nhưng đồng thời nó vẫn đặt ra một loạt những câu hỏi khác. Trong đó, câu hỏi cấp thiết nhất có lẽ không phải là chữ “hậu” ở đây có nghĩa gì mà là “hiện đại” có nghĩa gì? Nếu hậu hiện đại, ít nhất, biểu thị cái “xuất hiện sau hiện đại” vậy thì hiện đại là/đã từng là gì? Hiện đại đã qua chưa? Mà cái gì hiện đại? Nghệ thuật hiện đại? Lịch sử hiện đại? Hội họa hiện đại? Ái tình hiện đại? Cái gọi là rock hiện đại? Khi nào thời hiện đại bắt đầu cũng như kết thúc? Tại sao chúng ta không nhận thấy?

Trong lịch sử văn học, “chủ nghĩa hiện đại” (modernism) thường được hiểu là một phong trào nghệ thuật bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX và kết thúc vào khoảng thời gian xoay quanh Thế chiến II. Như một phản ứng đối với chủ nghĩa lãng mạn hồi đầu và giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa hiện đại, với tư cách một trào lưu văn học, mỹ học, có xu hướng nhấn mạnh vào hình thức nghệ thuật hơn là cảm xúc lãng mạn; bởi thế thơ của Ezra Pound hay T.S.Eliot là hiện đại bởi nó mang tính chất vô ngã (impersonal), phức tạp, ám gợi (allusive), nhất là khi đối sánh với thơ lãng mạn của Wordsworth. Tương tự, phong cách văn xuôi hiện đại chủ nghĩa cô đọng và bị tỉnh lược mạnh của Hemingway tương phản rõ nét với các tiểu thuyết rậm rạp thời kỳ Victoria. Không phải chủ nghĩa hiện đại ruồng rẫy những cảm xúc chủ quan của chủ nghĩa lãng mạn mà là chủ thể hay bản ngã trong tác phẩm hiện đại bị nhiễu hóa cả về bình diện tâm lý lẫn thân thể. Kiểu hình ảnh chủ quan bị phân mảnh mà ta có thể cảm nhận được trong các tác phẩm theo khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa của Picasso tương phản gay gắt với cách phối màu hiền hòa trong hội họa tân Lãng mạn của Monet.

Mặt khác, nếu bạn sang khoa Triết học và đăng ký học môn “Triết học hiện đại”, thế thì bạn sẽ phải bắt đầu học không phải từ Nietzsche ở cuối thế kỷ XIX. Trên thực tế, theo quan niệm phổ biến trong ngành triết học, thời kỳ “hiện đại” được mở đầu bằng Descartes (sinh trong thời của Shakespeare) và kết thúc ở đầu thế kỷ XIX. Triết học hiện đại ở đây hàm ý chỉ triết học về chủ thể tính từ Descartes đến Kant hay Hegel. Nếu bạn sang khoa Lịch sử để đăng ký học môn “Châu Âu hiện đại thời kỳ đầu”, bạn sẽ phải tìm hiểu lịch sử từ thế kỷ XVI hay XVII, chứ không phải từ đầu thế kỷ XX. Theo quan niệm phổ biến trong ngành lịch sử, chữ “hiện đại” ở đây ứng với lịch sử quá trình công nghiệp hóa, sự xuất hiện của các thành phố và hoạt động thương mại, bắt đầu sau thời kỳ trung cổ hay phong kiến.

Và làm cho vấn đề thật sự trở nên rối tinh, trong lĩnh vực văn chương và nghệ thuật thị giác, như ta đã thấy ở trên, chữ “hiện đại” chỉ một thời kỳ lịch sử theo sau chủ nghĩa lãng mạn, bắt đầu từ khúc ngoặt sang thế kỷ XX và chấm dứt vào năm 1945. Vì thế, nếu bạn theo học một khóa về “Tiểu thuyết hiện đại Mỹ” ở trường đại học của chúng tôi, bạn sẽ học về tiểu thuyết Mỹ giai đoạn từ 1890 đến  1945; sau 1945, khóa học này có tên “Tiểu thuyết đương đại Mỹ”, hay có lẽ người ta sẽ gọi nó là “Tiểu thuyết hậu hiện đại Mỹ”. Song, xem xét tất cả những điều này, dường như chúng ta nhận ra mình đã đi xa hơn- thay vì gần hơn-một định nghĩa cụ thể về chủ nghĩa hiện đại hay chủ nghĩa hậu hiện đại. Hậu hiện đại là một phong cách hay là một thời kỳ lịch sử? Hay đó là cả hai?

Trong bài luận “Toward a Concept of Postmodernism” [Hướng đến một khái niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại” in trong cuốn The Postmodern Turn [Khúc ngoặt hậu hiện đại], Ihab Hassan đã liệt kê ra một danh sách những “khác biệt mang tính chất giản đồ” (“schematic differences”) giữa chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại trong văn chương và nghệ thuật. Có lẽ việc nhấn mạnh đến một số những khác biệt mà Hassan đã liệt kê ra sẽ làm cho vấn đề chúng ta quan tâm trở nên rõ ràng hơn.

Chủ nghĩa hiện đại (Modernism)                      Chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism)

Hình thức (đóng)                                                Phản hình thức [Anti-form] (Mở)

Tính mục đích                                                     Tính trò chơi

Tính thiết kế                                                       Tính ngẫu nhiên

Tính tôn ty                                                          Tính hỗn loạn

Thực thể nghệ thuật hoàn tất                               Tính quá trình/tính trình diễn

Gián cách                                                                    Can dự

Tổng thể hóa (Totalization)                                 Giải cấu trúc

Trung tâm                                                                   Phân tán

Ẩn dụ                                                                           Hoán dụ

Cái được biểu đạt                                                    Cái biểu đạt

Chiều sâu                                                           Bề mặt

Xác định                                                            Bất định

Bảng liệt kê của Hassan có xu hướng nhấn mạnh đến những khác biệt về phong cách (stylistic differences) giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại. Như ta đã thấy ở trên, cái bất ngờ, tính chất tra vấn, hình thức hướng đến tính quá trình của Seinfeld hay Unforgiven chính là những đặc điểm để người ta gọi những hiện tượng này là “hậu hiện đại”, để đối lập với tính tổ chức rất cao, tính tổng thể và hoàn kết của các chương trình TV hay các phim miền Tây truyền thống. Chính sự bất định (indeterminacy) và bất quyết (uncertainty) được tô đậm một cách chủ ý này làm nên phẩm chất hậu hiện đại của tác phẩm văn hóa.

Tuy nhiên, bảng liệt kê này – dẫu tiện lợi – cũng dẫn đến rất nhiều những vấn đề phức tạp. Thí dụ, bài thơ sáng tác năm 1922 của T.S.Eliot, “The Waste Land” (Đất hoang) là một kiệt tác của chủ nghĩa hiện đại song dường như nó hội tụ tất cả những dấu hiệu thẩm mỹ của chủ nghĩa hậu hiện đại: Bài thơ mang một hình thức mở gây ngạc nhiên, nó chủ yếu dựa trên “sự phân tán” thay vì “trung tâm”. Người ta cũng có thể nói như vậy đối với những nhà văn hiện đại chủ nghĩa nổi tiếng như Gertrude Stein hay William Faulkner: tác phẩm của họ có sự hiện hữu của tất cả những đặc điểm đánh dấu của chủ nghĩa hậu hiện đại. Thậm chí điều này còn trở nên phức tạp hơn rất nhiều nếu chúng ta nghĩ đến tính chất mở đáng kinh ngạc và sự phân tán cấu trúc trong một cuốn tiểu thuyết ở thế kỷ XVIIV- Tristram Shandy, hay ngay cả tác phẩm Canterbury Tales của Chaucer cũng có những đặc điểm này.

Song người ta cũng có thể giải quyết được vấn đề khó khăn này bằng cách nhấn mạnh nghĩa đen, mang tính lịch sử của hậu hiện đại: hậu hiện đại là thời kỳ sau hiện đại, sau khi Thế chiến II kết thúc, hay nói đơn giản là sau 1945. Dĩ nhiên, vấn đề nằm ở chỗ không phải mọi thứ được tạo ra ở thời kỳ này đều là “hậu hiện đại” nếu chiếu theo đặc điểm mà Hassan đã liệt kê ra. Chẳng hạn, tiểu thuyết của John Updike hay Joyce Carol Oates không dễ dàng vừa khít với chiếc áo “hậu hiện đại”. Do đó, định nghĩa khả dĩ nhất về hậu hiện đại là những tác phẩm nghệ thuật thể hiện những đặc điểm như tính đứt đoạn, sự mỉa mai và/hoặc mang tính phản thân được sáng tác sau 1945.

Câu hỏi thảo luận 1:

Theo định nghĩa này, tại sao mốc 1945 lại quan trọng? Những gì đã xảy ra sau 1945 dường như đã làm thay đổi thế giới, đời sống và ý thức của chúng ta theo những chiều hướng mang tính cách mạng?

Một khi bạn đã xác định một định nghĩa về hậu hiện đại thì câu hỏi kế tiếp, có tính logic, ngay lập tức ám ảnh bạn là: Thế nghệ thuật “hậu hiện đại” có gì hay, có gì thú vị? Trong rất nhiều những diễn ngôn phê bình gần đây trên các báo và tạp chí, những đặc điểm đánh dấu chủ nghĩa hậu hiện đại- sự đứt mạch, tính mỉa mai, sự phản thân, sự xáo trộn cố ý, sự lãnh đạm-hoặc được tung hô hoặc bị phủ định theo những cách quen thuộc: Chủ nghĩa hậu hiện đại, họ bảo, tôn vinh sự tự do của cái khả nhiên nhưng đồng thời nó cũng làm cho việc tạo ra các hiệu lực hay các quyết định cụ thể trở nên bất khả. Chủ nghĩa hậu hiện đại giải huyền thoại các trung tâm luận của siêu hình học phương Tây: logos, dương vật, Châu Âu và trong quá trình này, nó giữ nguyên hiện trạng vốn có vì nó bỏ lại chúng ta mà không chỉ cho phương hướng nào. Tác phẩm nghệ thuật hậu hiện đại nhấn mạnh đến sự phức tạp của thời đại chúng ta đang sống, do đó, nó vẫn còn tính chất của một thú tiêu khiển đặc tuyển dành cho một tầng lớp da trắng “nhiều chữ” thư nhàn, những kẻ “hiểu được chuyện cười”.

Câu hỏi thảo luận 2:

Có lẽ những câu hỏi xoay quanh “hậu hiện đại” rốt cục là: Nghệ thuật hậu hiện đại có đặt ra những câu hỏi lý thú đòi hỏi bạn phải trả lời không? Hay nó chỉ bắt bạn mỉm cười một cách ranh mãnh nếu bạn là bộ phận của cái đám đông trong câu chuyện cười đó? Chủ nghĩa hậu hiện đại, nói khác đi, là một hiện tượng phản động hay tiến bộ? Đây là câu hỏi sẽ dẫn đến những tranh cãi sôi nổi xung quan chủ nghĩa hậu hiện đại và vì thế nếu bạn đứng lớp, hãy sử dụng ví dụ của bạn hoặc một vài ví dụ mà chúng tôi đã đề cập đến như Seinfeld, Unforgiven, Hard Rock Cafes, Warhol Pynchon.

Chẳng hạn chúng ta có thể bắt đầu với hai bức tranh mà nhà phê bình Frederic Jameson đã chỉ ra như là hai đại diện tiêu biểu cho mỗi thời đại của chúng: bức tranh  Peasant Shoes của Vincent Vangogh (hiện đại chủ nghĩa) và Diamond Dust Shoes của Andy Warhol (hậu hiện đại). Hãy suy nghĩ về những khác biệt giữa hai bức tranh này – Đấy là câu hỏi dành cho giờ thảo luận trên lớp.

Vincent Van Gogh- The Peasant’s Shoes

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Jeffrey Nealon & Susan Searls Giroux,The Theory Toolbox- Critical Concepts for the Humanities, Arts & Social Sciences Rowman & Littlefield Publishers, Inc, 2003, p.125-131.