Tag Archives: Duo Duo

Đa Đa (Duo Duo – Nhà thơ Trung Quốc) – Đó là lý do để chúng ta bền lòng

Bài viết dưới đây là diễn từ của Đa Đa (Duo Duo, nhà thơ Trung Quốc -1951) tại lễ trao giải thưởng Văn chương Neustadt 2010. Bài này dịch đã lâu, nay mới lục lại được trong thư mục cũ, post lại trên blog này, bởi nhan đề của bài diễn từ cũng là điều mà mình tự nhủ trong những ngày này…

Đa Đa (Duo Duo) là một nhà thơ nổi bật của trào lưu thơ Mông lung, hình thành ở Trung Quốc từ cuối thập niên 1970 thế kỷ trước và đến năm 1980 thì bị cấm. Mặc dù vậy, các nhà thơ trong phong trào này như Đa Đa, Bắc Đảo, Mang Khắc, Cố Thành…vẫn luôn được ghi nhận như những người tạo ra khúc ngoặt lớn của thơ ca đương đại Trung Hoa. Một điều may mắn là trừ Đa Đa, các nhà thơ nổi bật của trường phái Mông lung đều đã được dịch sang tiếng Việt khá nhiều bài, đặc biệt là Bắc Đảo (có thể tìm đọc trên trang Tiền Vệ). Với cá nhân mình, việc đọc các nhà thơ Mông lung đã cho mình một cảm quan rất đặc biệt về văn học đương đại Trung Hoa, điều mà nếu chỉ đọc văn xuôi không thôi, rất có thể mình sẽ có những định kiến phần nào tiêu cực.

Vâng, sau tất cả, vẫn cần một sự bền lòng…

Cay co thu

*

Kính thưa quý vị,

Tối hôm nay, trước tất cả mọi người, tôi muốn trầm giọng mình xuống, để từ “biết ơn” có thể được nghe thấy rõ hơn. Đó là từ tôi nhất định phải nói và đáng lẽ phải được nói ra từ lâu rồi.

Kể từ lần đầu tiên khi được nghe những vần thơ của Baudelaire, Lorca, Tsvetaeva và Ehrenburg, một thế hệ nhà thơ Trung Hoa đã mang một nỗi hàm ơn – bởi nhiệt hứng sáng tạo mà những thi sĩ ấy đã truyền đến chúng tôi trong những tháng năm vô cùng nghiệt ngã. Ngôn từ, trong tay của kẻ đón nhận, lập tức đã trở thành số phận.

Thơ ca đã tác động đến chúng tôi với sức mạnh trực tiếp của nó và tôi tin từ thời điểm tác động, sức mạnh ấy lại được truyền ngược trở ra từ mỗi chúng tôi.

Từ ấy, biên giới của tôi chỉ còn là hai hàng cây.

Ngay lúc này đây, những dư âm của những năm 1970 vẫn còn vang vọng, những âm thanh đã tái tạo tính cách của con người. Một đất nước, một giọng nói – nhà thơ tự trục xuất mình ra khỏi tất cả những điều đó. Từ đấy khởi sự sự viết, từ đấy khởi sự lưu đày. Một vị trí tự nó đã đến gần tôi. Tôi chỉ là một con người. Tôi kiến tạo chính mình trên nền tảng đó. Tôi chỉ là một con người.

Tôi không nói về lịch sử, mà là về con người; sự hiện diện của nó trong từ “lịch sử” từ lâu đã gây tranh cãi. Trong từ này, đời sống được thơ ca dẫn lối để tìm kiếm cái mà như Sylvia Plath nói, “một xứ sở xa xôi như sinh lực.”

Tôi đang nói về sự viết, bản étude đấy khó khăn ấy.

Trong quá trình này, cái phải được nói ra gặp gỡ với cái không thể nói được. Mỗi một từ là một chất xúc tác, đòi hỏi nhà văn phải đột phá mạnh mẽ khỏi những chuyện kể khác, khỏi trại tập trung nguyên thủy, nơi lịch sử, xã hội và chính trị hội tụ với nhau, để chạm đến “cái gì” và “ai”. Chạm được vào đó, nhà văn sẽ thấy những đường biên vô tận của con người được rào kín bằng ngôn từ.

Tại điểm đó, mỗi một từ đều có một nửa đã được viết ra, một nửa có thể hiểu được. Ngữ pháp vẫn đang cân nhắc về nửa còn lại. Mỗi một từ không chỉ là một ký hiệu. Bên trong mỗi từ là khối óc của một đứa bé mồ côi. Không một từ nào có thể trẻ trung hơn, song bên trong từ “chịu đựng” là tất cả những bí mật của việc là-con-người.

Có lẽ sự cân nhắc từ ngữ cũng là một hình thức của sự kiếm tìm lẽ công bằng. Nếu một lời độc thoại có thể mời gọi một dàn đồng ca thì có lẽ nó cũng có thể nói cho những kẻ khác nữa. Thi ca tự đủ trong chính tính chất vô dụng của mình, và bởi thế, nó là một sự khinh thị quyền lực.

Ít nhất, lý tưởng của thi ca yêu cầu điều đó: ngay khi nhà thơ vẫn còn đang tìm cách đuổi bắt thì nó đã phát lộ khía cạnh giá trị nhất của nó. Nó cho phép ánh sáng rọi lên những hoen rỉ, để ánh sáng tỏa rạng và lan ra. Ánh sáng do đó đến nơi con người có thể đến, để một lần nữa lại nhận ra tình yêu.

Thứ khải thị chúng ta là sự do dự, phân vân, vì thế, hành động luôn là thứ đáng kết án; sự tối tăm trở nên hoàn thiện hơn, đến mức nó che lấp tất cả những rạn nứt còn lại mà không biết rằng thực ra ánh sáng khởi nguồn chính từ bên trong bản thân nó. Và đó chính là điều mà ngôn từ phải xuyên thấu.

Cái hiện tại, do đó, thậm chí còn trở nên ẩn mật hơn, thiên thần cũng không thể nói được luật lệ này – một lời phù chú đã được viết xuống.

Khi con đường đã trở thành một từ không nhấn giọng, thậm chí kể cả khi ta truy nguyên phả hệ của nó, cái trở lại chỉ là những vang động của một nền văn minh đặc thù. Vì thế chúng ta dừng lại ở đây, dừng lại nơi ta nghĩ mình có thể trở về và trải nghiệm toàn bộ cuộc hành trình tìm kiếm thứ ngôn từ đã bị vùi sâu dưới lớp quặng cùng với một quá khứ xa xôi đã bất tỉnh – một câu đố bị phong kín thử thách người nghe nó.

Khi nhà thơ lắng nghe, ở những giới hạn của sự thành thật, nơi tận cùng của logic, một “cái gì đó” sẽ được mở ra, “cái gì đó” đó chính là thời khắc hiện tại. Từ cội rễ sâu xa nhất của nó, ngôn từ bật tung ra từ câu đố. Có lẽ chính thứ ngôn từ này là cái đã được phát lộ nhờ các dấu vết: một sự tiệm cận, gặp gỡ, đối thoại.

Con đường chỉ tồn tại trong hiện tại; và chúng ta sử dụng những vang âm như những cột cây số.

Tôi đang nói về việc kinh nghiệm của một nhà thơ được đem vào ngôn ngữ như thế nào.

Sau khi đã phải hứng chịu những tạp âm của cách mạng, sự lật đổ, sự thể nghiệm và giải cấu trúc, nhà thơ vẫn còn có thể nghe được những gì? Chính bên trong cái từ bật ra từ câu đố – sự im lặng – chính là hoàn cảnh chung của chúng ta: trên một thế giới hoàn toàn vật chất, trên bình diện mang tính thể chất của con người thuần túy, chúng ta cho phép một thứ trí tuệ bất bình thường mổ rỉa và gặm nhấm cảnh quan; đó là một sự tiếp tục của các khẩu hiệu; một thứ bạo lực có thể chịu đựng được đang sử dụng ký ức như một loại nhiên liệu và cái được nhân lên phong phú chính là âm vọng từ hoàn cảnh của chúng ta, bởi từ đây, ngôn từ bắt đầu bước vào cuộc lưu đày của mình.

Nhưng từ không gian diễn ngôn được tạo nên bởi điển phạm thơ ca, thứ không ngừng vang động chính là lời nói vốn chưa bao giờ tách lìa khỏi sự im lặng: chỉ có ký ức, không có lãng quên, bởi không có núi, chỉ có những chóp đỉnh…

Ngôi đền các thi sĩ cổ điển Trung Hoa hiện lên, họ đem những rặng núi, những dòng sông, những sức nặng và áp lực theo ngôn từ của mình và giữa những dòng thơ, tất cả, để đến với chúng ta, không phải chỉ ở nơi ngôn từ thoát ra mà còn chính tại những điểm đứt gãy địa hình, chờ đợi chúng ta xới cày nơi chúng dừng lại – một mùa màng bắt đầu trên thảo nguyên cuộc đời. Trong một chuyện khác, trong cùng một dụ ngôn, cách chúng ta trở về với âm thanh của những đứt đoạn ấy cũng là cách ánh sáng tạo nên chân trời của chúng ta.

Chính tại điểm ấy, chúng ta cần đến một giọng nói của một câu chuyện chứa đựng tất thảy cất lên.

Nói về phương Đông – phương Tây, nói đến cái sân khấu chung trên đó, chúng ta, tất cả cùng hiện diện – mặt đấy này, bầu trời đầy sao phía trước, những nơi cư ngụ – những đồng minh của chúng ta trong sự viết, những độc giả của chúng ta –  những thảm cỏ dưới lòng biển.

Thiên nhiên không có một thứ nước hay mực nào khác, nỗi hiểm nguy đã được tìm thấy, thơ ca dạt vào vị trí ngoại biên, và vị trí ngoại biên này gần với quê nhà. Thơ ca coi vị trí ngoại biên này như một diễm phúc và nó tiếp tục mang đến những nghi lễ dành cho những dòng sông đau khổ, những phong cảnh mà trái tim ta có thể đọc ra ý nghĩa của chúng.

Đấy chính là lý do để chúng ta bền lòng.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Duo Duo, “This is the Reason We Peservere”, bản dịch từ tiếng Trung của Mai Mang, World Literature Today, March-April, 2011, p44-47.

 

 

Nhiều tác giả – Chùm thơ châu Á

Mang Khắc (Nhà thơ Trung Hoa – 1950)

Mang Khắc là một gương mặt nổi bật của trường phái thơ Mông Lung Trung Quốc. Tên thật là Khương Thế Vỹ, ông bắt đầu sáng tác vào những năm 1970, trong thời kỳ Cách mạng văn hóa. Cùng với những tên tuổi tiêu biểu của trường phái thơ Mông Lung như Bắc Đảo, Dương Luyện, Thư Đình, thơ Mang Khắc đánh dấu bước ngoặt của thơ ca Trung Quốc sang hệ hình hiện đại chủ nghĩa với thi pháp chịu nhiều ảnh hưởng từ chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực.

Mùa xuân

Mặt trời truyền máu của mình
cho mặt đất đang trong cơn thập tử nhất sinh
nó để cho thân thể của mặt đất
bồng bềnh trôi trong nắng
nó cũng để cho những chiếc lá xanh
mọc lên từ hài cốt của những người đã chết.
Này bạn, có nghe chăng
những cành non lá biếc mọc lên từ xương người ấy
đang cụng những chiếc ly làm bằng những bông hoa.

Và đó là mùa xuân.

Nguồn: Dịch từ bản dịch tiếng Anh “Spring” của Li Xijian và James Newcomb, đăng trên tạp chí Prairie Schooner, Vol.65, No.2, Focus on China, Summer 1991, trang 56.

Đa Đa (Nhà thơ Trung Hoa -1951)

Duo Duo (Đa Đa) là bút danh của Li Shizheng, sinh tại Bắc Kinh năm 1951. Ông bắt đầu làm thơ vào đầu những năm 1970 trong những năm tháng tăm tối, cô đơn của Cách Mạng Văn Hóa. Thường được xem là thuộc về trường phái “Mông lung thi” (Misty) trong thơ Trung Hoa đương đại, nhưng ông luôn giữ một khoảng cách thận trọng với mọi khuynh hướng hay những nhãn hiệu văn chương. Thơ của Đa Đa được đặc trưng bởi tính tượng trưng dồn nén, bởi những khoảng trống được mở ra bởi những sự gián đoạn, bỏ lửng đầy mơ hồ, những kết hợp hình ảnh phi lý tính. Năm 2011, ông đã được nhận Giải thưởng văn chương quốc tế Neudstat được tài trợ bởi trường Đại học Oklahoma và tạp chí World Literature Today cho sự nghiệp thơ ca của mình. Ông là tác giả Trung Quốc đầu tiên nhận được giải thưởng văn chương uy tín này.

Khi tôi biết tiếng chuông màu xanh

Từ bất cứ phía nào cái cây đối diện tôi chấp nhận bầu trời
Những từ ngữ màu xanh ô liu trốn giữa những hàng cây
Như ánh sáng trốn trong một cuốn từ điển

Được ghi lại bằng những ngôi sao vừa tắt
Được giữ cân bằng bởi bầy chim mù, ánh sáng
Và bóng của nó, cái chết và cái chết sắp đến

Hai trái lê đung đưa trên cây
Trái cây hắt bóng sớm nhất
Như tiếng chuông trốn giữa những hàng cây

Trên những vòm cây, gió tháng Chạp kháng cự lại thứ rượu vang còn khắc nghiệt hơn
Một trận gió mạnh, hối thúc ngôn từ được nói ra,
Bị cản lại bởi một ụ thóc thẳng đứng, bị chặn lối hoàn toàn.

Mơ… một cơn ác mộng của đá hoa cương… Mơ
Giật mình bởi âm thanh của… cơn gió lao mình xuống huyệt mộ… Bừng tỉnh
Chiếc lá cây cuối cùng đào thoát về trời

Trang viết của mùa thu, vỡ tung ra từ cái chết của cây
Tiếng chuông mang theo cả một trời vàng
Làm mặt tôi rạng lên. Lần cuối cùng.

1992
Nguồn: Dịch theo bản tiếng Anh “When I Knew The Bell Sound Was Green” của Gregory Lee, Manoa, Vol. 6, No. 1, Chinese Poetry after Tiananmen Square (Summer, 1994), p. 156

Ko Un (1933 – Hàn Quốc)

Ko Un thường được nhắc đến như một ứng cử viên sáng giá của giải Nobel văn học. Thơ của Ko Un đậm ý vị Thiền. Bài thơ được tinh giản cao độ, nhà thơ chủ trương tạo ra các khoảng trắng rộng rãi (hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng) trên bài thơ.

Thơ Ko Un không khỏi làm ta liên tưởng đến những bài hai ku – cái thể thơ tưởng chừng chỉ phô bày thuần túy sự hiện hữu của cái-bề-mặt, thậm chí là những cái-bề-mặt rất nhỏ nhặt, bình thường. Thế nhưng chính cái bề mặt đấy lại khiến ta bất ngờ bởi những triết lý hàm ẩn sâu xa.

Thơ Ko Un, mượn một ý của Wislawa Szymborska ( nhà thơ Ba Lan, Nobel văn học 1996), chứng mình cho cái khả năng lớn lao mà thơ ca đem đến cho con người: nuôi dưỡng niềm ngạc nhiên ở con người trước sự sống.

Chùm thơ ngắn
1

Hai kẻ ăn mày

Chia nhau bát cơm vừa xin được

Trăng thượng tuần sáng rỡ trên cao

2

Trên mảnh sân của một nhà nghèo

Trăng sáng quá

Xuyên thủng cả những chiếc bánh gạo.

3

Hãy tự kiếm một người bạn

Rồi sẽ hiểu một kẻ thù

Hãy tự kiếm một kẻ thù

Rồi sẽ hiểu một người bạn

Đây là kiểu trò chơi gì thế?

4

Ngàn giọt mưa

Lơ lửng treo trên một cành cây mục

Không rớt xuống một cách vô mục đích

5

Không một tiếng động

Vùi dưới đất sâu, rễ cây đang hóa thành hổ phách

Trong khi đó, trên mặt đất

tuyết đầu mùa đang rơi

Nguồn: Brother Anthony of Taizé, Young-moo Kim, Gary Gac dịch từ tiếng Triều Tiên, The Nation, Issue September, 18, 2006.

Một đêm dài

Chúng tôi dựng trại qua đêm
Giữa Shigatse và Latse
Trại vừa mới được dựng lên
Thì một cơn bão nổi
Cái trại lung lay như thể chực bay đi

Nước sông dâng lên
Mấp mé bờ
Cùng với tiếng ầm ào của dòng chảy

Ngay trước đó thôi, nước chúng tôi đun đã sôi đến 80 độ
Chẳng có cái gì có thể đạt được cả một trăm phần trăm
Nỗi âu lo và cả sự cam chịu của tôi đều bị đun sôi cùng nước

Mà tiếng nước sông vẫn một ngày một lớn
Việc duy nhất còn lại của tôi là để mình bị cuốn đi bởi dòng chảy đang phồng trương lên
Tôi hồi tưởng khuôn mặt của vợ tôi
Tôi hồi tưởng khuôn mặt con gái tôi
Tôi hoàn toàn vô dụng cho những thứ như là sự thật.

Nguồn: Dịch theo bản tiếng Anh “A Long Night” của Brother Anthony of Taizé and Lee Sang-Wha, Tạp chí Asymptote Journal, số tháng Giêng, 2011.

Toshio Nakae (1933 – Nhà thơ Nhật Bản)

Toshio Nakae, theo lời giới thiệu của tạp chí Poetry International Web, là nhân vật đứng bên lề đời sống văn chương và xã hội Nhật Bản. Nói về ông, nguời ta thường nghĩ đến ông như là một ẩn sĩ, nhưng đồng thời cũng nhớ đến ông một trong những nhà thơ tiền phong lớn nhất của thơ Nhật Bản hiện đại. Ông đi một con đường độc đạo không hoà vào bất cứ trào lưu, trường phái nào và vì thế thơ của ông cũng rộng hơn những trào lưu, trường phái. Đọc chùm thơ được giới thiệu trên tạp chí của ông, có thể thấy những mối băn khoăn của ông, sự tra vấn của ông về mối quan hệ giữa từ và vật, lời và sự im lặng, không gian của ngôn ngữ và không gian hiện sinh. Thơ của ông có bài ẩn sau vẻ trong trẻo của ngôn ngữ như những bài thơ haiku là những suy tưởng không dễ cảm nhận được ngay chiều sâu, lại có bài lâp lánh dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực.

Thế giới này

Nước và nước
không nhầm lẫn nhau
Nước và nước
biết về nhau rất rõ
Cá và sậy
biết điều này rất rõ
Trong thế giới này, nói khác đi,
mọi loại nước đều sống

Gió và gió
Không nhầm lẫn nhau
ngược lại, gió và gió
biết rõ sự khác nhau giữa chúng
Chim và cây, bởi vậy,
gọi chúng bằng những cái tên phân biệt nhau khá rõ
Trong thế giới này, nói khác đi,
mọi loại gió đều sống.

Vô số những loại nước khác nhau
và vô số những loại gió khác nhau
bao phủ mặt đất này
và thậm chí còn nhiệt tình bọc nó kín hơn nữa
Chúng phong lại mặt đất này nhẹ nhàng và mạnh mẽ
Và rồi, từ đó sinh ra,
như lũ gà con, vô số thứ khác nhau, một số có hình thù
một số thì không.

Ghế

Bạn ngồi trên chiếc ghế
Sự Im Lặng nhường nó cho bạn
Nhưng khi bạn đứng lên
Sự Im Lặng ngồi ngay xuống đó.
Không từ nào phát ra –
Lời của bạn tan biến
Vào khoảng tối bạn bỏ lại phía sau.

Nguồn: Dịch từ bản tiếng Anh của William I. Elliott and Kazuo Kawamura, tạp chí Poetry International Web, 1-2008

Thương Cầm (nhà thơ Đài Loan, 1930-2010)

Theo nhà nghiên cứu Michelle Yeh, Thương Cầm (Shang Qin) là “một trong những thi sĩ Trung Hoa sáng tạo và mạnh mẽ nhất không chỉ trong thời đại của chúng ta mà còn trong toàn bộ lịch sử thi ca Trung Hoa”. Sáng tác không nhiều nhưng thơ của Thương Cầm độc đáo bởi một thứ tư duy sắc sảo, không khỏi làm người ta liên tưởng đến một Franz Kafka hay Samuel Beckett trong văn chương Hoa ngữ, đặc biệt là trong các bài thơ văn xuôi – thể loại mà ông để lại những dấu ấn lạ lùng nhất: phóng túng, hài hước, thâm trầm, vừa đời thường, vừa triết lý.

Ho

Ngồi

một góc
phòng
trong thư viện
tôi cố gắng kiếm chế một sự hối thúc

cho đến khi ai đó lấy một cuốn sách
hình như là sách lịch sử
và đánh rơi xuống đất

lúc ấy
tôi không tài nào nén nổi
cơn ho

Nguồn: Dịch theo bản tiếng Anh “Cough” của Steve Bradbury, Tạp chí Full Tilt, Issue 05, 2010.
Hải Ngọc dịch