Tag Archives: hậu hiện đại

Charles Simic – Con nhân ngưu yêu mê cung của mình

the-labyrinth-of-the-minotaur

Charles Simic (1938) là nhà thơ Mỹ gốc Serbia. Ông là một tên tuổi quan trọng của nền thơ ca Mỹ đương đại với rất nhiều giải thưởng thơ ca danh giá, trong đó phải kể đến giải Pulitzer năm 1990 cho tập thơ văn xuôi The World Doesn’t End. Với cá nhân tôi, thơ của ông có sức gợi mở rất lớn đối với tôi khi tư  duy về thơ hiện đại. Đọc ông, tôi luôn có hứng thú muốn dịch dù bản thân ông đã từng nói, thơ trữ  tình bao giờ cũng tiệm cận với tính bất khả dịch. Cô đọng, đầy những kết hợp phi lý mà ám ảnh, và nhiều khi cũng trong suốt như  một bài thơ Thiền – thơ của Simic với tôi là những ấn tượng như  vậy.

Bài “The Minotaur Loves His Labyrinth” này là những đoản ngôn mà qua đó Simic trình bày những suy nghĩ của ông về thơ ca, về văn hóa, chính trị, lịch sử, thậm chí đan xen trong đó cả những bài thơ văn xuôi rất đặc trưng cho phong cách của ông: ám gợi, phi lý, hài hước. Ban đầu tôi chỉ định trích dịch để đăng báo, nhưng rồi nhận thấy những câu hay nhất trong bài này lại khó có thể đăng báo được, nên đành cố gắng dịch hết, dù biết là cũng rất liều lĩnh vì văn phong của ông đúc mà sâu. Coi như là cố gắng cuối cùng trong một năm để làm blog này  sống trở lại.

 

 

Nơi lý tưởng để dạy sáng tác văn học là một cửa hiệu sách cũ, Vava Hristic, bạn tôi, nói vậy.

*

Tôi viết cho một nhóm triết gia, những kẻ sẽ đi ăn tiệc, người ta sẽ nhớ đến họ như là những kẻ lấy đến suất thứ ba, thứ tư của cùng một ăn trong khi mải luận bàn siêu hình học. Những triết gia như là những kẻ cố kiếm tìm những khoảnh khắc mà các giác quan, tinh thần và xúc cảm được trải nghiệm đồng thời.

*

Linh cảm của tôi, rằng ngôn từ không đầy đủ khi nói về kinh nghiệm thực sự là một ý niệm tôn giáo, cái mà người ta gọi là thần học phủ định.

*

Tham vọng của phần lớn lý thuyết văn chương hiện nay có lẽ là chúng cố tìm ra những cách để đọc văn mà không cần đến trí tưởng tượng.

*

Điều mà tất cả những nhà chủ trương và xây dựng các xã hội không tưởng đều chia sẻ là nỗi sợ cái hài hước. Họ sợ nó là phải. Tiếng cười làm xói mòn những giáo điều và dẫn đường đến tình trạng vô chính phủ. Sự hài hước là thứ phản không tưởng. Có nhiều sự thật trong những chuyện cười mà người dân xô-viết kể hơn tất cả những cuộc sách viết về Liên Xô.

*

Những bài thơ cũ viết về Hình học của tôi (“Điểm”, “Tam giác”, “Đại lộ Euclid”, “Ballad của vòng quay bánh xe”) là nỗ lực của tôi để đọc giữa những đường thẳng Euclid.

*

Thành phố New York là một nơi quá phức tạp để chỉ có một vị thượng đế và một ác quỷ.

*

Thành tựu độc đáo nhất của văn chương Hoa Kỳ là sự vắng mặt của một ngôn ngữ văn chương chính thống.

*

Nơi thời gian và cái vĩnh cửu giao cắt với ý thức của tôi là nơi viên cảnh sát giao thống giương biển “Dừng lại”.

*

Đạo đức của sự đọc. Nhà phê bình có bất cứ trách nhiệm gì không đối với những chủ ý của tác giả? Tất nhiên là không – tất cả những nhà phê bình hợp thời đều nói vậy. Thế còn dịch giả? Chẳng phải nhà phê bình cũng là dịch giả hay sao? Liệu ta có thể chấp nhận một bản dịch Thần khúc của Dante coi thường mọi chủ ý của nhà thơ?

*

Cả Gombrowiz cũng từng băn khoăn vì sao các sinh viên giỏi có thể hiểu các tiểu thuyết, bài thơ, trong khi đó các nhà phê bình văn học hầu như lại chỉ nói những thứ vô nghĩa?

*

Tham vọng của chủ nghĩa hiện thực trong văn học là đạo văn Thượng đế.

*

Sự nhìn thấy được quyết định không phải bởi con mắt, mà bởi sự sáng rõ của ý thức trong tôi.. Phần lớn thời gian, con mắt chẳng nhìn thấy gì.

*

Trong cố gắng ly dị ngôn từ và kinh nghiệm, các nhà phê bình giải cấu trúc luận làm tôi nghĩ đến những bậc phụ huynh thuộc tầng lớp trung lưu không cho phép con mình được chơi ngoài đường phố.

*

Gần đây ở Hoa Kỳ, chúng ta bị mắc kẹt giữa những nhà phê bình không tin vào văn học và các nhà văn chỉ tin vào một thứ chủ nghĩa hiện thực ngây thơ. Trí tưởng tượng tiếp tục là thứ mà mọi người đều giả vờ xem như không tồn tại.

*

Nhiều nhà phê bình của chúng ta đọc văn chương giống như một nhân viên an ninh dưới chế độ toàn trị cố gắng săm soi những chất liệu có khả năng tạo ra sự lật đổ – thí dụ, sự khẳng định có một thế giới bên ngoài ngôn từ.

*

Thơ ca cố gắng bắc cầu qua vực thẳm giữa tên gọi và sự vật. Ngôn ngữ là vấn đề – đấy không phải là một bản tin đối với các thi sĩ.

*

Các nhà thơ đáng đọc thường tin rằng các sự vật ở thời đại mà họ sống không còn nữa. Thi sĩ luôn là những kẻ vô chính phủ, lỗi thời, lạc mốt và vĩnh viễn mang tính đương đại.

*

Một khoảnh khắc phi thời gian của ý thức có bao giờ có thể được hình dung đầy đủ bằng một phương tiện phụ thuộc vào thời gian, chẳng hạn, ngôn ngữ? Đấy chính là vấn đề đặt ra cho người theo thuyết thần bí và nhà thơ trữ tinh.

*

Một món hầm ngon lành được chế biến tại nhà gồm thiên thần và quái vật.

*

Một điểm đồng thuận giữa triết học phương Đông và phương Tây: con người sống như như kẻ khờ ngu.

*

Châm ngôn giống như một thước đo, một cảm quan về sự cân xứng, một nền tảng trung gian. Nếu nó được định nghĩa như vậy, dễ hiểu vì sao lại chỉ có một vài châm ngôn trong toàn bộ lịch sử nhân loại.

*

Nếu Derrida đúng, tất cả những gì các nhà thơ từng làm là huýt sáo trong bóng tối.

*

Như nhiều người khác, tôi lớn lên trong một thời đại cầu nguyện tự do và xây dựng những trại nô lệ. Hệ quả là mọi dạng chủ trương cải cách  đều làm tôi sợ hãi. Tôi chỉ cần được người ta bảo rằng mình đang được phục vụ một thứ đùi lợn muối sấy khô kiểu mới, ít mỡ và thế là tôi banh miệng ra.

*

Chính ham muốn được bất kính, láo xược chứ không phải điều gì khác là điều đầu tiên đưa tôi đến với thơ ca. Nhu cầu đùa giỡn với quyền lực, phá vỡ cấm kỵ, tôn vinh thân xác cùng chức năng của nó, khẳng định người ta nhìn thầy các thiên thần ngay khi người ta vừa nói không có chúa trời nào cả. Chỉ cần nghĩ đến việc mình có thể nói “cứt” với tất cả mọi thứ đã khiến tôi có thể lăn trên sàn nhà sung sướng.

*

Đây là ý tưởng hay nhất của Octavio Paz: “Bài thơ sẽ là một trong số ít ỏi những nguồn vui mà nhờ đó, con người có thể vượt qua bản thân mình để nhận thấy mình là gì một cách sâu xa và nguyên khôi nhất.”

*

Cảm giác về bản ngã tôi đang hiện sinh đến đầu tiên. Sau đó xuất hiện các hình ảnh và rồi là ngôn từ.

*

Hiện sinh không phải là một ý niệm trong triết học mà là một kinh nghiệm phi ngôn từ mà chúng ta có từ thời này đến thời kia.

*

Giả dụ anh không tin vào quan điểm của Hobbes, rằng nhân chi sơ tính bản ác còn xã hội mang tính thiện và anh cũng không tin vào quan điểm của Roussseau, con người tính bản thiện còn xã hội mang tính ác. Giả dụ anh tin vào pha trộn vô vọng và hỗn độn của mọi thứ.

*

Tôi biết có một anh bạn đọc đọc thơ hiện đại chỉ khi ở trong nhà vệ sinh.

*

Đây là một công thức nhanh cho việc làm một bài thơ hiện đại từ một bài thơ cũ. Hãy bỏ đi đoạn đầu và đoạn kết tức bỏ đi lời cầu khẩn nữ thần Thi ca và cái thông điệp cuối cùng được gói ghém đẹp đẽ.

*

Tôi vẫn nghĩ Camus nói đúng. Sự sáng sủa anh hùng trong diện mạo của cái phi lý là tất cả những gì chúng ta thực sự có.

*

Người ta nói Fourier, người vạch ra mô hình về một xã hội con người hoàn hảo, là người chưa bao giờ biết cười. Và rồi chúng ta đã có cái xã hội đó! Hạnh phúc tập thể dưới cái nhìn sắt đá của kẻ sát nhân.

*

Một thú nhận thực sự: Tôi tin vào con cá tan

*

Một ngôi trường nơi những học trò xuất sắc nhất đều bị tống cổ – đấy là hình ảnh mà bạn có thể hình dung về lịch sử của mối quan hệ giữa môi trường hàn lâm với nghệ thuật và văn chương đương đại. (Tôi nghĩa Valery cũng đã từng nói ý tương tự như vậy).

*

Bài thơ văn xuôi là kết quả của hai xung lực đối nghịch: văn xuôi và thơ, và do đó, không thể tồn tại. Thế nhưng nó đã tồn tại. Đấy là thí dụ duy nhất mà chúng có được về việc có thể thực hiện điều tưởng chừng không thể.

*

Đầu tiên, người ta đơn giản hóa bất cứ  cái gì phức tạp, quy giảm hiện thực thành một khái niệm đơn nghĩa, và thế rồi người ta bắt đầu xây một nhà thờ theo một kiểu nào đó. Điều không ngừng làm tôi ngạc nhiên là làm sao mọi thứ chủ nghĩa tuyệt đối kiểu mới, mọi thế giới quan một chiều lại ngay lập tức hấp dẫn nhiều người tưởng như thông minh đến vậy.

*

Tâm hồn tôi được kiến tạo nên bởi hàng ngàn hình ảnh mà tôi không thể tẩy xóa. Mọi thứ tôi đều nhớ một cách sống động, từ con ruồi trên bức tường ở Belgrade đến con phố nào đó ở San Francisco trong một buổi sáng sớm. Tôi như một cuốn phim cũ, nhiều khi câm tiếng, nhiều khi lại nhập nhòe.

*

Chỉ thơ ca mới đo được khoảng cách giữa chúng ta và cái/kẻ KHÁC.

*

Hình thức trong một bài thơ giống như trình tự các hành động trình diễn trong một màn xiếc.

*

Người ta viết vì nỗi xúc động từ sự khao khát cũng như niềm tuyệt vọng được chạm vào cái/kẻ KHÁC.

*

Chúng ta gọi “trí giả đường phố” là kẻ biết nhìn, nghe và diễn dịch đời sống đông đúc quanh mình. Bước xuống phố đông là một hành động phê bình. Văn chương, mỹ học và tâm lý học đều cùng hòa vào cuộc chơi.

*

Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa chính thống tôn giáo đều thậm ghét thành phố hiện đại bởi sự đa dạng và đồng hiện của nó. Sự ngu xuẩn và ý chí bạc nhược dễ dàng thống trị trong một cộng đồng nhỏ nhưng trong một thành phố, người ta có nhiều cách để tránh được sự thâu tóm của nó.

*

Trò lò cò. Pierre nhảy từ Stalin đến Mao, đến Polpot, rồi đến Saddam. Tôi hy vọng sau kinh nghiệm của thế kỷ này, trong tương lai, sẽ không còn ai tin vào huyền thoại về sự độc lập phê phán của các trí thức.

*

Bài thơ trữ tình thường là một khẳng định gây sốc, rằng cái riêng tư là cái công cộng, cái cục bộ là cái phổ quát, cái phù du là cái vĩnh cửu. Và điều đó xảy ra! Các thi sĩ hóa ra lại đúng. Đấy là điều các triết gia không thể tha thứ được cho các thi sĩ.

*

Có bao nhiêu lý thuyết gia, các giảng viên văn học thực sự hiểu rằng những bài thơ được viết ra không đơn thuần chỉ vì bản ngã của ai đó, vì một ý tưởng nào đó hay vì độc giả, mà vì một sự bất kính sâu sắc đối với thứ nghệ thuật thơ ca quý phái và cũ kỹ?

*

Chúng ta nói đến vần như là sự trợ giúp ký ức, nhưng chúng ta không nói như vậy về những hình ảnh ấn tượng và những phép so sánh bất thường vốn có cách tự làm cho chúng trở nên rất khó quên.

*

Tôi thích câu nói của Mina Loy: “Không một kẻ nào có đời sống tình dục thỏa mãn lại trở thành một tay kiểm duyệt đạo đức”.

*

Vì dân chủ không tin vào sự sở hữu chân lý độc quyền của một đảng phái, nó không thể tương thích với chủ nghĩa dân tộc và tôn giáo – tôi đã nói với những người bạn Nam Tư  của mình như vậy.

*

Khao khát của tôi là sáng tạo nên một hình thức phi thể loại tổng hòa văn xuôi hư cấu, tự thuật, tiểu luận, thơ ca, và đương nhiên, cả chuyện cười.

*

Một lý thuyết về vũ trụ: cái toàn thể câm lặng; cái bộ phận thét gào trong đau đớn hay trong tiếng cười sằng sặc.

*

Tôi muốn viết một cuốn sách mà nội dung của nó là sự suy ngẫm về mọi loại cửa sổ. Cửa sổ các cửa hàng, cửa sổ tu viện, những khung cửa rực nắng trên một con phố gồm toàn những cửa sổ sẫm màu, những ô cửa sổ phản chiếu những đám mây, những ô cửa sổ tưởng tượng, cửa sổ khách sạn, nhà tù…. những ô cửa sổ mà người ta liếc ra liếc vào. Những cửa sổ có tính chất của một thứ nghệ thuật tôn giáo, v.v…

*

Trường hợp của Rushdie chứng tỏ rằng văn chương là hoạt động nguy hiểm, chứ không phải phê bình văn học và quan điểm thời thượng hiện nay rằng văn chương chỉ đơn thuần là sự tuyên truyền cho tư tưởng hệ thống trị.

*

Đây là lý thuyết toàn trị về văn học kể từ Plato đến Tòa án dị giáo rồi đến Stalin và những kẻ đi theo họ:

1. Tách rời nội dung và hình thức, ý niệm và kinh nghiệm. Văn học chủ yếu là nội dung.

2. Nội dung cần phải được phơi bày, bóc trần cái-thực-sự-là. Cảnh sát tát chàng thi sĩ trẻ và đòi được biết ai ra lệnh cho anh ta viết như thế – đấy là một thứ lý tưởng bí mật.

3. Văn học là hình thức tuyên truyền thông mình cho một nguyên nhân cụ thể.

4. Văn học tự trị là thứ nguy hiểm về mặt xã hội. Nghệ thuật thuần túy là một sự báng bổ đối với quyền uy.

5. Không bao giờ được tin các nhà văn, nhà thơ. Hãy tin vào các nhà phê bình và các nhà kiểm duyệt vì sự cảnh giác không ngừng của họ.

*

Sự khác biệt giữa một độc giả và một nhà phê bình là gì? Độc giả đắm mình vào tác phẩm văn chương, nhà phê bình lại giữ độ gián cách để xem hình dạng mà nó tạo nên như thế nào. Độc giả theo đuổi khoái cảm, nhà phê bình lại muốn hiểu tác phẩm hoạt động như thế nào. Cái khoái cảm tính dục và sự tường giải  thường xuyên xung đột với nhau, thế nhưng trong trường hợp này, chúng nên đồng hành cùng nhau.

*

Một sinh viên ở trường trung học New Hampshire đọc một bài thơ cổ Trung Hoa và cảm thấy xúc động – một lý thuyết văn chương mà không giải thích được cho sự diệu kỳ-bình thường đó là một thứ lý thuyết đáng vứt đi.

*

Một nhóm lớn những kẻ mù văn hóa cứ ám lấy chúng ta không thôi: các giáo sư ở trường đại học, những người không đọc văn chương đương đại, cũng như không thèm biết mỹ thuật hiện đại, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, jazz hiện đại, v.v…

*

Sự vĩnh cửu là cơn mất ngủ của Thời gian. Ai đó đã nói thế hay đó là ý tưởng của chính tôi?

*

Nếu các bài thơ là sự biểu hiện về sắc tộc của ai đó, chúng sẽ mang tính địa phương; thế nhưng chúng lại được viết bởi những cá nhân trong mọi nền văn hóa, điều này khiến chúng trở thành phổ quát.

*

Cả trí tưởng tượng và kinh nghiệm của ý thức đều khẳng định mỗi thứ là tất cả và tất cả là mỗi thứ. Các ẩn dụ (nhìn thầy sự tương đồng ở khắp mọi nơi) mang tinh thần quốc tế chủ nghĩa. Nếu tôi là người theo chủ nghĩa dân tộc, tôi sẽ cấm việc sử dụng ẩn dụ.

*

Đối với Emily Dickinson, mọi ý niệm triết học là một tình nhân tiềm năng. Siêu hình học là lãnh địa của sự cám dỗ vĩnh cửu của các ý niệm về tinh thần.

*

Cá nhân là kẻ đo, thế giới là cái được đo và ngôn ngữ thơ ca là thước đo. Vậy đó! Giờ anh có thể treo cổ tôi bằng lưỡi của tôi!

*

Làm sao chúng ta có thể hiểu biết về cái/kẻ Khác? Hãy yêu, yêu đến si cuồng.

*

Rồi sẽ đến một thời điểm mà khoảnh khắc sống này mở rộng. Cái khoảnh khắc trở nên rộng rãi. Nó mở toan ra. Bất ngờ mọi thứ bên trong và bên ngoài chúng ta hoàn toàn khác hẳn đi. Tôi biết mình là ai, và tôi biết mình không là ai. Chỉ là tôi và Nó.

*

Có phải sự sáng rõ của ý thức là sự phủ định trí tưởng tượng? Người ta có thể tưởng tượng nhiều khi ở trong trạng thái bán ý thức.

*

Những cấp độ cao nhất của ý thức đều không lời và cấp độ thấp nhất của nó thì nói lắm.

*

Bộ lạc luôn muốn ta phải viết về “những chủ đề vĩ đại và cao quý”.

*

Khi tôi còn nhỏ, những cậu bé hư hàng xóm từng khuyên tôi hãy túm lấy hột dái của mình mỗi khi nhìn thấy một thầy tu. Đấy là bài học đầu tiên về nghệ thuật mà tôi được nhận.

*

Nhìn cái quen thuộc bằng con mắt mới, đó là ý niệm cốt lõi của nghệ thuật và văn chương hiện đại, của kinh nghiệm thường ngày trong đời sống lưu đày và di dân.

*

Đây là quan sát của Konstantin Nojka mà tôi hoàn toàn đồng tình: “Tư tưởng có trước ngôn ngữ – như ta có thể thấy qua ví dụ một cậu bé gọi một người lạ là ‘ba’. Những người lớn sửa lại cho cậu bé, bảo rằng đấy không phải là ‘ba’, nhưng điều mà đứa trẻ kia muốn nói là trông người đàn ông đó giống như ba của mình – ông ta có cùng chiều cao, cũng đeo kính, v.v”.

*

Giới hàn lâm luôn tin rằng họ đọc nhiều hơn các nhà thơ, song từ kinh nghiệm của mình, tôi thấy đó là điều hiếm hoi. Các nhà thơ thuộc thế hệ của tôi và thế hệ trước tôi đọc nhiều hơn giới hàn lâm cùng thời với mình, tất nhiên, trừ một số biệt lệ.

*

Jesus Christ, cũng giống như Sappho, đều là những kẻ thách thức bộ lạc. Thông điệp của họ là bạn không có bổn phận nào đối với bộ lạc cả, chỉ cần dành tình yêu cho Cha ở trường hợp Christ, và yêu chính nỗi cô đơn của mình – ở trường hợp Sappho.

*

Ý thức: que diêm cháy tàn nhìn thấy và biết được cái gì mà thứ ánh sáng ngắn ngủi của nó hắt lên.

*

Tưởng tượng cũng sánh ngang với Dục tính. Tôi muốn trải nghiệm cái cảm giác ở bên trong ai đó cùng lúc ai đó cảm thấy được tôi chạm vào.

*

Tôi đang phải làm công việc dịch cái không thể dịch được: hữu thể và sự im lặng của nó.

*

Nghệ thuật thi ca: cố gắng làm cho những kẻ coi ngục của bạn cũng phải bật cười.

*

Hai cành cây non vật nhau trong gió. Con quạ trên tuyết làm trọng tài.

*

Đây là nơi người ta làm những con lợn bỏ ống có khuôn mặt của Jesus.

*

Chàng Orpheus ở  Strafford, New Hampshirelàm dịu đi sự hung dữ của những con quái vật hoang dã bằng ống sáo kazoo mới của mình.

*

Ngày tôi đi lo chuẩn bị tang lễ cho bố vợ mình, tôi thoáng bắt gặp vợ của người làm dịch vụ lễ tang đang chăm sóc cho đứa con gái của họ. Bầu ngực của chị ta căng sữa.

*

Phần tiếp theo của Thần khúc của Dante: người anh hùng ở thời hiện đại thoái lui từ thiên đường về địa ngục.

*

Tôi có Một ngôi nhà Kinh dị, kích thước bằng đầu tôi, hoặc bằng cái vũ trụ đã được biết đến. Kích thước của nó thế nào, xét đến cùng, không quan trọng

Giống như mọi người, tôi đặt cược mọi thứ vào khả năng xa xôi, rằng trong nhiều điều nói dối, sẽ có một thứ trở thành sự thật. Tôi tự nhủ mình, trong những khoảnh khắc tự ve vuốt bản thân, rằng: “Mi không biết chứ, mi còn hơn cả một triết gia đấy.”

Về Ngôi nhà kinh dị LUÔN MỞ NGỎ, luôn được chiếu sáng ấy, nó chỉ là một căn phòng không cửa sổ, hoàn toàn không có gì, ngoại trừ ít rác trên sàn nhà.

*

Các sĩ quan Gestapo và KGB cũng tin chắc rằng cái cá nhân là cái mang tính chính trị.  Đức hạnh được đo theo mức độ là niềm tin khác của họ.

*

Sự gần gụi của hai người cùng lắng nghe bản nhạc họ yêu thích. Không có một sự hòa hợp nào hoàn hảo hơn thế. Tôi nhớ một buổi tối mùa hè, bên một chai rượu vang trắng rất ngon, Helen và tôi cùng thưởng thức bản “Blue Lester” do Prez chơi. Chúng tôi chăm chú nghe, như thể những kẻ đã từng nghe bản nhạc đến trăm lần, đến nỗi vào khoảnh khắc ấy, bản nhạc như thể kéo dài mãi mãi.

*

Sợi dây đã mất của một giấc mơ. Một cụm từ thật đẹp!

*

Nàng là người có niềm tin nhiệt thành đối với thuyết đa văn hóa, nhưng nàng lại phản đối mọi thứ thức ăn đặc sản dân tộc nhiều chất béo. Nhất là các loại xúc xích! Không tốt cho bạn đâu!

*

Cioran đã đúng khi nói “chúng ta đều là những kẻ có tinh thần tôn giáo mà lại không có một tôn giáo nào”.

*

Thuyết “Châu Âu là trung tâm” là ý tưởng ngớ ngẩn nhất mà giới hàn lâm từng đề xuất. Quan niệm cho rằng toàn bộ lịch sử châu Âu – bao gồm triết học của nó, văn chương, nghệ thuật, ẩm thực, những cái chết tử vì đạo, những sự đàn áp – là sự biểu hiện của một tư tưởng hệ đơn nhất có xuất xứ từ tạp chí National Enquirer [Tìm hiểu dân tộc], trên cùng một trang với bài báo “Tôi là nô lệ ái tình của con dã nhân”.

*

Ngay cả khi tôi dồn toàn bộ sự chú ý của mình để nhìn một con ruồi trên bàn thì tôi cũng liếc nhìn chính mình thật nhanh.

*

Nước Mỹ là xứ sở duy nhất trên thế giới nơi một phụ nữ giàu có với những người hầu có thể nói về việc phụ nữ bị đàn áp như thế nào mà không bị người ta cười.

*

Điều mà các nhà thơ trữ tình muốn làm là biến đổi phân mảnh thời gian của họ thành cái vĩnh cửu. Việc này giống như đi đến ngân hàng và đổi đồng tiền xu của bạn lấy một triệu dollar.

*

Tôi đồng ý với Isaiah Berlin khi ông phát biểu trong một bài phỏng vấn: “Tôi không hợp với những hệ thống muốn ôm trọn tất cả.”  Tôi cũng có nỗi sợ hãi đối với tất cả những bộ óc nhìn nhận các sự kiện như là ví dụ cho những luật lệ và nguyên lý phổ quát. Tôi có niềm tin vào sự hỗn độn sâu sắc của mọi thứ. Tôi gắn liền sự gọn gàng, ngăn nắp với thiết chế độc tài.

*

Làm thế nào để giết chết thứ thơ ca bẩm sinh của con trẻ – đấy chính là nội dung kín đáo của một hội thảo bàn về giáo dục ở nhà trường tiểu học. Tôi đã gặp ở đó những thầy giáo sợ hãi thơ ca giống như những con ma cà rồng sợ cây thập tự.

*

Với một người như  Edward Teller, khoa học tức là những cách thức mới mẻ và được cải tiến nhiều hơn để giết người và ông ta được đón tiếp nhiệt tình bởi những kẻ lãnh đạo cao cấp.

*

Chính từ trong những tác phẩm nghệ thuật và văn chương mà người ta có được thứ kinh nghiệm phong phú nhất về kẻ Khác. Khi kinh nghiệm ấy thực sự mạnh mẽ, chúng ta có thể trở thành bất kỳ ai, một ông hoàng nước Nga thế kỷ XIX, một ả điếm ở nước Ý thế kỷ XV.

*

Phần lớn các nhà văn chính trị cánh tả hay cánh hữu đều có thể hoán vị cho nhau được. Thế nên chuyện nhiều người theo chủ nghĩa tự do lại trở thành kẻ tân bảo thủ chỉ là trò chơi trẻ con mà thôi. Thật thanh thản làm sao cái ngày người ta nhận ra điều đó.

*

Đây là một quy luật chắc chắn của lịch sử: chân lý được biết đến chính ở thời điểm không ai thèm để ý đến nó.

*

Mỗi bài thơ là một lời mời gọi cho một cuộc du hành. Cũng như trong đời sống, chúng ta du lịch để tham quan những phong cảnh mới lạ.

*

Trở thành ngoại lệ đối với luật tắc – đấy là tham vọng duy nhất của tôi.

*

Cách đây hai mươi năm, bài thơ, đối với tôi, vẫn chủ yếu là một phát ngôn được gợi hứng và không được dự tính trước. Bạn tôi Vasko Popa lại nghĩ khác hẳn; bài thơ, với ông ấy, là một sự tính toán. Bài thơ, theo Popa, là một hành động của trí tuệ phê phán cao nhất. Ông đã nghĩ kỹ về mọi thứ mình định viết trong suốt phần còn lại của cuộc đời. Có một lần, khi đêm đã muộn, và đã ngà ngà say, ông đã miêu tả cho tôi một cách chi tiết những bài thơ tương lai của mình. Ông ấy đã không lừa tôi. Những năm sau này, tôi đã nhìn thấy những bài thơ của ông lần lượt được in và chúng y hết như những gì ông đã mô tả vào đêm đó.

*

Siêu hình học của Popa là chủ nghĩa tượng trưng, thế nhưng không hẳn là vì ông sử dụng các biểu tượng trong thơ của mình, cho dù thơ ông có các biểu tượng. Điều mà ông thật sự muốn hiểu là bí mật của việc các biểu tượng được làm ra như thế nào.

Thơ là một hành động thiêng liêng, người ta từng nói thế. Các bài thơ của Popa thể nghiệm cho cách mà những luật lệ của trí tưởng tượng hoạt động.

*

“Con chim salad”, Lucian viết, “là một con chim khổng lồ phủ toàn thân bằng màu xanh salad thay vì những chiếc lông; đôi cánh của nó trông hệt như lá rau diếp.” Đối với Popa, ngôn ngữ không phải một hệ thống trừu tượng mà là một thành ngữ sống động, một thành ngữ vốn đã đầy phát kiến mang tính thơ. Xét ở phương diện ấy,  trí tưởng tượng và thơ ca của ông bị chi phối hoàn toàn bởi thứ ngôn ngữ mà ông viết. Đọc những bài thơ của ông, độc giả bước vào ngôn ngữ Serbia, gặp gỡ các vị thần và quỷ dữ náu mình trong đó.

*

Nói ít, gợi nhiều, đấy là tất cả những gì của thơ. Một thành ngữ là cái chuồng nhốt con quái vật của bộ lạc. Nó mang theo cái mùi quen thuộc của nó. Chúng ta đang ở đây, trong lãnh địa của những ý nghĩa bị nhấn chìm và khó nắm bắt, không tương ứng với bất cứ từ ngữ nào có trên trang giấy. Thơ trữ tình, theo nghĩa đúng nhất của nó, là nỗi sợ hãi trước cái bất khả dịch. Giống như tuổi thơ, đó là thứ ngôn ngữ không thể thay thế được bằng một ngôn ngữ khác. Một bài thơ trữ tình tuyệt vời nhất định phải tiệm cận tính bất khả dịch.

*

Dịch thuật là phương tiện truyền đạt của một diễn viên. Nếu tôi không thể làm chính tôi tin rằng tôi đang viết bài thơ mà tôi đang dịch thì bao nhiêu hứng thú thẩm mỹ đối với công việc cũng chẳng giúp gì được cho tôi.

*

Sự sáng suốt hiền minh của một con người: anh ta có thể ngủ một giấc trưa dài trong một ngày có nhiều thứ đáng ra người ta phải bận tâm đến. Nói như  ai đó, loài mèo hiểu sự lười biếng là một thứ thiêng liêng.

*

Các nhạc sĩ blues không nghi ngờ rằng âm nhạc chạm vào tâm hồn.

*

Bài thơ “Trung điểm” của tôi là một sự giản ước, thu gọn bài thơ mười trang về những thành phố nơi tôi đã sống thành một phương trình. Sự tiêu giảm xuất hiện khi tôi nhận ra tất cả những thành phố tương lai của tôi là những hình ảnh bóng ma của thành phố nơi tôi sinh ra. Trong trí tưởng tượng của mình, bao giờ tôi cũng ở trung điểm.

*

Tôi lớn lên giữa những người vốn rất dí dỏm, giờ tôi mới nhận ra như thế. Họ biết cách kể các câu chuyện và biết cách cười – điều này làm cho mọi thứ thay đổi hoàn toàn.

*

Nhà hàng này là nhà hàng Hy Lạp. Tên người bồi bàn là Socrates, do đó, hẳn Plato phải ở trong bếp, và Aristotle là gã đang nghiên cứu đặt cược cho con ngựa nào trong trường đua ngay bên bàn thanh toán.

Thực đơn đặc biệt của ngày hôm nay: mực nướng với mùi tây tươi, tỏi và dầu ô liu.

*

Khi tôi bắt đầu viết thơ vào năm 1955, những cô nàng mà tôi muốn họ xem bài thơ của mình đều là gái Mỹ. Và tôi bị họ quây lấy. Từ  đó, tôi không còn có thể viết bằng ngôn ngữ bản địa của mình nữa.

*

Tôi thích Aristophanes hơn Sophocles, Rabelais hơn Dante. Trong hài kịch cũng chứa đựng nhiều chân lý, sự thật không kém bi kịch – quan điểm ấy không được nhiều người chia sẻ. Họ vẫn nghĩ hài kịch là sự nhạo báng những vấn đề nghiêm túc trong đời sống.

*

Cách đây hơn 40 năm, cô giáo lớp hai của tôi ở Belgrade bảo tôi là “đứa nói dối vô đối”. Tôi vẫn nhớ mình đã từng bị xúc phạm ghê gớm cũng như được ve vuốt hão huyền như thế nào.

*

Chỉ thông qua thơ ca, nỗi cô đơn của con người mới được nghe thấy trong lịch sử của nhân tính. Về mặt này, tất cả các nhà thơ, những người viết nên những bài thơ, đều là những người đương đại.

*

Một cảnh trong bộ phim Pháp thập niên 1950 đến giờ tôi vẫn còn yêu thích: Một con ruồi  vò vè trong căn phòng đóng kín với ba tên côn đồ có vũ khí và một phụ nữ, bị bịt miệng và trói, nàng quan sát ba kẻ hung đồ với cặp mắt lồi ra. Phía trước mỗi tên đàn ông là một viên đường và một chồng những tờ quảng cáo khổ lớn đặt trên bàn. Không ai động đậy. Một bóng đèn trần trụi được thả từ trần xuống bằng một sợi dây dài, khiến bọn họ có thể  nhìn thấy con ruồi đang đếm chân của mình. Nó đậu trên bàn và đếm chân của mình, như muốn nhử viên đường, rồi nó bò lên chóp mũi của ai đó, và tiếp tục đếm chân mình.

Tôi không hiểu đấy có phải thực sự là cảnh đã được dựng trong bộ phim đó hay không. Tôi đã suy nghĩ về cái cảnh này tỏng nhiều năm, điều chỉnh chút ít ở đó và biến nó thành một bài thơ.

*

Đời tôi, tôi phó mặc nó cho thơ của mình.

*

Tôi nghĩ ngành phân loại bệnh (nosology) hẳn có gì đó liên quan đến những cái mũi (noses). Nó giống như một thứ khoa học về mũi. Nhiều cái mũi đến lúc phải khám.Cái mũi hoàn hảo ở tiền sảnh một khách sạn lớn đốt điếu thuốc lá đầu vàng sau một cây cọ cảnh. Nữ chuyên gia phân loại bệnh xinh đẹp khám mũi của tôi và gần như đã để mũi nàng chạm mũi tôi.

Ngành phân loại bệnh, chán thay, chả liên quan gì đến những cái mũi.

*

Ôi xứ  sở đẹp tươi! Con khỉ bên máy chữ.

*

Tại một khu lân cận, nơi những kẻ cướp và hiếp thường xuyên đến vào đêm khuya, tôi đã bắc bục diễn thuyết ra và gào lên thật to: “Tất cả những gì tôi đã từng nói đã bị hiểu nhầm hoàn toàn!”

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Charles Simic, “The Minotaur Loves His Labyrinth” in “The Unemployed Fortune-Teller”, Essays and Memoirs,  The University of Michigan Press, 1997, p101-114.

Jeffrey T. Nealon – Thời đại của những thứ “Hậu” (phần 2)

Hậu cấu trúc luận

 

Với tư cách một thuật ngữ, “hậu cấu trúc luận” cũng phức tạp không kém “hậu hiện đại”: Trước khi nắm được chữ “hậu” trong thuật ngữ này có ý nghĩa gì, ta cần phải biết đôi điều về cấu trúc luận mà về logic, nó xuất hiện trước hậu cấu trúc luận. Cấu trúc luận là hay đã từng là một trào lưu xuyên/liên ngành trong lĩnh vực nhân văn và khoa học xã hội, có tác động lớn nhất đến ngôn ngữ học, dân tộc học, nhân học và phê bình văn học. Về bản chất, cấu trúc luận quan tâm đến việc nghiên cứu hệ thống biểu nghĩa hay biểu tượng và tiền đề cơ bản của trào lưu này đã trao cho nó tên gọi: Đối với bất kỳ một hiện tượng biểu nghĩa có sẵn, phải có một cấu trúc chìm bên dưới khiến cho hành động biểu nghĩa trở nên khả hữu và chi phối hành vi này theo cách thức nào đó.

 

Chẳng hạn, để bất kỳ một hành động ngôn từ nào có thể hiểu được, phải có một ngữ pháp chung giúp giải thích trật tự từ cụ thể, mẫu câu, ví trị của chủ ngữ, động từ, bổ ngữ, v.v… Bất cứ một hiện tượng biểu nghĩa hay có ý nghĩa nào cũng tiền giả định một kiểu cấu trúc nào đó, một hệ thống luật lệ và giá trị mà nhờ đó hiện tượng này được tạo lập và bên trong cấu trúc này, ít nhất, nó có thể hiểu được ở cấp độ tối thiểu đối với những ai nắm được hệ thống này. Theo đó, nghĩa của từ “cấu trúc” trong thuật ngữ “cấu trúc luận” phần nào đó trùng với “tư tưởng hệ” (ideology) trong định nghĩa thứ hai về khái niệm này như là “ý nghĩa chung phổ quát” (“common sense”) có tính chất chỉ đạo – một thỏa thuận được chia sẻ song chủ yếu thuộc về vô thức – của một xã hội (social body).

 

Một ví dụ về cách phân tích theo kiểu cấu trúc luận: để một người hiểu một mệnh lệnh đơn giản trong tiếng Anh “Đóng cửa lại!”, cả người nói và người nghe nhất thiết đã phải nắm được một lượng rất đáng kể thông tin “cấu trúc”, cả về thứ ngôn ngữ mà họ đang nói và cả tình huống giao tiếp của họ lúc này. Hình thức mệnh lệnh là một hình thức đặc biệt khó nắm bắt trong tiếng Anh, nó dựa trên giọng điệu của lời nói và những vấn đề thuộc về ngữ cảnh (vị trí xã hội tương đối giữa người nói và người nghe, sự hiểu lẫn nhau của người nói và người nghe về “vấn đề” được tạo ra từ một cánh cửa còn mở ngỏ, v.v…) cũng như “nội dung” của thông điệp; bên cạnh đó, chủ thể của mệnh lệnh được hàm ẩn hơn là biểu hiện trực tiếp, do vậy, để biết có thật là bạn là đối tượng được nhắm đến hay không, xét một cách nghiêm ngặt, thì dường như không thể nhìn ra ngay được từ bản thân câu nói. Để hiểu được ý nghĩa của mệnh lệnh giản đơn này, bạn cần phải nắm được cả ngữ pháp tiếng Anh và tình huống trong đó câu nói này được phát ngôn.

 

Nói khác đi, một số “cấu trúc” phức tạp chìm bên dưới cần phải nắm được trước khi một hành động tượng trưng đơn giản được trao cho ý nghĩa, và chủ nghĩa cấu trúc quan tâm đến việc phát lộ những hiện tượng ẩn chìm này. Như Robert Scholes đã viết trong cuốn Structuralism in Literature [Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học], “để tồn tại, bất kỳ một lĩnh vực khoa học nhân văn nào cũng phải chuyển trọng tâm từ những hiện tượng mà nó nhận ra đến cái hệ thống chi phối chúng” (14). Trên thực tế, người ta có thể nói rằng bước chuyển từ các sự vật sang các cấu trúc chi phối chúng là sự chuyển dịch mang tính trung tâm của mọi chủ nghĩa cấu trúc.

 

Lẽ dĩ nhiên, mỗi chúng ta, ai cũng vẫn luôn thể hiện những chuyển dịch cấu trúc luận như thế – từ một hành động tượng trưng cụ thể đến cấu trúc làm cho nó trở nên mang tính khả thụ (intelligible) – chúng ta chọn lựa, ít nhiều vô thức, các ký hiệu và biểu trưng theo các cấu trúc của tính khả thụ mà chúng ta đã học từ trước đó rất lâu. Thí dụ, trỏ ngón tay giữa nhằm vào ai đó, tự bản thân nó, là một hành động vô nghĩa, song nếu khi ta hiểu động tác này từ ngữ pháp cấu trúc của xã hội Mỹ, nó lại mang một ý nghĩa đặc biệt. Trên thực tế, quá trình quy chiếu (reference) thường xuyên mang tính tự động đến nỗi chúng ta nhận ra điều này chỉ khi nó bị phá vỡ theo cách nào đó, khi, chẳng hạn, ngôn từ và hình ảnh trở nên khó vì chúng bị “chồng mã” (over-coded) với sự đa bội của ý nghĩa (như trong ngôn ngữ văn chương hay thi ca) hay khi chúng ta tìm cách để hiểu một ngôn ngữ không quen hay tiếng nước ngoài-lúc đó chúng ta không biết được những cấu trúc xã hội và ngôn ngữ chìm bên dưới. Nói cách khác, khi chúng ta không biết hay không thể luận ra được các cấu trúc chìm của ý nghĩa thì ta mấy thấy rõ hơn bao giờ hết sự tồn tại của những cấu trúc này.

 

Câu hỏi thảo luận 1:

 

Hãy nhớ lại và mô tả lần gần đây nhất bạn ở trong một tình huống mà mình không hiểu được những cấu trúc chìm của ý nghĩa chi phối một cuộc chuyện trò. Một lần đến một đất nước khác chẳng hạn? Hay đến một vùng lân cận, một cửa hàng hay một quán bar ngay trong thành phố của mình? Đến dự một buổi tiệc cơ quan tại một nơi mà bạn không làm việc ở đó? Một trận cricket trên TV? Hay một buổi tối đi chơi với một nhóm người đều cùng làm một nghề – nha sĩ, chuyên gia máy tính, lái xe tải, thợ sửa đường nước, nhạc sĩ – và họ cứ nói không biết mệt về công việc hay sở thích của mình bằng một thứ ngôn ngữ có nhiều đặc thù mà bạn không hiểu?

 

Điều gì mà bạn cảm thấy không hiểu nhất khi ở trong một tình huống như thế? Hệ quả của điều đó đối với bạn là gì? Đó có phải là trường hợp mà bạn cần phải biết nhiều các cấu trúc phức tạp để bước vào những cuộc chuyện trò đơn giản?

 

*

Có lẽ diễn ngôn xác lập hệ hình cho chủ nghĩa cấu trúc là ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure. Chúng ta nhớ rằng Saussure đã phân biệt giữa ký hiệu vật chất (material sign) hay hành động ngôn từ (speech act) và các cấu trúc chìm – tương ứng lần lượt với cái được biểu đạt (signified) và ngữ pháp (grammar) – vốn làm cho những hành động tượng trưng như vậy trở nên có thể hiểu được. Saussure vẫn còn có ảnh hưởng quan trọng đối với hậu cấu trúc luận nhưng hậu cấu trúc đã soi rọi và chất vất cấu trúc luận tại chính điểm trọng tâm nhất của nó, tức sự chuyển dịch từ cái cụ thể (cái biểu đạt) sang cái cấu trúc chi phối nó (cái được biểu đạt).

 

Chắc chắn các nhà hậu cấu trúc sẽ đồng ý rằng ở vào một tình huống mà ta không hiểu một điều gì đó, những cấu trúc chìm của ý nghĩa sẽ trở nên hiển lộ rõ nhất: Khi người thợ sửa đường ống nước mô tả cho bạn một cách chi tiết hoạt động bên trong của một toilet, bạn sẽ nhận thấy anh ta đang liên hệ đến những cấu trúc mà bạn không hiểu; tương tự, khi bạn gọi một bữa sáng ở Đức và nhận về một thứ giống như là bữa trưa, bạn nhận ra-giống như Dorothy-mình không còn ở Kansas nữa. Bạn không nói sai nhưng “bữa sáng” trong tiếng Đức (cái mà người ta có thể gọi là cái được biểu đạt của bữa sáng) mang nghĩa khác với tiếng Anh.

 

Tuy nhiên, đối với những vở kịch nhỏ này, các nhà hậu cấu trúc luận sẽ bổ sung một quan sát khác: việc nhận ra mình không hiểu anh thợ sửa đường ống nước nói gì hay không thể gọi một bữa ăn sáng đúng nghĩa bằng tiếng Đức đồng thời cũng kéo theo việc nhận ra các cấu trúc của tính khả thụ không phải mang tính phổ quát hay trừu tượng. Khi hệ thống của bạn bị phá vỡ, bạn nhận thấy những cấu trúc chìm của ý nghĩa (những ngữ cảnh [context] tạo nghĩa) mỗi nơi một khác. Các cấu trúc của ý nghĩa, giống như bản thân ý nghĩa, không trừu tượng hay mang tính siêu nghiệm: Cái được biểu đạt (khái niệm bữa sáng, chẳng hạn) cũng mang tính cụ thể (phụ thuộc vào ngữ cảnh của ý nghĩa của nó) như cái biểu đạt (“breakfast” trong tiếng Anh hay “Fruhstuck” trong tiếng Đức); cái dường như là thứ ngữ pháp trừu tượng và phổ quát (bạn gọi món ?) cũng cụ thể và có thể thay đổi như câu hay từ liên quan đến nó.

 

Đối với một nhà hậu cấu trúc luận, cả cái biểu đạt cái được biểu đạt đều “võ đoán” (arbitrary) như thế này. Không có một liên hệ tất yếu (hay cấu trúc) nào giữa một từ và ý nghĩa của từ đó. Đây có lẽ là sự bổ sung quan trọng nhất của các nhà hậu cấu trúc luận  cho cấu trúc luận: Ngay cả bản thân các cấu trúc bề sâu hay cấu trúc chìm của ý nghĩa cũng mang tính võ đoán; cái chúng ta coi là nguyên nhân (cause) của ý nghĩa hay tính khả thụ tự thân nó đã là một kết quả (effect); ở bất cứ chỗ nào mà bạn nghĩ bạn đang thấy cái tự nhiên (nature) thì hóa ra ở đó văn hóa (culture) đã hiện hữu.

 

Nói một cái gì đó mang tính võ đoán, về cơ bản, nghĩa là nói rằng nó dựa trên sự thiên vị mang tính chất cá nhân và vì thế mà cũng dễ thay đổi nó được. Hiểu như vậy, cái mà hôm qua bạn gọi là bữa trưa là “võ đoán”, tùy tiện – nó là một sự thiên vị mang tính cá nhân không có logic nào ở đây và có thể thay đổi theo từng ngày. Tất nhiên, đây không phải là sự võ đoán theo nghĩa mà Saussure dùng để nói về bản chất của cái biểu đạt. Trong tiếng Anh, bữa ăn giữa ngày hôm qua được gọi là “bữa trưa” (lunch) như nhiều năm trước nó cũng vẫn được gọi như thế và sẽ rất tốt nếu ngày mai và nhiều nhiều năm sau, nó vẫn tiếp tục được gọi như vậy. Bạn có thể thể hiện sự thiên vị cá nhân của mình khi gọi nó là “flanjor” nhưng đừng kỳ vọng bất cứ ai cũng hiểu bạn đang nói gì khi nói “Hey, nào đi ăn flanjor thôi”. Cái biểu đạt, mặc dù mang tính “võ đoán”, không phải là một sự thiên vị cá nhân.

 

Trên thực tế, như Saussure đã viết, “bản chất võ đoán của ký hiệu thực chất chính là cái bảo vệ ngôn ngữ khỏi những mưu toan muốn biến đổi nó”. Nghe có vẻ lạ: Nếu “võ đoán” nghĩa là không có mối liên hệ “tự nhiên” nào giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt (đó là mối liên hệ “bị kiến tạo về văn hóa”, đối lập với cái gọi là “tất yếu” [essential]), thì chẳng phải suy ra từ điều này, mối liên hệ đó sẽ dễ dàng thay đổi hay điều chỉnh hơn sao? Nếu mối liên hệ giữa từ và ý nghĩa là “võ đoán” hơn là “tất yếu”, thế thì chẳng phải tất cả mọi từ đều phụ thuộc vào “sự biến đổi” (modification) dễ dàng theo cách này sao?

 

Câu hỏi thảo luận 2:

 

Vậy thì nói một điều gì đó là “võ đoán” nhưng vì thế nó kháng cự lại sự thay đổi thì có nghĩa lý gì? Để thay đổi một điều gì đó, chẳng phải ta phải chỉ ra nó không phải “tự nhiên” và do đó, có thể bị thay đổi hay sao? Nếu cái biểu đạt là “võ đoán” hay đơn thuần chỉ là “bị kiến tạo về văn hóa”, tại sao không nhiều người muốn gọi “lunch” là “flanjor”?

 

*

Sau cấu trúc luận, nói một điều gì đó mang tính chất “kiến tạo văn hóa” hơn là “bản chất” hay “tự nhiên” cũng có nghĩa hàm ý muốn nói điều đó không khó để thay đổi: Nếu nó không phải là bản chất hay tự nhiên thì sẽ dễ dàng để biến đổi nó, phải không? Ồ, không. Lấy thí dụ, đa số mọi người sẽ đồng ý rằng những vấn đề cấp thiết nhất của thời đại này đều là những kiến tạo xã hội: đói nghèo, tội phạm, phân biệt đối xử, thuế má, chiến tranh. Ai cũng biết những vấn đề này là những kiến tạo xã hội; sự phân biệt đối xử không phải là hiện tượng “tự nhiên” cũng như những thứ thuế cao hay chiến tranh; con người trở thành những tín đồ mù quáng, họ không được sinh ra như thế. Thế nhưng thực tế này dường như lại chẳng có tác động gì lớn lên diễn ngôn về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hay giới tính. Phần lớn mọi người có lẽ đều đồng ý rằng vai trò của phụ nữ không đơn thuần chỉ là làm vợ, làm mẹ nhưng điều này không thay đổi được thực tế của sự phân biệt giới tính trong xã hội. Nói như nhà nữ quyền luận Eve Kosofsky Sedgwick: “Tôi nhớ sự nồng nhiệt thể hiện trên bề mặt khi các học giả nữ quyền luận chào đón những phát hiện về bản chất văn hóa, chứ không phải bản chất sinh học, của hình thức này hay hình thức kia của sự trấn áp. Tôi đã thường băn khoăn rằng cái gì là nền tảng cho niềm lạc quan của chúng ta về khả năng dễ uốn nắn của văn hóa mà bất kỳ một nhóm hay một chương trình nào có thể tạo ra”.

 

Thực tế cho thấy nếu sự phân biệt đối xử là một thứ “tự nhiên” và theo cách nào đó, nó có thể bị vô hiệu hóa về mặt khoa học thì nó còn dễ thay đổi hơn là khi người ta đồng ý rằng sự phân biệt đã là một hiện tượng kiến tạo xã hội ngay từ đầu. Các tập quán xã hội, trên thực tế, cực khó để thay đổi, không phải vì chúng mang tính “tất yếu”/”bản chất” mà chính là vì chúng ta đã quen với nó. Không có lý do nhất thiết nào để hầu hết các trận cầu Mỹ chỉ diễn ra vào ngày chủ nhật (cũng như không có mối liên hệ tất yếu nào giữa từ “football” và phiên bản Mỹ của môn thể thao này) nhưng việc không có lý do nhất thiết nào cho việc nó được diễn ra theo cách này chắc chắn không có nghĩa là thực sự dễ quyết định làm việc đó theo một cách khác.

 

Vì “võ đoán” nghĩa là “được kiến tạo về mặt xã hội” theo Saussure, tất yếu nó cũng có nghĩa là “kháng cự lại sự thay đổi”. Các tập quán xã hội đã trở nên thâm căn cố đế, và các quy ước xã hội, bởi thế, không thể thay đổi chỉ qua bất cứ một hành động của cá nhân nào. Ngôn ngữ, như Saussure chỉ ra, có lẽ là ví dụ tuyệt vời nhất cho điều này: ngôn ngữ là một hệ thống xã hội về ý nghĩa mang tính võ đoán dựa trên những quy ước đã duy trì từ lâu nên nó có sức kháng cự rất cao đối với sự thay đổi. Thay từ “lunch” bằng từ “flanjor” khi từ “lunch” vẫn có một lực hấp dẫn trong cách sử dụng ngôn ngữ hàng ngày thì để làm gì? Chỉ ra một cái gì đó được kiến tạo hay được cấu trúc không giống với việc cuối cùng ta cũng hiểu được nó hay có thể bằng cách nào đó thay đổi nó toàn diện.

 

Tuy nhiên, trong nhiều biến thể của nó, cấu trúc luận mơ ước tìm thấy một kiểu cấu trúc phổ quát cho những hệ thống biểu tượng và một thứ tự nhiên có tính chất nền tảng nhất, xuất hiện trước bất kỳ một thứ văn hóa nào. Nhân học cấu trúc, chẳng hạn, đã lập luận rằng sự cấm kỵ loạn luân là cấu trúc nền tảng hay cấu trúc chìm của mọi hệ thống biểu tượng trong mọi xã hội. Như Jacques Derrida đã viết về tác phẩm của nhà nhân học cấu trúc Claude Levi-Strauss:

 

Xã hội, ngôn ngữ, lịch sử, cách diễn đạt (articulation)…được sinh ra cùng lúc với sự cấm kỵ loạn luân…vốn nằm ở bản lề giữa tự nhiên và văn hóa…[Sự cấm kỵ loạn luân], hơn thế, không đơn giản là một thành tố, giữa những thành tố khác, của văn hóa, vì nó là một lệnh cấm thiêng liêng và phổ quát. Nó là thành tố của bản thân văn hóa, cội nguồn không được công khai của những đam mê, của xã hội của ngôn ngữ.

 

Theo Derrida, một nhà hậu cấu trúc luận, cái đáng ngờ ở đây là phẩm chất “thiêng liêng và phổ quát” của sự cấm kỵ loạn luân mà Levi-Strauss khẳng định. Nói khác đi, điều đáng ngờ đối với một nhà hậu cấu trúc luận là dấu vết của một khẳng định mang hơi hướng thần học hay tính chất siêu nghiệm nào đó về “cấu trúc” theo quan điểm của cấu trúc luận. Tuy nhiên, các cấu trúc dường như chi phối các thực hành văn hóa bản thân chúng cũng là sản phẩm của các thực hành văn hóa. Đây là bài học của chủ nghĩa hậu cấu trúc và cũng là điểm nào mà nó dễ móc nối với chủ nghĩa hậu hiện đại nhất: Cả các nhà hậu hiện đại và hậu cấu trúc đều nhấn mạnh và làm nổi bật bản chất tạm thời của mọi khẳng định về sự thật/chân lý.Các sự thật/chân lý chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh đặc thù, điều đó không có nghĩa bất kỳ điều gì chúng ta nghĩ cũng đúng cả (như ta thấy xuyên suốt văn bản này), mà đúng hơn là các sự thật/chân lý phụ thuộc vào các ngữ cảnh đặc thù.

 

Câu hỏi thảo luận 3:

 

Thuyết big bang dường như là một phiên bản khoa học được chấp nhận về sự ra đời của vũ trụ: Tất cả bắt đầu từ một khối khổng lồ vỡ ra từ một vụ nổ lớn. Vũ trụ sẽ mở rộng ra đến hết khả năng của nó và lại bắt đầu thu nhỏ lại, ghép tất cả những vì vỡ vụn lại thành một khối không phân hóa. (Lý thuyết này đồng thời cũng giúp giải thích thuyết trọng lực, thuyết entropy, thuyết nhiệt động lực học và hàng loạt các khái niệm khoa học khác.)

 

Vậy có điểm gì đáng ngờ về lý thuyết big bang từ quan điểm hậu cấu trúc luận?

 

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Jeffrey Nealon & Susan Searls Giroux, The Theory Toolbox- Critical Concepts for the Humanities, Arts & Social Sciences, Rowman & Littlefield Publishers, Inc, 2003, p.131-140..

Octavio Paz – Bàn về ý nghĩa

Octavio Paz (1914-1998) là nhà thơ Mexico được trao giải Nobel Văn học năm 1990. Không chỉ được xem như một trong những gương mặt kiệt xuất nhất của thơ ca thế giới thế kỷ XX, Octavio Paz còn được nhìn nhận như một nhà tư tưởng hậu hiện đại và hậu thực dân với nhiều quan điểm sâu sắc và độc đáo. Tiếp cận di sản văn học của Octavio Paz, có thể thấy cái làm nên tầm vóc của một thi sĩ lớn là một vốn tri thức uyên bác về ngôn ngữ, thơ ca, nghệ thuật, lịch sử. Chùm tiểu luận ngắn dưới đây được dịch từ  cuốn “Alternating Current”, do Helen Lane dịch từ tiếng Tây Ban Nha sang tiếng  Anh, NXB Arcade Publishing, New York, ấn bản  1990.

*

Hình thức và ý nghĩa

Những ý tưởng thực sự về một bài thơ không phải là những thứ nảy sinh trong nhà thơ trước khi anh ta viết bài thơ mà đúng hơn là những gì xuất hiện trong tác phẩm của anh ta sau đó, cho dù bài thơ được viết theo chủ định hay chỉ là tình cờ, ngẫu nhiên. Nội dung bắt nguồn từ hình thức, chứ không phải ngược lại. Mọi hình thức đều tạo ra ý niệm của chính nó, nhãn quan của riêng nó về thế giới. Hình thức có ý nghĩa; hơn nữa, trong lĩnh vực nghệ thuật, chỉ hình thức mới sở hữu ý nghĩa. Ý nghĩa của bài thơ không nằm ở chỗ nhà thơ muốn nói gì mà ở chỗ bài thơ thực sự nói gì. Giữa chúng ta nghĩ chúng ta đang nói gì và chúng ta thật ra đang nói gì là hai điều rất khác nhau.

Để tưởng nhớ Aesop

 

Mọi thứ chúng ta gọi tên đều bước vào quỹ đạo của ngôn ngữ, và như thế, đồng thời cũng bước vào quỹ đạo của ý nghĩa. Thế giới này là một vũ trụ ý nghĩa, một ngôn ngữ. Nhưng mỗi từ lại có một ý nghĩa cụ thể, khác biệt và đối lập với ý nghĩa của tất cả những từ khác. Bên trong ngôn ngữ, các ý nghĩa giao đấu với nhau, trung lập hóa lẫn nhau, hư vô hóa lẫn nhau. Nhận định: “Mọi thứ có ý nghĩa vì nó là một phần của ngôn ngữ” có thể phải đảo ngược lại: “Chẳng có gì có ý nghĩa vì mọi thứ là ngôn ngữ”. Thế giới này là một vũ trụ, v.v…

Tự nhiên, Trừu tượng, Thời gian

“Từ mô phỏng đến phá hủy tự nhiên”: đây hoàn toàn có thể là nhan đề của một lịch sử nghệ thuật phương Tây. Một trong những nghệ sĩ hiện đại quan trọng nhất, và cũng có lẽ hiền minh nhất, Picasso, có nói: nếu chúng ta không thể thoát khỏi tự nhiên, như một số nghệ sĩ tiền bối và đương thời với ông đang cố gắng một cách vô ích, thì ít nhất chúng ta có thể làm biến dạng nó, phá hủy nó. Về cơ bản, đó chính là một hình thức mới của lòng sùng kính tự nhiên. Không có gì làm tự nhiên thích thú hơn, Sade nói, là những tội lỗi mà chúng ta tìm cách gây ra để xúc phạm nàng. Trong mắt nàng, sáng tạo và phá hủy cùng là một. Cơn thịnh nộ, niềm khoái lạc, sự bệnh hoạn hay thù hận làm thay đổi con người không kém khủng khiếp (hay hài hước) hơn sự cắt xẻo, biến dạng hay bút pháp cách điệu giận dữ mà Picasso ưa thích.

Tự nhiên không có lịch sử song những hình thức của nó là sự hiện thân sống động của tất cả các phong cách trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Tôi đã nhìn thấy sự khai sinh, sự nở rộ và sự suy thoái của phong cách Gothic trong những tảng đá ở thung lũng Kabul. Ở một cái ao được phủ bởi lớp váng màu xanh lá cây – đầy những hòn đá nhỏ, thực vật thủy sinh, những con ếch, những quái vật tí hon – tôi nhận thấy hình ảnh của cả nghệ thuật điêu khắc của ngôi đền Bayon ở Angkor lẫn phong cách một giai đoạn của Max Ernst. Hình thức và sơ đồ các công trình trong khu di tích khảo cổ Teotihuacán là bản sao của Thung lũng Mexico nhưng phong cảnh này đồng thời còn dự báo cho phong cách hội họa đời Tống. Kính hiển vi cho thấy công thức của tranh lụa thêu tanka của người Tây Tạng đã được ẩn giấu trong một số tế bào nhất định.. Kính hiển vi làm tôi nhận ra Tamayo không chỉ là một thi sĩ mà còn là một nhà thiên văn. Những đám mây trắng là những mảnh kính hình thoi của người Hy Lạp và người Arab. Tôi kinh ngạc bởi plata encantada, một loại đá vỏ chai được phủ bởi một chất thủy tinh màu trắng sữa mà từ đây tôi nhận ra phong cách của Monet và những người theo khuynh hướng của ông. Không thể chối bỏ thực tế rằng: tự nhiên xuất sắc trong nghệ thuật trừu tượng hơn là nghệ thuật hình tượng.

Hội họa trừu tượng hiện đại đã lựa chọn một trong hai hình thức: một cuộc kiếm tìm những bản chất (Kandinsky, Mondrian) hoặc đi theo chủ nghĩa tự nhiên của các họa sĩ biểu hiện trừu tượng Anh Mỹ[1]. Những người sáng lập nên trường phái này muốn thoát khỏi tự nhiên, muốn tạo nên một thể giới của những hình thức thuần túy và giản lược mọi hình thức về bản chất của chúng. Theo nghĩa này, những họa sĩ trừu tượng đầu tiên có thể được gọi là những nhà duy tâm (idealists). Người Mỹ không đi tìm cảm hứng cho mình từ tự nhiên nhưng họ quyết định làm việc theo cách tương tự như tự nhiên. Hành động hay động tác vẽ của họ ít nhiều là sự nhân đôi mang tính nghi thức hiện tượng tự nhiên. Vẽ giống như là hành động của mặt trời, nước, muối, lửa hay thời gian tác động lên sự vật. Ở một mức độ nào đó, hội họa trừu tượng và các hiện tượng tự nhiên là một sự ngẫu nhiên: chúng đều là sự giao cắt bất ngờ, không thấy trước của hai hay nhiều chuỗi sự kiện. Nhiều lần kết quả của sự giao cắt này thật ấn tượng: những bức tranh này là phân mảnh của vật chất sống, những khúc rời được cắt ra từ vũ trụ hoặc được đun lên sôi sùng sục. Tuy nhiên, đó là một thứ nghệ thuật phi chỉnh thể, như có thể thấy ở Pollock, một trong những họa sĩ quyền lực nhất của khuynh hướng này. Những bức sơn dầu hoành tráng của ông không có bắt đầu hay kết thúc; bất chấp kích thước rất lớn và nguồn năng lượng mãnh liệt được trút vào những bức tranh, dường như chúng vẫn là những khúc rời khổng lồ hơn là những thế giới hoàn chỉnh. Loại hội họa này không làm thỏa mãn nỗi khao khát của chúng ta về cái chỉnh thể. Những phân mảnh và những lời lắp bắp: một hối thúc mãnh liệt để biểu hiện hơn là một sự biểu hiện trọn vẹn.

Dù theo khuynh hướng duy tâm hay tự nhiên thì hội họa trừu tượng là một nghệ thuật phi thời gian. Bản chất và tự nhiên nằm bên ngoài dòng chảy của thời gian con người: những thành tố tự nhiên và Ý niệm không có ngày tháng. Tôi thích một khuynh hướng khác trong nghệ thuật hiện đại hơn: khuynh hướng cố gắng nắm bắt ý nghĩa của sự biến đổi. Sự tạo hình, giải tạo hình, biến dạng, một nghệ thuật thời gian: Picasso ở một đầu cân, Klee ở đầu kia, các họa sĩ siêu thực xuất sắc đứng ở giữa. Chúng ta biết ơn hội họa trừu tượng duy tâm khi nó mang đến một số hình thức thuần khiết và hoàn hảo nhất trong nửa đầu thế kỷ này. Khuynh hướng tự nhiên hay biểu hiện đã để lại cho chúng ta những tác phẩm vĩ đại và mãnh liệt, một thứ nghệ thuật bi kịch và, đôi khi, mang tính lai ghép. Đó là hệ quả của sự mâu thuẫn giữa hiện tượng tự nhiên (cái khách quan thuần túy) và hoạt động của con người (cái chủ quan, chủ ý). Một sự hỗn dung, xung đột hay một sự hòa trộn hai trật tự khác nhau của hiện thực: chất liệu sống của hội họa (năng lượng và quán tính) và sự đề cao cái chủ quan mang tinh thần lãng mạn chủ nghĩa của họa sĩ. Một bức tranh anh hùng, nhưng cũng là một bức tranh sân khấu: vừa là kỳ công táo bạo, vừa là động tác sân khấu. Nghệ thuật thời gian, về phần nó, là hình ảnh của một khoảnh khắc phong kín hiện hữu trong ngọn lửa của nó và thiêu rụi nó: nó là nghệ thuật của sự hiện hữu thậm chí ngay cả khi nó chặt vụn hiện hữu ra thành từng mẩu nhỏ như trong tác phẩm của Picasso. Hiện hữu không chỉ là những gì ta nhìn thấy: André Breton đề cập đến “người/vật mẫu bên trong” (“inner model”), ý muốn nói đến bóng ma ám ảnh chúng ta trong đêm, sự hiện hữu bí mật này là bằng chứng về sự tồn tại cái khác của thế giới này. Giacometti từng nói một điều mà ông muốn làm là một ngày nào đó có thể thực sự vẽ hay tạc một khuôn mặt. Braque không kiếm tìm bản chất của vật thể: ông trải rộng nó ra trên dòng sông siêu nghiệm của thời gian. Những giờ khắc trống rỗng của Chirico với không một bóng người trong tầm mắt. Những đường thẳng, màu sắc, mũi tên, vòng tròn của Klee: một bài thơ của sự vận động và biến dạng. Sự hiện hữu là mật mã của thế giới, mật mã của hữu thể. Nó cũng là vết sẹo, là dấu vết của vết thương thời gian: nó là khoảnh khắc, những khoảnh khắc. Nó là ý nghĩa nhắm đến vật thể được chỉ định, một vật thể được ham muốn và không bao giờ có thể đạt được hoàn toàn.

Sự kiếm tìm ý nghĩa hay sự hủy diệt nó (cả hai điều này không khác nhau, nó đều cho thấy không có cách nào thoát khỏi ý nghĩa) đều là trọng tâm của cả hai khuynh hướng. Thứ nghệ thuật vô nghĩa duy nhất của thời đại chúng ta là chủ nghĩa hiện thực: và không chỉ vì sản phẩm của nó thật tầm thường mà còn vì nó cứ khăng khăng tái tạo một thứ hiện thực tự nhiên và xã hội đã mất hết ý nghĩa. Nghệ thuật thời gian cương quyết đối đầu với sự mất mát ý nghĩa này và vì thế, nó là một thứ nghệ thuật của tưởng tượng vượt trội. Ở phương diện này, trào lưu Dada là một ví dụ (và là một trào lưu không thể bắt chước được, bất chấp những mô phỏng trào lưu này gần đây ở New York). Dada không những xem sự vắng mặt của ý nghĩa và sự phi lý như là lãnh địa của nó mà còn biến sự vắng mặt ý nghĩa trở thành phương tiện hiệu quả nhất của nó để phá hủy tri thức. Chủ nghĩa siêu thực tìm kiếm ý nghĩa trong trong niềm hưng phấn đầy sức hút của khoảnh khắc: tình yêu, cảm hứng. Từ khóa ở đây là sự đụng độ (encounter). Tất cả những điều này rốt cục để lại gì? Một vài bức tranh, một vài bài thơ: một nhánh thời gian sống. Thế đã là đủ. Ý nghĩa nằm ở nơi nào đó: bao giờ cũng chỉ cần dấn vài bước xa hơn.

 Hải Ngọc dịch.


[1] Tôi không thích thuật ngữ chủ nghĩa biểu hiện (expressionism) được dùng cho hội họa trừu tượng: ở đây có một sự mâu thuẫn giữa chủ nghĩa biểu hiện và trừu tượng. Thuật ngữ “hội họa trừu tượng” cũng dễ gây hiểu nhầm không kém. Nói như Benjamin Péret thì nghệ thuật bao giờ cũng cụ thể.