Tag Archives: dạy văn

Đọc “Nhật ký chuyên văn” (Nhiều tác giả Văn Ams 92-95)

1. Tôi muốn bắt đầu từ những trang cuối cùng của cuốn sách, bằng những dòng mà Nguyên – một trong “ba con chim quý” của lớp 12 Văn khóa 92-95 – viết về ông thầy của mình. Nguyên, như những dòng tự bạch, là cậu bé sớm không vừa khuôn với thực tại, không chấp nhận mọi sự chật chội, bưng bít, hay nói như lời của chính ông thầy, “sớm có mầm nổi loạn”.  Không quá lời khi nói rằng cậu bé 15 tuổi ấy đã may mắn khi gặp được một người thầy như thầy Hùng, một người thấy đủ nhạy cảm để sớm nhận ra sự khác biệt của cậu học trò, nhìn thấy những mầm mống nổi loạn ấy không phải như những nhân tố tiêu cực để trấn áp, ngăn ngừa mà trái lại, như những dấu hiệu của tương lai. Một cậu bé như thế, hoặc sẽ rất dễ khủng hoảng tâm lý, dễ bị tổn thương, hoặc ở cực khác, sẽ trở nên vĩ cuồng, ảo tưởng nếu như không có một người đủ tin cậy để chia sẻ, một người có thể điềm tĩnh lắng nghe và cố gắng để hiểu, để cảm thông và khích lệ. Người thầy ở đây đã trở thành một người bạn xuất hiện đúng lúc.

Không hiểu sao, trong trường hợp này, không chỉ cậu học trò thấy may mắn, mà chính cả người thầy có lẽ cũng là người may mắn. Một thời gian tuy chưa thật dài gắn bó với phổ thông, làm công việc dạy văn, tôi cảm thấy một trong những điều thú vị nhất là môn học này giúp tôi nhận ra được những cá tính đặc biệt của học trò. Phải, cái môn học tưởng như đang bị thất thế ở thời điểm mà các giá trị thực dụng trong xã hội áp đảo, nơi hình mẫu của những người thành đạt mới là cái hấp dẫn cả phụ huynh lẫn học sinh thì chính qua môn văn, chính qua những trang sách văn chương, ta mới có thể nhận diện được tâm hồn của những người trẻ tuổi, những cậu bé, cô bé đã không khước từ nổi hồ nghi, băn khoăn, ngờ vực trước những gì đã và đang hiện diện như một đặc trưng tâm lý lứa tuổi. Chỉ ở những bài làm văn, người giáo viên mới phát hiện ra được những người học trò “cá biệt” bởi sớm nhìn ra những khoảng không gian khác bên ngoài những trang sách, những bức tường của gia đình, của trường lớp mà nhiều người cho rằng chúng thực hiện chức năng bảo vệ thay vì che chắn nhận thức cho học trò. Những đứa học trò cá biệt ấy vừa là niềm hạnh phúc của người dạy văn, vì các em luôn có khả năng đưa đến những bất ngờ trong nhận thức, vì các em nhạy cảm hơn, sớm già dặn hơn và do đó có thể chia sẻ phần nào đó thế giới tinh thần của người thầy bên ngoài giờ học, vừa là nỗi lo lắng khi các kỳ thi, với tính chất trường quy, với áp lực của bệnh thành tích, luôn dễ trở thành “nạn nhân” của nền giáo dục đáng kết án này. Không dễ để làm bạn với những học trò như thế, nhưng làm bạn được với họ – cuộc đời của người giáo viên sẽ có nhiều câu chuyện để nhớ lại, để suy nghĩ hơn là những chuỗi công việc lặp lại dễ nhàm của nghề dạy học.

Người dạy văn, may mắn hơn giáo viên những bộ môn khác, là dễ nhìn thấy được tâm hồn của học trò. Nhưng cái khó cũng là ở chỗ đó: bảo vệ, nuôi dưỡng thế giới tâm hồn đó không hề đơn giản. Bởi lẽ đó, trong nhiều câu chuyện về giáo dục, tôi vẫn hay bắt gặp những ký ức buồn của những người học trò về những ông thầy văn đã vô tình hay hữu ý làm tổn thương thế giới tâm hồn của họ. Tôi không biết nói gì với những người đã kết án nền giáo dục nặng nề nhất thông qua hình ảnh của người dạy văn: những người bắt học sinh chép văn mẫu, những người ghi những lời phê vô cảm trông những bài kiểm tra, những người dễ dàng có khả năng nói năng nghiệt ngã với học trò… Tất cả những điều đó là có thật, tôi không bao giờ dám chắc mình chưa từng làm học trò nào thất vọng, tổn thương. Kể cả chưa từng thì tôi cũng không tự tin là mình sẽ không bao giờ phạm vào điều ấy.

2. Nguyên viết về thầy Hùng: “1995, thầy vẫn trong chốn vô minh cùng xã hội. Thầy chỉ có một lỗ nhìn ra ngoài. Như cái lỗ mình đục trên tường nhà. Cái tủ sách văn. Mục trường của cái lỗ ấy nhỏ đến mức không nhìn thấy cái gì rõ nét.  Chỉ là một niềm tin mơ hồ: ngoài kia còn gì đấy nữa. Thầy biết thế, nên thầy biết mình. Và biết coi học trò là bạn…”

Đó là những dòng làm tôi xúc động nhất, thực sự là tôi đã khóc khi đọc những dòng ấy. Khác với nhiều đồng nghiệp thường tự hào về nghề dạy học, từ rất lâu, tôi đã luôn nghĩ cuộc đời của người thầy, về cơ bản, là nhàm chán hơn nhiều so với cuộc đời của những học trò. Chúng tôi sẽ không thể đi xa, đi nhiều hơn những gì mà các em có thể đi. Kiến thức trường học, nhất là thứ văn chương sách giáo khoa này, còn có ích gì cho các em khi vào đời. Người thầy, cùng lắm, nhưng cũng là điều có ý nghĩa hơn hết thảy, chỉ nói được với các em rằng: còn có gì khác nữa, ở ngoài kia, bên kia những gì đang che chắn, bên kia những gì đang bao bọc và trao cho ta một cảm giác an toàn nhưng đồng thời làm chúng ta chỉ biết chịu đựng và cam phận.

Trong ký ức về ông thầy, Nguyên nhớ đến những cuốn sách của Kafka, của Camus, nhớ đến những lời thầy giảng về Bakhtin khi cậu mới 16 tuổi. Kafka, Camus, Bakhtin…không có trong sách giáo khoa, đương nhiên sẽ chẳng bao giờ có trong nội dung thi cử. Những cuốn sách ấy gợi cho ông thầy một cái gì đó thật khác và đồng thời nó đánh thức trong cậu học trò nhạy cảm niềm tò mò và cả niềm tham vọng muốn nhìn thật rõ cái khác đó là gì. Phải, dạy học, nhất là dạy văn, chẳng đem được đến cái gì thực dụng đâu. Nhưng trách nhiệm lớn nhất của dạy văn là gợi ra được ý niệm về cái gì đó khác ở học trò. Người thầy không phải là người hiện hữu trước mắt học trò với những trang phục xa hoa, với những câu chuyện về hạnh phúc gia đình mình như một niềm hãnh diện, hay những câu chuyện đùa vui làm quà. Người thầy chỉ có thể đem đến ý niệm về cái gì đó khác. Tôi lại nhớ đến buổi học cuối cùng kỳ vừa rồi với các em sinh viên K63, cái lớp mà có thể tôi chỉ dạy một kỳ duy nhất, rằng những gì tôi giảng có thể sai, có thể hời hợt, nhưng những cuốn sách tôi đã có lần nói với các bạn, những tác phẩm của Cervantes, Tolstoy, Dostoevski, Kafka, Szymborska… các bạn hãy dành thời gian mà đọc. Để 4 năm sinh viên đi qua, mình còn có vài cuốn sách quý đồng hành. Đừng nhớ nhiều đến những gì thầy cô giảng… Có lẽ nhiều em sẽ chỉ nghĩ tôi hay nói cực đoan và khó hiểu. Nhưng nếu như tôi đã làm được một chút gì trên con đường học hành thì cũng là vì những người thầy dạy tôi đã là những người nói với tôi về những cuốn sách mở ra những khoảng trời khác. Tôi nhớ đến thầy mình qua những cuốn sách ấy.

Nguyên khi nhớ về thầy Hùng, nghĩ về cuốn sổ mà ông thầy trao cho đám học trò từ ngày đầu vào lớp 10 để làm nhật ký, đã thấy: cuốn sổ ấy, hơn cả một cuốn nhật ký, nó là thế giới của tự do. Với tôi, đây là thông điệp có ý nghĩa nhất khi đọc cuốn nhật ký này từ góc độ của một người giáo viên. Hãy trao cho học trò tự do, hãy gợi cho học trò biết rằng ngoài trời còn có trời. Chúng ta đi làm nghề dạy học vì đa phần yêu sự ổn định, thích sự an phận, nhưng chúng ta không thể dùng sự ổn định, an phận ấy như một thứ đạo đức để kìm hãm học trò được. Đừng nghĩ tự do là cái gì trừu tượng: tự do có thể bắt đầu bắt cách chúng ta hãy để các em được hồn nhiên, vô tư, được nghịch ngợm, được bất mãn, được nhận thức ngay cả những gì phi lý. Đừng biến lớp học thành không gian đóng. Những bài hát, những bài thơ chế…trong cuốn sách này cho thấy năng lực biết cười, biết khôi hài của những con người tuổi trẻ. Biết cười, biết khôi hài…cũng là năng lực của những con người tự do.

3. Tôi học sau của những nhân vật trong cuốn nhật ký này hai khóa. Ở mức độ nào đó, cuốn nhật ký nào cũng là những hồi ức của tôi 20 năm trước.  Cách đây 20 năm, khi không khí xã hội đã cởi mở hơn một phần nào đó, khi ý niệm về thế giới khác bên ngoài đến với chúng tôi chủ yếu qua những bài hát, những cuốn sách dịch, xã hội khi ấy đang sống lại một bầu không khí hơi giống những năm đầu thế kỷ: bọn trẻ con được quyền mơ mộng hơn, được phép vu vơ, lãng mạn, được tỏ ra cá tính… Nói không quá, thời ấy, ở nhưng trường chuyên, lớp chuyên văn thường là bộ mặt tinh thần của nó. Hai mươi năm sau, những nhân vật trong sách đã bước sang một giai đoạn khác trong đường đời. Tôi không rõ họ đã và đang làm gì, có địa vị nào trong xã hội. Nhưng việc cái tập thể lớp đó thống nhất công khai cuốn nhật ký này thành sách, với tôi, có cái gì đó vừa can đảm vừa mơ mộng. Nó làm tôi rưng rưng khi nhớ đến một chi tiết mà tôi không biết, thầy tôi – thầy Vũ Xuân Túc còn nhớ hay không?

Năm lớp 10, buổi đầu tiên khi thầy gặp mặt cả lớp, chúng tôi phải làm một bản điều tra cá nhân. Trong số các câu hỏi của thầy, có một câu hãy nên tên một tác phẩm của một nhà văn Việt Nam mà mình yêu thích nhất. Khi ấy, tôi có ghi tác phẩm mà tôi thích nhất là “Hoàng hôn màu cỏ úa” của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ. Tôi, khi ấy, một đứa trẻ khó ưa, đanh đá và thích chơi trội, tôi đã muốn ghi một tác phẩm mà trong lòng thầm đoán chả đứa nào trong lớp biết. Nhưng thực tình, đó cũng là tác phẩm ấn tượng với tôi nhất vào thời điểm đó. Câu chuyện ấy Nguyễn Thị Thu Huệ viết về buổi chiều chia tay cấp 3 trên bãi sông Hồng của đám học trò. Vào một khoảnh khắc bất ngờ, hoàng hôn ngả sang màu cỏ úa, cậu lớp trưởng khi ấy nói một điều gì đó với cả lớp. Rất dài, giờ tôi không nhớ chính xác, nhưng có đại ý lớp mình sau này, cuộc đời có thế nào, thì chúng ta cũng phải sống với nhau tử tế. Rồi hẹn nhau, cứ ngày này, hàng năm, lại gặp mặt. Cái lớp cấp ba ấy rồi tan tác, rồi chả mấy ai còn nhớ lời hẹn lúc hoàng hôn năm ấy. Số phận mỗi người cũng khác: có người tù tội, đứa hay khóc nhất lớp thì trở thành tú bà, có người thì số phận dường như chỉ là chuỗi dài của thất bại. Nhân vật người kể chuyện khi ấy nhận ra hình như vì tất cả chúng ta đều bị đời sống cuốn đi, chúng ta đã không nhớ gì đến khoảnh khắc trong sáng đẹp đẽ cao cả nhất của tuổi học trò. Chúng ta đã không nhớ gì hết. Và vì thế, chúng ta đã không nhìn vào nhau, không nhìn thấy nhau để thấy phải sống tự trọng, phải sống tử tế với nhau và với đời…

Tôi khi ấy ghi truyện ấy vào trong phiếu điều tra chỉ vì thời đó, tôi còn đang thích viết truyện đăng trên các báo tuổi mới lớn. Sau này, khi học hành văn vẻ ở cấp đại học, đọc lại thì thấy truyện cũng thường thôi về kỹ thuật, về văn chương. Nhưng nỗi xúc động của câu chuyện thì thỉnh thoảng vẫn trở lại. Tôi ít khi tụ tập với bạn bè thời đi học. Tôi cũng ít bày tỏ tình cảm trực tiếp với những người thầy của mình. Vì nhiều lý do. Có thể rất dở hơi. Thậm chí, tôi luôn tránh những màn ôn lại kỷ niệm tập thể. Nhưng một cách thật lòng, những lúc tôi cảm thấy cuộc sống chỉ đáng để căm ghét, xung quanh chỉ toàn là sự giả dối, người ta rất dễ trở nên hèn hạ, v.v…, tôi đã thường nén lại cảm xúc tiêu cực ấy khi bỗng nhiên tôi đã nhớ đến những người bạn của mình, những người bạn đôi khi gọi giật tên tôi trên phố, nhớ đến những đứa bạn gái cấp ba thi thoảng vẫn có thể tao-mày, tôi đã nhớ đến cái thời mà sự mơ mộng của mình không phải là tội lỗi… Những điều đẹp đẽ nho nhỏ ấy đã làm tôi dịu lại trong khoảnh khắc, để bình tâm hơn. Tôi đã nhớ đến lời nhận xét mà cũng là lời động viên của thầy tôi trên bài kiểm tra văn cuối cùng, rằng tôi phải giữ cái giọng riêng của mình trên đời viết còn dài của mình. Đó là lời động viên có sức nặng nhất đối với tôi. Nói lời cảm ơn với thầy, với các bạn sẽ là cái gì đó rất hình thức ở đây. Chỉ biết là ở thời điểm này, muốn nói với thầy, với các bạn: em vẫn ổn, vẫn cố gắng sống tử tế. Dù không đơn giản, thật không đơn giản…

Về nghề… Mấy ý nghĩ rời

the_classHình ảnh từ phim Entre Les Murs của đạo diễn Lauren Cantet-một trong những bộ phim về đề tài giáo dục mà tôi yêu thích nhất.

1. Nếu được hỏi “Đối với anh, bài văn nào khó dạy nhất trong chương trình”, ở thời điểm này, câu trả lời của tôi sẽ là bài “Sa hành đoản ca” của Cao Bá Quát. Dù cố gắng hết sức để soạn bài, nhưng chưa bao giờ tôi nhìn thấy ở mắt học trò có một sự quan tâm, hứng thú hay xúc động nào. Tôi chưa bao giờ nhận được sự chia sẻ từ các em khi cố gắng giảng cho học trò về một bài thơ hiếm hoi trong chương trình nói lên phẩm chất đích thức của kẻ sĩ giữa đời sống này. Sẽ phải đi về đâu? Chưa biết. Nhưng chẳng thể dừng lại, dừng lại là sa lầy. Kẻ sĩ là kẻ tự đặt cho mình trách nhiệm phải đối mặt với những câu hỏi lớn, cho chính mình và rộng hơn là thời đại. Đó là kẻ không chấp nhận những câu trả lời có sẵn, càng không thể thỏa hiệp với những câu trả lời hời hợt, dễ dãi. Nỗi đau khổ của kẻ sĩ vì thế không dễ thấu hiểu. Nhưng đời sống sẽ thế nào nếu thiếu vắng những kẻ cả nghĩ như thế?

Có một bài thơ của Joseph Brodsky mà tôi đặc biệt yêu thích là bài “The Great Elegy for John Donne” (bản dịch tiếng Việt là “Khúc bi ca lớn cho John Donne”). Lần đầu tiên tôi biết đến kiệt tác này qua bản dịch của Hoàng Ngọc Biên (rất tiếc bản dịch này chưa có phiên bản điện tử) năm 1996. Đó là một tác phẩm ám ảnh tôi đến tận bây giờ. Kẻ sĩ, có lẽ là kẻ mắc bệnh như John Donne, không thể ngủ trong khi tất cả đều đắm chìm trong mộng mị; trí tuệ khiến y tỉnh táo để đối diện với cái rỗng không, cái hư vô đang xâm lấn mọi thứ, khiến y khổ đau, tuyệt vọng vì bất lực không tìm được ý nghĩa của cuộc đời. Nhưng đó là nỗi tuyệt vọng đáng kiêu hãnh.

Tôi đã không thể làm cho học trò của mình đồng cảm với những khắc khoái trí tuệ ấy. Cũng như tôi đã quên chưa nói với các em rằng: đã bao giờ, các em băn khoăn sao trong những bài văn ở chương trình, chúng ta lại phải mất công tìm hiểu những kẻ hay bất mãn với cuộc đời và bất mãn với chính mình? Nào là một Tú Xương tự nhận mình là kẻ nặng nợ chất chồng khổ sở lên vai bà vợ, thấy mình “có cũng như không”, nào là Hộ trong “Đời thừa’ – kẻ rơi vào cái bi kịch khủng khiếp nhất của đời người khi tự chán ghét chính mình, nào là Trương Ba không thể chấp nhận sự tồn tại vay mượn thân xác kẻ khác, cho dù xung quanh ông, cho dù ngay cả Ngọc Hoàng thượng đế, không ai được sống toàn vẹn là mình…? Tại sao những kẻ bất mãn với chính mình, những kẻ không dễ thỏa hiệp với đời sống mới là nguồn cảm hứng mạnh mẽ của văn chương?

Tôi đã quên không đặt câu hỏi ấy cho học trò. Nhưng đó cũng là câu hỏi khó, chính tôi cũng không chắc mình có thể trả lời thấu đáo.

2. Tuần trước, khi đi dạy các em lớp 12, xung quanh chủ đề giá trị của văn chương, tôi lại đưa các em về với câu hỏi “Văn chương ích gì?”. Tôi đã nói với các em khi đặt câu hỏi này, có nghĩa là giá trị của văn chương đang bị nghi ngờ. Sự nghi ngờ đó xuất phát từ chính thực tế của đời sống chúng ta, nơi các giá trị vật chất, thực tê, thực dung lên ngôi, trở thành hệ quy chiếu cho nhiều bình diện của đời sống. Trong bối cảnh ấy, những giá trị tinh thần có nguy cơ bị tổn thương rất lớn. Văn chương, nếu có ích gì, thì với tôi, trước hết, nó biện hộ, nó nâng niu những giá trị đang phải đối mặt với sự tổn thương ấy. Đời sống của chúng ta có hạnh phúc hơn chăng khi ta sẵn sàng đánh đổi những giá trị tinh thần, phi vật chất,vô hình ấy lấy những thứ hữu hình, thực tiễn và quyền lực? Một câu thơ hay cùng lắm chỉ đem đến cho con người một khoái cảm tinh thần; khi chúng ta đang đói, câu thơ hay hình như vô nghĩa; nhưng ngay cả khi chúng ta đã no dạ dày, câu thơ hay liệu có ích gì hơn không. Rất có thể câu thơ hay vẫn vô dụng vậy thôi

Học trò của tôi mới lớp 12. Các em đã không thật hiểu điều tôi nói lắm. Khi nhìn vào những ánh mắt không hiểu ấy, tôi đã nói: Nếu cách đây 6-7 năm, khi tôi nói văn chương chăm chút cho đời sống tinh thần của con người, nhờ đó con người được là người, các em có quyền nghi ngờ tôi đang rao giảng một niềm tin sách vở. Nhưng chính ở thời điểm này, khi nói với các em như thế, tôi mới thấm thía điều mà văn chương mang lại cho riêng tôi.

Lúc nãy thôi, qua lời một người bạn đồng nghiệp, tôi đã được nghe một người thầy khuyên nhủ: cần phải sống hài hòa, chữ nghĩa nhiều làm gì, sách vở nhiều làm gì, sắc sảo để làm gì, tranh cãi đúng-sai để làm gì. Cuối cùng chúng ta đều chết hết. Văn chương, chữ nghĩa vô nghĩa cả thôi. Những luận điểm đó không mới mẻ. Tôi đã được nghe hơn một người nói như thế, thậm chí còn với ngôn ngữ tàn nhẫn hơn. Lần này, tôi đã không chỉ buồn (như mọi lần) mà còn hơi bực mình trước một lời khuyên có vẻ minh triết nhưng cực kỳ độc đoán như thế. Tôi tuyệt nhiên không lý tưởng hóa văn chương, nhưng giữa một thế giới, nơi sự khôn ngoan (được diễn đạt uyển chuyển là “hài hòa”) lên ngôi, nơi con người ta coi sống là một màn trình diễn bất tận, nơi con người ta không thể tồn tại bên ngoài mặt nạ, tôi có thể tìm được sự đồng điệu nào hơn ở thế giới văn chương? Ở đó, sự yếu đuối của con người được lắng nghe; ở đó, những chấn thương dù vô hình của con người được chú mục; ở đó, tôi bắt gặp những gã khờ, những kẻ gàn dở như Don Quixote; ở đó, tôi bắt gặp những kẻ liều lĩnh, sẵn sàng đối mặt với những bất trắc; ở đó, tôi nhìn thấy những người chối từ sự phẳng lặng như là định mệnh đẹp đẽ dành cho mình. Khi xã hội của chúng ta ngại ngần những khác biệt, văn chương lại là nơi chúng ta sống với những kẻ khác, ta có thể đồng cảm, hóa thân vào những khác biệt. Văn chương không nói rằng, con người là dễ hiểu; văn chương chỉ làm ta thấy dễ hiểu vì sao vẫn luôn có những kẻ tự phức tạp hóa đời mình lên, tự đẩy mình vào những tình huống hoang mang. Văn chương không nói với chúng ta rằng rốt cục tất cả chỉ có một giải pháp; không, văn chương nói với chúng ta rằng ta được quyền lựa chọn, mọi lựa chọn đều bất toàn và cũng đều đáng giá, mọi lựa chọn cần được thấu hiểu trước khi phán xét. Và đương nhiên, văn chương vẫn không ngừng nói về cái chết, về hư vô nhưng không phải để chúng ta coi thường đời sống, để chúng ta sống hời hợt, để chúng ta đánh đồng mọi đúng-sai, an phận trong những trật tự giả tạo và gò bó. Tôi đang nghĩ nhiều về sự tuổi già và cái chết được thể hiện trong nghệ thuật. Tôi chưa có những ý tưởng sáng rõ nào, nhưng tôi luôn nghĩ văn chương nói về tuổi già, bệnh tật, cái chết để ta chiêm nghiệm về những giới hạn của đời người cũng như những khả năng con người chiến thắng hư vô. Chẳng phải chỉ khi chết con người ta mới thấy hư vô. Kinh khủng nhất là người ta lợi dụng việc hư vô hóa đời sống để sống một cách vô trách nhiệm.

3. Càng ngày tôi càng cảm thấy chính những người học văn, dạy văn, làm văn…lại là những người dễ làm tổn thương nhau hơn cả. Có thể sẽ có bạn hỏi: nếu văn chương ý nghĩa đến như thế, tôi sẽ lý giải ra sao về những gì vừa xảy ra và hậu quả chưa hết chấm dứt tại môi trường của tôi- Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm? Những người tấn công Nhã Thuyên và PGS. Nguyễn Thị Bình có đọc văn chương không? Tại sao họ lại có thể có những hành động không thể nói là “nhân văn” được? Và cả những người im lặng, không làm gì cả khi những đồng nghiệp học trò của mình rơi vào tình thế bị xúc phạm? Có trớ trêu không khi sự im lặng ấy lại được xem là khôn ngoan? Họ có đọc văn chương không? Văn chương có đem đến cho con người sự khôn ngoan như thế không?

Đến đây, thì tôi bất lực thật sự. Tôi chỉ dám bảo vệ cho niềm tin của tôi mà thôi; tôi không thể nói thay cho người khác. Và bạn ơi, sống cho niềm tin đó, với tôi, khó khăn vô cùng. Vì xét cho đến cùng, cái làm nên một giờ dạy văn trung thực chưa hẳn là kiến thức, mà là con người của anh nữa. Có rất nhiều điều về văn chương, tưởng chừng như đơn giản, nhưng đến giờ phút này, tôi mới có thể diễn giải với học trò từ trải nghiệm của mình. Cũng như văn chương, nếu có làm tôi thay đổi điều gì trong tính cách, thì có lẽ nó làm tôi khiêm tốn hơn hẳn. Nó làm tôi biết thu lại tham vọng muốn khuyên nhủ ai khác, thay vào đó là ý thức chia sẻ, và vì thế tránh mọi áp đặt của mình lên người khác. Rằng, cũng hôm trước, khi nói với học trò về tính có ích của văn chương, tôi đã phải nói đi nói lại: các bạn đừng lệ thuộc vào nhãn quan bi kịch của tôi. Rằng, cốt lõi của giao tiếp văn chương là sự chân thành, mà thời này, sự chân thành thường không phải là hình thức sinh viên, học sinh thấy được ngay. Tôi không có câu chuyện đời tư nào hấp dẫn, tôi không có tài lẻ nào để khoe, tôi không phải là người thành công để chia sẻ… Tôi chỉ có những câu chuyện, những bộ phim, những bài hát. Tôi đã rất hồn nhiên nói về những cuốn sách, những bộ phim đến với tôi đúng thời điểm.

Bạn hỏi: 20-11, vậy thì tôi có gì đáng kiêu hãnh để nói với mọi người về lựa chọn của mình? Có, rằng tôi có những sinh viên, những học trò đã tìm đến những cuốn sách, những bộ phim mà tôi nói.

Trong chừng mực nào đó, tôi tin mình đã làm được một điều có ích cho ai khác, ngoài tôi.

18.11.2014