Tag Archives: dịch thuật

Charles Simic – Con nhân ngưu yêu mê cung của mình

the-labyrinth-of-the-minotaur

Charles Simic (1938) là nhà thơ Mỹ gốc Serbia. Ông là một tên tuổi quan trọng của nền thơ ca Mỹ đương đại với rất nhiều giải thưởng thơ ca danh giá, trong đó phải kể đến giải Pulitzer năm 1990 cho tập thơ văn xuôi The World Doesn’t End. Với cá nhân tôi, thơ của ông có sức gợi mở rất lớn đối với tôi khi tư  duy về thơ hiện đại. Đọc ông, tôi luôn có hứng thú muốn dịch dù bản thân ông đã từng nói, thơ trữ  tình bao giờ cũng tiệm cận với tính bất khả dịch. Cô đọng, đầy những kết hợp phi lý mà ám ảnh, và nhiều khi cũng trong suốt như  một bài thơ Thiền – thơ của Simic với tôi là những ấn tượng như  vậy.

Bài “The Minotaur Loves His Labyrinth” này là những đoản ngôn mà qua đó Simic trình bày những suy nghĩ của ông về thơ ca, về văn hóa, chính trị, lịch sử, thậm chí đan xen trong đó cả những bài thơ văn xuôi rất đặc trưng cho phong cách của ông: ám gợi, phi lý, hài hước. Ban đầu tôi chỉ định trích dịch để đăng báo, nhưng rồi nhận thấy những câu hay nhất trong bài này lại khó có thể đăng báo được, nên đành cố gắng dịch hết, dù biết là cũng rất liều lĩnh vì văn phong của ông đúc mà sâu. Coi như là cố gắng cuối cùng trong một năm để làm blog này  sống trở lại.

 

 

Nơi lý tưởng để dạy sáng tác văn học là một cửa hiệu sách cũ, Vava Hristic, bạn tôi, nói vậy.

*

Tôi viết cho một nhóm triết gia, những kẻ sẽ đi ăn tiệc, người ta sẽ nhớ đến họ như là những kẻ lấy đến suất thứ ba, thứ tư của cùng một ăn trong khi mải luận bàn siêu hình học. Những triết gia như là những kẻ cố kiếm tìm những khoảnh khắc mà các giác quan, tinh thần và xúc cảm được trải nghiệm đồng thời.

*

Linh cảm của tôi, rằng ngôn từ không đầy đủ khi nói về kinh nghiệm thực sự là một ý niệm tôn giáo, cái mà người ta gọi là thần học phủ định.

*

Tham vọng của phần lớn lý thuyết văn chương hiện nay có lẽ là chúng cố tìm ra những cách để đọc văn mà không cần đến trí tưởng tượng.

*

Điều mà tất cả những nhà chủ trương và xây dựng các xã hội không tưởng đều chia sẻ là nỗi sợ cái hài hước. Họ sợ nó là phải. Tiếng cười làm xói mòn những giáo điều và dẫn đường đến tình trạng vô chính phủ. Sự hài hước là thứ phản không tưởng. Có nhiều sự thật trong những chuyện cười mà người dân xô-viết kể hơn tất cả những cuộc sách viết về Liên Xô.

*

Những bài thơ cũ viết về Hình học của tôi (“Điểm”, “Tam giác”, “Đại lộ Euclid”, “Ballad của vòng quay bánh xe”) là nỗ lực của tôi để đọc giữa những đường thẳng Euclid.

*

Thành phố New York là một nơi quá phức tạp để chỉ có một vị thượng đế và một ác quỷ.

*

Thành tựu độc đáo nhất của văn chương Hoa Kỳ là sự vắng mặt của một ngôn ngữ văn chương chính thống.

*

Nơi thời gian và cái vĩnh cửu giao cắt với ý thức của tôi là nơi viên cảnh sát giao thống giương biển “Dừng lại”.

*

Đạo đức của sự đọc. Nhà phê bình có bất cứ trách nhiệm gì không đối với những chủ ý của tác giả? Tất nhiên là không – tất cả những nhà phê bình hợp thời đều nói vậy. Thế còn dịch giả? Chẳng phải nhà phê bình cũng là dịch giả hay sao? Liệu ta có thể chấp nhận một bản dịch Thần khúc của Dante coi thường mọi chủ ý của nhà thơ?

*

Cả Gombrowiz cũng từng băn khoăn vì sao các sinh viên giỏi có thể hiểu các tiểu thuyết, bài thơ, trong khi đó các nhà phê bình văn học hầu như lại chỉ nói những thứ vô nghĩa?

*

Tham vọng của chủ nghĩa hiện thực trong văn học là đạo văn Thượng đế.

*

Sự nhìn thấy được quyết định không phải bởi con mắt, mà bởi sự sáng rõ của ý thức trong tôi.. Phần lớn thời gian, con mắt chẳng nhìn thấy gì.

*

Trong cố gắng ly dị ngôn từ và kinh nghiệm, các nhà phê bình giải cấu trúc luận làm tôi nghĩ đến những bậc phụ huynh thuộc tầng lớp trung lưu không cho phép con mình được chơi ngoài đường phố.

*

Gần đây ở Hoa Kỳ, chúng ta bị mắc kẹt giữa những nhà phê bình không tin vào văn học và các nhà văn chỉ tin vào một thứ chủ nghĩa hiện thực ngây thơ. Trí tưởng tượng tiếp tục là thứ mà mọi người đều giả vờ xem như không tồn tại.

*

Nhiều nhà phê bình của chúng ta đọc văn chương giống như một nhân viên an ninh dưới chế độ toàn trị cố gắng săm soi những chất liệu có khả năng tạo ra sự lật đổ – thí dụ, sự khẳng định có một thế giới bên ngoài ngôn từ.

*

Thơ ca cố gắng bắc cầu qua vực thẳm giữa tên gọi và sự vật. Ngôn ngữ là vấn đề – đấy không phải là một bản tin đối với các thi sĩ.

*

Các nhà thơ đáng đọc thường tin rằng các sự vật ở thời đại mà họ sống không còn nữa. Thi sĩ luôn là những kẻ vô chính phủ, lỗi thời, lạc mốt và vĩnh viễn mang tính đương đại.

*

Một khoảnh khắc phi thời gian của ý thức có bao giờ có thể được hình dung đầy đủ bằng một phương tiện phụ thuộc vào thời gian, chẳng hạn, ngôn ngữ? Đấy chính là vấn đề đặt ra cho người theo thuyết thần bí và nhà thơ trữ tinh.

*

Một món hầm ngon lành được chế biến tại nhà gồm thiên thần và quái vật.

*

Một điểm đồng thuận giữa triết học phương Đông và phương Tây: con người sống như như kẻ khờ ngu.

*

Châm ngôn giống như một thước đo, một cảm quan về sự cân xứng, một nền tảng trung gian. Nếu nó được định nghĩa như vậy, dễ hiểu vì sao lại chỉ có một vài châm ngôn trong toàn bộ lịch sử nhân loại.

*

Nếu Derrida đúng, tất cả những gì các nhà thơ từng làm là huýt sáo trong bóng tối.

*

Như nhiều người khác, tôi lớn lên trong một thời đại cầu nguyện tự do và xây dựng những trại nô lệ. Hệ quả là mọi dạng chủ trương cải cách  đều làm tôi sợ hãi. Tôi chỉ cần được người ta bảo rằng mình đang được phục vụ một thứ đùi lợn muối sấy khô kiểu mới, ít mỡ và thế là tôi banh miệng ra.

*

Chính ham muốn được bất kính, láo xược chứ không phải điều gì khác là điều đầu tiên đưa tôi đến với thơ ca. Nhu cầu đùa giỡn với quyền lực, phá vỡ cấm kỵ, tôn vinh thân xác cùng chức năng của nó, khẳng định người ta nhìn thầy các thiên thần ngay khi người ta vừa nói không có chúa trời nào cả. Chỉ cần nghĩ đến việc mình có thể nói “cứt” với tất cả mọi thứ đã khiến tôi có thể lăn trên sàn nhà sung sướng.

*

Đây là ý tưởng hay nhất của Octavio Paz: “Bài thơ sẽ là một trong số ít ỏi những nguồn vui mà nhờ đó, con người có thể vượt qua bản thân mình để nhận thấy mình là gì một cách sâu xa và nguyên khôi nhất.”

*

Cảm giác về bản ngã tôi đang hiện sinh đến đầu tiên. Sau đó xuất hiện các hình ảnh và rồi là ngôn từ.

*

Hiện sinh không phải là một ý niệm trong triết học mà là một kinh nghiệm phi ngôn từ mà chúng ta có từ thời này đến thời kia.

*

Giả dụ anh không tin vào quan điểm của Hobbes, rằng nhân chi sơ tính bản ác còn xã hội mang tính thiện và anh cũng không tin vào quan điểm của Roussseau, con người tính bản thiện còn xã hội mang tính ác. Giả dụ anh tin vào pha trộn vô vọng và hỗn độn của mọi thứ.

*

Tôi biết có một anh bạn đọc đọc thơ hiện đại chỉ khi ở trong nhà vệ sinh.

*

Đây là một công thức nhanh cho việc làm một bài thơ hiện đại từ một bài thơ cũ. Hãy bỏ đi đoạn đầu và đoạn kết tức bỏ đi lời cầu khẩn nữ thần Thi ca và cái thông điệp cuối cùng được gói ghém đẹp đẽ.

*

Tôi vẫn nghĩ Camus nói đúng. Sự sáng sủa anh hùng trong diện mạo của cái phi lý là tất cả những gì chúng ta thực sự có.

*

Người ta nói Fourier, người vạch ra mô hình về một xã hội con người hoàn hảo, là người chưa bao giờ biết cười. Và rồi chúng ta đã có cái xã hội đó! Hạnh phúc tập thể dưới cái nhìn sắt đá của kẻ sát nhân.

*

Một thú nhận thực sự: Tôi tin vào con cá tan

*

Một ngôi trường nơi những học trò xuất sắc nhất đều bị tống cổ – đấy là hình ảnh mà bạn có thể hình dung về lịch sử của mối quan hệ giữa môi trường hàn lâm với nghệ thuật và văn chương đương đại. (Tôi nghĩa Valery cũng đã từng nói ý tương tự như vậy).

*

Bài thơ văn xuôi là kết quả của hai xung lực đối nghịch: văn xuôi và thơ, và do đó, không thể tồn tại. Thế nhưng nó đã tồn tại. Đấy là thí dụ duy nhất mà chúng có được về việc có thể thực hiện điều tưởng chừng không thể.

*

Đầu tiên, người ta đơn giản hóa bất cứ  cái gì phức tạp, quy giảm hiện thực thành một khái niệm đơn nghĩa, và thế rồi người ta bắt đầu xây một nhà thờ theo một kiểu nào đó. Điều không ngừng làm tôi ngạc nhiên là làm sao mọi thứ chủ nghĩa tuyệt đối kiểu mới, mọi thế giới quan một chiều lại ngay lập tức hấp dẫn nhiều người tưởng như thông minh đến vậy.

*

Tâm hồn tôi được kiến tạo nên bởi hàng ngàn hình ảnh mà tôi không thể tẩy xóa. Mọi thứ tôi đều nhớ một cách sống động, từ con ruồi trên bức tường ở Belgrade đến con phố nào đó ở San Francisco trong một buổi sáng sớm. Tôi như một cuốn phim cũ, nhiều khi câm tiếng, nhiều khi lại nhập nhòe.

*

Chỉ thơ ca mới đo được khoảng cách giữa chúng ta và cái/kẻ KHÁC.

*

Hình thức trong một bài thơ giống như trình tự các hành động trình diễn trong một màn xiếc.

*

Người ta viết vì nỗi xúc động từ sự khao khát cũng như niềm tuyệt vọng được chạm vào cái/kẻ KHÁC.

*

Chúng ta gọi “trí giả đường phố” là kẻ biết nhìn, nghe và diễn dịch đời sống đông đúc quanh mình. Bước xuống phố đông là một hành động phê bình. Văn chương, mỹ học và tâm lý học đều cùng hòa vào cuộc chơi.

*

Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa chính thống tôn giáo đều thậm ghét thành phố hiện đại bởi sự đa dạng và đồng hiện của nó. Sự ngu xuẩn và ý chí bạc nhược dễ dàng thống trị trong một cộng đồng nhỏ nhưng trong một thành phố, người ta có nhiều cách để tránh được sự thâu tóm của nó.

*

Trò lò cò. Pierre nhảy từ Stalin đến Mao, đến Polpot, rồi đến Saddam. Tôi hy vọng sau kinh nghiệm của thế kỷ này, trong tương lai, sẽ không còn ai tin vào huyền thoại về sự độc lập phê phán của các trí thức.

*

Bài thơ trữ tình thường là một khẳng định gây sốc, rằng cái riêng tư là cái công cộng, cái cục bộ là cái phổ quát, cái phù du là cái vĩnh cửu. Và điều đó xảy ra! Các thi sĩ hóa ra lại đúng. Đấy là điều các triết gia không thể tha thứ được cho các thi sĩ.

*

Có bao nhiêu lý thuyết gia, các giảng viên văn học thực sự hiểu rằng những bài thơ được viết ra không đơn thuần chỉ vì bản ngã của ai đó, vì một ý tưởng nào đó hay vì độc giả, mà vì một sự bất kính sâu sắc đối với thứ nghệ thuật thơ ca quý phái và cũ kỹ?

*

Chúng ta nói đến vần như là sự trợ giúp ký ức, nhưng chúng ta không nói như vậy về những hình ảnh ấn tượng và những phép so sánh bất thường vốn có cách tự làm cho chúng trở nên rất khó quên.

*

Tôi thích câu nói của Mina Loy: “Không một kẻ nào có đời sống tình dục thỏa mãn lại trở thành một tay kiểm duyệt đạo đức”.

*

Vì dân chủ không tin vào sự sở hữu chân lý độc quyền của một đảng phái, nó không thể tương thích với chủ nghĩa dân tộc và tôn giáo – tôi đã nói với những người bạn Nam Tư  của mình như vậy.

*

Khao khát của tôi là sáng tạo nên một hình thức phi thể loại tổng hòa văn xuôi hư cấu, tự thuật, tiểu luận, thơ ca, và đương nhiên, cả chuyện cười.

*

Một lý thuyết về vũ trụ: cái toàn thể câm lặng; cái bộ phận thét gào trong đau đớn hay trong tiếng cười sằng sặc.

*

Tôi muốn viết một cuốn sách mà nội dung của nó là sự suy ngẫm về mọi loại cửa sổ. Cửa sổ các cửa hàng, cửa sổ tu viện, những khung cửa rực nắng trên một con phố gồm toàn những cửa sổ sẫm màu, những ô cửa sổ phản chiếu những đám mây, những ô cửa sổ tưởng tượng, cửa sổ khách sạn, nhà tù…. những ô cửa sổ mà người ta liếc ra liếc vào. Những cửa sổ có tính chất của một thứ nghệ thuật tôn giáo, v.v…

*

Trường hợp của Rushdie chứng tỏ rằng văn chương là hoạt động nguy hiểm, chứ không phải phê bình văn học và quan điểm thời thượng hiện nay rằng văn chương chỉ đơn thuần là sự tuyên truyền cho tư tưởng hệ thống trị.

*

Đây là lý thuyết toàn trị về văn học kể từ Plato đến Tòa án dị giáo rồi đến Stalin và những kẻ đi theo họ:

1. Tách rời nội dung và hình thức, ý niệm và kinh nghiệm. Văn học chủ yếu là nội dung.

2. Nội dung cần phải được phơi bày, bóc trần cái-thực-sự-là. Cảnh sát tát chàng thi sĩ trẻ và đòi được biết ai ra lệnh cho anh ta viết như thế – đấy là một thứ lý tưởng bí mật.

3. Văn học là hình thức tuyên truyền thông mình cho một nguyên nhân cụ thể.

4. Văn học tự trị là thứ nguy hiểm về mặt xã hội. Nghệ thuật thuần túy là một sự báng bổ đối với quyền uy.

5. Không bao giờ được tin các nhà văn, nhà thơ. Hãy tin vào các nhà phê bình và các nhà kiểm duyệt vì sự cảnh giác không ngừng của họ.

*

Sự khác biệt giữa một độc giả và một nhà phê bình là gì? Độc giả đắm mình vào tác phẩm văn chương, nhà phê bình lại giữ độ gián cách để xem hình dạng mà nó tạo nên như thế nào. Độc giả theo đuổi khoái cảm, nhà phê bình lại muốn hiểu tác phẩm hoạt động như thế nào. Cái khoái cảm tính dục và sự tường giải  thường xuyên xung đột với nhau, thế nhưng trong trường hợp này, chúng nên đồng hành cùng nhau.

*

Một sinh viên ở trường trung học New Hampshire đọc một bài thơ cổ Trung Hoa và cảm thấy xúc động – một lý thuyết văn chương mà không giải thích được cho sự diệu kỳ-bình thường đó là một thứ lý thuyết đáng vứt đi.

*

Một nhóm lớn những kẻ mù văn hóa cứ ám lấy chúng ta không thôi: các giáo sư ở trường đại học, những người không đọc văn chương đương đại, cũng như không thèm biết mỹ thuật hiện đại, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, jazz hiện đại, v.v…

*

Sự vĩnh cửu là cơn mất ngủ của Thời gian. Ai đó đã nói thế hay đó là ý tưởng của chính tôi?

*

Nếu các bài thơ là sự biểu hiện về sắc tộc của ai đó, chúng sẽ mang tính địa phương; thế nhưng chúng lại được viết bởi những cá nhân trong mọi nền văn hóa, điều này khiến chúng trở thành phổ quát.

*

Cả trí tưởng tượng và kinh nghiệm của ý thức đều khẳng định mỗi thứ là tất cả và tất cả là mỗi thứ. Các ẩn dụ (nhìn thầy sự tương đồng ở khắp mọi nơi) mang tinh thần quốc tế chủ nghĩa. Nếu tôi là người theo chủ nghĩa dân tộc, tôi sẽ cấm việc sử dụng ẩn dụ.

*

Đối với Emily Dickinson, mọi ý niệm triết học là một tình nhân tiềm năng. Siêu hình học là lãnh địa của sự cám dỗ vĩnh cửu của các ý niệm về tinh thần.

*

Cá nhân là kẻ đo, thế giới là cái được đo và ngôn ngữ thơ ca là thước đo. Vậy đó! Giờ anh có thể treo cổ tôi bằng lưỡi của tôi!

*

Làm sao chúng ta có thể hiểu biết về cái/kẻ Khác? Hãy yêu, yêu đến si cuồng.

*

Rồi sẽ đến một thời điểm mà khoảnh khắc sống này mở rộng. Cái khoảnh khắc trở nên rộng rãi. Nó mở toan ra. Bất ngờ mọi thứ bên trong và bên ngoài chúng ta hoàn toàn khác hẳn đi. Tôi biết mình là ai, và tôi biết mình không là ai. Chỉ là tôi và Nó.

*

Có phải sự sáng rõ của ý thức là sự phủ định trí tưởng tượng? Người ta có thể tưởng tượng nhiều khi ở trong trạng thái bán ý thức.

*

Những cấp độ cao nhất của ý thức đều không lời và cấp độ thấp nhất của nó thì nói lắm.

*

Bộ lạc luôn muốn ta phải viết về “những chủ đề vĩ đại và cao quý”.

*

Khi tôi còn nhỏ, những cậu bé hư hàng xóm từng khuyên tôi hãy túm lấy hột dái của mình mỗi khi nhìn thấy một thầy tu. Đấy là bài học đầu tiên về nghệ thuật mà tôi được nhận.

*

Nhìn cái quen thuộc bằng con mắt mới, đó là ý niệm cốt lõi của nghệ thuật và văn chương hiện đại, của kinh nghiệm thường ngày trong đời sống lưu đày và di dân.

*

Đây là quan sát của Konstantin Nojka mà tôi hoàn toàn đồng tình: “Tư tưởng có trước ngôn ngữ – như ta có thể thấy qua ví dụ một cậu bé gọi một người lạ là ‘ba’. Những người lớn sửa lại cho cậu bé, bảo rằng đấy không phải là ‘ba’, nhưng điều mà đứa trẻ kia muốn nói là trông người đàn ông đó giống như ba của mình – ông ta có cùng chiều cao, cũng đeo kính, v.v”.

*

Giới hàn lâm luôn tin rằng họ đọc nhiều hơn các nhà thơ, song từ kinh nghiệm của mình, tôi thấy đó là điều hiếm hoi. Các nhà thơ thuộc thế hệ của tôi và thế hệ trước tôi đọc nhiều hơn giới hàn lâm cùng thời với mình, tất nhiên, trừ một số biệt lệ.

*

Jesus Christ, cũng giống như Sappho, đều là những kẻ thách thức bộ lạc. Thông điệp của họ là bạn không có bổn phận nào đối với bộ lạc cả, chỉ cần dành tình yêu cho Cha ở trường hợp Christ, và yêu chính nỗi cô đơn của mình – ở trường hợp Sappho.

*

Ý thức: que diêm cháy tàn nhìn thấy và biết được cái gì mà thứ ánh sáng ngắn ngủi của nó hắt lên.

*

Tưởng tượng cũng sánh ngang với Dục tính. Tôi muốn trải nghiệm cái cảm giác ở bên trong ai đó cùng lúc ai đó cảm thấy được tôi chạm vào.

*

Tôi đang phải làm công việc dịch cái không thể dịch được: hữu thể và sự im lặng của nó.

*

Nghệ thuật thi ca: cố gắng làm cho những kẻ coi ngục của bạn cũng phải bật cười.

*

Hai cành cây non vật nhau trong gió. Con quạ trên tuyết làm trọng tài.

*

Đây là nơi người ta làm những con lợn bỏ ống có khuôn mặt của Jesus.

*

Chàng Orpheus ở  Strafford, New Hampshirelàm dịu đi sự hung dữ của những con quái vật hoang dã bằng ống sáo kazoo mới của mình.

*

Ngày tôi đi lo chuẩn bị tang lễ cho bố vợ mình, tôi thoáng bắt gặp vợ của người làm dịch vụ lễ tang đang chăm sóc cho đứa con gái của họ. Bầu ngực của chị ta căng sữa.

*

Phần tiếp theo của Thần khúc của Dante: người anh hùng ở thời hiện đại thoái lui từ thiên đường về địa ngục.

*

Tôi có Một ngôi nhà Kinh dị, kích thước bằng đầu tôi, hoặc bằng cái vũ trụ đã được biết đến. Kích thước của nó thế nào, xét đến cùng, không quan trọng

Giống như mọi người, tôi đặt cược mọi thứ vào khả năng xa xôi, rằng trong nhiều điều nói dối, sẽ có một thứ trở thành sự thật. Tôi tự nhủ mình, trong những khoảnh khắc tự ve vuốt bản thân, rằng: “Mi không biết chứ, mi còn hơn cả một triết gia đấy.”

Về Ngôi nhà kinh dị LUÔN MỞ NGỎ, luôn được chiếu sáng ấy, nó chỉ là một căn phòng không cửa sổ, hoàn toàn không có gì, ngoại trừ ít rác trên sàn nhà.

*

Các sĩ quan Gestapo và KGB cũng tin chắc rằng cái cá nhân là cái mang tính chính trị.  Đức hạnh được đo theo mức độ là niềm tin khác của họ.

*

Sự gần gụi của hai người cùng lắng nghe bản nhạc họ yêu thích. Không có một sự hòa hợp nào hoàn hảo hơn thế. Tôi nhớ một buổi tối mùa hè, bên một chai rượu vang trắng rất ngon, Helen và tôi cùng thưởng thức bản “Blue Lester” do Prez chơi. Chúng tôi chăm chú nghe, như thể những kẻ đã từng nghe bản nhạc đến trăm lần, đến nỗi vào khoảnh khắc ấy, bản nhạc như thể kéo dài mãi mãi.

*

Sợi dây đã mất của một giấc mơ. Một cụm từ thật đẹp!

*

Nàng là người có niềm tin nhiệt thành đối với thuyết đa văn hóa, nhưng nàng lại phản đối mọi thứ thức ăn đặc sản dân tộc nhiều chất béo. Nhất là các loại xúc xích! Không tốt cho bạn đâu!

*

Cioran đã đúng khi nói “chúng ta đều là những kẻ có tinh thần tôn giáo mà lại không có một tôn giáo nào”.

*

Thuyết “Châu Âu là trung tâm” là ý tưởng ngớ ngẩn nhất mà giới hàn lâm từng đề xuất. Quan niệm cho rằng toàn bộ lịch sử châu Âu – bao gồm triết học của nó, văn chương, nghệ thuật, ẩm thực, những cái chết tử vì đạo, những sự đàn áp – là sự biểu hiện của một tư tưởng hệ đơn nhất có xuất xứ từ tạp chí National Enquirer [Tìm hiểu dân tộc], trên cùng một trang với bài báo “Tôi là nô lệ ái tình của con dã nhân”.

*

Ngay cả khi tôi dồn toàn bộ sự chú ý của mình để nhìn một con ruồi trên bàn thì tôi cũng liếc nhìn chính mình thật nhanh.

*

Nước Mỹ là xứ sở duy nhất trên thế giới nơi một phụ nữ giàu có với những người hầu có thể nói về việc phụ nữ bị đàn áp như thế nào mà không bị người ta cười.

*

Điều mà các nhà thơ trữ tình muốn làm là biến đổi phân mảnh thời gian của họ thành cái vĩnh cửu. Việc này giống như đi đến ngân hàng và đổi đồng tiền xu của bạn lấy một triệu dollar.

*

Tôi đồng ý với Isaiah Berlin khi ông phát biểu trong một bài phỏng vấn: “Tôi không hợp với những hệ thống muốn ôm trọn tất cả.”  Tôi cũng có nỗi sợ hãi đối với tất cả những bộ óc nhìn nhận các sự kiện như là ví dụ cho những luật lệ và nguyên lý phổ quát. Tôi có niềm tin vào sự hỗn độn sâu sắc của mọi thứ. Tôi gắn liền sự gọn gàng, ngăn nắp với thiết chế độc tài.

*

Làm thế nào để giết chết thứ thơ ca bẩm sinh của con trẻ – đấy chính là nội dung kín đáo của một hội thảo bàn về giáo dục ở nhà trường tiểu học. Tôi đã gặp ở đó những thầy giáo sợ hãi thơ ca giống như những con ma cà rồng sợ cây thập tự.

*

Với một người như  Edward Teller, khoa học tức là những cách thức mới mẻ và được cải tiến nhiều hơn để giết người và ông ta được đón tiếp nhiệt tình bởi những kẻ lãnh đạo cao cấp.

*

Chính từ trong những tác phẩm nghệ thuật và văn chương mà người ta có được thứ kinh nghiệm phong phú nhất về kẻ Khác. Khi kinh nghiệm ấy thực sự mạnh mẽ, chúng ta có thể trở thành bất kỳ ai, một ông hoàng nước Nga thế kỷ XIX, một ả điếm ở nước Ý thế kỷ XV.

*

Phần lớn các nhà văn chính trị cánh tả hay cánh hữu đều có thể hoán vị cho nhau được. Thế nên chuyện nhiều người theo chủ nghĩa tự do lại trở thành kẻ tân bảo thủ chỉ là trò chơi trẻ con mà thôi. Thật thanh thản làm sao cái ngày người ta nhận ra điều đó.

*

Đây là một quy luật chắc chắn của lịch sử: chân lý được biết đến chính ở thời điểm không ai thèm để ý đến nó.

*

Mỗi bài thơ là một lời mời gọi cho một cuộc du hành. Cũng như trong đời sống, chúng ta du lịch để tham quan những phong cảnh mới lạ.

*

Trở thành ngoại lệ đối với luật tắc – đấy là tham vọng duy nhất của tôi.

*

Cách đây hai mươi năm, bài thơ, đối với tôi, vẫn chủ yếu là một phát ngôn được gợi hứng và không được dự tính trước. Bạn tôi Vasko Popa lại nghĩ khác hẳn; bài thơ, với ông ấy, là một sự tính toán. Bài thơ, theo Popa, là một hành động của trí tuệ phê phán cao nhất. Ông đã nghĩ kỹ về mọi thứ mình định viết trong suốt phần còn lại của cuộc đời. Có một lần, khi đêm đã muộn, và đã ngà ngà say, ông đã miêu tả cho tôi một cách chi tiết những bài thơ tương lai của mình. Ông ấy đã không lừa tôi. Những năm sau này, tôi đã nhìn thấy những bài thơ của ông lần lượt được in và chúng y hết như những gì ông đã mô tả vào đêm đó.

*

Siêu hình học của Popa là chủ nghĩa tượng trưng, thế nhưng không hẳn là vì ông sử dụng các biểu tượng trong thơ của mình, cho dù thơ ông có các biểu tượng. Điều mà ông thật sự muốn hiểu là bí mật của việc các biểu tượng được làm ra như thế nào.

Thơ là một hành động thiêng liêng, người ta từng nói thế. Các bài thơ của Popa thể nghiệm cho cách mà những luật lệ của trí tưởng tượng hoạt động.

*

“Con chim salad”, Lucian viết, “là một con chim khổng lồ phủ toàn thân bằng màu xanh salad thay vì những chiếc lông; đôi cánh của nó trông hệt như lá rau diếp.” Đối với Popa, ngôn ngữ không phải một hệ thống trừu tượng mà là một thành ngữ sống động, một thành ngữ vốn đã đầy phát kiến mang tính thơ. Xét ở phương diện ấy,  trí tưởng tượng và thơ ca của ông bị chi phối hoàn toàn bởi thứ ngôn ngữ mà ông viết. Đọc những bài thơ của ông, độc giả bước vào ngôn ngữ Serbia, gặp gỡ các vị thần và quỷ dữ náu mình trong đó.

*

Nói ít, gợi nhiều, đấy là tất cả những gì của thơ. Một thành ngữ là cái chuồng nhốt con quái vật của bộ lạc. Nó mang theo cái mùi quen thuộc của nó. Chúng ta đang ở đây, trong lãnh địa của những ý nghĩa bị nhấn chìm và khó nắm bắt, không tương ứng với bất cứ từ ngữ nào có trên trang giấy. Thơ trữ tình, theo nghĩa đúng nhất của nó, là nỗi sợ hãi trước cái bất khả dịch. Giống như tuổi thơ, đó là thứ ngôn ngữ không thể thay thế được bằng một ngôn ngữ khác. Một bài thơ trữ tình tuyệt vời nhất định phải tiệm cận tính bất khả dịch.

*

Dịch thuật là phương tiện truyền đạt của một diễn viên. Nếu tôi không thể làm chính tôi tin rằng tôi đang viết bài thơ mà tôi đang dịch thì bao nhiêu hứng thú thẩm mỹ đối với công việc cũng chẳng giúp gì được cho tôi.

*

Sự sáng suốt hiền minh của một con người: anh ta có thể ngủ một giấc trưa dài trong một ngày có nhiều thứ đáng ra người ta phải bận tâm đến. Nói như  ai đó, loài mèo hiểu sự lười biếng là một thứ thiêng liêng.

*

Các nhạc sĩ blues không nghi ngờ rằng âm nhạc chạm vào tâm hồn.

*

Bài thơ “Trung điểm” của tôi là một sự giản ước, thu gọn bài thơ mười trang về những thành phố nơi tôi đã sống thành một phương trình. Sự tiêu giảm xuất hiện khi tôi nhận ra tất cả những thành phố tương lai của tôi là những hình ảnh bóng ma của thành phố nơi tôi sinh ra. Trong trí tưởng tượng của mình, bao giờ tôi cũng ở trung điểm.

*

Tôi lớn lên giữa những người vốn rất dí dỏm, giờ tôi mới nhận ra như thế. Họ biết cách kể các câu chuyện và biết cách cười – điều này làm cho mọi thứ thay đổi hoàn toàn.

*

Nhà hàng này là nhà hàng Hy Lạp. Tên người bồi bàn là Socrates, do đó, hẳn Plato phải ở trong bếp, và Aristotle là gã đang nghiên cứu đặt cược cho con ngựa nào trong trường đua ngay bên bàn thanh toán.

Thực đơn đặc biệt của ngày hôm nay: mực nướng với mùi tây tươi, tỏi và dầu ô liu.

*

Khi tôi bắt đầu viết thơ vào năm 1955, những cô nàng mà tôi muốn họ xem bài thơ của mình đều là gái Mỹ. Và tôi bị họ quây lấy. Từ  đó, tôi không còn có thể viết bằng ngôn ngữ bản địa của mình nữa.

*

Tôi thích Aristophanes hơn Sophocles, Rabelais hơn Dante. Trong hài kịch cũng chứa đựng nhiều chân lý, sự thật không kém bi kịch – quan điểm ấy không được nhiều người chia sẻ. Họ vẫn nghĩ hài kịch là sự nhạo báng những vấn đề nghiêm túc trong đời sống.

*

Cách đây hơn 40 năm, cô giáo lớp hai của tôi ở Belgrade bảo tôi là “đứa nói dối vô đối”. Tôi vẫn nhớ mình đã từng bị xúc phạm ghê gớm cũng như được ve vuốt hão huyền như thế nào.

*

Chỉ thông qua thơ ca, nỗi cô đơn của con người mới được nghe thấy trong lịch sử của nhân tính. Về mặt này, tất cả các nhà thơ, những người viết nên những bài thơ, đều là những người đương đại.

*

Một cảnh trong bộ phim Pháp thập niên 1950 đến giờ tôi vẫn còn yêu thích: Một con ruồi  vò vè trong căn phòng đóng kín với ba tên côn đồ có vũ khí và một phụ nữ, bị bịt miệng và trói, nàng quan sát ba kẻ hung đồ với cặp mắt lồi ra. Phía trước mỗi tên đàn ông là một viên đường và một chồng những tờ quảng cáo khổ lớn đặt trên bàn. Không ai động đậy. Một bóng đèn trần trụi được thả từ trần xuống bằng một sợi dây dài, khiến bọn họ có thể  nhìn thấy con ruồi đang đếm chân của mình. Nó đậu trên bàn và đếm chân của mình, như muốn nhử viên đường, rồi nó bò lên chóp mũi của ai đó, và tiếp tục đếm chân mình.

Tôi không hiểu đấy có phải thực sự là cảnh đã được dựng trong bộ phim đó hay không. Tôi đã suy nghĩ về cái cảnh này tỏng nhiều năm, điều chỉnh chút ít ở đó và biến nó thành một bài thơ.

*

Đời tôi, tôi phó mặc nó cho thơ của mình.

*

Tôi nghĩ ngành phân loại bệnh (nosology) hẳn có gì đó liên quan đến những cái mũi (noses). Nó giống như một thứ khoa học về mũi. Nhiều cái mũi đến lúc phải khám.Cái mũi hoàn hảo ở tiền sảnh một khách sạn lớn đốt điếu thuốc lá đầu vàng sau một cây cọ cảnh. Nữ chuyên gia phân loại bệnh xinh đẹp khám mũi của tôi và gần như đã để mũi nàng chạm mũi tôi.

Ngành phân loại bệnh, chán thay, chả liên quan gì đến những cái mũi.

*

Ôi xứ  sở đẹp tươi! Con khỉ bên máy chữ.

*

Tại một khu lân cận, nơi những kẻ cướp và hiếp thường xuyên đến vào đêm khuya, tôi đã bắc bục diễn thuyết ra và gào lên thật to: “Tất cả những gì tôi đã từng nói đã bị hiểu nhầm hoàn toàn!”

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Charles Simic, “The Minotaur Loves His Labyrinth” in “The Unemployed Fortune-Teller”, Essays and Memoirs,  The University of Michigan Press, 1997, p101-114.

Haruki Murakami – Con khỉ trong khu Shinagawa

Lời dẫn: Lục lại máy tính, mới phát hiện ra truyện ngắn này của Haruki Murakami mình đã dịch khá lâu rồi, cách đây chừng 6 năm, và chưa từng post lên blog. Đọc lại thấy nhớ… Nhớ một thời mình có thể kiên nhẫn ngồi dịch một truyện ngắn như thế này dẫu biết chắc không thể đăng được trên báo nào để kiếm tí nhuận bút. Nhớ đến một thời mình từng tin rằng mình có thể trở thành người dịch văn học tử tế, dịch được những tác phẩm quan trọng (Ôi một thời trẻ trâu!!!). Nhớ đến một thời  The New Yorker hàng tuần còn hào phóng cho đọc free mục Fiction…Rất nhiều điều để nhớ như thế. Bây giờ mình thiếu can đảm hơn rất nhiều, thiếu kiên nhẫn hơn rất nhiều, và niềm tin vào khả năng dịch thuật cũng mai một đi rất nhiều. Dù sao, ngay lúc này, mình đang rất muốn khởi động lại việc dịch thuật nghiêm túc, nhất là dịch fiction. Hy vọng là nỗi nhớ cũng có thể trở thành một động lực.

*

Thỉnh thoảng nàng lại không thể nào nhớ nổi tên mình là gì. Chuyện này thường xảy ra khi ai đó bất ngờ hỏi tên nàng. Chẳng hạn, lúc nàng đang ở một cửa hàng thời trang để sửa lại gấu của một chiếc váy, cô nhân viên bán hàng hỏi: “Xin chị cho biết tên mình?”, đầu óc nàng bỗng nhiên hoàn toàn trống rỗng. Cách duy nhất giúp nàng có thể nhớ lại tên mình khi ấy là rút bằng lái xe ra để xem; hành động đó khiến cho người đang nói chuyện với nàng không khỏi cảm thấy kỳ quặc. Ngay cả lúc đang nói chuyện qua điện thoại, chuyện này cũng xảy ra và sự im lặng đầy lúng túng của nàng khi đành phải lục ví của mình để tìm bằng lái xe làm cho người ở đầu dây bên kia băn khoăn không biết là có chuyện gì.

 

Nàng có thể nhớ mọi thứ khác. Nàng chưa bao giờ quên tên của những người xung quanh mình. Địa chỉ của nàng, số điện thoại, ngày sinh, số hộ chiếu – nàng không hề gặp khó khăn gì để nhớ ra những thứ đó. Nàng có thể nói trơn tru số điện thoại của những người bạn mình, của những khách hàng quan trọng. Khi nàng tự giới thiệu tên mình, nàng cũng chưa bao giờ thấy trí nhớ của mình trục trặc. Nếu biết trước tình huống gì sẽ xảy đến, trí nhớ của nàng sẽ không có vấn đề gì cả. Nhưng lúc đang vội hay không được chuẩn bị thì trí nhớ của nàng cứ như thể bị chập mạch vậy. Càng đánh vật với trí nhớ, nàng càng thấy rõ, dẫu có cố hết sức mình, nàng cũng chẳng thể nào nhớ nổi mình được gọi là gì.

 

 

Tên của nàng sau khi kết hôn là Mizuki Ando; tên thời con gái của nàng là Ozawa. Cả hai cái tên đó đều rất bình thường, không gây ấn tượng gì đặc biệt nhưng dù như vậy, điều đó vẫn không thể giải thích được vì sao những cái tên đó, trong trường hợp nàng đang bận bịu, lại có thể biến mất khỏi trí nhớ nàng. Nàng đã mang cái tên Mizuki Ando được ba năm kể từ khi kết hôn với người đàn ông tên là Takashi Ando. Ban đầu, nàng không thể quen được với cái tên đó. Hình dạng và âm thanh của cái tên ấy dường như không hợp với nàng. Song dần dà, sau khi nàng phải nhắc đi nhắc lại và ký cái tên ấy một vài lần, nàng bắt đầu thấy thoải mái hơn với nó. So với một số khả năng khác đối với cái tên mình – chẳng hạn như Mizuki Mizuki, hay Mizuki Miki (trên thực tế, nàng đã từng hò hẹn với một gã tên là Miki trong một thời gian)- nàng thấy cái tên Mizuki Ando cũng không đến nỗi nào.

 

Sau khi kết hôn độ hai năm thì tên của nàng bắt đầu trượt khỏi trí nhớ của nàng. Thoạt đầu, chuyện này chỉ xảy ra khoảng một tháng một lần nhưng rồi dần dần, nó xuất hiện thường xuyên hơn. Bây giờ thì trong tuần, ít nhất là có một lần, nàng quên mất tên mình. Nếu nàng đem theo ví bên mình thì mọi chuyện cũng ổn. Nhưng nếu để thất lạc cái ví thì chính nàng cũng bị thất lạc. Dĩ nhiên, nàng không hoàn toàn bị mất tích – nàng vẫn còn nhớ địa chỉ và số điện thoại của mình. Trường hợp của nàng không giống như những nhân vật bị mất trí nhớ hoàn toàn trong các bộ phim. Dẫu vậy, việc quên mất tên mình vẫn khiến nàng thấy buồn chán. Sống một cuộc đời vô danh, nàng nghĩ, chẳng khác gì chìm trong một giấc mơ mà người ta không bao giờ thức dậy được.

 

 

Mizuki đến một cửa hàng bán đồ trang sức, mua một chiếc dây chuyền đeo tay mỏng, đơn giản và khắc tên mình lên đó: “Mizuki (Ozawa) Ando.” Nàng thấy làm thế khiến mình không khác nào một con mèo hay con chó, nhưng nàng vẫn cẩn thận đeo chiếc dây chuyền ấy mỗi khi rời nhà. Nếu quên tên mình, nàng chỉ cần liếc xuống cổ tay là thấy tên mình trên chiếc dây chuyền đeo tay này. Không còn phải giật ví ra nữa, cũng không còn phải thấy những ánh nhìn lạ lùng của những người khác.

 

Nàng không kể cho chồng mình biết chuyện rắc rối ấy. Nàng hiểu chồng nàng sẽ nghĩ ngay là nàng không hạnh phúc với cuộc hôn nhân của mình. Anh ấy luôn suy nghĩ một cách logic đến thái quá trước mọi chuyện. Cố nhiên, điều này không gây hại gì cả; đấy chỉ là tính cách của anh ấy mà thôi – lúc nào cũng đầy lý lẽ. Anh ấy lại cũng là người nói nhiều, một khi đã bắt đầu một chủ đề nào đó, không dễ gì anh lại bỏ lửng câu chuyện. Vì thế, nàng đành giữ kín chuyện đó trong lòng. Tuy nhiên, nàng nghĩ những gì mà chồng mình nói – hay đúng hơn, những gì mà chồng nàng có thể nói ra khi biết chuyện của nàng- không có sở cứ. Nàng không hề bất mãn về cuộc hôn nhân của mình. Ngoài việc đôi khi chồng nàng tỏ ra duy lý quá mức, nàng không thấy có điều gì đáng than phiền về anh cả.

 

Mizuki và chồng vừa vay được một khoản có thế chấp và mua một căn hộ trong một khu chung cư mới ở Shinagawa. Chồng của nàng năm nay ba mươi tuổi, đang làm trong một phòng pha chế của một công ty dược phẩm. Mizuki, hai mươi sáu tuổi, là nhân viên cho một đại lý của hãng Honda, hàng ngày làm công việc trả lời điện thoại, pha cà phê cho khách hàng, copy tài liệu, sắp xếp hồ sơ giấy tờ và cập nhật thông tin về khách hàng. Một ông bác của Mizuki có chân trong ban quản trị của hãng Honda đã thu xếp cho nàng chỗ làm này sau khi nàng tốt nghiệp một trường cao đẳng dành cho phụ nữ ở Tokyo. Đây không phải là công việc năng động nhất mà nàng có thể hình dung được nhưng nó đòi hỏi nàng phải có trách nhiệm nhất định, và hơn hết, công việc này cũng không đến nỗi tệ. Khi nào các nhân viên bán hàng đi vắng thì nàng làm thay công việc của họ và nàng luôn nhã nhặn trả lời các câu hỏi của khách hàng. Nàng đã quan sát các nhân viên bán hàng làm việc và nhanh chóng nắm bắt được những thông tin kỹ thuật cần thiết. Nàng thuộc lòng bảng phân loại theo tổng số dặm mà xe đi được của tất cả các loại xe mẫu ở phòng trưng bày và có thể thuyết phục bất cứ khách hàng nào khi giới thiệu về các loại xe, chẳng hạn, lái xe Odyssey giống như lái một chiếc xe mui trần bình thường hơn là loại xe tải cỡ nhỏ. Mizuki là người xã giao tốt, nàng có một nụ cười duyên dáng khiến khách hàng luôn thấy dễ chịu khi tiếp xúc. Nàng cũng biết thay đổi “chiến thuật” giao tiếp một cách tinh tế, dựa vào kinh nghiệm nhận biết tính cách khách hàng của nàng. Có điều không may là nàng không có quyền để giảm giá, thoả thuận đổi xe cũ lấy xe mới, hay khuyến mại cho khách hàng vì thế, ngay cả khi nàng đã thuyết phục khách hàng chấp nhận ký tên vào hợp đồng thì cuối cùng nàng vẫn phải chuyển giao mọi thứ cho một trong số các nhân viên bán hàng, người đảm nhận công việc này. Phần thưởng duy nhất mà nàng có thể mong đợi là thỉnh thoảng được một nhân viên bán hàng mời một bữa tối để chia sẻ vụ trúng quả của mình.

 

Cũng có đôi khi nàng nghĩ: đại lý của mình có thể bán được nhiều ô tô hơn nếu giao cho mình làm công việc chào hàng. Nhưng hình như không ai có ý nghĩ như vậy. Cách thức hoạt động của công ty là vậy: những người làm công việc chào bán hàng thuộc một bộ phận, nhân viên văn phòng lại thuộc một bộ phận khác và ngoại trừ những trường hợp rất hy hữu, hai bộ phận này không thể lấn sân nhau. Nhưng cũng không quan trọng; nàng không phải là người tham vọng và cũng không cầu thăng tiến. Ngày làm tám tiếng, từ chín giờ sáng đến năm giờ chiều, về nhà thì được nghỉ ngơi và thư giãn khi không phải làm việc – như thế nàng thấy thích hơn.

 

Ở chỗ làm, Mizuki vẫn dùng cái tên thời con gái của mình. Nàng biết nếu thay đổi cái tên ấy, nàng sẽ phải thay đổi tất cả các dữ liệu liên quan đến mình trong máy chủ của công ty. Điều ấy quá rắc rối nên nàng cứ để tên như cũ. Nàng được liệt vào danh sách những người đã kết hôn để xem xét mức thuế nhưng tên của nàng thì vẫn không thay đổi. Nàng cũng hiểu làm thế không đúng nhưng không một ai trong đại lý nơi nàng làm việc có ý kiến gì về chuyện này. Vậy nên, Mizuki vẫn là cái tên in trên danh thiếp và lịch trực của nàng. Chồng của nàng cũng biết nàng vẫn dùng cái tên thời con gái của mình ở nơi làm việc (thỉnh thoảng anh cũng có gọi điện đến chỗ làm của nàng) nhưng anh cũng thấy không có vấn đề gì trong chuyện đó cả. Anh hiểu nàng giữ cái tên ấy đơn giản là vì tiện lợi. Khi hiểu cái lý của việc mà vợ mình làm, anh không hề phàn nàn gì hết. Theo nghĩa đó, anh là người hết sức dễ tính.

 

 

Mizuki bắt đầu lo lắng không biết hiện tượng quên tên của chính mình ở nàng có phải là triệu chứng của một căn bệnh đáng sợ nào không, ví dụ, liệu nó có phải là dấu hiệu manh nha của chứng Alzheimer1? Thế giới đầy những căn bệnh chết người, không thể ngờ được. Nàng cũng vừa mới biết đến hai thứ bệnh đáng sợ như thế là chứng nhược cơ và bệnh Huntington2. Còn biết bao nhiêu những căn bệnh khác mà nàng chưa từng nghe đến. Và đối với hầu hết các căn bệnh, triệu chứng ban đầu của chúng đều rất nhỏ. Nhỏ nhưng lại là những triệu chứng bất bình thường. Quên tên mình phải chăng là triệu chứng như thế?

 

Nàng đến một bệnh viện lớn và giải thích tình trạng của mình cho bác sĩ. Nhưng viên bác sĩ trẻ khám bệnh cho nàng hôm ấy – trông anh ta nhợt nhạt và mệt mỏi như một bệnh nhân hơn là một bác sĩ điều trị – chẳng khám cẩn thận gì cả. “Chị còn quên thứ gì khác không, ngoài tên mình?” anh ta hỏi. “Không,” nàng trả lời.“Hiện giờ, tôi chỉ không nhớ được tên mình thôi.” “Hừm. Nghe có vẻ giống một ca bệnh về tâm thần nhiều hơn,” anh ta nói, giọng nói tuyệt nhiên không biểu lộ một sự quan tâm hay thông cảm nào. “Nếu chị bắt đầu quên thêm những thứ khác, xin hãy trở lại chỗ chúng tôi. Khi đó, chúng ta có thể thực hiện một vài bài kiểm tra xem sao.” Có lẽ anh ta muốn ngụ ý rằng: “Chúng tôi ở đây còn cả một đống bệnh nhân tình trạng còn trầm trọng hơn chị nhiều.”

 

Rồi một ngày, trong thông báo gửi cho khu dân cư, Mizuki đọc được một mẩu tin: cơ quan quản lý khu đô thị sẽ mở một trung tâm tư vấn tâm lý. Đó là một mẩu tin nhỏ mà thông thường nàng sẽ không để ý đến. Trung tâm sẽ mở cửa hai lần trong một tháng, do một chuyên gia tâm lý điều hành, tư vấn riêng cho từng khách hàng với lệ phí đặc biệt ưu đãi. Bất cứ cư dân nào tại khu Shinagawa từ mười tám tuổi trở lên đều có thể tiếp cận dịch vụ này, mẩu tin nói vậy, và tất cả mọi thông tin của khách đều được đảm bảo giữ kín theo nghĩa chặt chẽ nhất của từ này. Mizuki không chắc một trung tâm tư vấn do khu phố tài trợ như thế này liệu giúp ích được gì cho mình nhưng nàng vẫn quyết định thử xem sao. Công việc ở đại lý thường bận rộn vào cuối tuần nhưng nếu nàng xin nghỉ một ngày trong tuần thì không có vấn đề gì và nàng cũng có thể điều chỉnh thời gian biểu để khớp với lịch làm việc của trung tâm tư vấn, một việc có thể xem là không tưởng đối với người làm việc bình thường. Giá phải trả cho một ca tư vấn với thời hạn nửa tiếng đồng hồ là 2000 yên. Một khoản tiền không quá lớn đối với khả năng chi trả của nàng.

 

Khi đến trung tâm tư vấn của khu dân cư, nàng nhận ra mình là  người khách duy nhất. “Chương trình này mở ra hơi bất ngờ”, nhân viên tiếp tân giải thích. “Hầu như mọi người chưa biết gì về nó. Nhưng một khi người ta biết được, trung tâm sẽ bận rộn hơn. Tôi tin là vậy.”

 

Chuyên gia tư vấn của trung tâm tên là Tetsuko Sakaki – một phụ nữ chắc gần năm mươi tuổi, vóc dáng nặng nề nhưng thái độ cởi mở. Bà ta để tóc ngắn, nhuộm màu nâu nhạt, khuôn mặt rộng với nụ cười rất tươi tắn, dễ mến. Bà mặc một bộ đồ mùa hè nhạt màu, một chiếc áo cánh may bằng lụa bóng, trên cổ đeo một chuỗi ngọc trai giả và đi giày gót thấp. Bà trông giống một bà nội trợ hàng xóm thân thiện hơn.là một chuyên gia tư vấn tâm lý.

 

“Chồng tôi làm ở phòng quản lý khu đô thị này,” bà ta mào đầu câu chuyện. “Ông ấy là đội trưởng của ban Công trình công cộng. Vì thế mà chúng tôi có thể nhận được sự ủng hộ của văn phòng quản lý khu đô thị để mở trung tâm này. Chị là khách đầu tiên của chúng tôi và chúng tôi rất vui được đón tiếp chị. Hôm nay tôi không có cuộc hẹn nào khác nên chúng ta có thời gian và hãy nói chuyện cởi mở với nhau, được chứ?” Bà chuyên gia tư vấn nói với một nhịp độ khoan thai. Ấn tượng bao trùm về người phụ nữ này là sự chậm rãi và cân nhắc.

 

“Rất vui khi được gặp chị,” Mizuki nói. Nói vậy nhưng thật lòng, Mizuki vẫn băn khoăn không biết kiểu người như thế này giúp được gì cho mình.

 

“Chị có thể yên tâm là tôi đã có bằng cấp trong lĩnh vực tư vấn tâm lý và cũng có nhiều kinh nghiệm,” bà chuyên gia nói thêm, như thể bà đọc được ý nghĩ trong đầu Mizuki.

 

Bà Sakaki ngồi sau chiếc bàn làm việc làm bằng kim loại nhẹ. Mizuki ngồi trên một chiếc sofa nhỏ, kiểu cổ, trông nó có vẻ như vừa được lôi từ nhà kho ra vậy. Lò xo của chiếc sofa này dường như sắp hỏng và mùi mốc của nó khiến mũi nàng thấy nhột nhột.

 

Nàng dựa người vào thành ghế và bắt đầu kể lại chuyện gì đang xảy ra với mình. Bà Sakaki vừa nghe vừa gật gù. Bà không đặt bất kỳ câu hỏi nào, cũng không tỏ ra có một chút ngạc nhiên gì. Bà chỉ chăm chú lắng nghe câu chuyện của Mizuki và ngoại trừ đôi lần cau mày như thể đang suy xét điều gì, nét mặt của bà hầu như không thay đổi. Đôi môi mỉm cười rất kín đáo trên khuôn mặt bà, giống như trăng mùa xuân lúc chập tối,  không hề có chút dao động nào biểu hiện.

 

“Việc chị khắc tên lên cái dây chuyền đeo tay như thế là một ý tưởng rất hay đấy!” bà ta bình luận sau khi Mizuki kết thúc câu chuyện. “Tôi thích cách chị giải quyết vấn đề của mình. Trước hết là phải nghĩ ra được một giải pháp thực tế để giảm thiểu sự bất tiện. Giải quyết vấn đề một cách thực tế có ích hơn nhiều so với việc mình cứ ngẫm ngợi về nó. Và chiếc dây chuyền đeo tay này thật dễ thương. Nó rất hợp với chị.”

 

“Chị có nghĩ là việc quên tên của ai đó có thể liên quan đến một căn bệnh nào đấy nghiêm trọng hơn không?” Mizuki hỏi. “Và đã có trường hợp nào như vậy chưa?”

 

“Tôi không nghĩ là có căn bệnh nào mà triệu chứng xác định ban đầu của nó lại như vây cả,” bà Sakaki trả lời. “Tuy thế, tôi cũng thấy lo lắng một chút vì theo thời gian, triệu chứng của các căn bệnh có thể đã trở nên phức tạp hơn. Tôi cho rằng có khả năng hiện tượng này dẫn đến những triệu chứng khác, hoặc chứng mất trí nhớ của chị có thể lan rộng sang những vùng khác của thần kinh. Vì vậy, chúng ta cứ kiểm tra từng bước một và xác định xem nó bắt đầu từ đâu.”

 

Bà Sakaki bắt đầu đặt một số câu hỏi căn bản về cuộc sống của Mizuki. “Chị lập gia đình được bao lâu rồi?” “Công việc của chị là gì?” “Sức khoẻ của chị hiện như thế nào?” Rồi bà ta tiếp tục đặt các câu hỏi về thời thơ ấu của Mizuki, về gia đình, trường lớp của nàng. Những thứ nàng thích và không thích. Những thứ nàng giỏi và không giỏi. Mizuki cố gắng trả lời các câu hỏi một cách thật thà nhất và nhanh nhất trong chừng mực có thể.

 

Mizuki xuất thân từ một gia đình bình thường. Cha của nàng làm cho một công ty bảo hiểm lớn và tuy không phải là gia đình khá giả nhưng nàng không hề nhớ là đã có lần nào đó, gia đình của mình phải khổ sở về chuyện tiền bạc. Cha nàng là một người nghiêm nghị còn mẹ nàng thuộc típ phụ nữ khéo léo, chỉ tội hay cằn nhằn một chút. Chị gái nàng hồi đi học luôn đứng đầu lớp, mặc dù nàng cảm thấy chị mình có phần nông cạn và nàng biết đôi khi chị ấy cũng quay bài. Nhưng Mizuki không hề có vấn đề đặc biệt nào trong quan hệ với gia đình. Chưa một lần nào nàng có xung đột lớn với những người trong nhà. Bản thân Mizuki là đứa trẻ thuộc dạng không có gì nổi bật. Mizuki chưa ốm một lần nào. Nàng cũng chưa bao giờ thấy bút rứt về ngoại hình của mình, cho dù chưa từng có một ai khen nàng xinh đẹp cả. Tự nàng thấy mình cũng là người thông minh; về học lực, nàng đứng gần tốp đầu của lớp hơn là thuộc vào tốp sau nhưng lại chẳng xuất sắc ở một môn nào hết. Ở trường, nàng cũng có vài người bạn thân nhưng phần lớn bọn họ đã lập gia đình và chuyển đến sống ở những thành phố khác nên bây giờ họ hiếm khi liên lạc với nhau.

 

Nàng không có điều gì để kêu ca về cuộc hôn nhân của mình. Thời gian đầu, nàng và chồng mình cũng có những trục trặc mà cặp vợ chồng mới cưới nào cũng thường mắc phải, nhưng rồi, dần dần, cả hai đều cố gắng xuề xoà với nhau, không chấp nhặt để có cuộc sống yên ấm. Chồng của nàng không phải là người hoàn hảo nhưng anh ấy có nhiều phẩm chất tốt: tử tế, trách nhiệm, sạch sẽ, không khó tính trong chuyện ăn uống và không bao giờ phàn nàn, ca cẩm. Anh ấy cũng có vẻ có quan hệ tốt với đồng nghiệp và các sếp trong cơ quan.

 

Khi trả lời tất cả những câu hỏi này, Mizuki bỗng giật mình nhận ra nàng đã sống một cuộc sống mới tẻ nhạt làm sao! Thậm chí không hề có một sự kiện đặc biệt nào, dù chỉ một chút thôi, chạm đến đời nàng. Nếu đời nàng là một bộ phim, ắt hẳn đấy sẽ là một thứ phim tài liệu về tự nhiên với kinh phí thấp đảm bảo ru người ta ngủ được. Một bộ phim chỉ có những phong cảnh trơ trọi trải dài vô tận về phía chân trời. Không có thay đổi nào trong cảnh, không có đoạn cận cảnh nào, không có gì điềm báo và cũng không có gì khêu gợi. Mizuki hiểu công việc của một chuyên gia tư vấn tâm lý là lắng nghe khách của mình nhưng nàng bắt đầu cảm thấy tội nghiệp cho người phụ nữ đang phải kiên nhẫn nghe một câu chuyện đời nhàm tẻ như vậy. Nếu là mình, và nếu mình phải lắng nghe vô số câu chuyện đời nhạt nhẽo như đời mình bây giờ, dám chắc đến một lúc nào đó, mình sẽ đổ gục bởi nỗi chán chường tột đỉnh – Mizuki nghĩ thầm.

 

Thế nhưng Tetsuko Sakaki vẫn ngồi nghe Muzuki một cách chăm chú, và còn ghi lại mấy ghi chú vắn tắt. Khi bà ta lên tiếng, giọng nói của bà không bộc lộ một chút gì mệt mỏi, mà lại rất ấm áp và thể hiện một sự quan tâm chân thành. Mizuki thấy mình bình tâm một cách lạ lùng. Nàng nhận ra chưa từng có một người nào lắng nghe mình kiên nhẫn như thế. Khi cuộc chuyện trò của họ kết thúc, sau chỉ chừng độ một tiếng đồng hồ, Mizuki có cảm giác như mình vừa trút được một gánh nặng nào đó.

 

“Chị Ando này, thứ Tư tuần sau, cũng vào khoảng thời gian này, chị có thể đến chỗ chúng tôi được chứ?” bà Sakaki hỏi với nụ cười niềm nở.

 

“Chắc là được,” Mizuki đáp. “Chị không thấy phiền nếu tôi tìm đến đây sao?”

 

“Dĩ nhiên là không rồi. Chỉ cần chị thấy đáng quan tâm là được. Việc này có thể đòi hỏi nhiều buổi tư vấn trước khi chị thấy được có một sự tiến triển nào đó. Nó không giống một chương trình hộp thư truyền thanh mà người chủ trì chương trình chỉ bảo bạn giữ máy nghe. Không có gì phải gấp gáp, chúng ta cứ thong thả tiến hành công việc cho tốt.”

 

 

“Tôi muốn hỏi là liệu chị có thể nhớ được một sự kiện nào đó liên quan đến những cái tên hay không?” Bà Sakaki đặt câu hỏi trong buổi tư vấn thứ hai. “Tên của chị, tên của một ai đó khác, tên của một con vật cưng, tên một địa điểm chị đã từng đến thăm chẳng hạn? Nếu chị có bất cứ một ký ức nào liên quan đến một cái tên, tôi muốn chị kể cho tôi nghe về điều đó. Có thể rất tầm thường cũng được, không sao, miễn là nó có dính dáng đến một cái tên. Hãy cố nhớ xem.”

 

Mizuki nghĩ trong vài phút.

 

“Tôi không nghĩ là mình có một ký ức cụ thể nào đó về một cái tên,” cuối cùng nàng đành phải lên tiếng. “Ít nhất là lúc này, không có cái gì hiện lên trong trí nhớ của tôi cả… Ồ, khoan đã…Tôi có một kỷ niệm liên quan đến một tấm phù hiệu.”

 

“Một tấm phù hiệu. Rất tốt, chị Mizuki à.”

 

“Song đấy không phải là phù hiệu của tôi.” Mizuki nói. “Đấy là phù hiệu của một người khác.”

 

“Không có vấn đề gì cả.” Bà Sakaki nói. “Kể cho tôi nghe chuyện đó đi.”

 

“Như tuần trước, tôi có kể cho chị nghe, trước đây tôi học tại một trường nữ sinh tư thục suốt từ thời trung học cơ sở đến trung học phổ thông.” Mizuki bắt đầu vào chuyện. “Tôi là dân Nagoya mà ngôi trường của tôi lại nằm ở Yokohama vì thế, thời đi học, tôi phải sống trong khu nội trú của trường và chỉ về nhà vào dịp cuối tuần. Cứ tối thứ sáu, tôi lại bắt tàu Shinkansen để về nhà và rồi trở lại trường vào tối chủ nhật. Chỉ mất có hai tiếng để về Nagoya, vì thế tôi hầu như không cảm thấy cô đơn.”

 

Bà Sakaki gật đầu. “Nhưng chẳng phải ở Nagoya cũng có nhiều trường tư thục tốt hay sao? Tại sao chị lại phải đến học ở tận Yokohama?”

 

“Mẹ tôi từng học ở trường này và bà muốn một trong hai cô con gái của mình cũng học ở đó. Vả lại, tôi thấy sống xa gia đình cũng có thể là điều hay. Trường của tôi là một trường của hội truyền giáo nhưng khá tự do. Ở đó, tôi có mấy người bạn tốt. Bọn họ đều giống tôi ở chỗ tất cả đều đến từ những nơi khác. Họ chọn học trường này vì mẹ của họ cũng đã từng là nữ sinh của trường. Tôi học ở đấy sáu năm và nhìn chung, tôi thích ngôi trường này. Có điều, thức ăn ở đó dở tệ.”

 

Bà Sakaki mỉm cười. “Chị nói mình có một bà chị?”

 

“Đúng. Chị ấy hơn tôi hai tuổi.”

 

“Tại sao chị ấy không học ở trường này?”

 

“Chị ấy là người thích ru rú ở nhà, thêm vào đó, sức khoẻ của chị ấy cũng có vấn đề. Vì thế, chị đi học ở trường gần nhà và sống với bố mẹ tôi. Tôi luôn có tính cách độc lập hơn chị mình. Khi học xong tiểu học, bố mẹ tôi hỏi tôi có muốn đi học ở Yokohama hay không, tôi đã trả lời “có”. Cái viễn tưởng cứ đến cuối tuần, mình lại được đi tàu Shinkansen nghĩ cũng thú vị.

 

Phần lớn thời gian học tại trường, tôi phải sống chung phòng với bạn nhưng đến năm trung học phổ thông, tôi được ở một mình một phòng. Tôi cũng được bầu vào ban đại diện sinh viên của khu nội trú. Mọi sinh viên trong khu nội trú đều có phù hiệu treo trên một tấm bảng đặt ở lối vào khu nhà. Mặt trước của tấm phù hiệu sinh viên được in màu đen, mặt sau được in màu đỏ. Bất cứ khi nào đi ra ngoài, sinh viên trong khu nội trú phải lật tấm phù hiệu sinh viên ra mặt sau và khi về, lại phải lật tấm phù hiệu trở lại. Vì vậy, nếu thấy tên của một nữ sinh màu đen thì có nghĩa là cô ấy đang ở trong phòng mình; còn nếu thấy màu đỏ, tức là nữ sinh đó đã đi ra ngoài. Nếu đi đâu đó qua đêm hay phải ra ngoài ký túc xá một lúc, sinh viên phải lấy phù hiệu của mình ra khỏi tấm bảng và đem nó theo. Đó là một hệ thống rất tiện ích. Sinh viên lần lượt phải ngồi trực ở cái bàn đặt ở cửa ra vào và khi có một cú điện thoại gọi đến, chỉ cần liếc nhìn tấm bảng, cũng có thể biết được nữ sinh mà người ta đang cần gặp hiện ở đâu.

 

Trở lại, câu chuyện của tôi xảy ra vào tháng mười. Một buổi tối, trước giờ ăn, tôi đang ở trong phòng của mình làm bài về nhà thì một nữ sinh khoá dưới tên là Ỵuko Matsunaka đến tìm tôi. Hồi đó, cô ấy là nữ sinh xinh nhất khu nội trú – nước da sáng, tóc dài, khuôn mặt đẹp như búp bê. Cha mẹ cô ấy quản lý một nhà khách nổi tiếng ở Kanazawa và khá giàu. Cô ấy không học cùng lớp với tôi vì thế tôi không chắc lắm nhưng tôi nghe người ta nói học lực của cô ấy rất tốt. Nói khác đi, cô ấy là một người nổi bật. Rất nhiều nữ sinh khoá dưới ngưỡng mộ Yuko. Nhưng Yuko không vì thế mà kênh kiệu: cô ấy rất thân thiện. Cô ấy thuộc típ người thâm trầm, không biểu lộ cảm xúc nhiều. Không phải bao giờ tôi cũng hiểu được điều mà cô ấy đang nghĩ. Nữ sinh khoá dưới rất nể trọng cô ấy nhưng tôi cho là cô ấy không có người bạn thân nào cả.”

 

 

Khi Mizuki mở cửa phòng mình thì thấy Yuko Matsunaka đang đứng đó, mặc một chiếc áo len cổ lọ bó thân và quần jeans. “Bạn có thể nói chuyện với tôi một lát được không?” Yuko hỏi. “Được chứ,” Mizuki đáp và thấy ngạc nhiên. “Hiện giờ tôi không phải làm việc gì quan trọng cả.” Mặc dù biết Yuko nhưng Mizuki chưa bao giờ nói chuyện riêng với cô ta. Chưa bao giờ Mizuki nghĩ một người như Yuko lại đến xin mình lời khuyên cho một vấn đề riêng tư nào đấy. Mizuki ra dấu mời Yuko ngồi xuống trong khi lấy nước nóng trong phích để pha trà.

 

“Mizuki này, bạn đã bao giờ cảm thấy ghen tị hay không?” Đột nhiên, Yuko đặt câu hỏi.

 

Mizuki ngạc nhiên bởi câu hỏi ấy nhưng nàng suy nghĩ rất nghiêm túc về nó trong một lúc.

 

“Không, tôi nghĩ là mình chưa bao giờ thấy như vậy,” nàng trả lời câu hỏi của Yuko.

“Thậm chí dù chỉ một lần?”

 

Mizuki lắc đầu. “Ít nhất, khi bạn hỏi tôi bất ngờ thế này, tôi không thể nhớ ra được. Bạn định nói đến sự ghen tị như thế nào kia?”

 

“Chẳng hạn, bạn yêu một ai đó nhưng anh ta lại yêu một người khác. Giống như việc bạn rất, rất muốn một thứ gì đấy nhưng lại có ai kia chộp lấy nó. Hoặc giả như có một việc nào đó bạn không thể thực hiện được nhưng có một người khác làm được việc đó mà chẳng cần phải cố gắng gì… Đại loại như vậy.”

 

“Tôi không nghĩ là mình đã từng có cảm giác như thế,” Mizuki nói. “Còn bạn?”

 

“Nhiều lắm.”

 

Mizuki không biết nói gì. Một cô gái như Yuko còn muốn thứ gì trên đời nữa? Cô ta xinh đẹp, giàu có, học giỏi, nổi tiếng. Cha mẹ cô ta cưng chiều hết mực. Mizuki nghe đồn cô ta đang hò hẹn với một chàng sinh viên đại học điển trai. Vậy thì cô ta còn ghen tị với ai trên thế gian này nữa đây?

 

“Chẳng hạn như có một lần nào khiến bạn thấy ghen tị như vậy?” Mizuki hỏi.

 

“Có lẽ tôi không nói ra thì hơn,” Yuko nói, cân nhắc từng từ. “Nghe hết mọi chi tiết sẽ chẳng ích gì. Nhưng có một thời gian, tôi đã rất muốn hỏi bạn điều ấy. Đã có bao giờ bạn cảm thấy ghen tị?”

 

Mizuki không hiểu Yuko muốn gì ở nàng nhưng nàng quyết định trả lời cô ấy một cách thành thực nhất. “Tôi nghĩ là mình chưa bao giờ thấy có cảm giác như vậy,” nàng nhắc lại. “Tôi không biết vì sao mình lại thế, có lẽ bạn sẽ thấy hơi lạ lùng. Không phải là tôi quá đỗi tự tin hay có được tất cả những gì mình muốn. Thực sự cũng có nhiều thứ mà tôi nên lấy làm thất vọng, nhưng, không rõ vì sao, điều ấy lại không làm tôi thấy ghen tị với kẻ khác. Tôi không hiểu.”

 

Yuko Matsunaka khẽ mỉm cười. “Tôi không cho là sự ghen tị liên quan nhiều đến những điều kiện khách quan – kiểu như nếu người ta may mắn, người ta sẽ không biết ghen tị; còn nếu đời không cho ta hưởng phúc thì ta sẽ thấy ghen tị với kẻ khác may mắn hơn. Không, sự ghen tị ở con người không diễn ra như thế. Nó tựa như một khối u bên trong cơ thể người ta, mỗi ngày một lớn dần, một cách phi lý. Ngay cả khi ta biết nó ở đó, ta cũng chẳng thể làm được gì để ngăn nó lại.”

 

Mizuki nghe Yuko nói mà không ngắt lời. Hầu như chưa bao giờ Yuko có nhiều điều để nói trong một lúc như thế này.

 

“Thật khó giải thích sự ghen tị là gì cho một người chưa từng có cảm thấy điều đó,” Yuko nói. “Nhưng có một điều tôi biết rõ là người ta không dễ sống với cảm giác đó. Điều đó giống như việc mang theo một quả chuông nhỏ quanh mình, hết ngày này sang ngày khác vậy. Bạn nên cảm thấy may mắn vì chưa bao giờ cảm thấy như thế, Mizuki à.”

 

Yuko ngừng nói và nhìn Mizuki bằng một ánh mắt thay cho nụ cười. Cô ấy thật đáng yêu, Mizuki thầm nghĩ. Nếu được như cô ấy thì sẽ cảm thấy thế nào nhỉ? Sẽ cảm thấy thế nào khi đi đến đâu cũng khiến người ta bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của mình? Sắc đẹp- có phải đó là điều khiến người ta có thể kiêu hãnh về bản thân? Hay là một gánh nặng thì đúng hơn? Dẫu nghĩ vậy nhưng thật sự, Mizuki chưa một lần ghen tị với Yuko.

 

“Bây giờ tôi phải về nhà,” Yuko nói, mắt nhìn chằm chằm vào hai bàn tay đặt trên đùi mình. “Một người họ hàng nhà tôi vừa qua đời và tôi phải về dự đám tang. Tôi đã xin phép người quản lý nội trú rồi. Đến sáng thứ Hai, tôi sẽ quay về, nhưng trong khi tôi đi vắng, tôi muốn nhờ bạn giữ giùm tôi phù hiệu, được không?”

 

Cô ấy lấy tấm phù hiệu từ túi quần ra và đưa cho Mizuki.

 

“Tôi không ngại việc giữ nó giùm bạn,” Mizuki nói. “Nhưng tại sao bạn lại phức tạp hoá việc này khi đưa nó cho tôi? Để nó trong một cái ngăn bàn nào đấy không được sao?”

 

Yuko như dán mắt vào cái nhìn của Mizuki. “Tôi chỉ muốn bạn giữ lấy nó lần này,” cô ta nói. “Có một cái gì đó khiến tôi không yên tâm và tôi không muốn để nó lại trong phòng mình.”

 

“Được thôi,” Mizuki nói.

 

“Tôi không muốn một con khỉ nào đó cuỗm mất nó trong khi tôi đi vắng.”

 

“Tôi không nghĩ là ở đây có con khỉ nào,” Mizuki nói với một giọng vui vui. Nhưng có vẻ Yuko không định pha trò đùa. Sau đó, Yuko rời phòng, để lại tấm phù hiệu của mình, một tách trà chưa hề nhấp và một khoảng không gian trống rỗng lạ lùng, nơi cô ấy từng ngồi lại.

 

 

“Đến ngày thứ hai, Yuko không quay về khu nội trú,” Mizuki kể tiếp chuyện cho bà Sakaki. “Giáo viên chủ nhiệm lớp của Yuko rất lo lằng và gọi điện về cho cha mẹ của cô ấy. Hoá ra, cô ấy không hề về nhà. Họ hàng của cô ấy cũng không có ai mất cả. Không có đám tang nào mà cô ấy phải đến viếng. Cô ấy đã nói dối tất cả mọi chuyện.  Khoảng một tuần sau, người ta tìm thấy xác của Yuko. Tôi biết được tin này khi trở về trường từ Nagoya ngày chủ nhật sau đó. Cô ấy đã cứa cổ tay mình ở một nơi nào đó trong rừng. Không ai biết vì sao cô ấy hành động như vậy. Cô ấy không để lại lời nhắn gửi nào. Bạn cùng phòng với cô ấy nói rằng trước đó, cô ấy vẫn bình thường như từ xưa đến nay, chưa bao giờ tỏ ra đặc biệt phiền muộn về một chuyện gì. Yuko đã tự tử mà không nói một lời với bất kỳ ai.”

 

“Nhưng chẳng phải Yuko Matsunaka đã cố kể cho chị một chuyện gì đó sao?” Bà Sakaki hỏi. “Khi cô ta đến phòng của chị và để lại phù hiệu của mình cho chị. Và rồi nói với chị về sự ghen tị.”

 

“Đúng là cô ấy nói đến sự ghen tị. Nhưng vào lúc đó, tôi không hiểu lắm, mặc dù sau này, tôi nhận ra chắc hẳn cô ấy muốn nói với ai đó về điều ấy trước khi chết.”

 

“Chị có nói cho ai biết chuyện cô ta đến tìm gặp chị không?”

 

“Không, tôi chưa bao giờ làm điều đó.”

 

“Tại sao?”

 

Mizuki nghiêng đầu và suy nghĩ một lúc. “Nếu tôi kể ra điều đó cho mọi người, có lẽ sẽ chỉ gây thêm những rắc rối mà thôi. Tôi không nghĩ là có ai đó hiểu được vấn đề.”

 

“Chị muốn nói là sự ghen tị là nguyên nhân dẫn đến sự tự tử của cô ta sao?”

 

“Đúng thế. Như tôi đã nói, một cô gái như Yuko thử hỏi còn phải ghen tị với ai? Lúc đó, mọi người ai cũng đau khổ. Vậy nên tôi quyết định sẽ giữ kín chuyện này cho riêng mình. Chị có thể hình dung được không khí của một khu nội trú dành cho nữ sinh – nói điều đó ra chẳng khác nào quẹt diêm trong một căn phòng đầy khí gas.”

 

“Chuyện gì xảy ra với tấm phù hiệu?”

 

“Tôi vẫn còn giữ nó. Nó nằm trong một cái hộp ở cuối buồng riêng của tôi. Cùng với tấm phù hiệu của tôi.”

 

“Vì sao chị lại giữ nó?”

 

“Lúc đó, ở trường tôi, mọi thứ đều náo động nên tôi đã bỏ lỡ cơ hội để trả lại nó. Càng chờ đợi, tôi càng thấy khó có thể trả lại nó một cách đơn giản được. Mà tôi lại không thể cam tâm vứt nó đi. Thêm nữa, tôi bắt đầu có ý nghĩ rằng có lẽ Yuko muốn tôi giữ lại tấm phù hiệu này. Còn tại sao cô ấy chọn tôi thì tôi không hiểu.”

 

“Có lẽ Yuko quan tâm đến chị bởi lý do nào đấy. Có lẽ ở chị có điểm gì đó cuốn hút cô ta.”

 

“Tôi không nghĩ đến như thế.”

 

Bà Sakaki im lặng, chăm chú nhìn Mizuki một lúc như thể để chắc chắn một điều gì đó.

 

“Tạm gạt chuyện đó sang một bên, nói một cách thành thực, chị chưa bao giờ cảm thấy ghen tị? Dù chỉ một lần trong đời?”

 

Mizuki không trả lời ngay. Cuối cùng, nàng mới lên tiếng: “Tôi không nghĩ là mình dã từng có cảm giác ấy. Tất nhiên, có những người may mắn hơn tôi. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi đã từng ghen tị với họ. Tôi nghĩ là mỗi người có một cuộc đời khác nhau.”

 

“Và bởi mỗi người có một cuộc đời khác nhau nên không có cách gì để so sánh cả?”

 

“Tôi cho là vậy.”

 

“Một quan điểm thật thú vị.” Bà Sakaki nói, hai tay bà khoanh lại trên bàn, giọng nói nhẹ nhõm của bà như để lộ một sự thích thú. “Tóm lại, chị không hiểu sự ghen tị là gì, phải vậy không?”

 

“Tôi nghĩ mình hiểu được điều gì gây nên cảm giác ấy. Nhưng đúng là tôi không biết nó thật sự là cảm giác gì. Sự chế ngự của nó đối với con người ra sao? Nó kéo dài bao lâu? Con người ta phải khổ sở như thế nào vì nó? Tất cả những điều đó, tôi không hiểu.”

 

 

Về đến nhà, Mizuki vào trong buồng của mình và lôi ra một hộp các tông cũ, chỗ mà nàng để tấm phù hiệu của Yuko cùng với phù hiệu của mình. Tất cả những gì đáng nhớ trong đời của Mizuki đều chất trong chiếc hộp này, đủ mọi dạng: thư từ, nhật ký, album ảnh, phiếu thành tích học tập. Nàng vẫn có ý định loại bỏ tất cả những thứ này nhưng chưa có thời gian để phân loại, sắp xếp chúng vì thế mỗi lần chuyển nhà, nàng lại phải bê theo chiếc hộp này cùng mình. Nhưng tìm đến mỏi mắt, nàng vẫn không thấy chiếc phong bì trong đó nhét hai tấm phù hiệu. Nàng thấy hoang mang. Khi lần đầu chuyển tới căn hộ này, nàng đã kiểm tra chiếc hộp và nhớ rõ là mình đã nhìn thấy chiếc phong bì ấy. Kể từ dạo đó, nàng chưa một lần mở chiếc hộp này ra. Vì thế chiếc phong bì chỉ có thể nằm ở đây mà thôi. Nó còn có thể biến đi đâu được?

 

 

 

Mizuki vẫn giấu không cho chồng mình biết những buổi nàng đến trung tâm tư vấn. Nàng không chủ định làm thế nhưng giải thích việc này có thể làm cho toàn bộ câu chuyện trở nên phiền phức hơn thực chất. Vả lại, việc Mizuki quên mất tên mình và tuần một lần đến trung tâm tư vấn của khu dân cư dù sao cũng chẳng làm anh lo lắng.

 

Mizuki cũng giữ bí mật việc nàng để mất hai tấm phù hiệu. Nàng nghĩ nếu bà Sakaki không biết việc đó thì sẽ không gây ra những khác biệt nào đối với những buổi tư vấn dành cho nàng.

 

Hai tháng trôi qua. Cứ mỗi thứ tư, nàng lại đến trung tâm tư vấn theo lịch hẹn. Số lượng khách đến tư vấn ở đó đã gia tăng, bởi vậy bà Sakaki buộc phải giảm thời gian cho một cuộc tư vấn từ một tiếng xuống còn ba mươi phút. Tuy nhiên, điều đó cũng không ảnh hưởng gì bởi bây giờ hai người đã biết nhau và biết cách làm thế nào để tận dụng thời gian một cách tốt nhất khi gặp gỡ. Đôi khi Mizuki cũng mong muốn họ có thể nói chuyện lâu hơn nhưng với mức lệ phí thấp, nàng không có lý gì để phàn nàn.

 

“Đây là buổi nói chuyện thứ chín của chúng ta rồi,” bà Sakaki nói, năm phút trước khi kết thúc một cuộc hẹn. “Chị vẫn thường xuyên quên tên mình như truớc, nhưng tình hình không trở nên tồi tệ hơn, đúng không?”

 

“Vâng,” Mizuki trả lời.

 

“Tuyệt vời,” bà Sakaki nói. Bà cài lại chiếc bút bi ruột đen vào túi áo; hai tay xiết chặt đặt trên mặt bàn. Bà ngừng lặng trong giây lát. “Có thể – chỉ là có thể thôi – khi tuần sau chị đến đây, sẽ có một bước tiến lớn liên quan đến vấn đề mà chúng ta đang giải quyết.”

 

“Chị muốn nói đến bệnh quên tên mình của tôi ư?”

 

“Chính thế. Nếu mọi sự đều diễn tiến theo kế hoạch, tôi có thể tìm được nguyên nhân xác định, thậm chí còn có thể đưa nó ra cho chị xem nữa.”

 

“Nguyên nhân khiến tôi quên tên mình sao?”

 

“Đúng vậy.”

 

Mizuki quả tình không hiểu bà Sakaki đang nói gì. “Chị nói đến một nguyên nhân xác định… nghĩa là chị muốn nói đến một cái gì đó hữu hình chăng?”

 

“Dĩ nhiên, đó là một thứ hữu hình,” bà Sakaki trả lời, đồng thời xoa xoa hai bàn tay tỏ vẻ hài lòng. “Tôi không thể đi sâu vào chi tiết cho đến tận tuần sau. Tại thời điểm này, tôi vẫn không chắc liệu điều đó có thành hiện thực hay không. Tôi chỉ hy vọng là có.”

Mizuki gật đầu.

 

“Dù sao đi nữa, tôi muốn nói là chúng ta đã phải đau đầu biết bao nhiêu về chuyện này nhưng rồi mọi sự cuối cùng cũng đi đến một giải pháp. Người ta vẫn nói sống ở đời đi được ba bước lại phải lùi hai bước, chắc chị cũng biết? Vì vậy đừng lo âu. Hãy tin tưởng tôi, tuần sau chúng ta sẽ gặp lại. Và nhớ là đừng quên đặt lịch hẹn khi chị đi ra nhé!”

 

Bà Sakaki kết thúc chuỗi lời của mình với một cái nháy mắt.

 

 

Tuần kế tiếp, khi Mizuki bước vào văn phòng trung tâm tư vấn, bà Sakaki đã chào đón nàng với một nụ cười rạng rỡ nhất mà nàng từng nhìn thấy trên khuôn mặt bà.

 

“Tôi đã tìm ra nguyên nhân khiến chị quên mất tên mình rồi,” bà thông báo tin này với một vẻ tự hào. “Và tôi đã tìm được cách giải quyết.”

 

“Vậy tôi sẽ không còn quên tên của mình nữa đúng không?”

 

“Đúng. Chị sẽ không bao giờ quên tên mình nữa. Vấn đề đã được giải quyết.”

 

Bà Sakaki lấy một cái gì đó ra từ chiếc túi xách tay màu đen phía sau bà và đặt lên bàn. “Tôi tin những thứ này thuộc về chị.”

 

Đang ngồi trên ghế sofa, Mizuki đứng bật dậy và đi về phía chiếc bàn. Trên bàn là hai tấm phù hiệu. Một tấm có ghi tên “Mizuki Ozawa” còn tấm kia đề “Yuko Matsunaka”. Mặt của Mizuki tái nhợt. Nàng trở về chiếc ghế sofa, không thể nói năng gì trong một lúc. Nàng bụm cả hai tay vào miệng như để cố ngăn lời nói thốt ra.

 

“Không có gì lạ khi chị ngạc nhiên đến vậy,” bà Sakaki nói. “Nhưng không có gì phải sợ hết.”

 

“Làm thế nào mà chị…” Mizuki lên tiếng.

 

“Làm thế nào tôi lại tìm thấy những tấm phù hiệu của chị hồi trung học? Chị định hỏi vậy, đúng không?”

 

Mizuki gật đầu.

 

“Tôi đã tìm thấy lại chúng cho chị,” bà Sakaki nói. “Có kẻ đã lấy những tấm phù hiệu này ở chỗ chị và đó là nguyên nhân vì sao chị lại gặp trục trặc khi nhớ tên mình.”

 

“Nhưng ai lại…”

 

“Ai lại đột nhập vào nhà chị và lấy đi hai tấm phù hiệu, và vì mục đích gì?” bà Sakaki nối lời của Mizuki. “Thay vì để tôi trả lời câu hỏi này, tôi nghĩ tốt nhất chị nên hỏi cá nhân người chịu trách nhiệm trực tiếp trong vụ này.”

 

“Kẻ làm việc đó hiện có ở đây?” Mizuki kinh ngạc hỏi.

 

“Tất nhiên. Chúng tôi đã bắt được kẻ đó và lấy lại những tấm phù hiệu. Nghĩa là, không phải tự tôi tóm cổ được hắn. Chồng tôi và một nhân viên của ông đã làm việc này. Chị nhớ tôi đã có lần nói chồng tôi là đội trưởng của ban Công trình công cộng ở khu vực này chứ?”

 

Mizuki gật đầu không suy nghĩ gì.

 

“Chị nghĩ sao khi bây giờ chúng ta sẽ đi gặp thủ phạm? Chị có thể trực diện với hắn, cho hắn một trận tơi bời.”

 

Mizuki đi theo bà Sakaki ra khỏi văn phòng trung tâm tư vấn, xuống sảnh rồi bước vào thang máy. Họ đi xuống tầng hầm của toà nhà và đi dọc theo một đoạn hành lang vắng hoe đến chỗ một cánh cửa ở tận cùng tầng hầm.

 

Bên trong có một người đàn ông cao gầy độ năm mươi tuổi và một người đàn ông vóc dáng lớn hơn, khoảng chừng hai lăm, hai sáu, cả hai đều mặc bộ đồ làm việc may bằng vải kaki nhẹ. Người đàn ông nhiều tuổi hơn đính phù hiệu trên ngực áo ghi tên “Sakaki”; phù hiệu người đàn ông trẻ hơn ghi tên “Sakurada”. Sakurada đang cầm một chiếc gậy tuần đêm.

 

“Chị Ando, đúng không?” ông Sakaki hỏi và rồi tự giới thiệu: “Tôi là Yoshio Sakaki, chồng của Tetsuko. Và đây là anh Sakurada, người làm việc cùng tôi.”

 

“Rất vui được gặp anh,” Mizuki nói.

 

“Nó có gây cho anh rắc rối gì không?” bà Sakaki hỏi chồng mình.

 

“Không, anh nghĩ nó thuộc dạng biết chịu đựng tình thế,” ông Sakaki trả lời. “Ở đây, Sakurada đã để mắt đến nó suốt buổi sáng và rõ ràng nó biết lễ độ. Thế nên chúng ta cứ tiến hành công việc.”

 

Lại có một cánh cửa nữa ở cuối phòng. Sakurada mở nó ra và bật đèn lên. Anh ta đảo mắt quanh phòng rồi quay lại nhìn những người khác. “Trông ổn chứ? Thôi, chúng ta đi vào đi,” anh ta nói.

 

Họ bước vào một căn phòng giống như một dạng nhà kho nhỏ; trong phòng chỉ có độc một chiếc ghế, trên đó một con khỉ đang ngồi. Nó lớn hơn một con khỉ bình thường – nhỏ hơn một người trưởng thành và to hơn một học sinh tiểu học, có lẽ vậy. Lông của nó sậm, dài hơn mức thông thường đối với một con khỉ. Khó có thể đoán được tuổi của nó nhưng rõ ràng nó không ít tuổi. Chân tay con khỉ bấu chặt lấy cái ghế gỗ và chiếc đuôi dài của nó chấm đất. Khi Mizuki bước vào, con khỉ lén nhìn nàng rất nhanh rồi lại cùi gắm nhìn xuống mặt đất.

 

“Một con khỉ ư?” Mizuki quá đỗi ngỡ ngàng.

 

“Đúng vậy,” bà Sakaki trả lời. “Một con khỉ đã lấy trộm những tấm phù hiệu, mang chúng khỏi căn hộ của chị, đúng vào thời điểm chị bắt đầu quên tên mình.”

 

Tôi không muốn một con khỉ nào đó cuỗm nó đi mất. Yuko đã nói thế. Vậy, rốt cuộc, đấy không phải là một câu pha trò, Mizuki đã hiểu. Nàng bỗng gai người.

 

“Tôi rất tiếc,” con khỉ nói, giọng trầm trầm nhưng can đảm, dường như có nhạc tính trong  giọng nói ấy.

 

“Nó nói được ư?” Mizuki sững sờ thốt lên.

 

“Dạ vâng, tôi biết nói,” con khỉ trả lời, sắc thái biểu cảm vẫn không đổi. “Còn có một việc nữa tôi muốn xin lỗi chị. Khi đột nhập vào nơi ở của chị, tôi không định lấy đi thứ gì khác ngoài những tấm phù hiệu nhưng bởi đói quá, nên tôi đã xơi hai quả chuối để trên bàn. Trông chúng ngon quá, tôi không cầm lòng nổi.”

 

“A! Gan thật!” Sakurada lấy cây gậy tuần vụt mấy phát vào gan bàn tay con khỉ. “Ai dám chắc mày không xoáy thứ gì khác nữa? Để tôi cho nó ăn đòn, buộc nó phải khai ra!”

 

“Cứ bình tĩnh!” Ông Sakaki bảo anh ta. “Nó đã tự giác thú nhận việc ăn mấy quả chuối, thêm nữa, tôi không thấy nó giống loài khỉ dữ. Đừng làm gì quá mạnh tay cho đến khi chúng ta nghe được sự thực. Nếu người ta phát hiện chúng ta đang đối xử thô bạo với một con vật ở văn phòng quản lý chung cư thì gay go đấy!”

 

“Tại sao mi lại lấy trộm những tấm phù hiệu?” Mizuki hỏi con khỉ.

 

“Đấy là việc của tôi,” con khỉ trả lời. “Tôi là con khỉ chuyên đi lấy tên của con người. Đó là một thứ bệnh mà tôi phải chịu đựng. Một khi thấy chú ý đến một cái tên nào đó, tôi không thể kìm lòng mình lại. Nhưng xin thưa, không phải bất kỳ cái tên nào cũng tác động đến tôi. Tôi bắt gặp một cái tên cuốn hút mình và tôi nghĩ mình phải có được cái tên đó. Tôi biết làm thế là sai trái nhưng tôi không thể tự kiểm soát được bản thân.”

 

“Mi đã cố đột nhập vào khu nội trú và muốn lấy cắp phù hiệu của Yuko?”

 

“Thưa vâng, là tôi. Tôi đã si mê điên cuồng cô Matsunaka. Chưa bao giờ trong đời tôi lại bị cuốn hút bởi một người nào đó đến mức như thế. Nhưng khi biết tôi không thể nào biến cô ấy thành của riêng mình, tôi đã nghĩ, dù gì đi nữa, ít nhất, mình cũng phải có được cái tên của cô ấy. Chỉ cần sở hữu được cái tên của cô ấy, tôi cũng thấy mãn nguyện. Nhưng trước khi tôi thực hiện kế hoạch của mình thì cô ấy đã qua đời.”

 

“Mi có liên quan gì đến vụ tự tử của cô ấy không?”

 

“Không.” Con khỉ vừa nói vừa lắc đầu đau khổ. “Tôi không có liên quan gì đến việc đó.  Cô ấy tự tử chỉ là vì có một thứ bóng tối ở bên trong chế ngự, trấn áp mình.”

 

“Nhưng làm sao mi biết được, sau ngần ấy năm, phù hiệu của Yuko ở trong nhà ta?”

 

“Tôi đã phải mất một thời gian dài để tìm ra nó. Khi cô Matsunaka qua đời, tôi đã cố lấy tấm phù hiệu của cô ấy trên bảng tin nhưng nó không còn ở đó. Không ai biết nó ở đâu. Tôi đã khổ sở suy nghĩ xem nó có thể nằm ở chỗ nào nhưng càng đánh vật suy nghĩ, tôi càng không xác định được. Lúc đó, tôi không hề nghĩ cô Matsunaka để lại tấm phù hiệu ở chỗ chị vì chị không thật sự chơi thân với cô ấy.”

 

“Đúng vậy,” Mizuki nói.

 

“Thế rồi, một ngày nọ, một ý nghĩ loé lên trong đầu tôi rằng có thể – chỉ là có thể thôi – cô ấy đã trao nó cho chị. Ý nghĩ ấy nhen lên trong tôi vào hồi mùa xuân năm ngoái. Mất một thời gian dài, tôi mới tìm được chị và biết rằng chị đã lập gia đình, tên của chị bây giờ là Mizuki Ando, rằng chị hiện đang sống trong một chung cư ở Shinagawa. Một con khỉ mò mẫm thực hiện một cuộc điều tra như vậy, chị có thể hình dung được, phải thế không? Đấy, tôi đã tìm đến chỗ chị và lấy tấm phù hiệu đi như thế.”

 

“Nhưng tại sao mi lại lấy cả tấm phù hiệu của ta nữa? Sao không đem đi chỉ tấm phù hiệu của Yuko thôi? Mi có biết ta đã phải chịu đựng như thế nào vì cái trò của mi không?”

 

“Tôi xin lỗi, rất xin lỗi,” con khỉ gục đầu xấu hổ. “Khi nhìn thấy một cái tên nào đó mà tôi thích, tôi chỉ muốn chộp lấy nó. Đó là một cảm giác bối rối nhưng thật sự cái tên của chị đã làm xúc động trái tim bé nhỏ tội nghiệp của tôi. Như tôi đã nói trước đó, đó là một thứ bệnh. Tôi bị chi phối bởi một sự hối thúc mà mình không khống chế được. Tôi biết làm thế là sai nhưng rồi tôi vẫn làm việc ấy. Tôi thực tâm muốn xin lỗi vì tất cả những phiền phức mà tôi đã gây ra cho chị.”

 

“Con khỉ này trốn trong hệ thống cống của Shinagawa,” bà Sakaki nói xen vào. “Vì vậy, tôi đã bảo chồng mình yêu cầu một vài đồng nghiệp trẻ tuổi của ông ấy bắt nó.”

 

“Cậu Sakurada này hầu như một mình làm hết việc đó,” ông Sakaki nói.

 

“Ban Công trình công cộng đã phải canh và để ý xem khi nào một nhân vật như thế này đến tìm chỗ nấp trong hệ thống cống của chúng ta.” Sakurada nói với một vẻ hãnh diện. “Con khỉ này rõ ràng có một chỗ nấp dưới lòng đất khu Takanawa, nơi mà nó đã dùng như một căn cứ để từ đó tiến hành lục lọi khắp Tokyo.”

 

“Trong thành phố không có chỗ nào cho chúng tôi sống,” con khỉ nói. “Có quá ít cây cối, quá ít những chỗ có bóng râm vào ban ngày. Nếu đi trên mặt đất, thế nào người ta cũng vây lấy và tìm cách bắt chúng tôi. Trẻ con thì vứt các thứ vào chúng tôi, lấy súng BB3 bắn chúng tôi. Lũ chó thì rượt theo. Đám phóng viên truyền hình thì bất thình lình xuất hiện và chiếu những luồng sáng cực mạnh vào chúng tôi. Vì vây, chúng tôi đành phải trốn dưới lòng đất.”

 

“Nhưng bằng cách nào mà chị lại biết được con khỉ này trốn trong hệ thống cống ở đây?” Mizuki hỏi bà Sakaki.

 

“Trong thời gian chúng ta nói chuyện với nhau hai tháng qua, nhiều thứ dần dần trở nên sáng tỏ đối với tôi,” bà Sakaki giải thích. “Giống như màn sương tan dần vậy. Tôi suy đoán hẳn phải có cái gì đó lấy đi những cái tên và dù là thứ gì đi nữa, nhất định, nó đang trốn dưới lòng đất. Làm phép loại trừ các khả năng, tôi cho rằng nó chỉ có thể ở đường ngầm hoặc dưới cống. Vì vậy, tôi đã nói với chồng tôi rằng tôi nghi có một sinh thể nào đấy, không phải con người, đang sống dưới cống và bảo ông ấy thử kiểm tra xem. Và rồi, không nghi ngờ gì nữa, ông ấy đã tóm được con khỉ này.”

 

Mizuki không biết nói gì sau một hồi. “Nhưng…Làm thế nào mà chỉ nghe tôi kể chuyện, chị lại có thể hiểu ra sự tình như thế?”, cuối cùng, nàng mới có thể thốt ra được.

 

“Có lẽ với tư cách là chồng của Tetsuko, tôi nói thế này e không khách quan,” ông Sakaki nói với một nét mặt nghiêm trang, “nhưng vợ tôi là một người đặc biệt, có những khả năng không bình thường. Suốt hai mươi hai năm chung sống, tôi đã nhiều lần chứng kiến những chuyện lạ lùng. Bởi vậy tôi đã hết sức cố gắng để giúp bà ấy mở trung tâm tư vấn ở khu đô thị này. Tôi biết chỉ cần bà ấy có một nơi để phát huy những năng lực của mình, cư dân khu Shinagawa này sẽ được hưởng lợi.”

 

“Mọi người định làm gì với con khỉ này?”

 

“Không thể để nó sống được,” Sakurada nói ngay, không cần suy nghĩ. “Cho dù nó nói gì đi nữa, cái loài đã có thói xấu như thế này, chẳng mấy chốc sẽ lại ngựa quen đường cũ mà thôi. Không tin con khỉ này được!”

 

“Từ từ đã nào,” ông Sakaki nói. “Cho dù chúng ta có viện lý do gì, nếu một nhóm bảo vệ quyền của các động vật phát hiện ra chúng ta giết một con khỉ, bọn họ sẽ đệ đơn kiện ngay và dám chắc mình phải chất tiền như núi để mà hầu toà. Cậu còn nhớ lần chúng ta giết lũ quạ và vụ rắc rối lớn liên quan đến việc đó chứ? Tôi không muốn lặp lại sự vụ ấy.”

 

“Tôi xin các vị, đừng giết tôi,” con khỉ cúi rập đầu van vỉ. “Những gì tôi làm là sai, tôi biết lỗi rồi. Tôi đã gây ra nhiều rắc rối. Không phải tôi cố cãi đâu nhưng hành động của tôi cũng có thể đem lại điều tốt nào đó.”

 

“Mi có thể đem lại điều tốt gì từ việc trộm cắp những cái tên người cơ chứ?” Ông Sakaki hỏi một cách gay gắt.

 

“Tôi lấy cắp những cái tên người, không hồ nghi gì về việc đó. Nhưng làm vậy, tôi cũng có thể tháo bỏ những gì mang tính chất tiêu cực gắn liền với những cái tên ấy. Tôi không định khoác lác nhưng nếu như hồi trước tôi có thể lấy trộm được tấm phù hiệu của Yuko Matsunaka, nhiều khả năng cô ấy đã không bỏ đời mình.”

 

“Vì sao mi lại cho rằng như vậy?” Mizuki hỏi.

 

“Cùng với cái tên, tôi còn có thể mang đi phần nào đó thứ bóng tối ở bên trong con người nàng,” con khỉ đáp.

 

“Nghe hay quá nhỉ,” Sakurada lên tiếng. “Tôi không tin đâu. Tính mạng con khỉ này đang treo trên sợi tóc – dĩ nhiên nó muốn bào chữa cho hành vi của mình.”

 

“Có lẽ không phải,” bà Sakaki đứng khoanh tay, nói. “Có lẽ nó có cái lý nào đó.” Bà quay về phía con khỉ. “Khi mi lấy đi những cái tên, có nghĩa là mi nhận về cả điều tốt lẫn điều xấu, phải vậy không?”

 

“Dạ, vâng, đúng,” con khỉ thưa. “Tôi không có sự lựa chọn nào cả. Tôi phải nhận lấy trọn gói, có thể nói như vậy.”

 

“Vậy – điều xấu nào gắn liền với cái tên của ta?” Mizuki hỏi con khỉ.

 

“Có lẽ tôi không nên nói,” con khi trả lời.

 

“Hãy nói cho ta biết,” Mizuki khẩn khoản. Nàng ngừng lại một lát rồi tiếp tục: “Nếu mi trả lời câu hỏi của ta, ta sẽ tha thứ cho mi. Và ta sẽ xin tất cả những người hiện diện ở đây tha thứ cho mi.”

 

“Chị muốn nói gì?”

 

“Nếu con khỉ này nói cho tôi biết sự thật, ông sẽ tha cho nó chứ?” Mizuki hỏi ông Sakaki.

 

“Về bản chất, nó không phải là con vật hung dữ. Nó cũng đã lãnh chịu đủ, vì thế, chúng ta hãy nghe những gì nó nói, rồi sau đó, ông hãy đem nó đến núi Takao hay một nơi nào đó tương tự để phóng thích nó. Tôi nghĩ nó sẽ không quấy rầy bất cứ ai nữa đâu. Ông nghĩ sao?”

 

“Tôi không phản đối gì cả, chỉ cần chị thấy ổn là được,” ông Sakaki đáp. Ông quay lại nói với con khỉ: “Mi thấy thế nào? Mi thề là sẽ không quay trở lại phạm vi Tokyo nếu chúng ta thả ngươi về núi chứ?”

 

“Vâng, thưa ngài. Tôi thề là sẽ không quay trở lại,” con khỉ hứa một cách ngoan ngoãn. “Tôi sẽ không bao giờ gây phiền nhiễu đối với quý vị nữa. Tôi cũng đâu còn trẻ trung gì, đây sẽ là một sự khởi đầu mới trong đời tôi.”

 

“Được rồi, vậy, nói đi, điều tồi tệ nào ám lấy cái tên của ta?” Mizuki nhìn thẳng vào đôi mắt nhỏ đỏ hoe của con khỉ và hỏi.

 

“Nếu tôi nói ra, điều đó có thể làm chị thương tổn.”

 

“Ta không quan tâm. Cứ nói.”

 

Con khỉ ngẫm nghĩ một lúc, những nếp nhăn hằn sâu trên trán. “Tôi nghĩ sẽ tốt hơn cho chị khi không phải nghe điều này,” con khỉ nói.

 

“Ta đã bảo mi là không việc gì rồi mà. Ta thật sự muốn biết.”

 

“Vậy, được. Tôi sẽ nói cho chị biết,” con khỉ nói. “Mẹ của chị không yêu chị. Bà ấy chưa bao giờ yêu chị, dù chỉ một phút, kể từ khi chị được sinh ra. Tôi không biết vì sao nhưng ấy là sự thật. Chị gái của chị cũng không ưa chị. Mẹ chị gửi chị đến trường học ở Yokohama bởi vì bà ấy muốn rũ bỏ chị. Bà ấy muốn đẩy chị đi cho khuất mắt, càng xa càng tốt. Cha của chị không phải là người xấu nhưng ông ấy không phải là người có tính cách mạnh mẽ, ông ấy không thể che chở cho chị được. Bởi những lý do ấy, ngay từ hồi còn nhỏ, chị chưa bao giờ được đón nhận đủ tình yêu thương. Tôi nghĩ chị cũng mơ hồ nhận thức được điều đó nhưng chị đã cố tình ngoảnh mặt đi, không nhìn vào nó. Chị đã giam kín cái hiện thực đau đớn đó trong một góc nhỏ tối tăm, nhỏ bé, sâu trong lòng mình và vùi lấp nó lại. Chị đã cố kiềm chế tất cả những cảm xúc tiêu cực. Khuynh hướng tự vệ đó đã biến thành một phần bản chất của con người chị. Vì tất cả những điều này, chị chưa bao giờ là người có khả năng yêu thương ai đó một cách sâu sắc, vô điều kiện.”

Mizuki lặng im.

 

“Cuộc sống gia đình của chị có vẻ hạnh phúc, không có vấn đề gì. Có lẽ đúng là như vậy thật. Nhưng chị không thực sự yêu chồng mình. Tôi nói đúng chứ? Thậm chí, khi chị có con, thì tình trạng cũng vẫn vậy mà thôi.”

 

Mizuki không nói gì hết. Nàng sụp người xuống sàn nhà và nhắm nghiền mắt lại. Nàng có cảm giác như toàn bộ cơ thể mình như đang rã rời thành từng mảnh. Da thịt của nàng, nội tạng của nàng, xương cơ của nàng – tất thảy đều nát tan. Tất cả những gì nàng nghe thấy chỉ là tiếng thở của mình.

 

“Thật kinh khủng khi để cho một con khỉ mở miệng,” Sakurada lắc đầu giận dữ. “Sếp, tôi không thể chịu đựng được con khỉ này thêm được nữa. Hãy cho nó một trận lên bờ xuống ruộng để biết thân biết phận!”

 

“Hượm đã,” Mizuki lên tiếng. “Những gì con khỉ nói là sự thật. Tôi đã biết điều đó từ lâu nhưng tôi luôn cố nhắm mắt, bịt tai để quên đi. Nó đã nói ra sự thật, vì thế hãy tha cho nó. Hãy đưa nó đến núi và để nó đi.”

 

Bà Sakaki nhẹ nhàng đặt tay lên bờ vai của Mizuki. “Chị có chắc chắn là mình thấy ổn  rồi không?”

 

“Không sao đâu, chỉ cần tôi lấy lại được tên mình. Từ bây giờ, tôi sẽ sống với những gì ở bên ngoài kia. Đấy là cái tên của tôi. Và đấy là cuộc đời của tôi.”

 

 

Khi Mizuki tạm biệt con khỉ, nàng đưa cho nó tấm phù hiệu của Yuko Matsunaka.

 

“Cậu mới là người nên giữ lấy nó, chứ không phải tôi,” nàng bảo. “Hãy giữ cẩn thận cái tên của cô ấy. Và đừng lấy trộm cái tên của bất cứ người nào nữa.”

 

“Tôi sẽ giữ nó hết sức cẩn thận. Và tôi sẽ không bao giờ ăn trộm nữa, tôi xin hứa,” con khỉ nói.

 

“Cậu có biết vì sao Yuko lại để lại tấm phù hiệu này cho tôi trước lúc cô ấy chết không? Tại sao cô ấy lại chọn tôi?”

 

“Tôi không biết tại sao cả,” con khỉ trả lời. “Nhưng vì cô ấy làm vậy thế nên tôi và chị mới được gặp nhau, như là sự run rủi của số phận. Tôi cho là thế.”

 

“Chắc là cậu nói đúng,” Mizuki nói.

 

“Những gì tôi nói ra có làm chị đau đớn?”

 

“Có,” Mizuki đáp. “Nó khiến tôi rất đau khổ.”

 

“Tôi xin lỗi. Tôi không muốn nói ra điều ấy với chị.”

 

“Không sao cả. Thực tình tôi cũng đã biết điều đó rồi. Đó là điều mà sẽ đến một ngày, tôi phải đương đầu với nó.”

 

“Tôi thấy nhẹ lòng khi nghe chị nói vậy,” con khỉ bảo.

 

“Tạm biệt nhé,” Mizuki nói. “Tôi không nghĩ chúng ta sẽ lại gặp nhau đâu.”

 

“Xin hãy bảo trọng,” con khỉ tạ từ. “Cảm ơn mọi người đã cứu cuộc đời đáng thương của tôi.”

 

“Từ giờ, mi đừng có dại mà ló mặt ở Shinagawa nhé,” Sakurada lấy cây gậy tuần đập đập vào lòng tay con khỉ cảnh cáo. “Lần này bọn ta tha cho mi vì sếp bảo vậy, nhưng nếu ta còn bắt được mi ở đây thêm một lần nữa, mi sẽ không còn cơ hội được cứu thoát nữa đâu đấy.”

 

 

“Vậy tuần tới chúng ta sẽ làm gì?” Bà Sakaki hỏi Mizuki sau khi hai người trở về văn phòng trung tâm tư vấn. “Chị còn có điều gì muốn trao đổi với tôi nữa không?”

 

Mizuki lắc đầu. “Không. Nhờ chị, tôi nghĩ vấn đề của mình đã được giải quyết. Tôi rất biết ơn chị vì tất cả những gì chị đã làm cho tôi.”

 

“Chị thấy không cần phải trao đổi tiếp về những gì mà con khỉ đã nói ra với chị sao?”

 

“Không. Tôi thấy tự mình nên giải quyết những việc đó. Tôi thấy mình cần phải bỏ thời gian để tự suy nghĩ lại về những điều ấy.”

 

Bà Sakaki gật đầu. “Nếu chị quyết tâm đối diện với nó,” bà nói, “tôi tin nó sẽ khiến chị trở nên mạnh mẽ hơn.”

 

Hai người phụ nữ bắt tay nhau và chào tạm biệt.

 

Về nhà, Mizuki lấy tấm phù hiệu của mình và sợi dây chuyền đeo tay ra, nhét chúng vào một chiếc phong bì màu nâu nhạt. Nàng đặt chiếc phong bì ấy vào chiếc hộp các tông để ở trong buồng mình. Cuối cùng thì nàng cũng đã lấy lại được cái tên của mình và trở về cuộc sống bình thường. Mọi thứ có thể lại trôi chảy. Và rồi đến một lúc nào đó, có thể lại không như vậy nữa. Nhưng ít nhất, lúc này, nàng đã có cái tên của mình. Cái tên của nàng. Chỉ của riêng nàng mà thôi.

 

 

Chú thích:

  1. Bệnh Alzheimer: bệnh teo não dẫn đến sự sa sút trí lực.
  2. Bệnh Huntington: một căn bệnh di truyền nguy hiểm phá huỷ nơ ron thần kinh trong não bộ liên quan đến năng lực cảm xúc, trí tuệ và vận động của con người. Bệnh Huntington có quá trình diễn tiến từ sự co giật khớp xương, thân mình, cơ mặt dẫn đến những vấn đề bất bình thường liên quan đến tâm thần. Bệnh này thường xuất hiện ở những người độ tuổi trung niên từ 30 đến 50 nhưng cũng có thể phát sinh ở những người ở độ tuổi trẻ hơn.
  3. Súng BB: một loại súng sử dụng loại đạn cỡ nhỏ gọi là BB. Loại súng này không có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng đối với người và những con thú lớn, trừ khi nó bắn trúng vào những bộ phận nhạy cảm của cơ thể. Ở một số nước, loại súng này đã bị cấm.

Hải Ngọc dịch

Chuyển ngữ theo bản dịch từ Nhật ngữ sang Anh ngữ A Shinagawa Monkey của Philip Gabriel, đăng trên tạp chí The New Yorker, ngày 13/02/2006.

Jeffrey T. Nealon – Thời đại của những thứ “Hậu” (phần 2)

Hậu cấu trúc luận

 

Với tư cách một thuật ngữ, “hậu cấu trúc luận” cũng phức tạp không kém “hậu hiện đại”: Trước khi nắm được chữ “hậu” trong thuật ngữ này có ý nghĩa gì, ta cần phải biết đôi điều về cấu trúc luận mà về logic, nó xuất hiện trước hậu cấu trúc luận. Cấu trúc luận là hay đã từng là một trào lưu xuyên/liên ngành trong lĩnh vực nhân văn và khoa học xã hội, có tác động lớn nhất đến ngôn ngữ học, dân tộc học, nhân học và phê bình văn học. Về bản chất, cấu trúc luận quan tâm đến việc nghiên cứu hệ thống biểu nghĩa hay biểu tượng và tiền đề cơ bản của trào lưu này đã trao cho nó tên gọi: Đối với bất kỳ một hiện tượng biểu nghĩa có sẵn, phải có một cấu trúc chìm bên dưới khiến cho hành động biểu nghĩa trở nên khả hữu và chi phối hành vi này theo cách thức nào đó.

 

Chẳng hạn, để bất kỳ một hành động ngôn từ nào có thể hiểu được, phải có một ngữ pháp chung giúp giải thích trật tự từ cụ thể, mẫu câu, ví trị của chủ ngữ, động từ, bổ ngữ, v.v… Bất cứ một hiện tượng biểu nghĩa hay có ý nghĩa nào cũng tiền giả định một kiểu cấu trúc nào đó, một hệ thống luật lệ và giá trị mà nhờ đó hiện tượng này được tạo lập và bên trong cấu trúc này, ít nhất, nó có thể hiểu được ở cấp độ tối thiểu đối với những ai nắm được hệ thống này. Theo đó, nghĩa của từ “cấu trúc” trong thuật ngữ “cấu trúc luận” phần nào đó trùng với “tư tưởng hệ” (ideology) trong định nghĩa thứ hai về khái niệm này như là “ý nghĩa chung phổ quát” (“common sense”) có tính chất chỉ đạo – một thỏa thuận được chia sẻ song chủ yếu thuộc về vô thức – của một xã hội (social body).

 

Một ví dụ về cách phân tích theo kiểu cấu trúc luận: để một người hiểu một mệnh lệnh đơn giản trong tiếng Anh “Đóng cửa lại!”, cả người nói và người nghe nhất thiết đã phải nắm được một lượng rất đáng kể thông tin “cấu trúc”, cả về thứ ngôn ngữ mà họ đang nói và cả tình huống giao tiếp của họ lúc này. Hình thức mệnh lệnh là một hình thức đặc biệt khó nắm bắt trong tiếng Anh, nó dựa trên giọng điệu của lời nói và những vấn đề thuộc về ngữ cảnh (vị trí xã hội tương đối giữa người nói và người nghe, sự hiểu lẫn nhau của người nói và người nghe về “vấn đề” được tạo ra từ một cánh cửa còn mở ngỏ, v.v…) cũng như “nội dung” của thông điệp; bên cạnh đó, chủ thể của mệnh lệnh được hàm ẩn hơn là biểu hiện trực tiếp, do vậy, để biết có thật là bạn là đối tượng được nhắm đến hay không, xét một cách nghiêm ngặt, thì dường như không thể nhìn ra ngay được từ bản thân câu nói. Để hiểu được ý nghĩa của mệnh lệnh giản đơn này, bạn cần phải nắm được cả ngữ pháp tiếng Anh và tình huống trong đó câu nói này được phát ngôn.

 

Nói khác đi, một số “cấu trúc” phức tạp chìm bên dưới cần phải nắm được trước khi một hành động tượng trưng đơn giản được trao cho ý nghĩa, và chủ nghĩa cấu trúc quan tâm đến việc phát lộ những hiện tượng ẩn chìm này. Như Robert Scholes đã viết trong cuốn Structuralism in Literature [Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học], “để tồn tại, bất kỳ một lĩnh vực khoa học nhân văn nào cũng phải chuyển trọng tâm từ những hiện tượng mà nó nhận ra đến cái hệ thống chi phối chúng” (14). Trên thực tế, người ta có thể nói rằng bước chuyển từ các sự vật sang các cấu trúc chi phối chúng là sự chuyển dịch mang tính trung tâm của mọi chủ nghĩa cấu trúc.

 

Lẽ dĩ nhiên, mỗi chúng ta, ai cũng vẫn luôn thể hiện những chuyển dịch cấu trúc luận như thế – từ một hành động tượng trưng cụ thể đến cấu trúc làm cho nó trở nên mang tính khả thụ (intelligible) – chúng ta chọn lựa, ít nhiều vô thức, các ký hiệu và biểu trưng theo các cấu trúc của tính khả thụ mà chúng ta đã học từ trước đó rất lâu. Thí dụ, trỏ ngón tay giữa nhằm vào ai đó, tự bản thân nó, là một hành động vô nghĩa, song nếu khi ta hiểu động tác này từ ngữ pháp cấu trúc của xã hội Mỹ, nó lại mang một ý nghĩa đặc biệt. Trên thực tế, quá trình quy chiếu (reference) thường xuyên mang tính tự động đến nỗi chúng ta nhận ra điều này chỉ khi nó bị phá vỡ theo cách nào đó, khi, chẳng hạn, ngôn từ và hình ảnh trở nên khó vì chúng bị “chồng mã” (over-coded) với sự đa bội của ý nghĩa (như trong ngôn ngữ văn chương hay thi ca) hay khi chúng ta tìm cách để hiểu một ngôn ngữ không quen hay tiếng nước ngoài-lúc đó chúng ta không biết được những cấu trúc xã hội và ngôn ngữ chìm bên dưới. Nói cách khác, khi chúng ta không biết hay không thể luận ra được các cấu trúc chìm của ý nghĩa thì ta mấy thấy rõ hơn bao giờ hết sự tồn tại của những cấu trúc này.

 

Câu hỏi thảo luận 1:

 

Hãy nhớ lại và mô tả lần gần đây nhất bạn ở trong một tình huống mà mình không hiểu được những cấu trúc chìm của ý nghĩa chi phối một cuộc chuyện trò. Một lần đến một đất nước khác chẳng hạn? Hay đến một vùng lân cận, một cửa hàng hay một quán bar ngay trong thành phố của mình? Đến dự một buổi tiệc cơ quan tại một nơi mà bạn không làm việc ở đó? Một trận cricket trên TV? Hay một buổi tối đi chơi với một nhóm người đều cùng làm một nghề – nha sĩ, chuyên gia máy tính, lái xe tải, thợ sửa đường nước, nhạc sĩ – và họ cứ nói không biết mệt về công việc hay sở thích của mình bằng một thứ ngôn ngữ có nhiều đặc thù mà bạn không hiểu?

 

Điều gì mà bạn cảm thấy không hiểu nhất khi ở trong một tình huống như thế? Hệ quả của điều đó đối với bạn là gì? Đó có phải là trường hợp mà bạn cần phải biết nhiều các cấu trúc phức tạp để bước vào những cuộc chuyện trò đơn giản?

 

*

Có lẽ diễn ngôn xác lập hệ hình cho chủ nghĩa cấu trúc là ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure. Chúng ta nhớ rằng Saussure đã phân biệt giữa ký hiệu vật chất (material sign) hay hành động ngôn từ (speech act) và các cấu trúc chìm – tương ứng lần lượt với cái được biểu đạt (signified) và ngữ pháp (grammar) – vốn làm cho những hành động tượng trưng như vậy trở nên có thể hiểu được. Saussure vẫn còn có ảnh hưởng quan trọng đối với hậu cấu trúc luận nhưng hậu cấu trúc đã soi rọi và chất vất cấu trúc luận tại chính điểm trọng tâm nhất của nó, tức sự chuyển dịch từ cái cụ thể (cái biểu đạt) sang cái cấu trúc chi phối nó (cái được biểu đạt).

 

Chắc chắn các nhà hậu cấu trúc sẽ đồng ý rằng ở vào một tình huống mà ta không hiểu một điều gì đó, những cấu trúc chìm của ý nghĩa sẽ trở nên hiển lộ rõ nhất: Khi người thợ sửa đường ống nước mô tả cho bạn một cách chi tiết hoạt động bên trong của một toilet, bạn sẽ nhận thấy anh ta đang liên hệ đến những cấu trúc mà bạn không hiểu; tương tự, khi bạn gọi một bữa sáng ở Đức và nhận về một thứ giống như là bữa trưa, bạn nhận ra-giống như Dorothy-mình không còn ở Kansas nữa. Bạn không nói sai nhưng “bữa sáng” trong tiếng Đức (cái mà người ta có thể gọi là cái được biểu đạt của bữa sáng) mang nghĩa khác với tiếng Anh.

 

Tuy nhiên, đối với những vở kịch nhỏ này, các nhà hậu cấu trúc luận sẽ bổ sung một quan sát khác: việc nhận ra mình không hiểu anh thợ sửa đường ống nước nói gì hay không thể gọi một bữa ăn sáng đúng nghĩa bằng tiếng Đức đồng thời cũng kéo theo việc nhận ra các cấu trúc của tính khả thụ không phải mang tính phổ quát hay trừu tượng. Khi hệ thống của bạn bị phá vỡ, bạn nhận thấy những cấu trúc chìm của ý nghĩa (những ngữ cảnh [context] tạo nghĩa) mỗi nơi một khác. Các cấu trúc của ý nghĩa, giống như bản thân ý nghĩa, không trừu tượng hay mang tính siêu nghiệm: Cái được biểu đạt (khái niệm bữa sáng, chẳng hạn) cũng mang tính cụ thể (phụ thuộc vào ngữ cảnh của ý nghĩa của nó) như cái biểu đạt (“breakfast” trong tiếng Anh hay “Fruhstuck” trong tiếng Đức); cái dường như là thứ ngữ pháp trừu tượng và phổ quát (bạn gọi món ?) cũng cụ thể và có thể thay đổi như câu hay từ liên quan đến nó.

 

Đối với một nhà hậu cấu trúc luận, cả cái biểu đạt cái được biểu đạt đều “võ đoán” (arbitrary) như thế này. Không có một liên hệ tất yếu (hay cấu trúc) nào giữa một từ và ý nghĩa của từ đó. Đây có lẽ là sự bổ sung quan trọng nhất của các nhà hậu cấu trúc luận  cho cấu trúc luận: Ngay cả bản thân các cấu trúc bề sâu hay cấu trúc chìm của ý nghĩa cũng mang tính võ đoán; cái chúng ta coi là nguyên nhân (cause) của ý nghĩa hay tính khả thụ tự thân nó đã là một kết quả (effect); ở bất cứ chỗ nào mà bạn nghĩ bạn đang thấy cái tự nhiên (nature) thì hóa ra ở đó văn hóa (culture) đã hiện hữu.

 

Nói một cái gì đó mang tính võ đoán, về cơ bản, nghĩa là nói rằng nó dựa trên sự thiên vị mang tính chất cá nhân và vì thế mà cũng dễ thay đổi nó được. Hiểu như vậy, cái mà hôm qua bạn gọi là bữa trưa là “võ đoán”, tùy tiện – nó là một sự thiên vị mang tính cá nhân không có logic nào ở đây và có thể thay đổi theo từng ngày. Tất nhiên, đây không phải là sự võ đoán theo nghĩa mà Saussure dùng để nói về bản chất của cái biểu đạt. Trong tiếng Anh, bữa ăn giữa ngày hôm qua được gọi là “bữa trưa” (lunch) như nhiều năm trước nó cũng vẫn được gọi như thế và sẽ rất tốt nếu ngày mai và nhiều nhiều năm sau, nó vẫn tiếp tục được gọi như vậy. Bạn có thể thể hiện sự thiên vị cá nhân của mình khi gọi nó là “flanjor” nhưng đừng kỳ vọng bất cứ ai cũng hiểu bạn đang nói gì khi nói “Hey, nào đi ăn flanjor thôi”. Cái biểu đạt, mặc dù mang tính “võ đoán”, không phải là một sự thiên vị cá nhân.

 

Trên thực tế, như Saussure đã viết, “bản chất võ đoán của ký hiệu thực chất chính là cái bảo vệ ngôn ngữ khỏi những mưu toan muốn biến đổi nó”. Nghe có vẻ lạ: Nếu “võ đoán” nghĩa là không có mối liên hệ “tự nhiên” nào giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt (đó là mối liên hệ “bị kiến tạo về văn hóa”, đối lập với cái gọi là “tất yếu” [essential]), thì chẳng phải suy ra từ điều này, mối liên hệ đó sẽ dễ dàng thay đổi hay điều chỉnh hơn sao? Nếu mối liên hệ giữa từ và ý nghĩa là “võ đoán” hơn là “tất yếu”, thế thì chẳng phải tất cả mọi từ đều phụ thuộc vào “sự biến đổi” (modification) dễ dàng theo cách này sao?

 

Câu hỏi thảo luận 2:

 

Vậy thì nói một điều gì đó là “võ đoán” nhưng vì thế nó kháng cự lại sự thay đổi thì có nghĩa lý gì? Để thay đổi một điều gì đó, chẳng phải ta phải chỉ ra nó không phải “tự nhiên” và do đó, có thể bị thay đổi hay sao? Nếu cái biểu đạt là “võ đoán” hay đơn thuần chỉ là “bị kiến tạo về văn hóa”, tại sao không nhiều người muốn gọi “lunch” là “flanjor”?

 

*

Sau cấu trúc luận, nói một điều gì đó mang tính chất “kiến tạo văn hóa” hơn là “bản chất” hay “tự nhiên” cũng có nghĩa hàm ý muốn nói điều đó không khó để thay đổi: Nếu nó không phải là bản chất hay tự nhiên thì sẽ dễ dàng để biến đổi nó, phải không? Ồ, không. Lấy thí dụ, đa số mọi người sẽ đồng ý rằng những vấn đề cấp thiết nhất của thời đại này đều là những kiến tạo xã hội: đói nghèo, tội phạm, phân biệt đối xử, thuế má, chiến tranh. Ai cũng biết những vấn đề này là những kiến tạo xã hội; sự phân biệt đối xử không phải là hiện tượng “tự nhiên” cũng như những thứ thuế cao hay chiến tranh; con người trở thành những tín đồ mù quáng, họ không được sinh ra như thế. Thế nhưng thực tế này dường như lại chẳng có tác động gì lớn lên diễn ngôn về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hay giới tính. Phần lớn mọi người có lẽ đều đồng ý rằng vai trò của phụ nữ không đơn thuần chỉ là làm vợ, làm mẹ nhưng điều này không thay đổi được thực tế của sự phân biệt giới tính trong xã hội. Nói như nhà nữ quyền luận Eve Kosofsky Sedgwick: “Tôi nhớ sự nồng nhiệt thể hiện trên bề mặt khi các học giả nữ quyền luận chào đón những phát hiện về bản chất văn hóa, chứ không phải bản chất sinh học, của hình thức này hay hình thức kia của sự trấn áp. Tôi đã thường băn khoăn rằng cái gì là nền tảng cho niềm lạc quan của chúng ta về khả năng dễ uốn nắn của văn hóa mà bất kỳ một nhóm hay một chương trình nào có thể tạo ra”.

 

Thực tế cho thấy nếu sự phân biệt đối xử là một thứ “tự nhiên” và theo cách nào đó, nó có thể bị vô hiệu hóa về mặt khoa học thì nó còn dễ thay đổi hơn là khi người ta đồng ý rằng sự phân biệt đã là một hiện tượng kiến tạo xã hội ngay từ đầu. Các tập quán xã hội, trên thực tế, cực khó để thay đổi, không phải vì chúng mang tính “tất yếu”/”bản chất” mà chính là vì chúng ta đã quen với nó. Không có lý do nhất thiết nào để hầu hết các trận cầu Mỹ chỉ diễn ra vào ngày chủ nhật (cũng như không có mối liên hệ tất yếu nào giữa từ “football” và phiên bản Mỹ của môn thể thao này) nhưng việc không có lý do nhất thiết nào cho việc nó được diễn ra theo cách này chắc chắn không có nghĩa là thực sự dễ quyết định làm việc đó theo một cách khác.

 

Vì “võ đoán” nghĩa là “được kiến tạo về mặt xã hội” theo Saussure, tất yếu nó cũng có nghĩa là “kháng cự lại sự thay đổi”. Các tập quán xã hội đã trở nên thâm căn cố đế, và các quy ước xã hội, bởi thế, không thể thay đổi chỉ qua bất cứ một hành động của cá nhân nào. Ngôn ngữ, như Saussure chỉ ra, có lẽ là ví dụ tuyệt vời nhất cho điều này: ngôn ngữ là một hệ thống xã hội về ý nghĩa mang tính võ đoán dựa trên những quy ước đã duy trì từ lâu nên nó có sức kháng cự rất cao đối với sự thay đổi. Thay từ “lunch” bằng từ “flanjor” khi từ “lunch” vẫn có một lực hấp dẫn trong cách sử dụng ngôn ngữ hàng ngày thì để làm gì? Chỉ ra một cái gì đó được kiến tạo hay được cấu trúc không giống với việc cuối cùng ta cũng hiểu được nó hay có thể bằng cách nào đó thay đổi nó toàn diện.

 

Tuy nhiên, trong nhiều biến thể của nó, cấu trúc luận mơ ước tìm thấy một kiểu cấu trúc phổ quát cho những hệ thống biểu tượng và một thứ tự nhiên có tính chất nền tảng nhất, xuất hiện trước bất kỳ một thứ văn hóa nào. Nhân học cấu trúc, chẳng hạn, đã lập luận rằng sự cấm kỵ loạn luân là cấu trúc nền tảng hay cấu trúc chìm của mọi hệ thống biểu tượng trong mọi xã hội. Như Jacques Derrida đã viết về tác phẩm của nhà nhân học cấu trúc Claude Levi-Strauss:

 

Xã hội, ngôn ngữ, lịch sử, cách diễn đạt (articulation)…được sinh ra cùng lúc với sự cấm kỵ loạn luân…vốn nằm ở bản lề giữa tự nhiên và văn hóa…[Sự cấm kỵ loạn luân], hơn thế, không đơn giản là một thành tố, giữa những thành tố khác, của văn hóa, vì nó là một lệnh cấm thiêng liêng và phổ quát. Nó là thành tố của bản thân văn hóa, cội nguồn không được công khai của những đam mê, của xã hội của ngôn ngữ.

 

Theo Derrida, một nhà hậu cấu trúc luận, cái đáng ngờ ở đây là phẩm chất “thiêng liêng và phổ quát” của sự cấm kỵ loạn luân mà Levi-Strauss khẳng định. Nói khác đi, điều đáng ngờ đối với một nhà hậu cấu trúc luận là dấu vết của một khẳng định mang hơi hướng thần học hay tính chất siêu nghiệm nào đó về “cấu trúc” theo quan điểm của cấu trúc luận. Tuy nhiên, các cấu trúc dường như chi phối các thực hành văn hóa bản thân chúng cũng là sản phẩm của các thực hành văn hóa. Đây là bài học của chủ nghĩa hậu cấu trúc và cũng là điểm nào mà nó dễ móc nối với chủ nghĩa hậu hiện đại nhất: Cả các nhà hậu hiện đại và hậu cấu trúc đều nhấn mạnh và làm nổi bật bản chất tạm thời của mọi khẳng định về sự thật/chân lý.Các sự thật/chân lý chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh đặc thù, điều đó không có nghĩa bất kỳ điều gì chúng ta nghĩ cũng đúng cả (như ta thấy xuyên suốt văn bản này), mà đúng hơn là các sự thật/chân lý phụ thuộc vào các ngữ cảnh đặc thù.

 

Câu hỏi thảo luận 3:

 

Thuyết big bang dường như là một phiên bản khoa học được chấp nhận về sự ra đời của vũ trụ: Tất cả bắt đầu từ một khối khổng lồ vỡ ra từ một vụ nổ lớn. Vũ trụ sẽ mở rộng ra đến hết khả năng của nó và lại bắt đầu thu nhỏ lại, ghép tất cả những vì vỡ vụn lại thành một khối không phân hóa. (Lý thuyết này đồng thời cũng giúp giải thích thuyết trọng lực, thuyết entropy, thuyết nhiệt động lực học và hàng loạt các khái niệm khoa học khác.)

 

Vậy có điểm gì đáng ngờ về lý thuyết big bang từ quan điểm hậu cấu trúc luận?

 

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Jeffrey Nealon & Susan Searls Giroux, The Theory Toolbox- Critical Concepts for the Humanities, Arts & Social Sciences, Rowman & Littlefield Publishers, Inc, 2003, p.131-140..