Tag Archives: dịch

Primo Levi – Ba bài thơ

Primo Levi in his studio, Turin, 1981

Primo Levi (1919-1987)

Đứng dậy

Chúng tôi đã mơ trong những đêm hoang vu

Những giấc mơ đặc quánh dữ dằn

Mơ với cả linh hồn và thể xác:

Quay lại đi; ăn đi; kể chuyện đi

Cho đến khi mệnh lệnh lúc bình minh

Xuống giọng cụt lủn:

                                                    “Wstawac”[1]:

Thế là tim lại tan nát trong lồng ngực.

 

Giờ đây, chúng tôi đã tìm lại được nhà,

Bụng chúng tôi đã no đầy

Và chúng tôi đã kể xong câu chuyện.

Đã hết giờ rồi. Nhưng sớm thôi

Chúng tôi sẽ lại nghe cái mệnh lệnh lạ lùng:

                                                    “Wstawac”.

 

Hát

Nhưng khi chúng tôi bắt đầu hát

Những bài hát tốt lành khờ khạo của chúng tôi,

Thì mọi thứ cơ hồ

Lại trở lại như đã luôn là thế.

 

Một ngày chỉ là một ngày

Và bảy ngày thì thành một tuần.

Giết chóc, với chúng tôi dường như là điều độc ác;

Sự chết – có lẽ là một thứ xa xôi.

 

Tháng ngày trôi đi khá nhanh

Nhưng vẫn còn nhiều ngày tháng nữa!

Một lần nữa, chúng tôi chỉ là những người trẻ tuổi:

Không phải thánh nhân, không phải kẻ tuẫn nạn, không phải những tội đồ.

 

Điều này và những điều khác đi vào tâm trí chúng tôi

Trong lúc chúng tôi vẫn tiếp tục nói, tiếp tục chuyện trò;

Nhưng chúng như lớp mây mù bao phủ

Thật khó khăn để giải thích, thật khó khăn.

 

Cho Adolf Eichmann[2]

 

Gió đi hoang khắp những dải đồng bằng

Sóng vẫn đập vào bờ miên viễn

Người làm đất phì nhiêu; đất tặng người hoa trái:

Người sống trong nhọc nhằn và hoan lạc, trong hy vọng và hãi hùng, người sinh con đẻ cái

… Và rồi mi đã đến, kẻ thù quý giá của chúng ta,

Mi, đứa con bị bỏ rơi, kẻ báo hiệu cái chết

Giờ mi sẽ nói gì, trước hội đồng nghị tội của chúng ta?

Mi sẽ thề trước Chúa ư? Mà Chúa nào cơ chứ?

Mi sẽ vui vẻ chăng khi nhảy xuống mồ?

Hay mi sẽ – như một kẻ, xét đến cùng, bản chất cần cù, chịu khó

Đời quá ngắn, không đủ cho một công trình kéo dài

Sẽ than khóc tiếc cho công việc của mình chưa hoàn tất

Vẫn còn mười ba triệu người sống sót đấy thôi.

 

Ôi đứa con của thần chết, chúng ta không cầu mi chết

Mà cầu cho mi sống lâu hơn mọi kẻ từng sống trên đời:

Mi sẽ sống năm triệu đêm mất ngủ,

Và mỗi đêm mi lại gặp những con người khổ đau

Khi nhìn thấy đóng sập sau lưng mình cánh cửa

Khi mọi thứ tối đen lại quanh mình và không khí ứ đầy chết chóc

 Hải Ngọc dịch

Nguồn: Primo Levi, “3 poems”, bản dịch tiếng Anh của Ruth Feldman và Brian Swann, in trên tạp chí Jewish Quarterly, Volume 21: No 1-2, năm 1973, trang 216.

 

 

[1] Tiếng Ba Lan trong nguyên tác: “Đứng dậy”

[2] Adolf Eichmann (sinh 19 tháng 3 1906– tử hình ngày 31 tháng 5 1962) là trung tá lực lượng vũ trang SS Đức Quốc xã. Vì ông có đầu óc tổ chức và có lý tưởng quốc xã sâu đậm, Eichmann được cấp trên là Reinhard Heydrich trao trách nhiệm chính trong kế hoạch thủ tiêu người Do TháiChâu Âu. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, ông bị Đồng Minh truy lùng gắt gao, phải giả giấy thông hành hội Chữ thập đỏ [1][2] chạy trốn sang sinh sống tại Argentina với cái tên giả là Ricardo Clemento. Đến năm 1960, nhân viên cục tình báo Mossad của Israel bắt được Adolf Eichmann, đưa về Israel xét xử. Năm 1962 Eichmann bị tòa án Israel kết án và xử tử hình. (Nguồn: Wikipedia)

Lưu Hiểu Ba – Em đợi anh cùng bụi

Lưu Hiểu Ba (1955), người được giải Nobel Hòa Bình năm 2010 khi đang bị chính quyền Trung Quốc giam giữ trong tù, là nhà bất đồng chính kiến mà tôi muốn tìm hiểu nhất. Tôi trân trọng và nhất là, rất xúc động, khi đọc những bài viết của ông, dù chưa hệ thống, những bài viết đầy tinh thần chất vấn, không cho phép mình đứng cao hơn, đứng bên ngoài những vấn đề nhức nhối của xã hội Trung Quốc. Ông nghiêm khắc, trung thực và can đảm.

Thơ của ông là một góc khác. Thậm chí, tôi cứ nghĩ, tận trong sâu thẳm, ông là một thi sĩ nhiều hơn. Đã có lúc tôi hoài nghi liệu một người tham gia hoạt động chính trị có thể đồng thời là một thi sĩ đúng nghĩa? Sự hội tụ cả hai phương diện tưởng như rất khó hòa giải này có thể được nhìn thấy ở ông.

Trong khi chờ giải Nobel 2016, tôi post lại bài thơ mình dịch đã lâu, biết là bản dịch còn dở, những hôm nay, tôi tự nhiên muốn chia sẻ bài thơ này của ông viết tặng vợ mình, bà Lưu Hà, người cũng đang bị chính quyền Trung Quốc quản chế tại nhà.

liuxiaobo

*

 

Em đợi anh cùng bụi

Tặng vợ tôi, người chờ đợi ngày ngày

Chẳng còn gì còn lại trong tên em, chẳng còn gì

ngoài sự chờ đợi anh, cùng với bụi trong ngôi nhà mình

những lớp bụi

tích tụ, ken dày mọi góc

em chẳng muốn vén rèm cửa sổ

để ánh sáng xáo trộn sự tĩnh lặng của chúng

 

Trên giá sách, những nhãn vở viết tay bám bụi

trên thảm nhà, những hoa văn đóng bụi

khi em viết thư cho anh

tình yêu mà ngòi bút viết ra cũng ám bụi

mắt anh như bị cái gì đó đâm vào đau đớn

 

em cứ ngồi đó, cả ngày dài

không nỡ nhúc nhích

vì sợ rằng bước chân mình sẽ dẫm lên bụi

em cố gắng kiểm soát cả tiếng thở của mình

dùng sự lặng im để kể một câu chuyện

nhiều lúc như thế này

đám bụi làm nghẹt thở ấy

là thứ duy nhất còn giữ sự trung thành

 

cái nhìn của em, tiếng thở và thời gian

ngấm bụi

từ đáy tâm hồn em

một nấm mồ đội lên

từng chút

từng chút

từ dưới chân

chạm đến ngực

chạm đến cổ họng

 

Em biết rằng ngôi mộ ấy

là nơi nghỉ ngơi tốt nhất cho mình

nơi em đơi anh ở đó

nơi không còn sợ hãi

nơi không còn báo động

bởi vì thế mà em yêu bụi hơn

trong bóng tối, trong sự ngạt thở yên lặng

em đợi, em đợi anh

em đợi anh

cùng bụi

 

khước từ nắng và chuyển động của không khí

em hãy cứ để bụi vùi em vào nó

hãy cứ ngủ, kệ bụi kia lớp lớp ken dày

cho đến ngày anh về

và em thức dậy

lau bụi đi khỏi da em và tâm hồn em

 

Đó là điều kỳ diệu làm sao — trở về từ cõi chết.

Tháng Tư, năm 1999

Hải Ngọc dịch

Dịch theo bản tiếng Anh của Zheng Danyi, Shirley Lee and Martin Alexander, tại: https://pen.org/you-wait-me-dust-worldwide-reading-liu-xiaobo

 

 

John Clellon Holmes – Triết học của thế hệ Beat

Tôi vẫn nghĩ nếu có điều gì thú vị nhất trong công việc chữ nghĩa mà tôi đã cố gắng theo đuổi nó một cách bền bỉ trên blog (kể từ thời Yahoo 360) thì đó là ngoài việc được chia sẻ, tôi đã có cơ hội để gặp gỡ, để kết nối và học hỏi. Tôi đã gặp dịch giả của bài viết này, dù trước đó, tôi đã đọc thơ, nghe ca từ của ông, đọc các tiểu thuyết mà ông dịch và rồi gần đây được trò chuyện với ông. Một cuộc trò chuyện mà nỗi xúc động vẫn còn trở lại trong suy nghĩ của tôi. Bài dịch này, ông gửi cho tôi và tôi nghĩ nó như một món quà đầy ý nghĩa. Tôi muốn chia sẻ món quà ấy với mọi người qua blog này.

 

on_the_road.cover_by_kerouac

*

Tháng Chín năm 1957, người ta cho xuất bản một cuốn tiểu thuyết mà tờ New York Times đã gọi là “lời tỏ bày quan trọng nhất, rõ ràng nhất và được xử lý điệu nghệ nhất” nhưng lại do một nhà văn rất trẻ viết ra; một cuốn sách dường như đại diện cho cả thế hệ lúc bấy giờ, như cuốn Mặt trời vẫn mọc đã đại diện cho thế hệ những năm Hai Mươi. Cuốn sách mang tựa đề On the Road (Trên đường) của Jack Kerouac, mô tả những kinh nghiệm và thái độ của một nhóm thanh niên Mỹ hiếu động, “Cuồng lên vì sống, cuồng lên vì nói, và cuồng lên vì cứu rỗi”, những kẻ mà dường như sự quan tâm chủ yếu của họ là xe hơi tốc độ cao, những bữa tiệc điên rồ, nhạc jazz hiện đại, tình dục, ma túy, và những “thú vui” linh tinh khác. Kerouac nói rằng họ là những thành viên của Thế hệ Beat. Là người phát ngôn của thế hệ mình, Kerouac bỗng kinh ngạc thấy mình đứng giữa một cuộc tranh luận nảy lửa. Báo chí lần theo dấu vết của anh; giới phê bình, tiếp theo bài bình luận tóm tắt đầu tiên, bắt đầu nhạo báng những lời của anh hoặc ca tụng anh; và trên một cuộc phỏng vấn truyền hình, đám khán giả mê mẩn của New York được nghe những mẩu đối thoại không đầu không đuôi, gần như không thể hiểu nổi, đại loại như sau:

Phóng viên : “Anh đã nói – nửa đùa nửa thật – rằng anh say xỉn đã hai ngày nay”.
Kerouac : “Ồ, không phải tôi đã say xỉn hai ngày nay mà là tôi đã uống rượu suốt hai ngày”.
Và một đoạn nữa :
Phóng viên : “Thế hệ Beat được mô tả như một thế hệ kiếm tìm. Vậy anh đang tìm cái gì ?
Kerouac : “Thượng đế. Tôi muốn Thượng đế cho tôi gặp Ngài”.

Có lẽ không ai thực sự hiểu Kerouac định nói gì, và thực tế, một số nhà phê bình còn khẳng định rằng những kẻ theo chủ nghĩa khoái lạc này không đại diện cho cái gì cả, ngoài “tính đồng bóng”, đó là “những gã khùng cả về tinh thần lẫn đạo đức” và là “những cuộc khởi nghĩa tư sản”. Dù sao đi nữa, có những điều về cuốn sách đó, về những ngôn từ đó, không thể bị gạt bỏ dễ dàng. Cuốn sách đã trở thành đề tài của một cuộc tranh luận nóng bỏng, hệ quả đương nhiên là bán rất chạy, và những lời nói bị tắc nghẹn, ít nhất là trong cổ họng những kẻ chối rằng không có gì đáng lưu tâm.

Những gì mà Kerouac đã tặng cho chúng ta có lẽ là một cái nhìn thấu vào bên trong thái độ của cả một thế hệ đã khiến cho cha anh của họ phải kinh ngạc. Nhạc rock and roll, ma túy, tội phạm vị thành niên, thái độ phi luân lý về tình dục và tất cả những hiện tượng tương tự đã phác họa những đặc điểm riêng ở những thái cực của thanh niên Mỹ hiện đại dường như là mối bận tâm chủ yếu của các nhân vật của Kerouac.

Đưa ra một từ ngữ có thể kết tinh tính cách của cả một thế hệ luôn luôn là một công việc bạc bẽo. Nếu thế hệ sau chiến tranh dường như đòi hỏi một cái gì đó hơn những kẻ khác, có lẽ đó là vì những thành viên của thế hệ sau chiến tranh có chung một kinh nghiệm sống thống nhất đến mức khác thường được chia sẻ trong một thời kỳ đầy ấn tượng. Nhưng để tìm được một từ có thể mô tả nhóm người từ 18 đến 28 tuổi của Thế hệ Beat (có thể xê dịch hai giới hạn này thêm 1 tuổi nữa) còn khó hơn nhiều, vì nhóm này bao gồm những cựu chiến binh của ba loại chiến tranh hiện đại khác nhau : chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh, và một cuộc chiến mà người ta ngoan cố không gọi là chiến tranh, mà là hoạt động của cảnh sát.

Vài năm trước, tờ tạp chí Time đã gọi họ là Thế hệ Câm lặng (Silent Generation), nhưng có lẽ đó là vì Time đã không chịu lắng nghe. Một số người khác thử gọi họ là Thế hệ Chờ đợi (Waiting Generation), một số khác là Thế hệ Ra đi (Go Generation) nhưng dường như tất cả đều không thỏa đáng. Giờ đây, với từ “Beat”, cuối cùng chúng ta có thể có biệt hiệu của họ. Bất cứ ai đã từng sống qua một cuộc chiến, bất kỳ loại chiến tranh nào, đều biết rằng từ “Beat” không hàm nghĩa “sự mỏi mệt” bằng nghĩa “sự non nớt về nghị lực”, không hàm nghĩa “đầy ứ đến tận cổ” mà là “trống rỗng từ bên trong”. Nó mô tả một trạng thái tinh thần mà mọi vấn đề không thiết yếu đều bị tước bỏ, khiến cho nó có thể tiếp nhận mọi thứ xung quanh, nhưng lại thiếu kiên nhẫn trước những trở ngại tầm thường. To be Beat – bị đánh bại – nghĩa là xuống đến đáy nhân cách của chính mình và nhìn lên; nghĩa là tồn tại theo Kierkegaard, chứ không phải theo Jean-Paul Sartre.

Cái đã khiến những nhân vật của On the Road trở thành khác biệt, từ những tên tội phạm ở khu ổ chuột đến những người Digan du cư đập tan mọi biểu tượng thần thánh, tất cả đều là thứ nguyên liệu thô chủ yếu của tiểu thuyết Mỹ hiện đại – cái đã khiến họ trở thành Beat – đó là điều chọc tức các phê bình gia nhiều nhất. Chính Kerouac nhất quyết khẳng định rằng thực ra họ đang tìm kiếm, và mục tiêu cụ thể của cuộc săn lùng ấy thuộc về tâm linh. Mặc dù họ chạy tới chạy lui khắp nước Mỹ với những cớ nhỏ nhất, sưu tập mọi thú vui trên đường đi, cuộc hành trình thật sự của họ là ở trong tâm hồn; và nếu như họ có xâm phạm gần như tất cả mọi ranh giới cấm, cả luật pháp cũng như đạo đức, thì cũng là vì họ hy vọng tìm thấy đức tin ở phía bên kia ranh giới ấy. Kerouac nói: “Thế hệ Beat cơ bản là một thế hệ tín ngưỡng”. Và sau đó trong một cuộc phỏng vấn, Kerouac bình luận thêm: “ Thế hệ đó bao gồm tất cả những kẻ từ 15 đến 55 tuổi thích đào bới mọi thứ. Hãy nhớ rằng chúng ta không phải dân Digan. Beat có nghĩa là Điều Phúc Lớn (Beatitude) chứ không phải Bị Đánh Bại (Beat up). Bạn cảm nhận được điều đó, cảm nhận trong một tiết tấu nhạu jazz – thứ jazz đích thực và buồn bã – hay một số bản nhạc rock chân chính”.

Mặt ngoài của vấn đề, thật kỳ lạ khi thấy rằng các bậc cha mẹ, các nhà lãnh đạo, các nhân viên chính phủ và thậm chí cả các nhà phê bình văn học cũng phải phì cười, nổi giận, hoặc nhảy dựng lên kinh ngạc trước những hành vi ứng xử của thế hệ này. Trong những năm sau đó, họ nhận thấy có nhiều kẻ tội phạm, nhiều sự thái quá và vô trách nhiệm về mặt xã hội họ ở thế hệ này hơn bất cứ thế hệ nào khác; đồng thời họ cũng ít thấy sự quan tâm đến chính trị, hoạt động cộng đồng và những tín điều chính thống hơn. Họ cảm thấy bị xúc phạm vì sự suy đồi của James Dean, thấy trong đó dấu hiệu của một tinh thần ốm yếu. Họ cũng bị xúc phạm không kém vì sự suy đồi của Elvis Presley, thấy trong đó dấu hiệu của nhục dục đầy nguy hiểm. Họ đọc những con số thống kê về nạn tiêm chích ma túy, tình trạng lộn xộn về tình dục và con số tổng kết nạn nghiện rượu của thanh niên – rồi tái mặt đi. Họ than thở cho sự kiện là “tác phẩm (văn học) trinh nguyên nhất của đất nước này đã đi đến chỗ dựa vào cái dị thường và kỳ quặc để có được những kích thích sáng tạo”, và họ bày tỏ nỗi kinh sợ trước loại tội phạm vị thành niên – đầy bạo lực và không có đối tượng – đã bùng nổ ở hấu hết các thành phố lớn nước Mỹ.

Họ đã không thấy những dấu hiệu của một cuộc tìm kiếm các giá trị tinh thần trong một thế hệ mà những anh hùng của họ hoàn toàn là sự đảo ngược của truyền thống cổ điển bao gồm nhạc sĩ jazz Charlie Parket, diễn viên điện ảnh James Dean và nhà thơ Dylan Thomas; một thế hệ mà sự quan tâm trải rộng từ nhạc bebop đến rock and roll, từ phép thôi miên đến Thiền của Phật giáo, từ dược phẩm gây ảo giác đến xảo thuật điện ảnh. Người ta nói rằng đó là một thế hệ có mối quan tâm gần như độc nhất là việc khám phá ra một điều gì đó mà để tin tưởng, dường như họ phải công khai chống đối những bằng chứng của chính điều đó.
Nhưng dù rằng, bất cứ ai đọc báo, xem ti-vi hay xem phim, cũng có thể trở nên quá quen thuộc với hành vi của Thế hệBeat, hầu như không người nào quan tâm đến thái độ ẩn giấu sau những hành vi đó, bất chấp sự thật là không chỉ những gì họ làm, mà cả những gì họ nghĩ, cũng cho ta một cái nhìn vào bên trong con người họ.

Có lẽ mọi thế hệ đều cho rằng mình được kế thừa “thế giới tồi tệ nhất trong mọi thế giới”, nhưng chỉ có Thế hệ Beat là những kẻ gào lên nhất cái cảm giác đó so với mọi thế hệ trước. Hoàn cảnh lịch sử đã hình thành thái độ đó đầy bạo lực, và nó cũng tạo ra vô số bạo lực trong các ý tưởng cũng như trong những con người tin vào các ý tưởng ấy. Người ta không cần phải nhận thức rõ ràng sự hủy hoại này mới cảm thấy nó. Những tín điều chính thống về cái xấu và cái tốt ngày càng không thoải đáng để giải thích một thế giới mà khoa học viễn tưởng trở thành hiện thực, kẻ thù trong quá khứ trở thành bạn tri kỷ, và những hoạt động ngoại giao đầy thân thiện bỗng trở thành bờ vực của chiến tranh. Những thế hệ trước có thể đau buồn, mỉa mai cay độc hay thờ ơ với thế giới, hoặc có thể điều chỉnh quan niệm của mình về thế giới, nhưng Thế hệ Beat chính là sản phẩm của thế giới này, và đây chính là thế giới duy nhất mà họ được biết.

Đó là thế hệ đầu tiên trong lịch sự nước Mỹ đã lớn lên với chương trình huấn luyện quân sự được chấp nhận như một nền tảng của cuộc sống. Đó là thế hệ đầu tiên mà đối với họ, những lý luận suông của môn tâm lý học đã trở thành món ăn tinh thần quen thuộc đến nỗi họ dám cho rằng chúng chưa phải là thước đo cuối cùng của tâm hồn con người. Đó là thế hệ đầu tiên, mà tội diệt chủng, phương pháp tẩy não, điều khiển học, nghiên cứu hành vi – và giới hạn khái niệm về ước muốn của con người – cũng trở nên quen thuộc như khuôn mặt của chính họ. Đó là thế hệ đầu tiên mà khả năng một cuộc hủy diệt thế giới bằng vũ khí nguyên tử trở thành câu trả lời cuối cùng cho mọi câu hỏi.

Nhưng thay vì sự cay độc hay thờ ơ thường đến cùng với kết cục của những thần tượng, và đã đem cho Thế hệ Lạc lõng một bản tính hơi già cỗi nhưng thơ mộng, thế hệ Beat lại quá mãnh liệt, quá căng thẳng, quá cường tráng và quá tò mò để có thể đi theo cha anh. Không có gì có thể thỏa mãn hay hấp dẫn họ ngoài những thái cực. Ở bất cứ đâu, thế hệ Beat cũng bị chiếm lĩnh bởi việc đưa ra những lời giải đáp – đôi khi gây kinh hoàng, đôi khi ngu ngốc – cho một câu hỏi duy nhất: Chúng ta phải sống như thế nào? Và nếu như điều đó không dễ dàng nhận ra trong những tay đua mô-tô mặc áo khoác da, hay những thanh niên hippie đang “đào bới phố phường”, là vì chúng ta cho rằng chỉ có những lời giải đáp có thể nhận diện một con người – là một sinh vật sống cộng đồng – mới có giá trị, mà chúng ta không chịu nhận ra rằng thế hệ này không thể hiểu được câu hỏi đó bằng cách nào khác ngoài cách diễn giải của riêng mỗi người, và họ chỉ biết rằng câu trả lời duy nhất được chấp nhận sẽ nảy sinh từ đêm tối của tâm hồn mỗi cá thể.

Nếu Hemingway và Fitzgerald viết sách về Thế hệ Lạc lõng, họ cũng đã sống cuộc sống của thế hệ họ (cuộc sống lưu vong nghiện ngập, của những trò vui nhộn tuyệt vọng và sự cay độc khắc nghiệt) thì Kerouac cũng đã từng trải không ít với thế hệ mình. Nhiều năm trước, khi cuốn sách đầu tiên của anh được xuất bản và trước khi anh hội nhập vào đời sống văn học ở New York một thời gian, anh đã nói với vẻ ghê tởm : “tôi phải quyết định chọn lựa giữa cái này và những chiếc xe tải xộc xệch trên các xa lộ nước Mỹ. Và tôi nghĩ rằng tôi sẽ chọn những chiếc xe tải, nơi tôi không phải giải thích gì cả, và nơi không có gì phải giải thích thì chỉ có sự thật”. Anh đã bám chặt vào quyết định đó. Tiếp theo là một kiểu tồn tại nay đây mai đó – nhảy tàu xe, những công việc lặt vặt, vài đoạn văn viết ở San Francisco, Denver, New York và Mexico (“Enest Hemingway viết đúng hay sai làm sao chúng ta biết được, nếu chưa bao giờ tận mắt xem một trận đấu bò?”). Tiếp theo đó là khám phá về một thái độ sống mới mà giới trẻ mọi nơi cùng chia sẻ ở một mức độ nào đó.

Vào khoảng thời gian cuốn On the Road được xuất bản, anh đã hiểu thấu cái nửa chìm khuất của nước Mỹ (những xa lộ và đám trẻ hippie), trong khi có lẽ không nhà văn nào trước anh từng biết điều đó, và bây giờ anh không còn bận tâm vào việc “giải thích” thế hệ mình bằng những ngôn ngữ tâm lý học và xã hội học lạnh lùng nữa. Anh biết rằng sự thật về nó nằm ở một nơi khác. Anh đã nghe những câu chuyện nóng bỏng trong những chiếc xe chạy hết tốc lực, đã thấy những khuôn mặt non choẹt đỏ bừng căng thẳng hướng về phía tay kèn saxophone tenor và anh có thể nói về thái độ của giới văn chương đàn anh: “Cuộc sống vẫn tiếp diễn… Trong những ngõ sau ở Philadelphia, đàn ông lắng nghe những ngón tay của Phillies rồi về nhà giết vợ mình. Trên các con phố Baltimore, rất cả đều giống nhau, người ta hấp hối một cách nghiêm chỉnh và chân thành… Và những trò viết lách của chúng ta đang khuấy động bão táp trong một tách trà, chứ không phải trên thế giới”.

Trên đường lang thang, anh đã gặp những kẻ chuyên đi nhờ xe đang viết “những cuốn tiểu thuyết điên rồ”, và những nhà thơ đeo ba lô lao đầu đến “một bờ biển khác” để đọc cho bạn bè nghe những bài thơ của họ, và anh cảm thấy rằng, văn học, nằm ngoài sự nhận thức của họ, cuối cùng sẽ đến. Và khi nó đến, đó sẽ là nền văn học của Thế hệ Beat.

Trước khi xem xét một số lời giải đáp mà văn học đã cố gắng đưa ra, tốt nhất chúng ta hãy nhớ lại điều Norman Mailer đã nói trong một bài báo về giới hippie, về ngôn ngữ của họ : “Cái gì đã khiến cho nó trở thành một ngôn ngữ đặc biệt là ở chỗ nó không thể được truyền thụ – nếu người ta không chia sẻ một chút kinh nghiệm về sự phấn chấn và sự kiệt quệ mà nó được dùng để diễn tả, thì dường như nó chỉ có vẻ tinh quái thô tục và chọc tức người khác”. Điều đó cũng đúng với phần lớn mảng thực tế mà trong đó thế hệ Beat đã lớn lên. Nếu bạn không thể nhìn nó theo cách của họ, bạn cũng không thể hiểu được hành động của họ. Một cách nhìn có thể là cách dễ nhất, đó là nghiên cứu hình ảnh mà họ hình dung về chính bản thân họ.

Một tỷ lệ lớn trong thế hệ này sống tiếp cho quãng đời ngắn ngủi và sôi động của diễn viên điện ảnh James Dean. Anh ta là thần tượng của họ theo kiểu mà Valentino đã từng là thần tượng của thế hệ những năm 20, và Clark Gable trong những năm 30. Nhưng có một sự khác biệt, và đó là tất cả sự khác biệt. Ở Dean, họ nhìn thấy không phải một Lothario mơ mộng và hấp dẫn hơn, bí ẩn và giàu có hơn họ, cũng không phải một người hùng hành động mà họ có thể đồng nhất hóa trong trí tưởng tượng để xóa bỏ cảm giác bất lực của mình, mà chính là một gã trai trẻ thầm lặng khôn ngoan, nhìn qua vực thẳm ngăn cách anh ta với những người lớn với đôi mắt buồn bã ngang tàng: sống căng thẳng giữa những bùng nổ luân phiên của bạo lực và sự dịu dàng; khao khát tình yêu và cảm giác có mục đích, nhưng chỉ có thể chấp nhận chúng theo điều kiện thực tế như anh ta quan niệm : bản thân chúng cũng ngắn ngủi.

Đối với nhiều người, kiểu nói nhát gừng, những phút im lặng kéo dài, và những điệu bộ kịch tính của Dean có vẻ như là những điểm cơ bản của thói kiểu cách rởm rỗng tuếch, nhưng thế hệ trẻ cho rằng không phải do anh ta không biết ăn nói hay bị ức chế mà là do anh ta không thể tin vào một số điều mà kịch bản phim đòi hỏi anh ta phải nói. Anh ta nói với họ qua những sản phẩm hàng triệu đôla đầy tính thuyết phục, nói bằng những tiếng thở dài, và kiểu đứng chuyển trọng tâm từ chân nọ sang chân kia một cách chậm rãi : “Phải, tôi cho rằng không có cách nào thoát khỏi những rắc rối này, nhưng chúng ta đều biết nó thực sự như thế nào…” Họ biết rằng anh ta cô độc, họ biết rằng anh ta không hoàn thiện, họ biết rằng anh ta lúng túng. Nhưng họ cũng biết rằng anh ta đã “đào bới” và thế là họ sung sướng trước bộ đồ luộm thuộm, mái tóc không cắt tỉa, cả sự thờ ơ với công danh của anh ta. Anh ta không phải là người mà họ muốn trở thành; anh ta là chính họ. Anh ta sống khó khăn và không hề ta thán; và anh ta chết như anh ta đã từng sống, rất nhanh. Hay như Kerouac diễn đạt: “Chúng ta phải đi và không bao giờ ngừng đi cho đến khi chúng ta tới”.
“ Chúng ta đi đâu, anh bạn?”
“Tôi không biết, nhưng chúng ta phải đi”.

Đối với tôi, chỉ có kẻ cận thị nhất mới thấy được nhu cầu chuyển dịch đó (và đây là một đặc tính để phân biệt Thế hệ Beat) như một cuộc dạo chơi chứ không phải một cuộc kiếm tìm.
Dean là sản phẩm của một cung cách đóng phim được dạy ở New York. Nó có sức hấp dẫn không cưỡng được đối với các diễn viên trẻ, và nó từng lấp đầy các màn ảnh và sân khấu Mỹ bằng hình ảnh các chàng trai ít nói và có vẻ lừng khừng, bỗng nhiên nổ bùng với những năng lực cảm xúc tuôn ra như suối, khiến cho đám khán giả ngây ngất xúc động như đang nghe một lời xưng tội. Điều quan tâm chủ yếu của cung cách này là tìm ra cái “lõi” của nhân vật, và diễn viên được khuyến khích làm điều đó bằng cách sử dụng những cảm xúc chính mình đã trải qua phù hợp với kịch bản. Những diễn viên không theo cung cách này chỉ trích rằng những môn đồ của nó chỉ dạo chơi trong phần lớn vai diễn và để dành nguồn xúc cảm cho những cảnh cao trào. Để đáp lại, những diễn viên tuân thủ cung cách thì nói rằng, chỉ có những cảnh cao trào mới chứa đựng những sự thật sâu sắc về con người, còn lại là những đối thoại trống rỗng dàn trải chờ đến khi nhân vật bộc lộ mình.

Một ví dụ về điều này có thể là bộ phim On the Waterfront (Trên bến cảng) mà tác giả kịch bản Budd Schulberg và đạo diễn Elia Kazan cùng cho rằng đó là một màn trình diễn đặc sắc của xã hội vùng duyên hải nước Mỹ, tập trung vào hình ảnh một cựu võ sĩ quyền Anh đấu tranh với một công đoàn tham nhũng. Diễn xuất đầy kích thích của Marlon Brando trong vai này đã tập trung mô tả nội tâm nhân vật đến nỗi bối cảnh xã hội dường như vô nghĩa bên cạnh luồng ánh sáng từ một con người bị kẹt giữa những mâu thuẫn nội tâm và sự phi lý của cuộc sống hiện đại. Như thể Brando đã nói trong từng cảnh một: “Con người không chỉ là một sinh vật sống cộng đồng, một nạn nhân, hay một sản phẩm. Tự đáy sâu, con người là một linh hồn”. Đó là lý thuyết chủ đạo cho cung cách điện ảnh, đồng thời cũng là phong cách hành động của Thế hệ Beat.

Các nhà phê bình liên tục biểu lộ kinh ngạc trước sự tự nguyện, thậm chí sung sướng mà thế hệBeat bày tỏ khi chấp nhận những gì là hình ảnh không tâng bốc của chính mình. Ví dụ, người ta nhận thấy rằng những kẻ ca ngợi lớn tiếng nhất của phim The Wild Ones (Những kẻ hoang dã), bộ phim đã thống kê những con số tàn bạo về các vụ cướp phá ở California do một băng đua môtô cầm đầu, chính là những tay đua môtô đó. Đa số các tội phạm thiếu niên xem và công nhận hình ảnh của chính mình thể hiện trong Rebel Without a Cause (Cuộc nổi loạn vô nguyên cớ) mặc dù chúng cười vào những động cơ xã hội mà kịch bản gán cho chúng. Người ta chỉ có thể đi đến kết luận rằng cái chúng thấy và cái người lớn thấy ở bộ phim đó là hai thứ hoàn toàn khác nhau.

Người lớn luôn luôn phạm sai lầm khi kết luận rằng, đằng sau tất cả những cái đó là sự thờ ơ với mọi giá trị bất kể loại nào, trong khi điều ngược lại mới là sự thật. Ngay cả thành viên vô chính phủ và ngạo ngược nhất của Thế hệ Beat, một gã du thủ du thực ở khu ổ chuột, cũng có mối quan tâm mạnh mẽ đến vấn đề đức tin, dù là vô thức : Điều kỳ lạ là dường như không ai thấy rằng cách duy nhất để liên hệ những tội phạm giết người vị thành niên với nhau là hiểu rõ rằng, đó là loại tội ác đặc biệt. Cậu thiếu niên đã đâm một thiếu niên khác mùa hè trước đã nói với nạn nhân rằng: ”Cảm ơn nhiều, tôi chỉ muốn biết cảm giác đó như thế nào”, không điên cũng không thật sự đồi bại. Không có lời bào chữa nào cho tội ác đó dù là hy vọng vào cái thiện hay trong cơn thù hận điên cuồng, hay thói tự cao tự đại. Tội ác đó là loại đã được Marquis de Sade chỉ rõ chân tướng từ 150 năm trước – một tội ác mà sự vắng mặt của Thượng đế đã bắt buộc một con người phải chứng minh rằng anh ta là một con người chứ không phải một mớ vật chất đơn giản. Loại tội ác đó, giờ đây không phải hiếm và đều do những kẻ dưới hai mươi lăm tuổi thực hiện. Sẽ không thể hiểu nổi nếu chúng ta cứ tiếp tục nêu lên các nguyên nhân cũ rích được lặp lại mãi, nào là gia đình tan vỡ, môi trường nghèo đói, nào là bạn bè xấu lôi kéo… Bởi vì đó là tội ác về tinh thần, tội ác để chống lại sự đồng hóa với kẻ khác, loại tội ác đã để lộ, với sự rõ ràng đến mức kinh hoàng, quãng đường mà nhu cầu tuyệt vọng về những giá trị cuộc sống có thể đẩy một thanh niên bước vào. Bởi vì trong thực tế, chính lòng khao khát những giá trị được thể hiện trong tội ác đó, chứ không phải sự căm thù những giá trị. Đó là lòng khao khát được làm hay cảm thấy một điều gì đó có ý nghĩa, và nó đem lại một ý niệm về việc những biến cố của thế kỷ XX đã quét sạch đến mức nào quan điểm nhân văn và hợp lý về Con người mà trên đó xã hội hiện đại được dựng lên.

Phản ứng trước vấn đề này của giới trẻ, ngay cả trong những bè đãng vị thành niên, không phải là thói vô đạo đức có tính toán, mà là sự trở về với một bộ luật đạo đức cổ xưa hơn, con người hơn, nhưng không kém phần khắc nghiệt – bao gồm sự bất khả xâm phạm của tình đồng đội, sự kính trọng đối với đức tự tin và sự quan tâm gần như bí ẩn đến lòng dũng cảm – tất cả đều là đạo đức của các bộ lạc; bộ luật của một nhóm liên kết nhỏ sống trong một môi trường thù nghịch hoặc lạnh lùng, mà nó tìm kiếm không phải để chinh phục hay thay đổi, mà chỉ để tránh né.

Ở độ tuổi lớn hơn một chút, nguyện vọng gần như thời nguyên thủy này đã gây ra phong trào hippie, kẻ lang thang qua các thành phố như những thành viên bí ẩn và chối bỏ bạo lực của Thế giới ngầm, không âm mưu gì cả, chỉ nuôi dưỡng một triết lý không được phổ biến, giống như những môn đồ Thiên Chúa giáo ở thế kỷ thứ Nhất. Anh ta tìm thấy trong một loại ma túy nhẹ, thứ ngôn ngữ bí ẩn của mình. Chính đêm tối và sự khẳng định chủ nghĩa cá nhân (càng ngày càng bị vây hãm bởi sự tuân thủ cuộc sống) đôi khi chỉ được biển hiện bằng thói lập dị bề ngoài. Nhưng mục đích của anh ta là được hòa đồng vào xã hội, chứ không phải chống đối xã hội; kiểu “đào bới” như mộng du của anh ta trong nhạc jazz, tình dục và ma túy là một nỗ lực để giải phóng bản thân anh ta, chứ không phải để sử dụng quyền lực với kẻ khác. Trong tâm trạng phấn khích nhất, chàng hippie cảm thấy rằng: gây hấn, bạo lực và sự tính toán cạnh tranh là những sai lầm về cơ bản, và anh ta nói:” Ngay cả các nguyên lý của đạo Phật cũng nói rằng mọi nỗi thống khổ của con người đều đến từ những xúc cảm đó”. Tôi đã có lần nghe một chàng hippie trẻ tự bảo mình một cách mệt mỏi, sau một cuộc cãi cọ ầm ĩ: “Ồ, anh bạn, anh đâu có liên quan gì đến ông ta?”.

Ở mức độ này, những hippie này tỏ sự kháng cự một cách thụ động với xã hội tiền trao cháo múc mà anh ta chung sống, và chương trình vĩ đại anh ta đưa ra chỉ là thay thế mọi sự gò bó tri thức và xã hội bằng sự biểu lộ và hưởng thụ cái chủ nghĩa cá nhân duy nhất của anh ta, và những “thú vui” của việc “đào bới” cuộc sống với nó. Và như Norman Mailer đã nói :” Sự khẳng định ẩn trong đều nghị đó là: con người phải sáng tạo chứ không phải chém giết, và như thế sẽ không tự hủy hoại mình”. Sau hết, đó chính là một quan niệm mang nhiều tính tôn giáo, thậm chí đạo lý hơn, về bản chất của con người, so với quan niệm của nhiều kẻ nhìn vào Thế hệ Beat này chỉ thấy những sự thái quá của họ.

Sức thuyết phục của năng lực sáng tạo của những tâm hồn tự do đứng sau bất cứ điều gì mà các thành viên của thế hệ này cảm thấy thích thú. Ví dụ, nếu họ quan tâm đến ma túy, lý do đầu tiên có thể là mong ước được khám phá thế giới chưa biết đến bên trong họ cũng như thoát khỏi thế giới không sao chịu nổi bên ngoài. Họ sẽ nói: “Đêm qua tôi đã bay lên cao đến nỗi tôi biết tất cả. Ý tôi muốn nói là tôi biết rõ tại sao”.

Về nghệ thuật, nhạc Jazz gần như là thứ âm nhạc riêng của Thế hệ Beat, cũng như thơ là văn học của họ (ít ra cũng cho đến khi Kerouac xuất bản tiểu thuyết). Nếu những thành viên này lắng nghe một cây kèn sax than thở theo cung cách người ta đã lắng nghe những lời nói và cử chỉ của bậc hiền triết, đó là vì nhạc jazz trước hết là thứ âm nhạc của tự do nội tâm, của khả năng ứng tác, của một cá nhân sáng tạo hơn là của một tập thể thông hiểu nhau. Đó là âm nhạc của những con người ở đáy xã hội, những kẻ cảm thấy tự do, và đó chính là những gì lớp thanh niên đang cảm thấy. Vì lý do đó, cuộc đời ngắn ngủi mãnh liệt của nhạc sĩ kèn sax-alto Charlie Parker (cùng với Dean và Dylan Thomas) tạo ra một sức hút mạnh mẽ đối với thế hệ này, bởi vì cả ba người đều có cung cách không thỏa hiệp của riêng mình, luôn lắng nghe con người bên trong của họ, tưởng niệm bất cứ thứ gì họ có thể tìm thấy để tưởng niệm, và rồi vui lòng trả giá bằng sự tự hủy hoại. Nhưng nếu thế hệ trẻ tôn họ làm thần tượng, họ cũng không ảo tưởng mình là những thánh tử đạo, vì họ biết (và chấp nhận một cách kiên cường) rằng một trong những mạo hiểm khi đi quá nhanh, và quá xa, là cái chết.

Nhưng có lẽ chính trong thơ ca, thái độ của Thế hệ Beat và khát khao cháy bỏng của họ là được thể hiện rõ nhất, ở San Francisco (nơi được coi là Paris của Thế hệ Beat theo nhiều nghĩa) cả một trường phái các nhà thơ trẻ đã đoạn tuyệt với những bậc tiền bối sang trọng bị giam cầm trong các trường Đại học. Một số người theo học phép tu Thiền của Phật giáo, một kiểu tụ tập bí ẩn cho đến lúc đạt được satori (giác ngộ). Một số khác là tín đồ Thiên Chúa giáo, thậm chí là tu sĩ và luôn cầu nguyện cho thế giới được cứu rỗi. Nhiều người trong số họ giống như những thầy tu khất thực, hay những người kể truyện thơ thời Trung cổ, mang theo mọi tài sản của mình trên lưng, kể cả bản đánh máy những bài thơ của họ, bỏ chúng vào các phòng trưng bày mỹ thuật hay nhà xí, như một người đã từng làm. Tất cả bọn họ đều tin rằng chỉ những gì kêu gào đòi được tốt lên, bất kể nó “không thi vị” đến mức nào, chỉ những gì là sự thật bất di bất dịch đối với người nói, và bật ra từ miệng anh ta như thác lũ, tự tìm thấy hình dạng khi trào vọt, là đáng được nói ra. Những quan điểm văn chương, ngữ pháp và vần luật, tất cả những giả tạo đã chia rẽ văn học và đời sống (họ nói vậy) phải cuốn gói ra đi. Và kết quả là những buổi đọc thơ trước công chúng của họ giống như những cuộc tụ họp ngạt thở với áo ngắn tay, các nhạc công kèn sax, rượu và những tiếng gào thét từ phía thính giả. Một trong bọn họ, Allen Ginsberg, người mà tạp chí Life gọi là nhà thơ trẻ đặc sắc nhất của nước Mỹ, đã viết một bài thơ dài, rực rỡ và lộn xộn tựa đề: Howl (Tiếng hú). Nó chứa đựng rất nhiều kinh nghiệm sống và cách diễn tả chưa từng xuất hiện ở bất cứ nhà thơ nào trước đó. Tuy vậy mục đích của bài thơ rõ ràng là sự tự vệ của tinh thần con người trước nền văn minh có ý định hủy diệt nó, và âm hưởng của bài thơ hoàn toàn tinh khiết. “Howl là một lời xác nhận kinh nghiệm của một cá nhân về Thượng đế, tình dục, ma túy và sự vô lý”, Ginsberg tuyên bố.

Cũng có thể nói như thế về cuốn On the Road. Đa số các nhà phê bình đã bỏ ra quá nhiều thời gian để thể hiện nỗi căm ghét lịch sự của họ đối với sự bẩn thỉu trong một số đoạn văn, đến nỗi họ hoàn toàn không nhắc đến việc Kerouac đã tìm thấy trong thế giới này, thế giới của Thế hệ Beat, sự dịu dàng, tính khiêm nhường, niềm vui và cả sự tôn kính, và mặc dù sống trong một thế giới mà các nhà phê bình gọi là khu rừng hoang trong ác mộng của cảm giác trống rỗng, những nhân vật của anh vẫn có thể lặp đi lặp lại rằng :

“Không ai có thể bảo chúng ta là không có Thượng đế. Chúng ta đã trải qua mọi hình thái đời sống. Tất cả đều tốt đẹp. Thượng đế vẫn tồn tại, chúng ta hiểu rõ thời đại này. Hơn nữa chúng ta hiểu rõ nước Mỹ, chúng ta đang ở nhà mình. Chúng ta cho đi và lấy lại, và ra đi trong sự ngọt ngào phong phú đến kỳ lạ…”

Bất kể họ là con người thế nào, đây cũng không phải là lời nói của một thế hệ đang héo hon vì tủi thân trước sự đổ vỡ những ảo tưởng của mình; cũng không phải lời nói của một thế hệ tiều tụy vì lòng căm thù đối với một thế giới mà họ không tạo dựng. Có lẽ đúng hơn đó là lời nói của một thế hệ đang dò dẫm tìm niềm tin trong nỗi tuyệt vọng về tinh thần và sự hỗn loạn về đạo đức mà họ đã từ chối đánh mất mình. Họ sẽ làm kinh ngạc nhiều người khi những lời nói bật ra, một cách tự nhiên như nó phải thế, từ đôi môi một thanh niên ngồi sau tay lái chiếc xe chạy hết tốc lực, vun vút lao qua màn đêm nước Mỹ, như câu trả lời có vẻ lạ lùng của Kerouac với phóng viên John Wingate của tờ Nightbeat khi được hỏi anh cầu khấn ai. “Tôi cầu khấn em trai nhỏ của tôi đã qua đời, cha tôi, Đức Phật, Jesus Christ và Maria Đồng trinh”. Rồi anh nói thêm : “Tôi cầu khấn năm người đó…”

Nhưng nếu việc gộp một vị thánh, một nhà hiền triết, và những người thân có vẻ lạ lùng đối với người Mỹ ở thế kỷ Hai mươi, đó chính là vì nhiều người trong chúng ta đã quên (hoặc chưa bao giờ biết) rằng kinh nghiệm về tâm linh có thể trở nên gần với sự thực đến mức nào khi những kinh nghiệm khác không thỏa mãn. Một gợi ý, ít ra cũng là theo cuốn sách của Kerouac, là ngoài bạo lực, ma túy, nhạc jazz và nhiều “thú vui” khác mà trong đó thế hệ này điên cuồng tìm kiếm nhân dạng của mình, họ còn đang tìm đức tin và họ sẽ trở thành, một cách có ý thức – Kerouac tin rằng hiện nay còn trong vô thức – một thế hệ tín ngưỡng.
Cũng có thể là như thế, và có những dấu hiệu chỉ rằng Thế hệ Beat không chỉ là một hiện tượng Mỹ. Nước Anh có các chàng Teddy, nước Nhật có các Bộ lạc Mặt trời, và ở các nước khác cũng có những hippie theo kiểu nào đó. Khắp nơi, thanh niên phản ứng lại những hiểm họa của đời sống hiện đại đang lớn dần và sự đe dọa liên tục của các chết tập thể với bước đường cùng đầy nhiễu nhương của chủ nghĩa cá nhân. Khắp nơi, dường như họ đang nói với lớp người lớn hơn : “Chúng tôi khác với các người, và chúng tôi không thể tin vào những gì các người tin – nếu chỉ vì đây là thế giới mà các người đã tạo dựng”. Khắp nơi, họ đang đi tìm lời giải đáp cho riêng mình.

Đối với nhiều người trong số họ, câu trả lời có thể là tù đày, sự điên loạn hay cái chết. Họ có thể không bao giờ tìm thấy niềm tin mà Kerouac tin rằng nó nằm ở cuối con đường. Nhưng có một điều tất cả bọn họ đều đồng tình: cái vực thẳm vô giá trị của cuộc sống hiện đại là không thể chịu đựng nổi. Và nếu các thế hệ khác đã than khóc rằng thế giới của họ “tồi tệ nhất trong tất cả các thế giới”, thì lớp trẻ ngày nay dường như hiểu rõ đây là thế giới duy nhất mà họ có và chính là con người ta sống như thế nào chứ không phải vì sao, là cái tạo nên mọi sự khác biệt. Sự thừa nhận của họ – rằng nền tảng của mọi hệ thống đạo đức hay xã hội chính là cái đơn vị cá thể không thể bị hủy hoại – có thể không là gì cả ngoài một cuộc nổi loạn chống lại một thế kỷ trong đó ý tưởng này bị phủ nhận. Nhưng nhận thức của họ rằng cái chống đỡ cho mỗi cá nhân chính là đức tin – và họ càng ngày càng bị thuyết phục rằng chỉ có những đức tin thuộc về tâm hồn mới có giá trị vĩnh cửu trong một thế giới như thế giới của chúng ta – sẽ đặt những hành vi điên rồ của họ trong một ánh sáng mới, và chắc chắn đức tin ấy sẽ có chỗ đứng trong tương lai, bất kể nó như thế nào đối với họ.

Phan Linh Lan dịch
Nguồn: The Philosophy of The Beat Generation – “THE BEATS” GoldMedal Books – Fawcett Publications Inc.

Susan Bassnett – Lý thuyết dịch

babel1-hiHình ảnh từ phim Babel (2006) của đạo diễn Alejandro Gonzalez Inarritu – một bộ phim mà theo tôi cũng xem dịch như một chủ đề.

*

Dịch thuật như là hành vi chuyển giao một văn bản ở một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, từ hơn một thiên niên kỷ qua, đã luôn là một nguồn chính của thông tin xuyên văn hóa. Các dịch giả đã để lại phát ngôn về công việc của mình trong các lời tựa, ghi chú, tiểu luận, khảo luận, song chỉ đến gần đây mới thực sự có những nỗ lực lý thuyết hóa và nghiên cứu dịch thuật một cách hệ thống.

Một vài nhận định sớm nhất về dịch thuật đã đưa ra sự phân biệt giữa cách dịch từ-đối-từ (word-by-word) với cách dịch nghĩa-đối-nghĩa (sense-by-sense), một sự phân biệt được Thánh Jerome, một trong những người dịch Kinh Thánh sớm nhất, xác định, xuất phát từ kiểu tư duy lưỡng phân mà trước đó Cicero đã thiết lập. Những người La Mã đã nhận thấy vấn đề cơ bản mà dịch giả nào cũng phải đối mặt – nguy cơ ở quá gần ngôn ngữ gốc/ ngôn ngữ nguồn, văn bản gốc/văn bản nguồn, do đó, dẫn đến khả năng làm biến dạng cái mới, hay ngôn ngữ, văn bản đích hay nguy cơ ngược lại khi tạo ra một văn bản đích rất đẹp nhưng thoát nguồn đến mức dường như dịch giả cùng lúc đó đang tạo ra một cái gì đó mới. Các dịch giả và những người muốn xây dựng một lý thuyết về dịch đều, bằng cách này hay cách khác, đều phải đối mặt với vấn đề nan giải tương tự: nhiệm vụ của dịch giả nên là đưa văn bản đến một thế hệ độc giả mới bằng việc tái tạo văn bản nguồn thật khéo léo để độc giả cảm thấy hấp dẫn và quen thuộc, hay anh ta, thay vào đó, nêm tìm cách đưa độc giả về với văn bản, ngôn ngữ nguồn, có thể bằng việc chủ ý lạ hóa ngôn ngữ để tạo ra cảm giác về sự xa lạ (foreigness) trong văn bản? Phương thức “quen thuộc hóa” (familiarization) hay tiếp biến văn hóa (acculturation) được các dịch giả người Pháp thời Khai sáng ủng hộ trong khi đó, những dịch giả người Đức cùng thời với họ lại ưa chuộng phương thức “xa lạ hóa” (foreignization) hơn – phương thức vốn được Friedrich Schleiermacher trình bày rất sáng rõ trong khảo luận của ông về những phương pháp dịch thuật khác nhau công bố năm 1813.

Vấn đề liệu dịch giả, về nguyên tắc, nên chịu trách nhiệm về bản thân ngôn từ hay về nghĩa mà những từ ngữ này thụ nhận trong ngữ cảnh dẫn đến những tranh cãi mở rộng xung quanh ý nghĩa của khái niệm “tín” (faithfulness) trong dịch thuật. Trong những nỗ lực định nghĩa chữ “tín”, các dịch giả đã phải dựa vào nhiều hình ảnh khác nhau. Ở một thời điểm nhất định, một dịch giả trung thành có thể được mô tả như một người lần theo bước chân của người đi trước, hay như một kẻ phục tòng nguyên tác, hay như một kẻ sao chép thiện nghệ. Tương phản với những hình ảnh mang ý nghĩa phục tòng như thế, những người khác lại hình dung về dịch giả như kẻ mặc cho nguyên tác một trang phục hợp thời hơn (ở nước Anh thời Phục hưng, hình ảnh về ngôn ngữ như một thứ vải sợi chất phác đặc trưng của nước Anh phục vụ cho mục đích dịch giả tốt hơn thứ vải lụa hay satin có nguồn gốc Latin kiểu cách là một hình ảnh phổ biến) hay như một kẻ làm cho nguyên tác hoàn thiện hơn nữa bằng cách giải phóng ngôn ngữ trong một ngữ cảnh mới. Những tranh cãi xung quanh chữ “tín” trong dịch thuật rất gay gắt và chúng móc nối mật thiết với những vấn đề về tính khả dịch (translatability). Những định nghĩa về sự tương đương và độ “tín” hết sức đa dạng, cũng như là những chiến lược mà các dịch giả sử dụng tương ứng với hai khái niệm rất khác nhau nhau này.

Lĩnh vực được gọi là nghiên cứu dịch thuật (translation studies) hình thành từ thập niên 1970 và đã mở rộng trên phạm vi toàn thế giới, đó là một tiến trình được chứng thực bởi số lượng dồi dào các cuốn sách, tạp chí chuyên ngành, hội thảo, chương trình đào tạo và luận án tiến sĩ trong ba thập niên qua. Mối quan tâm về dịch thuật dường như ngày càng gia tăng trong thế kỷ XXI, khi hàng triệu người có nhu cầu phải học tiếng Anh-thứ tiếng đã trở thành ngôn ngữ chủ đạo trong thương mại quốc tế và giao tiếp toàn cầu, và hàng triệu người phải di trú do chiến tranh, nạn đói và các thảm họa sinh thái. Không phải là ngẫu nhiên khi sự gia tăng mối quan tâm về dịch thuật lại song hành với sự gia tăng di động trên phạm vi quốc tế ở một mức độ chưa từng thấy.

Nghiên cứu dịch thuật, như một lĩnh vực chuyên biệt, đi vào sự chín muồi bắt đầu từ một chuỗi các seminar quốc tế được tổ chức ở Đức, Bỉ và Hà Lan đầu thập niên 1970. Đến năm 1983, lần đầu tiên, chủ đề dịch thuật được ghi vào thư mục tham khảo quốc tế của Hội Ngôn ngữ Hiện đại (Modern Language Association). Vào năm 1976, trong một cuộc hội thảo ở Đại học Leuven, Bỉ, các học giả đã cố gắng xác lập những giới hạn của lĩnh vực được coi là mới mẻ này. Andre Lefevere đã viết một tuyên ngôn ngắn trong đó nói rõ: mục tiêu của lĩnh vực là xây dựng một lý thuyết tổng quát có thể sử dụng như là nguyên tắc chỉ đạo cho hoạt động dịch thuật. Thứ lý thuyết này sẽ phát triển song hành với những luận điểm không theo chủ nghĩa thực chứng mới, cũng không theo hướng thông diễn học, nó sẽ liên tục bị kiểm chứng lại để kháng cự những trường hợp cụ thể. Theo cách này, ngay từ đầu, mối quan hệ giữa lý thuyết dịch và hoạt động dịch trên thực tiễn đã bị bỏ ra. Cũng có ý nghĩa cấp thiết đối với sự phát triển của lĩnh vực mới này là phác lại phả hệ của nó; lịch sử dịch thuật, vì thế, trở thành một nội dung quan trọng của ngành nghiên cứu này.

Những thành viên ban đầu của nhóm nghiên cứu dịch thuật, gồm có các nhà nghiên cứu người Israel về thuyết đa hệ thống Itamar Even-Zohar và Gideon Toury, dịch giả người Mỹ – James Holmes, dịch giả người Slovak- Anton Popovic, dịch giả Jose Lambert từ nước Bỉ và một số người khác nữa, tuy xuất phát từ những nền tảng khác nhau song đều chia sẻ niềm tin rằng đã đến lúc dịch thuật cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống hơn. Họ nhận thấy nếu như ngôn ngữ học có xu hướng không để ý đến những vấn đề văn hóa rộng lớn hơn của hoạt động dịch thuật thì nghiên cứu văn học lại có xu hướng chỉ đánh giá dịch thuật từ cách tiếp cận hình thức luận và không chú ý đến vai trò của văn học dịch trong việc hình thành các điển phạm văn chương. Cái cần có phải là một điểm tựa lý thuyết vững chắc cho nghiên cứu dịch thuật và một nhận thức sâu rộng hơn về tác động của dịch thuật như một lực tạo hình (shaping force) trong lịch sử văn học, một tác động cần phải đo trên trục thời gian, và do đó, lịch sử của dịch thuật được nhấn mạnh.

Nền tảng tri thức của ngành nghiên cứu dịch thuật đã chuẩn bị kịp thời, trên thực tế, nó đã được dọn đường từ công trình của các học giả như nhà ngôn ngữ học người Anh J.C.Catford và Eugene Nida, một dịch giả Kinh Thánh người Mỹ. Từ những năm 1960, Nida đã phát triển cái mà ông gọi là “khoa học dịch thuật” và đã vận dụng nó một cách thiết thực để xử lý vấn đề được xem là then chốt khi đó: cái gì cấu thành sự tương đương trong dịch thuật? Cùng lúc đó, Catford phân biệt giữa cái mà ông gọi là dịch “ngôn ngữ” và dịch “văn hóa”. Cả hai học giả xuất sắc này đều nhận ra dịch bao hàm sự thương thỏa và bất cứ quan điểm nào về sự tương đương tuyệt đối đều phi lý. Nida xây dựng lý thuyết về sự tương đương “hình thức” và tương đương “động”: trong khi sự tương đương hình thức chú ý vào thông điệp thực sự trong hình thức và nội dung, trong khi sự tương đương “động” lại nhằm vào hiệu ứng tương đương, nghĩa là mối quan hệ tương tự giữa người nhận và thông điệp trong cả hai ngôn ngữ. Tác động từ lý thuyết của Nida có thể nhận thấy rất rõ trong công trình của các lý thuyết gia về dịch thuật người Đức như Wolfram Wilss, Katharina Reiss và Hans Vermeer, những người đã xây dựng thuyết skopos về dịch thuật, theo đó, chức năng và mục đích của dịch thuật sẽ quyết định các chiến lược dịch của dịch giả.

Điều phân biệt nghiên cứu dịch thuật và các nhận định, phát ngôn trước đó về dịch thuật là cố gắng hệ thống hóa cách tư duy về dịch thuật và nhấn mạnh những vấn đề ý thức hệ mà trước đó được xem là thứ yếu. Dịch thuật, như các học giả của thuyết đa hệ thống lập luận, là một hoạt động văn chương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có thể tạo được tác động lớn đối với một nền văn hóa. Even-Zohar đã cố gắng xác lập một bản đồ về hoạt động dịch, chỉ ra ở những thời điểm khác nhau, các nền văn hóa có xu hướng dịch một số lượng văn bản nhiều hơn hoặc ít hơn tùy theo nhu cầu của mình. Hơn hai thập niên kế tiếp, nghiên cứu lịch sử dịch thuật đã bắt đầu cho chúng ta thấy theo những cách khác nhau, các dịch giả làm việc trong những bối cảnh khác nhau, tại những thời điểm khác nhau trong lịch sử đã ý thức được vai trò của mình và tác động của vai trò luôn thay đổi này đối với thực tiễn dịch thuật.

Vấn đề lớn nhất mà các dịch giả phải bận tâm là vấn đề ý nghĩa (meaning). Một giả thiết phổ biến được nhà ngôn ngữ học người Mỹ Edward Sapir (1884-1939) và Benjamin Lee Whorf (1897-1941) đề xuất cho rằng không có hai ngôn ngữ nào có thể cùng biểu đạt một thực tại xã hội giống nhau. Thuyết quyết định luận về ngôn ngữ này đã dẫn Sapir và Whorf đi đến lập luận: mọi sự dịch đều hàm chứa một quá trình thương thỏa giữa hai thế giới quan hoàn toàn khác nhau vốn bị quy định bởi thứ ngôn ngữ được sử dụng. Giả thuyết Sapir-Whorf được các lý thuyết gia về dịch thuật sử dụng rộng rãi chính vì những hàm ý của nó liên quan mật thiết với thực tiễn dịch thuật. Thậm chí, ngay một đơn vị từ vụng đơn giản như “bánh mì” hay “bơ” cũng gợi ra những trường nghĩa hoàn toàn khác nhau ở những nền văn hóa khác nhau. Hình ảnh thị giác mà từ “bánh mì” gợi ra trong bối cảnh Mỹ (được cắt lát sẵn, được bọc, trắng và vuông, được sử dụng để làm sandwich) sẽ khác với hình ảnh mà từ “bánh mì” gợi ra trong bối cảnh Uzebekistan (dẹt, được dọn ra trong bữa ăn bởi thành viên nam nhiều tuổi hơn, và phải dùng tay phải để cầm ăn kèm với thịt và cơm, chẳng hạn). Thế nhưng cả hai từ đều quy chiếu đến một loại món ăn chính trong đồ ăn thường ngày ở mỗi nước và cả hai từ đều tồn tại như là những từ tương đương trong từ điển. Nếu chúng ta chỉ chú ý về sự tương đương về nghĩa từ điển mà không quan tâm đến những khác biệt vốn mang tính văn hóa hơn là chỉ trên bình diện ngôn ngữ, sự thất thoát về ý nghĩa sẽ khiến cho việc dịch trở thành vô giá trị. Thế nhưng có bao nhiều lớp nghĩa có thể được dịch mà không cần phải ghi chú hay giải thích thêm? Tính chất khó khăn của nhiệm vụ này chính là điều khiến cho hàng bao thế kỷ qua, người ta không ngừng xoáy mãi vào sự mất mát trong dịch thuật, vì việc chuyển giao một văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác thường được nhìn như là một quá trình đi liền với sự mất mát các lớp nghĩa hay phẩm chất thẩm mỹ.

Có lẽ đóng góp đặc biệt quan trọng của các lý thuyết gia về dịch thuật đương đại trong cuộc tranh cãi kéo dài này về chữ tín trong dịch và những định nghĩa về sự tương đương là họ đưa ra khẳng định: hoàn toàn không thể quan niệm sự tương đương nghĩa là sự giống nhau. Khi điều này được chấp nhận, một khái niệm dịch linh hoạt hơn sẽ được xác lập, giải phóng dịch ra khỏi những phán xét mang tính chất trừng phạt và mở ra khả năng cho thấy nếu như có sự thất thoát trong dịch thuật thì đồng thời cũng có quá trình thu lợi diễn ra song song. Quan trọng hơn, một quan điểm như thế có sự kết nối với các lý thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại vốn bác bỏ những mô hình tuyệt đối của việc đọc và diễn giải. Nhận thức về sự khác biệt giữa các hệ thống ngôn ngữ và văn hóa cũng biến đổi bản thân hoạt động dịch, vì vai trò của dịch giả trở thành vai trò của kẻ diễn giải hoặc là kẻ hòa giải giữa nguồn và đích. Do đó, dịch giả có thể được nhìn nhận như là người hoạt động trong một không gian giữa hai cực rõ rệt, mang trách nhiệm đối với cả văn bản nguồn và công chúng được dự kiến nhắm đến.

Trong những năm 1990, nghiên cứu dịch thuật đã đi vào khám phá nhiều bình diện của quá trình hòa giải này, đặc biệt là ở các văn bản hậu thực dân và khía cạnh giới trong lối viết. Ngay từ khởi đầu, ngành nghiên cứu dịch thuật đã quan tâm đến vấn đề ý thức hệ và cách tiếp cận hệ thống đã dẫn đến hiện tượng được mô tả như là “khúc ngoặt văn hóa” cuối thập niên 1980. Sự chuyển hướng này hàm ý còn có nhiều vấn đề khác có thể được đặt ra về dịch thuật, và dễ hiểu là những vấn đề quan trọng được khơi lên từ các cộng đồng mà trước đó vốn được hình dung như là ngoại biên đối với các điển phạm văn chương Âu-Mỹ, đáng kể nhất là Ấn Độ, Brazil, và Canada. Khúc ngoặt văn hóa cho thấy những loại vấn đề được đặt ra như thế mang tính chất mô tả hơn là định giá, chúng quan tâm đến quá trình lưu truyền của bản dịch trên thế giới diễn ra như thế nào, các bản dịch có thể đóng góp như thế nào đối với sự xác lập các điển phạm văn chương và độc giả của các bản dịch có thể có những vai trò gì.

Các lý thuyết gia về giới tính và dịch thuật, tiêu biểu nhất là các học giả người Canada như Sherry Simon, Barbara Godard, Suzanne de Lotbiniere-Harwood và Anni Brisset, đã cho thấy giữa dịch thuật và chủ nghĩa nữ quyền có chung một nền tảng tri thức, thể hiện ở chỗ cả hai đều quan niệm ngôn ngữ như một địa điểm của những ý nghĩa bị nghi ngờ. Dịch thuật bao hàm sự thao túng: dịch giả là người tái tạo chủ động một văn bản trong một ngữ cảnh hoàn toàn khác. Không hề giống như một tấm gương được một người hầu đưa lên cho nguyên tác ngắm nghía chính mình, một bản dịch là sản phẩm của một quá trình viết lại trải qua nhiều công đoạn phức tạp: giải mã ngôn ngữ nguồn, mã hóa ngôn ngữ thứ hai cho một lứa độc giả mới. Suzanne Jill Levine, một dịch giả chuyên dịch các tác giả Mỹ latin, đã mô tả vai trò dịch giả của mình như một kẻ chép thuê nhưng luôn mang tham vọng phá vỡ nguyên tác (subversive scribe), một người viết mà một mặt bị ràng buộc vào văn bản nguồn nhưng mặt khác, đồng thời lại thực hiện nhiều chiến lược khác nhau để đưa văn bản vào môi trường mới của nó. Lý thuyết dịch thuật nữ quyền nhấn mạnh đến quyền năng sáng tạo mang tính chất phá vỡ của dịch giả và định nghĩa lại mối quan hệ với nguyên tác.

Các lý thuyết gia nữ quyền luận cũng nhấn mạnh đến vai trò của phụ nữ trong lịch sử dịch thuật: khi dịch thuật đánh mất địa vị mà nó giữ ở thời kỳ trung cổ và bị xem như một hoạt động thứ cấp, kém danh giá hơn sáng tác thì một số lượng rất lớn phụ nữ trở thành các dịch giả. Trong một tiểu luận quan trọng về giới tính và những ẩn dụ về dịch thuật, Lori Chamberlain đã phát hiện những hàm ý về giới trong ẩn dụ về dịch – người đẹp không thủychung (belle infidele). Cơ sở của ẩn dụ này chính là sự trung thành của bản dịch/đàn bà: nếu nàng đẹp, nhất định nàng sẽ không thủy chung. Chamberlain đã chỉ ra định kiến về giới tinh trong hình ảnh này; nó hàm ý chỉ có bản dịch/phụ nữ mới bị kết tội không thủy chung. Sự bất tín (unfaithfulness), vì thế, là ý niệm được đặt ra để giam người phụ nữ vào trong những định kiến văn hóa.

Một văn bản then chốt thường được đọc lại và diễn giải lại bởi các lý thuyết gia đương đại về dịch thuật là tiểu luận năm 1923 của Walter Benjamin – “Nhiệm vụ của dịch giả”, trong đó, ông nêu lên luận điểm dịch giả thực sự là người đem một văn bản trở lại đời sống, phục sinh nó trong một ngữ cảnh mới. Tiểu luận của Jacques Derrida về Benjamin, “Từ Tháp Babel” (1985) là một tiểu luận quan trọng khác, tư tưởng của hai tiểu luận này đều ảnh hưởng sâu sắc đến những lý thuyết về dịch thuật được xem là thú vị nhất những năm gần đây. Chẳng hạn, tại Brazil, anh em Haroldo và Augusto de Campos đã khai thác cả tiểu luận của Benjamin và Derrida, cùng với một số lý thuyết gia khác như Else Viera và Rosemary Arrojo để hình thành quan điểm của mình. Từ quan điểm của người Brazil, ý niệm về dịch như là hậu kiếp được kết nối với cách dùng tập tục ăn thịt người như một ẩn dụ về nỗ lực văn hóa hậu thực dân – một ẩn dụ được các nghệ sĩ trong phong trào “Thực nhân chủ nghĩa” ở Brazil dùng để thể hiện ứng xử của mình trước ảnh hưởng văn hóa thực dân. Dịch giả – như những kẻ theo tập tục ăn thịt người – sẽ ăn thịt nguyên tác để đem đến dưỡng chất cho công chúng mới; hành động “tiêu hóa” nguyên tác này là một hình thức hiến sinh mà thông qua đó quyền lực của nguyên tác được chuyển giao vào một ngữ cảnh mới bằng sự hóa thân (metamorphosis). Tên gọi của Chủ nghĩa thực nhân, như những nghệ sĩ tham gia phong trào này cho biết, có mối liên hệ trực tiếp với các bộ lạc ở Brazil thời kỳ tiền Columbus mà ở những cộng đồng này, ăn thịt người chính là một phương thức bày tỏ lòng biết đơn đối với người bị ăn, rất khác với nhãn quan châu Âu, xem đó là một hình thức man dã. Do đó, lý thuyết về dịch từ nhãn quan “thực nhân” thể hiện sự tôn trọng đối với văn bản nguồn ngay cả khi nó khẳng định quyền được ăn nguyên tác. Lý thuyết thực nhân có thể xem như là biến thể của lý thuyết dịch mà Octavio Paz đã phác thảo, theo đó, dịch giả hành động để giải phóng văn bản khỏi hình thức ban đầu của nó, tháo dỡ các ký hiệu ngôn ngữ của nguyên tác, mở đường cho chúng vào một chu trình vận hành trong ngữ cảnh mới. Ý niệm về “sự bất khả” của dịch mà Benjamin và Derrida từng thảo luận, trong ngữ cảnh hậu thực dân, được trao cho một nét nghĩa ẩn dụ mới.

Những hình ảnh về dịch thuật từ nhãn quan hậu thực dân được mở rộng ra ngoài phạm vi văn bản. Nếu như theo truyền thống, thuộc địa thường được hình dung như là bản sao của thực dân – nhân tố “nguồn” thì bản dịch cũng thường bị xem là có địa vị thấp hơn so với nguyên tác. Từ quan điểm hậu thực dân, thuộc địa muốn khẳng định địa vị ngang bằng của nó, và như thế, bản dịch cũng hoàn toàn có thể đủ tư cách để trở thành một tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa trong ngữ cảnh mới. Dịch thuật, vì thế, có thể được xem như ẩn dụ cho toàn bộ những nỗ lực văn hóa trong ngữ cảnh giải thực dân.

Những lý thuyết gia hậu thực dân khác, như Anuradah Dingwaney, Gayatri Chakravorty Spivak và Tejaswini Niranjana, có một quan điểm khác về dịch thuật, nhấn mạnh đến việc dịch thuật được sử dụng như một công cụ trong lịch sử của chủ nghĩa thực dân. Dịch thuật, như họ gợi ý, có thể là một hình thức bạo lực hoặc chiếm dụng văn hóa và họ hướng sự chú ý đến lịch sử một chiều của dịch thuật giữa phương Đông và phương Tây, với các văn bản được dịch cho châu Âu dùng, hoặc khi dịch thuật xuất hiện theo hướng ngược lại, như là một phần trong công cuộc khai hóa của thực dân.

Tất cả những quan điểm khác biệt về dịch thuật này cùng chia sẻ là dịch thuật không diễn ra theo trục ngang mà diễn ra giữa các tác giả, văn bản và nền văn hóa không bình đẳng về địa vị. Gần đây lý thuyết về các lược tuyến văn hóa (cultural grids) của Pierre Bourdieu đã được các lý thuyết gia như Lefevere vận dụng nhằm mở rộng nội dung thảo luận, đưa vào đó những suy nghĩ về các quy luật văn học nói chung. Điều này có thể giúp lý giải câu hỏi: tại sao một văn bản hay tác giả quan trọng lại thất bại khi được dịch trong khi một số tác phẩm khiêm tốn hơn đôi khi lại đạt được địa vị một tác phẩm điển phạm trong một nền văn hóa khác qua dịch thuật. Mô thức dịch qua các nền văn hóa cũng rất đa dạng và vấn đề này cũng khơi dậy những câu hỏi quan trọng song chưa được trả lời về ý nghĩa văn hóa của việc dịch thể loại.

Khúc ngoặt văn hóa trong nghiên cứu dịch thuật đã gặp gỡ với các tư tưởng nữ quyền luận, hậu hiện đại, hậu thực dân và điều này đã làm thay đổi quan niệm về dịch giả và dịch thuật. Bên cạnh những vấn đề phức tạp liên quan đến những bó buộc của ngôn ngữ, những chuẩn khác nhau về khả năng tiếp nhận văn chương, những chân trời chờ đợi khác nhau, những nghiên cứu đương đại về dịch thuật đã đặt ra thêm nhiều vấn đề phức tạp khác nữa liên quan đến những mối quan hệ bất bình đẳng về quyền lực giữa các nền văn hóa. Cách dễ dàng nhất để nắm được những gì đã diễn ra ở lý thuyết dịch là nghĩ về nó như một quá trình vận động đi từ thông diễn sang phân tích bá quyền. Dịch, dù ta có thực hành nó hay không, vẫn là một ẩn dụ then chốt về thời đại mà chúng ta đang sống.

THƯ MỤC THAM KHẢO:

Tài liệu tham khảo chính:

Susan Bassnett, Translation Studies (1980, 3d ed., 2002).

Susan Bassnett and André Lefevere, Constructing Cultures (1998).

Susan Bassnett and Haris Trivedi Postcolonial Translation: Theory and Practice (1999).

Walter Benjamin, Die Aufgabe des Übersetzers (1923, The Task of the Translator, trans. Harry Zohn, in Schulte and Biguenet,).

Annie Brisset, A Sociocritique of Translation: Theatre and Alterity in Quebec, 1968–1988 (1996).

  1. C. Catford, A Linguistic Theory of Translation (1965).

Lori Chamberlain, Gender and the Metaphorics of Translation ( Venuti,).

Jacques Derrida1985 (Des Tours de BabelDifference in Translation, Joseph F. Graham trans.).

Anuradha Dingwaney and Carol Maier Between Languages and Cultures: Translation and Cross-Cultural Texts (1995).

Itamar Even-Zohar1990 (Polysystems StudiesPoetics Today, vol. 11).

Itamar Even-Zohar, The Position of Translated Literature within the Literary Polysystem ( Holmes, Lambert, and van den Broeck,).

Itamar Even-Zohar and Gideon Toury 1981 (Translation Theory and Intercultural Relations special issue, Poetics Today, vol. 2, 4).

James S. Holmes, Translated! Papers on Literary Translation and Translation Studies (1988).

James S. Holmes , José Lambert and Raymond van den Broeck Literature and Translation (1978).

José Lambert1995 (Translation, Systems, and Research: The Contribution of Polysystems Studies to Translation StudiesTTR: Traduction, Terminologie, Rédaction, vol. 8, 1).

André Lefevere, Translation, Rewriting, and the Manipulation of Literary Fame (1992).

André Lefevere, Translation Studies: The Goal of the Discipline ( Holmes, Lambert, and van den Broeck,).

Suzanne Jill Levine, The Subversive Scribe: Translating Latin American Fiction (1991).

Eugene Nida, Towards a Science of Translating (1964).

Eugene Nida and Charles Taber, The Theory and Practice of Translation (1969).

Tejaswini Niranjana, Siting Translation: History, Post-structuralism, and the Colonial Context (1992).

Octavio Paz, Traducción: Literatura y Literalidad (1971, Translation: Literature and Letters, trans. Irene del Corral, in Schulte and Biguenet,).

Anton Popovic, Dictionary for the Analysis of Literary Translation (1976).

Katharina Reiss and Hans J. Vermeer, Grundlegung einer allgemeinen Translationstheorie (1984).

Edward Sapir, Culture, Language, and Personality (1956).

Friedrich Schleiermacher, Methoden des Übersetzens (1813, On the Different Methods of Translating, trans. Waltraud Bartscht, in Schulte and Biguenet,).

Rainer Schulte and John Biguenet Theories of Translation: An Anthology of Essays from Dryden to Derrida (1992).

Sherry Simon, Gender in Translation: Cultural Identity and the Politics of Transmission (1996).

Gayatri Chakravorty Spivak, Outside in the Teaching Machine (1993).

Gideon Toury, Descriptive Translation Studies and Beyond (1995).

Gideon Toury, In Search of a Theory of Translation (1980).

Lawrence Venuti The Translation Studies Reader (2000).

Wolfram Wilss, The Science of Translation: Problems and Methods (1982).

, Translation and Interpreting in the Twentieth Century: Focus on Germany (1999).

Tài liệu tham khảo mở rộng:

Mona Baker Routledge Encyclopaedia of Translation Studies (1998).

Susan Bassnett and André Lefevere Translation, History, and Culture (1991).

Andrew Benjamin, Translation and the Nature of Philosophy (1989).

Olive Classe Encyclopedia of Literary Translation (2000).

Michael Cronin, Translation and Globalization (2003).

Michael Cronin, Travel, Language, Translation (2000).

Edwin Gentzler, Contemporary Translation Theories (1993, 2d ed., 2001).

Theo Hermans, The Manipulation of Literature (1985).

André Lefevere Translation, History, Culture: A Sourcebook (1992).

Kitty M. van Leuven-Zvart and Ton Naaijkens Translation Studies: The State of the Art (1991).

Douglas Robinson, What Is Translation? Centrifugal Theories, Critical Intervention (1997).

Douglas Robinson Western Translation Theory from Herodotus to Nietzsche (1998).

Mary Snell-Hornby, Translation Studies: An Integrated Approach (1988, 2d ed., 1995).

George Steiner, After Babel: Aspects of Language and Translation (rev. ed. 2001).

Lawrence Venuti, The Scandals of Translation: Towards an Ethics of Difference (1998).

Lawrence Venuti, The Translators’ Invisibility: A History of Translation (1995).

Lawrence Venuti Rethinking Translation: Discourse, Subjectivity, Ideology (1992).

H.N dịch (bản nháp)

Nguồn: Susan Bassnett, “Translation Theory”, The Johns Hopkins Guide to Literary Theory & Criticism, Second Edition, 2005 (bản điện tử)

Alice Munro – Con gấu trèo qua ngọn núi

Một câu chuyện nhọc nhằn. Hiểu theo nhiều nghĩa. Nguyên tác với quá nhiều đoạn hồi tưởng, tâm lý diễn ra theo những khúc ngoặt không đoán được, những miêu tả tỉ mỉ nhiều khi có cảm giác thừa thãi, hoặc cố làm cho mạch truyện trở nên chậm rãi và nhập nhằng. Nhưng thú vị. Tôi nghĩ bạn Tâm An đã có một trải nghiệm đáng kể khi bắt tay dịch truyện này để làm chất liệu cho khóa luận về đề tài “Sự thể hiện bệnh Alzheimer trong một số văn bản tự sự đương đại”.

Cả thầy trò chúng tôi đều không tự tin lắm vào bản dịch của mình. Nhưng tôi nghĩ Tâm An đã hiểu được những cắc cớ, éo le của con người khi rơi vào tình huống mà Alice Munro đã xây dựng trong tác phẩm này. Nếu được, rất mong nhận được sự góp ý của mọi người để bản dịch có thể hoàn thiện hơn.

Cuối cùng, tôi cũng cảm ơn cô học trò đã dám chấp nhận thách thức  khi làm khóa luận, nhất là trong điều kiện môi trường hầu như không khuyến khích sinh viên làm cái gì táo bạo hay gai góc.

Phim “Away from her” do Sarah Polley đạo diễn, sản xuất năm 2006, được chuyển thể từ truyện ngắn “The Bear Came Over the Mountain” của Alice Munro

*

Fiona sống trong ngôi nhà mà cha mẹ bà để lại, ở thị trấn nơi có trường đại học mà trước kia bà và Grant cùng học. Ngôi nhà khá lớn, cửa sổ xây lồi ra bên ngoài; trong mắt Grant, trông nó vừa xa hoa, vừa thiếu gọn gàng, với những miếng thảm trải xộc xệch trên sàn nhà và những vết ố của tách chén ăn vào lớp vec-ni trên mặt bàn. Mẹ bà là người Iceland – một phụ nữ mạnh mẽ, tóc xoăn trắng như bọt sóng, người cực kỳ định kiến với đường lối chính trị cực tả. Người cha là một bác sĩ tim mạch có tiếng, được trọng vọng ở bệnh viện nhưng lại rất nhũn nhặn khi ở nhà, nơi ông sẵn lòng lắng nghe đủ mọi lời kêu ca, chỉ trích của bà vợ với nụ cười lơ đãng. Đủ loại người, giàu lẫn nghèo, ai cũng kêu ca, chỉ trích, hết đến rồi đi, hết tranh cãi lại bàn luận, đôi khi bằng những phương ngữ xa lạ. Fiona có một chiếc xe hơi nhỏ của riêng mình và một đống áo len cashmere, nhưng bà chẳng gia nhập một hội nhóm sinh hoạt nào ở trường, nguyên nhân có lẽ vì quan điểm chính trị của bà mẹ.

Bà chẳng quan tâm. Những hội nhóm nữ sinh ở đại học chỉ là trò đùa với bà, chính trị cũng vậy – mặc dù bà rất thích nghe “The Four Insurgent Generals”[2] trên máy quay đĩa, và đôi khi mở “Quốc tế ca” thật lớn, nếu bà biết có vị khách nào mà mình có thể đuổi khéo người đó được bằng cách ấy. Đã từng có một anh chàng ngoại quốc tóc xoăn, mặt mũi lúc nào trông cũng ảm đạm có ý định theo đuổi bà – Fiona nói ông ta là người Visigoth – và cả đôi ba anh chàng bác sĩ thực tập nội trú rất đứng đắn và hay ngượng nữa. Fiona hay chế nhạo tất thảy bọn họ và ngay cả Grant. Bà thường giễu nhại lối nói tỉnh lẻ của ông. Grant đã tưởng rằng có lẽ bà chỉ đùa cợt khi cầu hôn ông, vào một ngày quang đãng và lạnh trên bãi biển ở Port Stanley. Cát bám vào mặt họ gây cảm giác ran rát và sóng xô đám sỏi vỡ dạt đến dưới chân họ.

“Anh nghĩ có thú vị không,” Fiona hét lên “Anh nghĩ có thú vị không nếu chúng mình lấy nhau?”

Grant nhấc bổng Fiona lên và hét lớn “đồng ý.” Grant không bao giờ muốn xa Fiona. Fiona mang trong mình tia lửa của sự sống.

***

Ngay trước khi họ ra khỏi nhà, Fiona phát hiện một vết bẩn trên sàn nhà bếp. Thủ phạm là đôi giày lười màu đen rẻ tiền mà bà đi vào buổi sáng.

“Em tưởng chúng sẽ không để lại vết bẩn nữa,” bà nói với một giọng khó chịu và đầy bối rối như thường lệ trong khi lau vết bẩn màu xám mà giờ trông nó cứ như do bút sáp dầu gây ra.

Bà nói bà sẽ không phải làm việc này bao giờ nữa, bởi từ giờ trở đi, bà sẽ không mang theo đôi giày đó.

“Chắc em phải ăn mặc chải chuốt cả ngày mất,” bà nói. “Hoặc ít nhất cũng phải nghiêm ngắn, chỉnh tề. Cứ như thể ở khách sạn vậy.”

Bà rũ sạch cái giẻ đã dùng và treo nó trên giá bên trong cánh cửa dưới bồn rửa. Sau đó, Fiona khoác chiếc áo trượt tuyết màu nâu vàng có lông cổ, bên trong bà mặc một chiếc áo len cao cổ màu trắng đi cùng với quần mặc thường ngày màu vàng nhạt. Bà là người dong dỏng cao, vai hẹp, một phụ nữ đã bảy mươi tuổi nhưng dáng vẫn thẳng và gọn gàng, với đôi chân và bàn chân dài, cổ tay với mắt cá chân thon gọn và đôi tai nhỏ xinh, trông có phần ngộ nghĩnh. Mái tóc bà nhẹ như sợi bông tơ, Grant chẳng hề nhận ra từ khi nào tóc vợ mình đã chuyển từ màu hoe vàng sang trắng, bà vẫn buông xõa xuống vai, giống như mẹ bà trước đây. (Chính điều này khiến mẹ của Grant – một góa phụ ở một thị trấn nhỏ, làm nhân viên trực phòng khám bệnh – cảm thấy không yên tâm. Mái tóc dài bạc trắng của mẹ Fiona, thậm chí hơn cả tình thế của ngôi nhà, đã nói với bà ta tất cả những gì cần biết về thái độ và quan điểm chính trị của mẹ Fiona).

Nhưng ngoài điều đó ra thì Fiona, với khung xương nhỏ và đôi mắt nhỏ màu ngọc xa-phia, không có gì giống với mẹ mình. Bà có khuôn miệng cong cong mà bà cố ý làm nổi bật bằng son môi đỏ, thường là việc cuối cùng bà ấy làm trước khi rời khỏi khỏi nhà. Hình ảnh của bà ngày hôm nay chính là hình ảnh thường trực của bà – vừa bộc trực vừa khó hiểu, vừa dịu dàng lại vừa có vẻ giễu cợt.

***

Hơn một năm trước, Grant đã bắt đầu phát hiện nhiều mẩu giấy ghi nhớ màu vàng dán khắp nhà. Đây không phải là chuyện kỳ lạ. Fiona vẫn luôn ghi chép đủ mọi thứ – tên một cuốn sách được nhắc đến trên đài phát thanh, những việc bà muốn phải được hoàn thành ngay trong ngày. Ngay cả thời gian biểu buổi sáng cũng được bà ghi lại. Nhưng sự chi ly của thời gian biểu ấy làm Grant thấy lạ và tò mò: “07:00 yoga. 7:30-7:45 vệ sinh cá nhân. 7:45-8:15 đi bộ. 08:15 Grant và bữa sáng.”

Những mẩu giấy nhắc việc mới đây lại khác hẳn. Chúng được dán đầy trên ngăn kéo bếp – “dao, kéo, khăn lau chén bát.” Chẳng nhẽ Fiona không thể mở ngăn kéo xem có những gì bên trong ư? Grant nhớ tới câu chuyện về những người lính Đức đi tuần tra biên giới Tiệp Khắc trong thời chiến. Một người Czech đã từng kể với Grant rằng mỗi con chó tuần tra được đeo một ký hiệu ghi chữ Hund. Người Séc hỏi “Vì sao?,” và người Đức trả lời, “Bởi vì đó là hund[3]”.

Ông định kể với Fiona, nhưng rồi ông nghĩ không kể thì tốt hơn. Vợ chồng họ luôn cười nhạo cùng một điều gì đó, nhưng nhỡ đâu lần này bà ấy không cười?

Những điều trầm trọng hơn rồi cũng xảy ra. Bà vào phố và gọi điện cho Grant từ một buồng điện thoại hỏi ông làm thế nào để lái xe về nhà. Bà đi dạo ngang qua cánh đồng dẫn vào rừng và trở về nhà theo đường bờ rào – một đường vòng rất dài. Bà nói bà cứ nghĩ đường bờ rào luôn dẫn người ta đến một nơi nào đó.

Thật quá khó hiểu. Bà nói về chuyện mình “mua đường” khi đi theo lối bờ rào như thể đó là một chuyện cười. Nhưng bà chẳng gặp khó khăn gì khi nhớ số điện thoại.

“Em nghĩ không có gì phải lo lắng đâu,” bà nói. “Chắc em hơi đãng trí mà thôi.”

Ông hỏi bà có phải gần đây bà uống thuốc ngủ.

“Có uống thì em cũng không nhớ,” bà nói. Rồi bà xin lỗi vì đã thiếu nghiêm túc.

“Em chắc chắn em không uống bất cứ thuốc gì. Có lẽ đáng ra em nên uống. Vitamin chăng?”

Vitamin cũng chẳng có tác dụng. Bà vẫn đứng loay hoay ở cửa, cố gắng nhớ xem mình đang định đi đâu. Bà quên bật bếp để nấu món rau hoặc cho thêm nước vào máy pha cà phê. Bà còn hỏi Grant họ chuyển đến ngôi nhà này từ bao giờ.

“Năm ngoái hay năm trước nữa nhỉ?”

Ông trả lời: cách đây 12 năm.

Bà nói, “Thật không ngờ.”

“Thỉnh thoảng bà ấy lại như thế,” Grant kể với bác sĩ. “Có lần bà ấy bỏ quên chiếc áo khoác lông thú trong kho và cứ thế không nhớ gì đến nó. Đó là lần hai chúng tôi đi nghỉ đông, như mọi năm. Sau này bà ấy nói như thể một sự vô tình có lí do, giống như một tội lỗi mà bà muốn chôn giấu. Người ta khiến Fiona cảm tưởng như có lỗi khi khoác lên mình chiếc áo lông thú.”

Ông bối rối cố gắng hết sức để giải thích rõ thêm về một biểu hiện nghiêm trọng hơn – sự ngạc nhiên và những lời xin lỗi của Fiona mà giờ đây dường như đã trở thành một phép lịch sự hàng ngày, có vẻ không phải bà đang trêu đùa ông. Như thể bỗng nhiên bà bước vào một cuộc phiêu lưu không báo trước. Hoặc bắt đầu một trò chơi mà bà hy vọng ông sẽ bị cuốn vào. Vợ chồng ông vẫn thường tự bày ra những trò chơi cho riêng mình – với những phương ngữ vô nghĩa, những nhân vật họ tưởng tượng ra. Đôi khi Fiona giả giọng thỏ thẻ hay nũng nịu (cái này ông không thể nói với bác sĩ) nghe rất giống những người phụ nữ Grant từng có quan hệ tình cảm, những người mà bà chưa từng gặp hay biết.

“Vâng,” bác sĩ nói. “Ban đầu có thể trí nhớ cũng tùy tiện. Chúng ta cũng chưa biết chắc phải không? Từ giờ đến khi có những triệu chứng suy thoái rõ rệt hơn, chúng tôi thực sự không thể chẩn đoán gì.”

Trong thời gian này việc tìm ra tên bệnh hay phân loại bệnh chính xác cũng không mấy quan trọng. Nhưng một hôm, Fiona – giờ đây đã không còn đi mua sắm một mình nữa – bỗng biến mất khỏi siêu thị khi Grant vừa quay lưng đi. Một cảnh sát đưa bà về khi thấy bà đang đi giữa lòng đường, cách siêu thị vài dãy nhà. Anh ta hỏi tên bà và bà trả lời một cách dễ dàng. Rồi anh hỏi bà tên của Thủ tướng.

“Nếu đến điều đó mà cậu còn không biết, thì cậu trẻ ạ, cậu thực sự không nên làm công việc đòi hỏi nhiều trách nhiệm như thế này.”

Anh cảnh sát bật cười. Nhưng rồi bà đã phạm sai lầm khi hỏi anh ta có thấy Boris và Natasha đâu không.

Đó là hai con chó săn sói giống Nga mà bà từng nhận nuôi giúp cho một người bạn nhiều năm trước đây, và rồi bà đã tận tâm chăm sóc đến khi chúng chết. Chuyện bà nhận nuôi chúng có lẽ ngẫu nhiên trùng hợp với thời điểm việc bà phát hiện ra rằng mình không có khả năng sinh con. Đại loại là tắc hay xoắn ống dẫn trứng, giờ thì Grant cũng không thể nhớ nổi nguyên nhân. Ông vốn luôn luôn lảng tránh ý nghĩ về cơ địa của phụ nữ. Hoặc có thể là kể từ khi mẹ của Fiona qua đời. Hai con chó chân dài, lông mượt, mặt nhỏ thó, trông vừa hiền, vừa bương bướng rất hợp với Fiona khi bà dắt chúng dạo bộ. Và ngay chuyện Grant kết hôn với Fiona, trong con mắt của một số người, chẳng qua cũng là sự lựa chọn ngẫu hứng của một tiểu thư vốn hay nảy sinh những ý nghĩ bất ngờ, lập dị. Rồi ông nhận được công việc đầu tiên ở trường đại học (trường này luôn sẵn sàng nhận tiền tài trợ của cha vợ ông, bất chấp quan điểm chính trị của ông cụ) cũng được xem như là ông gặp may nhờ vợ và gia đình nhà vợ, ông được vợ chăm chút, chiều chuộng, giúp đỡ. Mặc dù, may thay, ông không nhận thức được điều đó, cho đến mãi sau này.

***

Fiona nói với Grant, trong bữa tối cái hôm bà đi lạc khỏi siêu thị, “Anh biết phải làm gì với em rồi đúng không? Anh sẽ đưa em đến đó. Shallowlake thì phải?”

Grant đáp, “Meadowlake. Chưa đến mức đó đâu.”

“Shallowlake, Shillylake,” bà lại nói, như thể họ đang tham gia vào một trò chơi chữ vui vẻ. “Sillylake. Là Sillylake anh ạ.”

Ông chống khuỷu trên bàn, hai tay ôm lấy đầu. Ông nói rằng bác sĩ đã cân nhắc chuyện đó rồi, đó sẽ không phải là hình thức điều trị vĩnh viễn. Chỉ là thử nghiệm thôi. Na ná như kiểu chữa bệnh bằng cách thư giãn, nghỉ ngơi.

***

Viện Meadowlake đưa ra quy định không làm thủ tục nhập viện cho bất cứ ai trong tháng mười hai. Kỳ nghỉ lễ dễ tạo cho người ta những chấn động bất thường về cảm xúc. Vì vậy, Grant phải dời kế hoạch đưa Fiona nhập viện sang tháng Giêng, họ mất hai mươi phút lái xe từ nhà đến Meadowlake. Trước khi đến đường cao tốc, họ đi qua con đường làng hơi dốc bởi một vũng lầy nay đã hoàn toàn đóng băng. Những cây sồi đầm lầy và những cây phong hắt bóng xuống trông như những thanh dài trên nền tuyết trắng.

Fiona thốt lên: “Ôi, nhớ rồi!”

Grant nói: “Anh cũng đang nghĩ đến điều đó đấy.”

“Chỉ có điều là đêm ấy sáng trăng,” bà nói.

Bà đang nói về lần họ đi trượt tuyết vào đêm trăng đầy, trên nền tuyết trắng sọc đen, ở đây – chính ở nơi này, nơi người ta chỉ có thể đi vào được vào thời điểm lạnh nhất của mùa đông. Họ đã nghe những cành cây run rẩy như sắp gãy trong giá lạnh.

Nếu Fiona có thể nhớ điều đó sống động và chính xác đến thế thì liệu tình trạng của bà có thực sự nghiêm trọng?

Ông phải cố gắng lắm mới không quay xe chở bà về nhà.

***

Còn một nội quy nữa mà bác sĩ phụ trách giải thích cho Grant. Bệnh nhân mới không được tiếp người nhà trong vòng ba mươi ngày đầu. Hầu hết họ cần khoảng thời gian đó để ổn định tâm lý. Trước khi quy định này được đưa ra, người ta chứng kiến đủ những lời van xin, nước mắt và cơn giận dữ, thậm chí cả những bệnh nhân tự nguyện nhập viện cũng thế. Đến ngày thứ ba hoặc thứ tư, họ sẽ bắt đầu than thở và cầu xin được đưa về nhà. Vài người thân có thể sẽ mủi lòng, vì vậy sẽ có những người được chở về nhà, cho dù về đến nhà, họ chẳng chút nào tiến triển hơn khi mới đến. Sáu tháng hoặc có khi chỉ một vài tuần sau đó, toàn bộ tình trạng rắc rối rất phiền hà này lại tái diễn.

“Trong khi đó,” bác sĩ cho biết, “chúng tôi thấy nếu để họ lại một mình trong tháng đầu tiên, họ thường sớm thích nghi một cách vui vẻ hơn. Chúng tôi thậm chí còn phải lừa họ vào xe buýt để đưa họ đi một chuyến vào phố. Muốn họ về thăm nhà cũng phải thế. Đưa họ về nhà thăm một hai tiếng cũng không phiền gì – nhưng họ sẽ lo lắng về việc trở lại viện kịp giờ ăn tối. Khi đó thì Meadowlake đã là nhà của họ rồi. Tất nhiên, với những người trên tầng hai thì không phải như vậy, chúng tôi không thể để họ đi đâu hết. Việc đó quá khó, mà hơn nữa, họ còn không biết mình đang ở nơi nào.”

“Vợ tôi sẽ không ở tầng hai.” Grant nói.

“Không,” vị bác sĩ từ tốn nói. “Tôi chỉ muốn nói rõ ràng ngay từ đầu mà thôi.”

***

Mấy năm trước đây, hai vợ chồng ông đã từng đến Meadowlake vài lần để thăm Farquar, ông lão nông dân không vợ từng là hàng xóm của họ. Ông sống một mình trong ngôi nhà gạch thông thống gió lùa vốn chẳng thay đổi gì kể từ những năm đầu thế kỷ, ngoại trừ việc trong nhà có thêm một cái tủ lạnh và một tivi. Trước, ông Farquar cũng hay ghé chơi nhà Grant và Fiona tuy không báo trước nhưng họ đều ngồi lại với nhau khá lâu, và cùng với những vấn đề địa phương, ông thích bàn luận về những cuốn sách mình đã đọc – về chiến tranh ở khu vực Crimea[4] hay những cuộc thám hiểm hai cực địa cầu hoặc lịch sử phát minh vũ khí. Nhưng sau khi đến Meadowlake, ông chỉ biết nói về công việc thường làm trong ngày ở đó, và vợ chồng Grant có cảm giác những cuộc viếng thăm của họ, dù rất thiện chí, lại làm cho Farquar thấy nặng nề nhiều hơn. Và riêng Fiona thì đặc biệt ghét mùi nước tiểu và thuốc tẩy váng vất ở đó, bà cũng ghét những bó hoa nhựa bày đặt một cách chiếu lệ trên hành lang có trần thấp và trông rất tối tăm.

Giờ đây, khu viện Meadowlake cũ đã không còn nữa, mặc dù nó cũng mới chỉ được xây từ thập niên 50. Cũng như căn nhà ông Farquar, nay đã bị thay thế bởi một công trình giống như một lâu đài rẻ tiền – nơi nghỉ dưỡng cuối tuần của mấy người ở Toronto. Viện Meadowlake mới là một tòa nhà có mái vòm, rộng rãi, không khí thoang thoảng mùi thông dễ chịu. Từ những bình sành khổng lồ, cây lá trổ ra lòa xòa và đều là những cây lá thật.

Tuy nhiên, trong suốt một tháng dài xa cách, Grant cứ luôn hình dung Fiona sống trong khung cảnh viện Meadowlake trước kia. Ông cảm thấy đây là tháng dài nhất trong đời mình, dài hơn cả cái tháng ông cùng mẹ đi thăm họ hàng ở Lanark County hồi ông mới mười ba tuổi, đằng đẵng hơn cả cái tháng mà Jacqui Adams đi nghỉ với gia đình cô ấy, khi Grant và Jacqui mới bắt đầu nhen nhóm tình cảm. Ngày nào ông cũng gọi đến viện Meadowlake và hy vọng gặp được cô y tá tên Kristy. Cô có vẻ buồn cười vì sự kiên trì của Grant, nhưng cô luôn thông tin cho ông đầy đủ hơn bất kỳ y tá nào khác mà ông từng gặp.

Fiona bị cảm lạnh trong tuần đầu tiên, song không phải là điều gì bất thường đối với những người mới nhập viện.

“Giống như trẻ con khi mới đi học thôi,” Kristy nói. “Môi trường mới có nhiều mầm bệnh mới mà chúng dễ tiếp xúc và trong một lúc, chúng dính đủ thứ.”

Rồi bệnh cảm cũng đỡ dần. Fiona không còn phải dùng thuốc kháng sinh và bà không còn lúng túng như khi mới vào viện. (Đây là lần đầu Grant biết vợ mình phải dùng thuốc kháng sinh và cả việc Fiona lúng túng trong môi trường mới.) Bà ăn ngon miệng và có vẻ thích ngồi trong phòng kính nhìn ra ngoài trời. Dường như Fiona rất thích xem TV.

Một trong những điều thực sự khó chịu đựng nổi ở viện Meadowlake ngày trước là chỗ nào cũng có TV, chúng át cả dòng suy nghĩ hay xen vào những cuộc trò chuyện ở bất cứ nơi đâu mà người ta chọn ngồi. Một số “tù nhân” (khi đó Grant và Fiona gọi họ như vậy, chứ không phải là “bệnh nhân”) căng mắt theo dõi, một số thì đáp lại lời ti-vi, nhưng phần đông chỉ ngồi ngoan ngoãn và chịu đựng sự tấn công của nó. Ở tòa nhà mới, theo như Grant nhớ, thì TV được đặt trong một phòng tách biệt, hoặc trong phòng ngủ. Người nào thích thì đến ngồi xem.

Vậy hẳn Fiona thấy thú vị khi xem ti-vi. Nhưng mà xem cái gì?

Trong những năm họ sống trong ngôi nhà này, Grant và Fiona xem khá nhiều chương trình truyền hình cùng nhau. Họ cùng chăm chú quan sát cuộc sống của những con thú, bò sát, côn trùng hay sinh vật biển mà máy quay ghi lại được, và họ cũng đã dõi theo những diễn biến tương tự như nhau của hàng chục cuốn tiểu thuyết hay của thế kỷ XIX được chuyển thể thành phim truyền hình. Họ nghiện xem một chương trình hài kịch dài tập về đời sống ở một cửa hàng bách hóa, xem đi xem lại đến mức họ thuộc lòng cả lời thoại. Họ buồn bã vì sự vắng mặt của những tài tử đã chết ngoài đời thực hoặc đã theo đuổi sự nghiệp khác, họ hân hoan với sự trở lại của những diễn viên ấy – đồng nghĩa với việc nhân vật của họ lại được tái sinh. Họ để ý đến cả chuyện tóc của người đóng vai nhân viên chào hàng ngả từ đen sang xám, rồi cuối cùng lại đen trở lại trong khi bối cảnh nghèo nàn chẳng bao giờ thay đổi. Nhưng rồi chương trình cũng mất sức sống, những bối cảnh và mái tóc đen đến nhức mắt cuối cùng cũng trở nên nhạt nhẽo, như thể bụi đường London cũng đã lọt dưới cửa thang máy, điều này làm cho Grant và Fiona buồn hơn bất kỳ vở bi kịch nào trong bộ Kiệt tác sân khấu, vì thế, họ đã bỏ dở chương trình này trước khi nó kết thúc.

Fiona đã bắt đầu làm quen với những người bạn mới, Kristy kể. Rõ ràng bà ấy đang thoát khỏi vỏ bọc của chính mình.

Vỏ bọc nào vậy? Grant định hỏi, nhưng rồi kiềm chế bản thân, để giữ hình tượng tốt đẹp trong mắt Kristy.

***

Grant để máy trả lời tự động phòng khi có ai gọi điện. Những người mà họ phải xã giao, thi thoảng không phải láng giềng ở gần kề mà là những người sống quanh vùng quê đó, những người đã nghỉ hưu giống như họ, thường xuyên đi xa mà chẳng cần thông báo. Những năm đầu khi họ đến sống ở đây, Grant và Fiona đã ở trong nhà suốt mùa đông. Mùa đông ở vùng quê quả là một trải nghiệm mới, họ có nhiều việc phải làm để tu sửa căn nhà. Và rồi, họ hiểu rằng họ cũng nên đi du lịch đâu đó khi có thể, họ đi Hy Lạp, Úc, đi Costa Rica. Mọi người cứ tưởng lúc này ông và Fiona cũng đang đi du lịch kiểu như vậy.

Grant trượt tuyết để rèn luyện thân thể, nhưng ông không bao giờ trượt đến tận vùng đầm lầy này. Ông thường trượt tuyết khi mặt trời lặn dần để lại bầu trời nhuốm hồng bao phủ vùng quê, quanh cánh đồng sau nhà dường như bị viền quanh bởi lớp sóng băng anh ánh màu xanh lam. Ông đếm lại xem mình đã trượt quanh cánh đồng bao nhiêu lần, rồi trở về ngôi nhà phủ bóng tối của mình, bật chương trình thời sự trong khi chuẩn bị bữa tối. Ông bà vẫn thường cùng nhau nấu bữa tối. Một người pha đồ uống và một người lo nhóm lửa, họ trò chuyện về công việc của Grant (ông đang viết một công trình về hình tượng những con sói trong huyền thoại Bắc Âu và đặc biệt là con sói Fenrir khổng lồ, nuốt Odin nơi tận cùng thế giới[5]), về bất cứ cuốn sách nào Fiona đang đọc và những gì họ đã nghĩ trong một ngày họ sống bên cạnh nhau nhưng đồng thời mỗi người lại có những khoảng riêng của mình. Đó mới là thời điểm họ gần gũi nhau nhất, tất nhiên, ngoài ra vẫn có năm hay mười phút ngọt ngào, họ vuốt ve thân thể nhau trên giường – không hẳn là một ngày của họ sẽ kết thúc bằng ân ái, nhưng điều ấy cho thấy giữa hai người, ân ái vẫn còn như một ham muốn.

***

Đã có lần Grant mơ thấy mình đưa cho một đồng nghiệp – người ông coi là bạn hữu – xem một bức thư. Lá thư này từ người bạn cùng phòng với cô gái mà có một thời gian, ông không còn nghĩ đến. Lời lẽ cao đạo và thù địch, đe dọa theo kiểu của kẻ yếm thế – ông nghĩ người gửi thư này nhiều khả năng là một người đồng tính nữ. Còn chính cô gái, bạn của người viết lá thư này là người mà ông đã chia tay rất đàng hoàng và có vẻ như không phải người viết thư muốn gây chuyện ầm ĩ, chỉ là cô ta muốn tự tử, bức thư nói cho Grant biết điều đó theo một cách vừa rõ ràng mà cũng vừa rối rắm.

Tay đồng nghiệp ấy của Grant thuộc kiểu người chồng, người cha phóng túng, có thể quăng cà vạt, bỏ bê nhà cửa, đêm thì ngủ với cô bổ trẻ quyền rũ trên tấm nệm trải sàn nhà, sáng dậy đến cơ quan, đến trường, bộ dạng lôi thôi lếch thếch, người ám mùi chất gây nghiện và trầm hương. Nhưng giờ tay đồng nghiệp ấy lại tỏ ra bi quan khi nghe câu chuyện cắc cớ này của Grant và bỗng Grant nhớ ra rằng anh ta, trên thực tế, cũng đã kết hôn với một trong những cô bồ đó, và giờ cô ta phải lo chuẩn bị tiệc tối cho chồng và bận sinh con, như mọi người vợ khác.

“Tôi sẽ không cười đâu,” anh ta bảo với Grant dù ông không hề nghĩ anh ta sẽ cười. “Và nếu tôi là anh, tôi sẽ cố chuẩn bị tinh thần cho Fiona.”

Nghe vậy, Grant liền đi tìm Fiona ở Meadowlake – Meadowlake ngày xưa, nhưng rồi thay vào đó, ông lại đến một giảng đường. Ở đó mọi người đều đang chờ đợi ông đến dạy. Và ngồi ở hàng cuối cùng, cao nhất là một nhóm những phụ nữ trẻ tuổi với ánh mắt lạnh lùng, tất cả đều mặc áo choàng đen, mắt thâm tím, họ nhìn ông chằm chằm một cách sắc sói, họ thản nhiên không ghi chép hay để tâm đến bất cứ điều gì ông đang giảng.

Fiona ngồi ở hàng trên cùng, gương mặt bình thản. Bà biến cả giảng đường thành cái góc mà bà luôn tìm kiếm trong mỗi bữa tiệc, một vị trí cao ráo nơi bà nhâm nhi ly rượu với nước khoáng, hút loại thuốc lá thông thường và kể những chuyện hài hước về lũ chó. Bà ngồi ở đó, cùng với một vài người giống như bà, tách khỏi đám đông, xem những gì đang diễn ra ở những góc khác, trong phòng ngủ hay nơi hiên tối, chẳng hơn gì những hài kịch trẻ con. Cứ như thể lòng từ thiện chỉ là một thứ đạo đức thời thượng, sự trầm tĩnh, kiệm lời mới thực sự là một phẩm hạnh.

“Ôi dào,” Fiona nói. “Các cô tuổi này đi đâu chẳng rêu rao mình sẽ tự sát như thế nào.”

Nhưng điều mà Fiona nói vẫn không làm ông yên tâm – thực tế, lời nói ấy lại làm ông ớn lạnh. Ông sợ rằng Fiona đã nhầm, rằng điều gì đó khủng khiếp đã xảy ra, và ông có thể nhìn thấy những gì bà không thể thấy – đám phụ nữ áo đen như hóa thành một vòng tròn màu đen, mỗi lúc một dầy hơn, mỗi lúc một lớn hơn, nó bốc hơi bay lên, khắp trần nhà, đi vào khắp khí quản của ông gây ngạt thở.

***

Ông tự kéo mình ra khỏi giấc mơ và bắt đầu thử tách cái gì là thực từ cơn mộng mị ấy.

Đã từng có một bức thư, và mảng chữ “ĐỒ CHUỘT” viết bằng sơn đen ngòm xuất hiện trên cửa văn phòng Grant, và Fiona, khi được kể rằng có một cô gái phát cuồng vì chồng bà, đã đáp lại gần như chính xác những gì bà nói trong giấc mơ của ông. Còn những gì không có thật là sự hiện diện của người đồng nghiệp, những phụ nữ áo đen, và thực ra thì cũng chẳng ai tự tử. Grant không bị hư hại thanh danh, trên thực tế, ông đã tránh được chuyện rắc rối này khá dễ dàng. Giả dụ một vụ tai tiếng như thế này xảy ra vài năm sau đó, hằn những gì ông phải mất mát sẽ không nhỏ. Nhưng vẫn có những lời xì xào. Có người công khai bày tỏ sự lạnh nhạt đối với ông. Vợ chồng ông có rất ít lời mời dự tiệc Giáng sinh và đêm giao thừa, họ ngồi nhà, không có khách khứa nào cả. Grant say rượu, và dù không có điều gì thúc ép –cũng tạ ơn Chúa, lần này ông không phạm sai lầm bằng việc thú nhận – ông hứa với Fiona về một cuộc sống mới.

Sự xấu hổ ông cảm thấy khi đó là vì mình bị lừa, vì không nhận thấy sự thay đổi đang diễn ra. Và không có người phụ nữ nào giúp ông nhận thức được điều đó. Đã có sự thay đổi trong quá khứ khi đột nhiên rất nhiều phụ nữ dễ dãi mời mọc – hay chỉ là Grant thấy như vậy – và bây giờ với sự thay đổi mới này, khi họ nói rằng chuyện xảy ra không phải ý muốn của họ. Họ quan hệ chỉ vì khi đó họ thấy mình bất lực, hoang mang và lạc lối, họ bị tổn thương bởi tất cả chứ chẳng vui vẻ gì. Ngay cả khi họ đã chủ động thì họ làm vậy chỉ vì lá bài định mệnh cố ý làm hại họ.

Chưa thấy ở bất cứ đâu có chuyện một gã Don Juan (nếu đó là biệt danh Grant buộc phải tự gọi mình – mà thực tình thì những vụ chinh phục phụ nữ hay những mối dan díu mà ông vướng vào còn chưa bằng một nửa so với anh bạn đồng nghiệp đã trách móc ông trong giấc mơ) lại có những hành động tử tế, hào hiệp, lại còn cả đức hy sinh nữa. Không phải ngay từ đầu đã vậy, có lẽ thế, nhưng ít nhất khi câu chuyện diễn tiến thì đừng mơ đến những điều đó. Nhiều lần ông đã chiều lòng kiêu hãnh hay sự mong manh của phụ nữ bằng cách cố tỏ ra nhiều cảm xúc – hay tỏ ra say đắm lộ liễu – hơn cảm giác thật trong lòng ông. Chỉ thế thôi, vậy mà giờ ông cảm thấy mình như bị buộc tội vì đã gây tổn thương, lợi dụng và làm tan nát những người phụ nữ giàu tự trọng. Và là người đã lừa dối Fiona – tất nhiên rồi, ông đã lừa dối bà – nhưng có tốt hơn không nếu ông xử sự giống như những người đàn ông khác đối với vợ mình rồi ruồng bỏ bà?

Ông chưa từng nghĩ đến một việc tày trời như vậy. Ông vẫn làm tình với Fiona mặc kệ ở đâu đó có những mời mọc, những đề nghị dễ gây phân tâm. Ông chưa từng xa Fiona dù chỉ một đêm. Không bịa ra những câu chuyện lắt léo để qua đêm ở San Francisco, hay trong một ngôi lều trên đảo Manitoulin vào ngày cuối tuần. Ông đã hạn chế dùng chất gây nghiện và rượu bia, tiếp tục viết lách, nghiên cứu, tham gia vào các hội đồng, có những bước tiến trong trong sự nghiệp. Ông chưa bao giờ có ý định vứt bỏ sự nghiệp và hôn nhân, để rồi về quê làm mộc hay nuôi ong.

Nhưng điều tương tự cuối cùng cũng đã xảy ra. Ông xin nghỉ hưu sớm với lương hưu bị giảm trừ. Cha của Fiona qua đời, sau một thời gian bị lẫn, sống một phần đời khổ hạnh và cô đơn trong ngôi nhà rộng lớn. Fiona thừa hưởng toàn bộ tài sản và trang trại nơi người cha đã lớn lên ở vùng nông thôn gần Vịnh Georgia. Fiona cũng nghỉ việc tại bệnh viện, nơi bà làm điều phối viên cho dịch vụ tự nguyện (ở thế giới thường nhật ấy, như cách nói của bà, người ta thực sự gặp phải những rắc rối, phiền muộn không liên quan gì tới ma túy, tình dục hoặc những tranh cãi đau đầu). Một cuộc sống mới là một cuộc sống mới.

Boris và Natasha cũng chết vào khoảng thời gian ấy. Một con ốm và đi trước – Grant đã quên mất là con nào – rồi tiếp đến con còn lại, có lẽ vì thương tiếc con kia.

Grant và Fiona sửa sang lại căn nhà. Họ đi du lịch trượt tuyết. Họ không quá hòa đồng nhưng dần dần đã có một số bạn bè. Không còn nữa những trò tán tỉnh đong đưa. Không còn cảnh bà này dùng chân trần cọ vào ống quần ông kia trong bữa tiệc tối. Không còn nữa những cô vợ dễ dãi, phóng túng.

Thật đúng lúc, Grant đã nghĩ thế, khi cảm giác về sự bất công dần mòn đi. Các nhà nữ quyền, và có lẽ là cả cô nàng ngốc nghếch rầu rĩ ấy và những người tạm gọi là bạn bè rất hèn hạ ấy đã đẩy ông ra ngoài lề thật đúng lúc. Ra khỏi một đời sống mà thực ra ngày một phiền nhiễu hơn giá trị của nó. Và có thể cuối cùng cái đời sống ấy dễ khiến ông mất Fiona.

***

Vào sáng ngày ông định trở lại Meadowlake để thăm Fiona lần đầu sau một tháng xa cách, Grant dậy sớm. Trong ông đầy những hồi hộp của một người đang đứng trước một sự kiện trọng đại, y như thể buổi sáng lần đầu tiên ông hẹn hò với một người phụ nữ mới. Cảm giác đó chắc chắn không phải là cái rạo rực tình dục (sau này, khi những cuộc hẹn hò đã thành thói quen, thì đúng là như thế). Có mong muốn được khám phá, gần như một háo hức tinh thần. Cũng có cả nỗi rụt rè, ngại ngùng, lo âu.

Ông ra khỏi nhà quá sớm. Trước 2 giờ người nhà không được vào thăm. Grant không muốn phải ngồi ngoài bãi xe chờ đợi, nên ông quay xe đi theo một lối khác, lệch hẳn hướng.

Đã tan băng. Vẫn còn nhiều tuyết vương lại, nhưng phong cảnh lấp lóa, làm chói mắt trước đó của mùa đông đã tan biến. Những điểm tuyết tan lỗ rỗ dưới bầu trời xám trông giống như đống rác thải trên cánh đồng.

Đến một thị trấn gần Meadowlake, Grant tìm thấy một cửa hàng hoa và mua một bó hoa lớn. Ông chưa từng tặng hoa cho Fiona. Hay bất cứ ai khác. Ông bước vào tòa nhà với cảm giác như một người tình tuyệt vọng hay một người chồng tội lỗi trong các tranh biếm họa.

“Ồ. Hoa thủy tiên vào buổi sớm thế này,” Kristy nói. “Chắc cũng tốn kém đấy nhỉ”. Cô đi trước Grant dẫn đường dọc theo hành lang của phòng ăn lớn rồi đến một chạn bếp, bật đèn lên, tìm một chiếc bình. Cô là một phụ nữ trẻ đẫy đà, có vẻ như chẳng chăm chút gì cho ngoại hình, trừ mái tóc. Đó là mái tóc vàng, uốn từng lọn bồng bềnh theo phong cách diêm dúa của những cô tiếp viên cocktail hay vũ nữ thoát y, mái tóc kiểu cách ấy chẳng ăn nhập gì với một khuôn mặt và cơ thể rất bình thường, không có gì đặc biệt.

“Được rồi đó,” cô nói, rồi ra hiệu cho ông đi xuống dưới phòng ăn lớn. “Tên bệnh nhân ở trên cửa ấy”.

Ra vậy, tên người bệnh viết trên một tấm biển, có họa tiết trang trí là những con chim sơn ca. Ông đắn đo liệu có nên gõ cửa, rồi ông gõ, mở cửa và gọi tên bà.

Fiona không có ở trong phòng. Cánh cửa tủ đóng, giường phẳng phiu. Không có gì trên bàn cạnh giường, ngoại trừ một hộp Kleenex và một ly nước. Không một bức tranh, ảnh, không một cuốn sách hay tạp chí. Có lẽ những thứ ấy phải cất trong tủ.

Ông trở lại bàn y tá, hay bàn lễ tân, hay gọi thế nào cũng được. Kristy hỏi, “Bà ấy không có trong phòng sao?,” giọng tỏ vẻ bất ngờ nhưng Grant thấy cứ như hỏi lấy lệ.

Ông ngập ngừng, tay vẫn giữ chặt bó hoa. Cô nói: “Được rồi, được rồi – ta cứ đặt bó hoa xuống đây đã”. Đoạn cô thở dài, cứ như Grant là đứa trẻ đi muộn vào ngày đầu tiên đến lớp, cô dẫn ông đi dọc theo hành lang khu vực phòng ăn lớn, tới một không gian trung tâm khá rộng đón nhiều ánh sáng từ những ô cửa trời rất lớn và trần nhà được làm theo phong cách thánh đường. Vài người đang ngồi dọc theo tường, trên những chiếc ghế thư giãn, những người khác ngồi quanh những chiếc bàn giữa phòng, sàn phòng được trải thảm. Không ai trông quá tiểu tụy. Có người trông đã rất già – một số đã phải dùng đến xe lăn – nhưng vẫn bặt thiệp. Hồi vợ chồng ông đến thăm Farquar, có một vài hình ảnh của bệnh nhân làm hai người đều thấy rất đáng sợ. Râu mọc trên cằm các bà già, có người một bên mắt lồi ra như một quả mận đã thối mục. Đi lại rờ rẫm, đầu lúc nào cũng lắc lư, nói năng luyên thuyên như điên dở. Giờ có vẻ như đã không còn những ca tồi tệ nhất. Hay thuốc thang, y học giờ đã tốt hơn, đã tìm ra được những cách giảm nhẹ sự biến dạng hình hài, cũng như sự mất kiểm soát ngôn ngữ và nhiều hành vi khác – những phương thức mà chỉ mấy năm trước cũng chưa từng có.

Tuy nhiên, có một người phụ nữ ngồi bên chiếc dương cầm trông rất sầu muộn, bấm từng phím đàn với một ngón tay và mãi chẳng tạo nên một giai điệu nào. Một người phụ nữ khác, ngồi sau bình hãm cà phê và một chồng cốc nhựa cứ đăm đăm nhìn ra ngoài, đờ đẫn như hóa đá. Nhưng chắc đó là một nhân viên của viện – chị ta mặc bộ đồ xanh lá nhạt giống hệt của Kristy.

“Thấy chưa?” Kristy nói khẽ. “Ông chỉ cần đi đến, chào và cố gắng đừng để bà ấy giật mình. Hãy nhớ rằng có thể bà ấy sẽ không … Mà thôi. Ông đi đi.”

Ông thấy Fiona đang nhìn nghiêng nghiêng, bà ngồi sát một trong những chiếc bàn chơi bài, nhưng không chơi. Mặt bà hơi bụ ra, gò má hơi xệ che lấp khóe miệng, điều này Grant chưa từng thấy trước đây. Fiona đang xem người đàn ông ngồi gần nhất chơi bài. Ông ta cố tình nghiêng nghiêng bài để bà có thể xem cùng. Khi Grant lại gần, bà ngước lên. Tất cả đều ngẩng nhìn với vẻ khó chịu. Rồi họ ngay lập tức nhìn xuống bài của mình, như để tránh bất cứ sự xâm phạm nào.

Nhưng Fiona mỉm cười – nụ cười méo mó, lúng túng, kín đáo và vì thế lại rất có duyên của bà – bà đẩy ghế lùi lại, đến gần bên Grant, đưa ngón tay lên miệng.

“Đang chơi bài bridge”, bà thầm thì. “Căng thẳng ra trò. Họ còn khờ lắm.” Bà dẫn Grant về phía bàn cà phê, trò chuyện. “Em nhớ hồi học đại học, có dạo bọn em cũng hay chơi bài bridge. Bọn em hay bùng tiết, ngồi trong phòng sinh hoạt chung, hút thuốc và chơi bài, cũng găng lắm. Một người trong đám bạn khi đó là Phoebe, những người còn lại thì em không nhớ.”

“Phoebe Hart,” Grant nói. Ông nhớ lại cô gái mắt đen, ngực hóp, người nhỏ thó, có lẽ giờ đã qua đời. Giữa không gian ám khói thuốc, Fiona, Phoebe và đám con gái ấy say sưa với những quân bài như những cô phù thủy.

“Anh cũng biết cô ấy à?” Fiona hỏi, giờ bà hướng nụ cười về phía người phụ nữ ngồi thừ như hóa đá khi nãy. “Anh uống gì nhỉ? Một tách trà nhé? Nhưng e cà phê ở đây không ngon lắm.”

Grant chưa từng uống trà.

Ông không thể vòng tay ôm bà. Có gì đó trong giọng nói và nụ cười ấy, vẫn thân thuộc như ngày nào, nhưng cách bà không muốn ông làm phiền hội chơi bài và ngay cả người phụ nữ ngồi sau bình cà phê kia – cũng như tránh cho ông khỏi sự khó chịu từ họ – khiến ông không thể ôm bà.

“Anh mang tặng em bó hoa,” ông nói. “Anh nghĩ chúng sẽ làm phòng em sáng sủa hơn. Anh đã vào phòng, nhưng em không ở đó.”

“Vâng”, bà nói. “Em ở đây cơ mà.”

Grant nói, “Em đã có bạn mới nhỉ.” Ông hất đầu về phía người đàn ông mà Fiona ngồi bên lúc nãy. Đúng lúc lão ta ngẩng lên nhìn Fiona và bà quay lại, không biết vì những gì Grant đang nói hay là bà đã cảm thấy cái nhìn từ phía sau bà.

“Đó là Aubrey,” bà nói. “Điều thú vị là em đã biết ông ấy từ lâu lắm rồi. Ông ấy từng làm việc trong cửa hàng. Cái cửa hàng kim khí mà ông của em hay ghé mua sắm. Aubrey và em cũng hay tán chuyện qua lại nhưng ông ấy chẳng đủ dũng khí ngỏ lời với em. Cho đến tận ngày cuối tuần cuối cùng, ông ấy rủ em đi xem một trận cầu. Nhưng khi trận đấu kết thúc thì ông của em xuất hiện và lái xe đưa em về nhà. Khi đó em đến nghỉ hè. Đến thăm ông bà – họ sống ở trang trại.”

“Fiona. Anh biết ông bà của em sống ở đâu mà. Đó là nơi chúng ta ở. Từng ở.”

“Thật không?” bà nói nhưng không chú ý lắm vì ông bạn chơi bài đang nhìn bà, cái nhìn không phải đang cầu khẩn mà là đang ra lệnh. Ông ta tầm tuổi Grant, có khi già hơn một chút. Bộ tóc trắng dày thô lòa xòa trên trán, da dẻ trông vẫn tốt nhưng nước da đã nhờn nhợt, trắng ngà ngà như cái găng tay cũ nát của trẻ con. Khuôn mặt dài của ông ta nghiêm nghị và u sầu, ông khiến người ta nghĩ đến một con ngựa già, từng rất mạnh mẽ nhưng nay đã xuống sức, mỏi mệt , thờ ơ. Nhưng Fiona đang để tâm ở đâu lại là điều ông không hề thờ ơ.

“Em phải trở lại chỗ cũ thôi,” Fiona nói, khuôn mặt mới đầy đặn hơn một chút của bà trông hơi ửng hồng. “Ông ấy nghĩ mình không thể chơi mà không có em ngồi cạnh. Thật ngớ ngẩn, mà em thì gần như chẳng biết chơi thế nào nữa. Cho em xin phép nhé.”

“Sẽ xong nhanh chứ?”

“Ồ, chắc sắp hết ván rồi. Mà cũng còn tùy. Anh cứ ra hỏi cái bà trông nghiêm nghị kia thật nhẹ nhàng, bà ấy sẽ lấy cho anh một tách trà.”

“Không cần đâu,” Grant đáp.

“Vậy em đi nhé, anh biết cách tự giải khuây đúng không? Chắn chắn có nhiều lạ lẫm, nhưng rồi anh sẽ ngạc nhiên khi thấy mình làm quen rất nhanh chóng. Rồi ạnh sẽ biết hết mọi người ở đây. Ngoại trừ một số giống như ở trên mây ấy, anh biết mà – đừng mong đợi tất cả bọn họ biết anh là ai.”

Fiona nhanh chóng trở về ghế của mình, bà thì thầm gì đó vào tai của Aubrey. Bà gõ những ngón tay mình lên mu bàn tay của ông ta.

Grant đi tìm Kristy và gặp cô ở hành lang phòng ăn lớn. Cô đang đẩy một xe có bình nước táo và nước ép nho.

“Đợi tôi một chút nhé,” cô vừa nói với ông vừa ngó qua cửa phòng. “Có ai uống nước táo không? Nước nho? Bánh bích quy?”

Ông chờ đợi trong khi Kristy rót đầy hai cốc nhựa và mang vào phòng. Khi trở lại, cô lấy hai chiếc bánh bột dong cho mình và cho cả ông.

“Sao rồi?,” cô hỏi thăm. “Chắc ông cũng mừng khi thấy bà nhà rất hòa nhập?”

Grant nói, “Thực sự thì Fiona có nhận ra tôi là ai không?”

***

Ông không thể biết chính xác. Có thể bà ấy đang trêu đùa. Fiona là thế mà. Bà ấy đã đùa hơi quá ở phút cuối, khi vờ nói với Grant như thể bà nghĩ ông là bệnh nhân mới.

Cứ cho là bà ấy đang muốn diễn. Cứ cho đó là giả vờ.

Nhưng sao bà ấy không chạy theo và cười Grant sau khi đã lừa được ông? Bà ấy chắc chắn không thể trở lại bàn chơi bài và giả vờ quên ông được. Như thế thì thật quá đáng, thật tàn nhẫn.

Kristy nói, “Có thể ông gặp bà ấy không đúng thời điểm. Đang lúc chơi bài.”

“Khi đó bà ấy đâu có chơi,” ông nói.

“Vâng, nhưng bạn của bà ấy đang chơi. Aubrey ấy.”

“Thế Aubrey là ai?”

“Thì đó. Aubrey. Bạn của vợ ông. Ông muốn uống nước trái cây không?”

Grant lắc đầu.

“Ồ nhìn xem,” Kristy nói. “Họ quấn quýt nhau lắm. Cũng được khá lâu rồi. Kiểu như bạn thân nhất ấy. Chỉ một giai đoạn thôi.”

“Ý cô là bà ấy có thể thực sự không nhận ra tôi?”

“Có thể. Hôm nay thôi. Rồi ngày mai – người ta không biết trước được đúng không? Mọi thứ cứ thay đổi tới lui và ta chẳng thể làm gì được. Ông sẽ hiểu cái bệnh này nó thất thường như thế nào khi ông đến đây thường xuyên. Ông sẽ không nghiêm trọng hóa vấn đề nữa. Sẽ học chấp nhận điều đó dần mỗi ngày.”

***

Mỗi ngày. Nhưng mọi thứ thực sự chẳng hề thay đổi qua lại như thế, và Grant cũng không quen nổi với điều đó. Fiona mới là người dần quen với sự hiện diện của Grant, nhưng chỉ với tư cách một vị khách nhẫn nại có mối quan tâm đặc biệt đến bà. Thậm chí có khi như một kẻ quấy rầy mà bà muốn tránh mặt một cách lịch sự. Bà tiếp đãi ông rất lơ đễnh, thái độ tử tế xã giao, khiến Grant không tài nào hỏi bà vấn đề hiển nhiên, cần thiết nhất: liệu bà có còn nhớ ông – người chồng gần năm mươi năm của bà? Ông có ấn tượng rằng bà hẳn sẽ bối rối lắm trước một câu hỏi như vậy – không phải bối rối cho mình mà như ái ngại thay cho ông. Chắc bà ấy sẽ cười khúc khích và sẽ làm Grant xấu hổ bằng cả sự lịch thiệp và nỗi bối rối của mình, và theo cách nào đó, bà ấy sẽ không trả lời có hoặc không. Hoặc có thể bà sẽ chọn một trong hai câu trả lời mà dù thế nào cũng không thỏa mãn.

Kristy là y tá duy nhất Grant có thể trò chuyện. Một vài người khác coi mọi thứ như một trò đùa. Một y tá già, khá thô thiển khi cười và nói ông: “Aubrey và Fiona đó hả? Thắm thiết ra phết, phải không?”

Theo như Kristy kể lại, Aubrey từng làm đại lý cho một công ty bán thuốc diệt cỏ dại – “và tất cả những thứ như thế” – cho nông dân.

“Ông ấy là người đàng hoàng,” cô nói, và Grant không hiểu điều này có nghĩa Aubrey là người thật thà, rộng rãi và tử tế với mọi người, hay là ông ta là kẻ có khiếu ăn nói, mặc đẹp và lái xe xịn. Có lẽ cả hai nghĩa.

Và khi ông ta chưa già, thậm chí chưa nghỉ hưu, ông ấy đã trải qua một đận sức khỏe suy sụp một cách bất thường.

“Vợ Aubrey chăm nom ông ta, thường là ở nhà. Bà ta chỉ gửi ông ấy ở đây tạm thời để được nghỉ ngơi. Em gái muốn bà ta đến Florida. Đấy, bà ta cũng khổ sở lắm, ông sao có thể ngờ một người đàn ông như Aubrey – họ chỉ đi nghỉ đâu đó và ông ta đại loại là bị một con bọ đốt, làm cho sốt rất cao. Và ông ấy hôn mê rồi cứ thế như bây giờ.”

Grant hỏi cô về tình cảm giữa những bệnh nhân ở đây. Chúng có bao giờ đi quá giới hạn không? Giờ thì ông đã có thể giả vờ nói về chuyện này theo kiểu một kẻ hóng chuyện như thế, may ra ông khỏi phải nghe những bài giảng giải.

“Còn tùy thuộc vào ý ông muốn hỏi,” cô đáp. Cô tiếp tục ghi chép vào cuốn sổ theo dõi trong khi quyết định nên trả lời Grant ra sao. Khi viết xong, cô ngẩng lên nhìn ông với một nụ cười thẳng thắn.

“Vấn đề chúng ta đang phải đối mặt ở đây, buồn cười là ở chỗ, tình cảm thường xảy ra giữa những người trước đó chẳng thân thiện với nhau chút nào. Họ thậm chí có thể không biết gì về nhau, ngoài việc biết người kia là đàn ông hay đàn bà. Ta thường cho rằng các ông già luôn muốn mò đến giường các bà lão, nhưng ông biết không, tôi biết có đến 50% các trường hợp là diễn tiến theo chiều ngược lại. Các cụ bà thích gần gũi với các cụ ông. Có lẽ các bà ấy vẫn chưa quá mức già cỗi, tôi đoán vậy.”

Sau đó, cô không cười nữa, như thể vì sợ mình đã quá nhiều lời, hay nói quá vô tâm.

“Đừng hiểu sai ý tôi,” cô nói. ” Tôi không có ý nói đến Fiona. Fiona là một quý bà.”

Đúng, còn Aubrey thì nghĩ sao về bà? Grant muốn nói thế. Nhưng ông nhớ lại rằng Aubrey còn đang ngồi xe lăn.

“Fiona quả là một quý bà đích thực,” Kristy nói với một giọng quả quyết càng làm Grant thêm băn khoăn. Ông tưởng tượng trong đầu hình ảnh Fiona, mặc trên mình một trong những chiếc đầm ngủ thắt nơ xanh với viền ren, lần dở tấm trải giường của lão già nào đó đầy vẻ hí hửng.

“Vâng, tôi đôi khi cũng tự hỏi…,” ông ngập ngừng.

Kristy rành rọt, “Ông tự hỏi điều gì?”

“Tôi tự hỏi biết đâu bà ấy đang đóng kịch với tôi.”

“Hả, ông nói sao?”

***

Hầu như chiều nào cũng thấy hai người đó ở bàn chơi bài. Aubrey có bàn tay to bè và những ngón tay thô dày. Ông ta chật vật sắp xếp những quân bài. Fiona phải xáo và chia bài thay và đôi khi nhanh tay vuốt thẳng quân bài đang sắp tuột khỏi tay lão. Từ bên kia căn phòng, Grant dõi theo từng cử động như tên bắn và điệu cười hối lỗi chớp nhoáng của Fiona. Ông thấy được cái cau mày hay thường thấy ở những ông chồng khó tính của Aubrey mỗi khi một làn tóc của Fiona chạm vào má ông ta. Aubrey thích tỏ vẻ thờ ơ lạnh nhạt với Fiona khi bà ấy ở gần mình.

Nhưng ông ta cứ ngồi yên, khuôn mặt trầm trầm, nặng nề, nhìn Fiona mỉm cười chào Grant, rồi đẩy lùi chiếc ghế mình và tiến đến mời ông tách trà – điều này cho thấy bà đã chấp nhận quyền hiện diện của Grant ở đây. Rồi ông ta để mặc những quân bài tuột khỏi tay mình rơi xuống sàn nhà và thế là phá hỏng cả ván bài.

Và Fiona lại phải tất tả thu nhặt mọi thứ lại.

Nếu Fiona và Aubrey không ở bàn chơi bài, có thể họ đang dạo bộ dọc theo sảnh, Aubrey một tay bám vào thanh vịn, một tay nắm lấy cánh tay hoặc khoác vai Fiona. Các y tá thực sự cảm phục khi thấy Fiona làm cho lão rời khỏi cái xe lăn, cho dù nếu đi xa hơn – đến khu nhà trồng cây đầu bên này tòa nhà hoặc phòng TV đầu bên kia tòa nhà chẳng hạn – thì vẫn cần phải dùng đến.

Phòng xem TV có vẻ lúc nào cũng để kênh thể thao và Aubrey luôn chỉ xem môn thể thao h́nh như lão yêu thích nhất – golf. Grant không ngại ngồi xem cùng họ. Ông ngồi ở cách họ vài ghế. Trên màn hình lớn, những nhóm nhỏ khán giả và bình luận viên chạy theo sau các golf thủ quanh cái sân xanh yên ắng, và vào những lúc thích hợp thì vỗ tay rất nghi thức. Nhưng sẽ im bặt mỗi khi các tay golf thực hiện cú xoay người và quả bóng bay lên thật đơn độc xuyên qua màn trời. Aubrey, Fiona, Grant và có thể cũng có nhiều người khác ngồi xem, nín thở, sau đó Aubrey luôn là người lên trước tiên, thể hiện sự đắc ý hoặc thất vọng. Fiona sẽ hùa theo với cùng một ý đó chỉ vài giây sau.

Trong nhà kính trồng cây tĩnh lặng hơn nhiều. Bộ đôi hay chọn vị trí ngồi dưới vòm cây nhiệt đới xanh tươi, um tùm nhất, Grant đủ tự chủ để không xâm phạm không gian đó. Xen lẫn trong tiếng xào xạc của cây lá và tiếng nước tí tách là giọng nói dịu dàng và tiếng cười của Fiona.

Rồi đột nhiên có chuỗi âm thanh nghe như tiếng cười ngặt nghẽo. Là ai cười thế?

Mà có thể chẳng phải ai cười – có lẽ đó là tiếng của một trong những con chim sặc sỡ phá đám ở trong góc lồng kia.

Aubrey cũng nói, dù giọng của ông ta có thể không giống như trước đây. Lão dường như đang nói gì đó, thứ âm thanh nghe nặng trịch. Cẩn thận nhé. Hắn ta đang ở đây. Mình ạ.

Ở mặt đáy xanh dương của cái hồ dưới chân đài phun nước có vài đồng xu cầu nguyện. Grant chưa bao giờ thực sự chứng kiến người nào ném xu vào đó. Ông nhìn chăm chú vào những đồng 5, 10, 25 xu, tự hỏi rằng phải chăng người ta dán chúng vào gạch men lát đáy bể – một chi tiết trang trí khác của tòa nhà.

***

Đôi bạn tuổi hoa niên ở sân đấu bóng chày, họ ngồi hàng trên cùng của khán đài, tách khỏi đám bạn bè của cậu con trai. Giữa hai người chỉ có một thanh gỗ trơ mấy inch ngăn cách, bóng tối buông xuống, hơi lạnh của buổi chiều muộn cuối hạ nhanh chóng lan tỏa. Những bàn tay ngập ngừng, cơ thể hai người đều như bồn chồn, và mắt họ vẫn không rời trận bóng. Nếu đang mặc áo khoác, ông sẽ cởi ra, để choàng nó lên đôi vai hẹp của bà. Dưới lớp áo ấy, ông có thể kéo bà lại gần hơn, siết những ngón tay của mình vào cánh tay mềm mại của ấy.

Chứ không như bọn trẻ bây giờ, có thể quá trớn với nhau từ lần hẹn đầu tiên.

Cánh tay gầy và mềm mại của Fiona. Dục vọng tuổi trẻ làm Fiona ngỡ ngàng, nó truyền đi khắp cơ thể trinh nguyên dịu dàng của bà, khi bóng tối trở nên dày đặc hơn bên kia vùng ánh sáng phủ bụi trên sân bóng.

***

Ở Meadowlake có rất ít gương soi, nên Grant không phải bắt gặp cái cảnh đeo bám và rình mò của chính mình. Nhưng cũng có lúc ông nhận ra mình ngu ngốc, thảm hại thế nào, và hẳn trông ông điên rồ lắm khi cứ nhằng nhẵng bám theo sau Fiona và Aubrey. Và chẳng có cơ may nào để có thể đối đầu với bà, hoặc ông ta. Càng ngày ông lại càng không chắc chắn về quyền được hiện diện ở đó, nhưng lại không thể rút lui. Ngay cả ở nhà, khi ngồi bàn làm việc hay dọn dẹp, hay khi xúc tuyết khi cần thiết, trong đầu ông như có một cái máy gõ nhịp nhắc nhở về Meadowlake, về chuyến thăm tiếp theo của ông. Ðôi lúc ông tưởng mình như một anh chàng bướng bỉnh, cố đeo đuổi một mối tình vô vọng, có khi lại giống một gã khốn khổ thường bám đuôi những quý cô danh giá trên đường phố, cứ tin rằng rồi một ngày họ sẽ quay lại và nhận ra tấm chân tình.

Grant đã rất cố gắng, ông chỉ còn đến viện vào thứ tư và thứ bảy. Ngay cả khi ở đó, ông cũng để ý quan sát thêm về nơi này như là một vị khách bình thường hoặc một người làm công tác thanh tra hay nghiên cứu xã hội.

Thứ bảy là ngày lễ nên không khí ở viện vừa nhộn nhịp vừa căng thẳng. Các gia đình từng tốp kéo đến. Thường là các bà mẹ phải lo lắng mọi thứ, họ giống như những chú chó chăn cừu vừa vui vẻ vừa phải van xin những con cừu là các ông bố và lũ con nhỏ. Chỉ những đứa nhỏ nhất là không cần lo âu. Chúng ngay lập tức nhận thấy các ô gạch vuông màu trắng và xanh lá lát sàn ở sảnh là sân chơi của mình, chúng chọn một ô màu để đi, còn ô màu khác thì nhảy qua. Những đứa bạo hơn có thể chơi trò đu xe lăn. Một số đứa cứng đầu cứ tiếp tục những trò chơi đó bất chấp lời quát mắng, đến nỗi cuối cùng bị đưa ra xe hơi. Và những ông bố hay những đứa anh rất vui vẻ, sẵn sàng nhanh nhảu nhận làm nhiệm vụ này thay cho việc thăm hỏi.

Phụ nữ sẽ làm công việc chuyện trò. Những ông bố tỏ ra biết điều khi ở tình huống này, những đứa con mới lớn động một tí lại bị mắng mỏ. Những bệnh nhân có người nhà đến thăm ngồi trên chiếc xe lăn hoặc lập cập chống gậy đi lại, hoặc bước đi một cách khó khăn, không cần ai dìu, đi lên trước cả con cháu, như muốn chứng tỏ tình trạng được cải thiện của mình nhưng ánh mắt vẫn đờ đẫn, miệng lẩm bẩm tuyệt vọng vì áp lực căng thẳng. Bị vây quanh bởi những người “ở ngoài vào”, những người “sống ở trong” không còn trông giống như thường ngày ở viện nữa. Râu cứng trên cằm của các bà cụ có thể đã được cạo nhẵn, những đôi mắt xấu xí có thể đã được che đi sau cặp kính râm, những phát ngôn lung tung có thể được kiểm soát bằng thuốc, nhưng tất cả không giấu đi được vẻ đờ đẫn, sự cứng đơ như những bóng ma – có vẻ như con người ta bằng lòng khi trở thành ký ức của chính mình, họ hiện hữu như những bức ảnh cuối cùng của chính mình.

Giờ Grant đã hiểu rõ hơn cảm giác của ông Farquar. Những người ở đây, kể cả những người không tham gia bất cứ hoạt động nào mà chỉ ngồi nhìn những cánh cửa ra vào hay là trông ra ngoài cửa sổ – đang sống một cuộc đời bận rộn khác trong tâm tưởng của họ (chưa nói tới đời sống khác của cơ thể họ, những co thắt bất thường của đường ruột, những cảm giác nhói hay nhức ở khắp nơi trên cơ thể). Đó là một đời sống mà trong nhiều trường hợp, có thể sẽ rất khó mô tả hay ám chỉ về nó trước sự hiện diện của những vị khách. Tất cả những gì họ có thể làm là ngồi im trên xe lăn hoặc bằng cách nào đó đẩy mình loanh quanh với hy vọng sẽ nhớ ra thứ gì để khoe hay chủ đề gì đó để nói.

Có thể khoe về nhà kính trồng cây và cái TV màn ảnh rộng. Các ông bố sẽ nghĩ hẳn đó là những chuyện hay ho. Còn các bà mẹ sẽ khen đám dương xỉ tuyệt đẹp. Rồi cả nhà sẽ sớm ngồi xuống quanh cái bàn nhỏ và cùng ăn kem – mấy cô bé, cậu bé tuổi mới lớn hẳn sẽ chẳng thích gì chuyện ăn kem, chúng nghĩ cảnh cà nhà ăn kem là một cảnh tượng cực khó chịu. Những người phụ nữ lau những vết kem nhoe nhoét dây trên cái cằm run run của các cụ già còn đám đàn ông thì thường quay mặt đi.

Chắc cái nghi thức này hẳn cũng có thể đem đến một cảm giác hài lòng nào đó cho thành viên trong gia đình, và có lẽmột ngày nào đó, ngay cả đám trẻ mới lớn cũng thấy vui vẻ vì chúng đã đến đây. Grant không am hiểu lắm những vấn đề thuộc về gia đình.

Không có con cháu nào đến thăm Aubrey, và vì họ không có chỗ chơi bài nữa – bàn chơi bài đã bị lấy đi để phục vụ bữa tiệc kem – nên ông ta cùng Fiona thường tránh những buổi hội họp ngày thứ bảy. Khu nhà kính đã trở nên quá quen thuộc cho những cuộc trò chuyện thân mật giữa hai người.

Và dĩ nhiên, còn một nơi nữa để họ tâm tình: căn phòng đóng kín cửa của Fiona. Grant không thể nào gõ cửa, dù ông đứng đó khá lâu, nhìn chăm chăm vào cái biển tên được trang trí đậm chất Disney với cảm giác khó chịu cực độ.

Hoặc họ có thể ở trong phòng Aubrey. Nhưng Grant không biết phòng đó ở đâu. Càng thăm quan nhiều, ông càng khám phá ra nhiều hành lang và chỗ ngồi, đến nỗi khi đi lang thang quanh viện, có khi ông vẫn lạc đường. Ông phải lấy một bức tranh, hay một cái ghế để đánh dấu địa điểm, nhưng tuần sau khi quay lại, những vật ông chọn để đánh dấu lại bị chuyển đi chỗ nào khác rồi. Ông không kể chuyện đó với Kristy, sợ rằng cô sẽ nghĩ chính ông cũng đang mắc một chứng rối loạn tâm thần nào đó. Grant đoán người ta thay đổi vị trí hay sắp xếp lại đồ vật thường xuyên chính là vì bệnh nhân – để làm những cuộc dạo bộ hằng ngày của họ trở nên thú vị hơn.

Grant cũng không kể chuyện có lần ông nhìn thấy một phụ nữ từ đằng xa mà ông đoán là Fiona, nhưng rồi lại nghĩ chắc không phải, vì cách bà ta ăn mặc không giống như vợ ông. Đã bao giờ Fiona mặc những cái áo có hoa sáng màu với quần thường ngày màu xanh điện quang đâu? Vào một ngày thứ bảy, Grant nhìn ra cửa sổ và thấy Fiona – chắc chắn là bà ấy – đang đẩy xe lăn cho Aubrey trên con đường đã cào nhẵn băng tuyết. Bà ấy đội cái mũ len ngớ ngẩn, khoác cái áo có những xoáy xanh và tím -kiểu trang phục thường thấy phụ nữ vùng này mặc khi đi siêu thị.

Sự thực là ở đây người ta chẳng bận tâm phân loại quần áo của những bệnh nhân nữ mà nhìn chung đều có cùng khổ người như nhau. Và họ cũng nghĩ rằng người mặc dù sao cũng chẳng thể nhận ra quần áo họ.

Họ còn cắt tóc bà ấy nữa. Họ cắt mất cả quầng hào quang thiên thần trên mái tóc ấy. Vào một ngày thứ tư, khi mọi thứ trở về bình thường, những ván bài lại diễn ra, mấy bà già trong phòng Thủ công lại làm hoa lụa và may quần áo búp bê mà chẳng có ai xung quanh quấy rầy hay trầm trồ khen ngợi, và khi Aubrey và Fiona lại ngồi ở đó, Grant có được cơ hội trò chuyện ngắn, vừa thân thiện, vừa bực bội với vợ mình, ông hỏi bà: “Sao họ có thể cắt mất mái tóc của em?” Fiona rờ tay lên đầu kiểm tra.

“Thì sao? – tôi không hề lưu luyến nó,” bà nói.

***

Grant nghĩ ông nên tìm hiểu chuyện gì đang diễn ra trên tầng hai, nơi ở của những bệnh nhân mà theo cách nói của Kristy là đã hoàn toàn mất trí. Những người đi đi lại lại dưới tầng một tự nói chuyện một mình hay buông ra những câu hỏi kì quặc cho ai đi ngang qua, thí dụ, “Có phải tôi để quên cái áo len ở nhà thờ không?” mới chỉ là những ca mất một phần trí nhớ.

Nhưng thế chưa đủ để đánh giá.

Có cầu thang dẫn lên, nhưng cửa đi vào trong chỉ nhân viên – những người có chìa khóa – mới vào được. Không thể vào thang máy được nếu nhân viên không ấn nút ở đằng sau bàn tiếp tân.

Người ta làm gì mỗi ngày, khi họ đã mất trí?

“Vài người chỉ ngồi vậy”, Kristy kể. “Có người ngồi khóc. Một số thì la hét. Ông không muốn nghe đâu”.

Cũng có khi họ nhớ lại được.

“Thế này nhé, chẳng hạn ông đến thăm họ liên tục một năm nhưng họ chẳng bao giờ phân biệt nổi ông với những ông khác. Rồi đến một ngày, họ tỏ ra hoan hỉ “Ồ, chào, bao giờ thì ta về nhà?”. Đột nhiên trở lại bình thường”.

Nhưng chẳng được lâu đâu.

“Người ta nghĩ, chà, mọi chuyện lại ổn rồi. Nhưng thoắt một cái, bệnh nhân lại quên hết ngay”. Kristy bật ngón tay đánh “tách” cái. “Nhanh thế đấy”.

***

Ở thị trấn nơi Grant từng dạy học có một hiệu sách mà vợ chồng ông vẫn ghé qua đôi lần một năm. Ông trở lại hiệu sách đó một mình. Ông không muốn mua gì, nhưng ông đã viết ra một danh sách, chọn ra vài quyển có trong danh sách đó và mua thêm mấy quyển khác mà ông tình cờ chú ý. Sách về Iceland. Một cuốn sách có tranh màu nước thế kỉ XIX của một nhà du hành nữ từng đặt chân đến Iceland.

Fiona chưa từng học tiếng mẹ đẻ và bà cũng chưa bao giờ tỏ ra có nhiều quan tâm đến những câu chuyện của vùng đất ấy – những huyền thoại mà chồng bà đã giảng dạy, nghiên cứu, và giờ vẫn tiếp tục nghiên cứu. Bà hay gọi những anh hùng trong truyện là “Njal xa xưa” hay “Snorri xa xưa”[6]. Nhưng vài năm gần đây, bà đã dần quan tâm đến đất nước này và tra cứu trong những cuốn sách du lịch. Bà đọc về chuyến đi của William Morris và Auden. Không phải là bà đã có kế hoạch du lịch đến Iceland. Bà nói, thời tiết nơi đó quá khủng khiếp. Thêm nữa – bà nói thêm – cũng có những nơi ta nên nghĩ đến nó, tìm hiểu về nó, chờ đợi được đến đó, dẫu rằng chuyến đi có thể chẳng bao giờ thực hiện được.

***

Hồi Grant bắt đầu dạy Văn học Anglo-Saxon và Bắc Âu, sinh viên lớp ông đa phần là những sinh viên bình thường. Nhưng sau vài năm, ông nhận ra một thay đổi. Những sinh viên nữ đã lập gia đình bắt đầu quay lại trường học. Không phải họ học vì bằng cấp, để có công ăn việc làm tốt hơn, mà đơn giản là để giữ cho mình suy nghĩ về điều gì đó thú vị hơn là việc nội trợ và những thú vui tầm thường. Để làm cuộc sống của mình thêm phong phú. Và như một hệ quả tự nhiên, những giảng viên nam dạy những điều thú vị cho họ trở thành một phần của cuộc sống phong phú ấy, khi mà đối với những học viên nữ này, hình tượng người thầy có nhiều bí ẩn và đáng khao khát hơn là những ông chồng mà hằng ngày họ phải phục vụ ăn uống và phải ngủ cùng.

Những ngành họ chọn học thường là Tâm lí học hoặc Lịch sử văn hóa hay Văn học Anh. Khảo cổ học và Ngôn ngữ học thỉnh thoảng cũng có người chọn, nhưng họ thường bỏ khi thấy mấy ngành đó quá nặng. Những người đăng ký học khóa của Grant có thể có xuất thân Scandinavia – giống như Fiona – hoặc họ có thể đã học về thần thoại Bắc Âu từ Wagner[7] hay các tiểu thuyết lịch sử. Cũng có vài người nghĩ rằng Grant sẽ dạy ngôn ngữ Celtic[8] và với họ mọi thứ liên quan đến Celtic đều có một sức quyến rũ huyền bí.

Tại văn phòng của mình, Grant đã nói với những kẻ khao khát ấy khá thẳng thừng.

“Nếu các bạn muốn học một ngoại ngữ hay, hãy học tiếng Tây Ban Nha. Bạn có thể sử dụng được khi đến Mexico.”

Một số đã nghe theo lời khuyên đó và chuyển lớp. Những người còn lại dường như rung động một cách rất riêng tư trước giọng điệu quyền uy ấy của ông thầy. Họ rất chịu khó học hành và mang tới cho văn phòng của Grant, cho đời sống vốn đã ổn định và viên mãn của ông, một ý thức phục tùng tự giác đến ngạc nhiên của những phụ nữ trưởng thành, họ phấp phỏng hy vọng nhận được tín hiệu chấp nhận từ phía ông thầy.

Grant đã “gật đầu” với một học viên tên Jacqui Adams. Cô ta là hình ảnh trái ngược hẳn với Fiona—thấp lùn, đậm người, mắt sẫm màu, một tip người bộc trực. Thật thà đến độ không biết đùa. Cuộc tình kéo dài quãng một năm, cho đến khi chồng cô ta phải chuyển công tác. Khi từ biệt trong xe hơi của Jacqui, bống nhiên chị ta không ngừng run lên. Như thể đột ngột bị hạ thân nhiệt vậy. Sau này có vài lần Jacqui viết thư cho Grant, nhưng ông thấy lời lẽ trong thư trau chuốt, gọt giũa quá đỗi, đến mức không biết nên hồi âm ra sao. Ông đành mặc kệ chuyện hồi âm, và cũng trong thời gian này, một cách bất ngờ và không thể hiểu nổi, ông lại có quan hệ tình cảm với một cô gái mà chỉ đáng tuổi con gái của Jacqui.

Trong khi Grant vẫn đang cặp với Jacqui thì ông còn rơi vào một cơn “say nắng” khác, quái quỷ hơn. Những cô gái trẻ tóc dài, đi xăng-đan đến văn phòng thầy, không ngại ngần tuyên bố mình sẵn sàng dâng hiến cho thầy. Những sự tiếp xúc thận trọng, những gợi ý nhẹ nhàng về cảm xúc mà ông cần ở Jacqui nay bị vứt ra ngoài cửa sổ. Grant như bị cuốn theo một cơn lốc xoáy, cũng như nhiều đồng nghiệp khác của ông, ước muốn biến thành hành động chóng vánh đến nỗi ông phải băn khoăn không biết có điều gì bị bỏ lỡ hay không. Nhưng ai có thì giờ hối tiếc chứ? Ông chỉ nghe tiếng gọi của những mối quan hệ xuất hiện đồng thời, những dục vọng, ham mê man dại và liều lĩnh. Điều tiếng lan truyền, với những câu chuyện được kịch tính hóa một cách lâm li, đau khổ, nhưng có cảm giác rằng như vậy còn tốt hơn. Có trả thù; có đuổi việc. Nhưng kẻ bị đuổi việc chuyển đến giảng dạy tại một trường nhỏ hơn, bao dung hơn, hoặc Trung tâm Giáo dục cộng đồng, những người vợ bị bỏ rơi đành cố vượt qua cú sốc, họ đổi cách ăn mặc và tỏ ra dễ dãi, lả lơi giống như các cô gái đã dụ dỗ chồng họ. Những buổi tiệc tùng ở trường đại học, vốn chẳng mấy khi có sự bất ngờ, hóa ra là một bãi mìn. Một trận dịch bùng phát, lây lan như cúm Tây Ban Nha. Chỉ có điều ở đây người ta chạy theo mầm bệnh, và hầu như rất ít kẻ từ 16 đến 60 tuổi sẵn lòng chấp nhận đứng ngoài cuộc.

Tuy nhiên, Fiona có vẻ như sẵn lòng đứng ngoài vùng dịch đam mê ấy. Mẹ của bà sắp qua đời, kinh nghiệm làm việc tại bệnh viện đã khiến Fiona chuyển từ công việc hàng ngày ở phòng đăng ký khám bệnh qua một công việc mới. Grant không ra nước ngoài, ít nhất là khác với những đồng nghiệp xung quanh ông. Ông không để cho người đàn bà nào khác gần gũi với ông như Jacqui trước đây. Điều ông cảm nhận thấy rõ nhất ở mình dạo đó là ông rất sung sức. Từ năm 12 tuổi, ông đã rất dễ lên cân, vậy mà thời gian ấy, cơ thể ông hầu như không trở nên nặng nề. Ông có thể leo cầu thang hai bậc một. Trước đó, ông chưa từng cảm nhận được nét rực rỡ của những vầng mây tan và ánh hoàng hôn mùa đông loang loáng khi nhìn từ cửa sổ phòng làm việc, ông chưa bao giờ bị thú hút bởi ánh sáng lòa nhòa của cây đèn cổ hắt qua những tấm rèm phòng khách của nhà láng giềng, ông ít khi chú ý đến tiếng trẻ khóc trong công viên lúc chiều muộn vì không muốn rời ngọn đồi nơi chúng chơi trượt băng. Sang đến mùa hạ, Grant học thuộc tên các loài hoa. Được mẹ vợ hướng dẫn – khi đó, bà gần như đã mất giọng, ông đã mạnh dạn đứng trước lớp diễn xướng và dịch bản tụng ca sử thi trang trọng và bạo liệt – bản Höfuðlausn, tác phẩm tôn vinh vua Eric “Rìu máu” được sáng tác bởi một nghệ nhân hát rong mà trước đó nhà vua đã định kết án tử hình. (Và nghệ nhân ấy sau đó đã giữ được mạng sống của mình, được thả tự do bởi nhà vua tha tội, và bởi chính sức mạnh của thơ ca). Cả lớp đều vỗ tay thích thú – ngay cả những học viên tính vốn nhu mì mà Grant vẫn thường tếu táo với họ, “Này, đợi ngoài hội trường nhé?”. Khi lái xe về nhà ngày hôm đó hay những hôm sau, tự nhiên ông thấy lởn vởn trong đầu mình một câu Kinh Thánh nhại rất vô nghĩa mà cũng có phần báng bổ:

Người càng thêm khôn ngoan, thân hình càng cao lớn, càng được đẹp lòng Ðức Chúa Trời và loài người [9].

Tự nhiên nó làm ông bối rối, khiến ông ớn lạnh như thể có linh cảm gì đó. Mà quả là có chuyện thật. Nhưng trước khi chuyện ấy xảy ra, mọi chuyện dường như không có gì là bất thường cả.

* * *

Ông mang theo quyển sách về Iceland ấy trong lần kế tiếp đến Meadowlake. Đó là một ngày thứ tư. Ông tìm Fiona ở bàn chơi bài nhưng không thấy.

Một người phụ nữ gọi với ra, “Bà ấy không ở đây đâu. Bà ấy bị ốm”. Giọng của bà ấy vừa tỏ ra như thể mình là người quan trọng ở đây lại vừa có cái gì đó vui vui – vui vì mình đã nhận ra ông trong khi ông thì chẳng biết gì về người phụ nữ này. Và có thể bà ấy thấy vui, thấy mình quan trọng cũng bởi nghĩ mình biết quá rõ về Fiona, về cuộc sống của vợ ông ở nơi đây, biết nhiều hơn chính ông nữa.

“Ông ấy cũng không có đây đâu,” bà nói thêm.

Grant đi tìm Kristy.

“Không có gì nghiêm trọng đâu,” cô nói, khi Grant hỏi về tình hình của Fiona. “Chỉ là buổi nay bà ấy muốn nằm nghỉ, hơi khó chịu một chút ấy mà.”

Fiona ngồi dựng người trên giường. Grant chưa từng để ý, ông không mấy khi vào hẳn căn phòng này, rằng đây là giường chuyên dụng của bệnh viện và nó có thể dựng lên cho bệnh nhân ngồi dựa vào. Fiona mặc một trong những chiếc áo cổ lọ màu trắng, khá trẻ so với tuổi của mình, gương mặt của bà nhợt nhạt, trắng bệch ra như bị phủ một lớp bột mì.

Aubrey – ngồi cạnh Fiona – trên chiếc xe lăn được đẩy sát tận mép giường. Thay vì mặc chiếc áo sơ mi không cài khuy cổ như mọi khi, hôm nay ông ta mặc áo khoác, thắt cà vạt. Chiếc mũ bằng vải tuýt lịch lãm của ông ta đặt ở trên giường. Trông ông ta như thể vừa mới ra ngoài để bàn một việc quan trọng.

Đề gặp luật sư của ông ta chăng? Hay giám đốc ngân hàng của mình? Hay có việc phải bàn với người tổ chức tổ chức tang lễ?

Nhưng dù là việc gì đi nữa, thì có lẽ nó chính là nguyên nhân khiến giờ đây ông ta trông rất mệt mỏi. Thần sắc xanh xám, ủ ê.

Cả hai ngẩng lên nhìn Grant chằm chằm với vẻ e sợ và đau khổ nhưng rồi họ như thở phào nhẹ nhõm, nếu không muốn nói là họ tự nhiên như không, khi nhận ra ông là ai.

Không phải là người họ tưởng.

Cả hai nắm chặt tay nhau và nhất quyết không buông rời.

Cái mũ trên giường. Áo khoác và cà vạt.

Aubrey không phải mới ra ngoài rồi trở về. Vấn đề không phải là ông vừa đến chỗ nào hay đã gặp gỡ ai. Mà là ông ta sắp đi đâu.

Grant để cuốn sách trên giường bên cạnh bàn tay còn lại của Fiona.

“Sách về Iceland,” ông giới thiệu. “Anh nghĩ em có thể muốn xem.”

“Gì cơ, ồ, cảm ơn ông,” Fiona đáp. Bà còn không buồn liếc nhìn nó. Ông đặt tay bà lên cuốn sách.

“Iceland,” Grant nhắc lại.

“Ice-land.” Fiona lẩm nhẩm. Âm đầu tiên nghe có phần như háo hức nhưng ngay âm tiết sau, giọng của bà lại trầm xuống, thờ ơ. Dù sao thì bà cũng cần phải quay lại quan tâm đến Aubrey, ông ta đang rút bàn tay dày cộp, to bè của mình ra khỏi tay bà.

“Sao thế?” bà ân cần. “Sao thế, mình ơi?”.

Trước đây Grant chưa từng thấy Fiona sử dụng cách xưng hô thắm thiết như vậy.

“À được rồi,” bà nói. “Của mình đây.” Và bà rút một xấp giấy ăn trongchiếc hộp đặt cạnh giường.

Aubrey bắt đầu khóc. Nước mũi chảy ròng ròng, ông ta lo lắng vì trở thành một cảnh tượng đáng thương hại, nhất là lại trước mặt Grant như thế này.

“Đây. Đây,” Fiona dỗ dành. Bà định lau nước mắt nước mũi cho Aubrey, và giá như chỉ có hai người họ bên nhau, ông đã để yên cho bà làm thế. Nhưng có Grant ở đây, Aubrey không cho phép điều đó. Ông cố nắm lấy xấp giấy rồi chấm nước mắt rất vụng về, may mắn là dẫu sao ông vẫn còn làm được việc đó.

Trong lúc đó, Fiona quay sang Grant.

“Liệu ông có giúp chúng tôi được không?” bà thì thào. “Tôi từng thấy ông nói chuyện với họ …”

Aubrey tạo một tiếng động tỏ ý phản đối, hoặc muốn nói ông rất mệt mỏi, hay ghê tởm. Rồi ông ta như muốn nhoài mình về phía trước để ngã vào vòng tay Fiona. Bà toài nửa người ra ngoài giường để đỡ lấy Aubrey và giữ chặt lấy lão. Thật trớ trêu nếu Grant lại giúp Fiona một tay. Kể ra nếu như Aubrey đổ nhào xuống sàn nhà, chắc Grant sẽ không ngại đỡ ông ta dậy.

“Suỵt,” Fiona an ủi. “Mình à, khẽ chứ. Rồi ta sẽ tìm gặp nhau. Phải thế chứ. Tôi sẽ đến tìm và gặp mình. Mình cũng đến tìm gặp tôi.”

Aubrey lại phát ra cái âm thanh khó chịu đó khi mặt lão dựa vào ngực Fiona, và Grant chẳng còn cử chỉ nào đứng đắn hơn là bỏ ra ngoài.

“Tôi chỉ mong vợ ông ấy nhanh chóng đến đây,” Kristy chia sẻ khi bắt gặp Grant. “Tôi ước bà ta đến mang ông ấy đi, chấm dứt cái cảnh bi lụy này. Chúng tôi chuẩn bị phải cho Fiona ăn tối rồi, làm sao bà ấy nuốt nổi khi lão cứ quấn lấy như thế?”

Grant hỏi, “Tôi nên ở lại không?”

“Để làm gì chứ? Ông cũng biết thừa là bà không ốm đâu gì mà.”

“Cho bà ấy có bạn thôi,” ông đáp.

Kristy lắc đầu.

“Họ phải tự mình vượt qua được những đau đớn này. Thường thì họ chỉ nhớ ngắn hạn thôi. Cũng không quá lâu đâu.”

Kristy không hẳn là lạnh lùng vô cảm. Trong thời gian quen biết cô, Grant biết thêm một vài điều về cuộc sống của cô y tá. Cô có bốn con nhỏ. Cô không biết chồng mình đang ở đâu nhưng cô nghĩ là Alberta. Đứa con trai nhỏ của cô mắc bệnh hen nặng đến mức nó có thể đã chết vào một đêm tháng Giêng nếu như cô không kịp đưa đi cấp cứu. Nó không dùng thuốc phiện, nhưng còn thằng anh nó thì Kristy cũng không chắc.

Đối với cô, Grant, Fiona và cả Aubrey nữa quá may mắn. Họ sống cuộc đời đến tuổi này rồi và chẳng có quá nhiều khó khăn. Những gì họ đang trải qua là vì họ đã già, mà điều đó thì tính làm gì.

Grant ra về mà không trở lại phòng Fiona nữa. Ông nhận thấy ngoài này gió rất ấm và bầy quạ đang kêu xáo xác náo động. Trong bãi xe, một phụ nữ mặc bộ đồ len kẻ ô vuông đang nhấc một chiếc xe lăn xếp ra khỏi cốp xe của mình.

***

Con phố mà Grant lái xe xuống được gọi là đường Chim Ưng Đen. Tất cả những con phố quanh đây đều được đặt làm tên cho các đội khúc côn cầu tranh giải Hockey nhà nghề cấp quốc gia trước đây. Đây là khu vực xa trung tâm nhất của thị trấn nằm gần Meadowlake này. Ngày trước, vợ chồng ông cũng hay mua sắm trong thị trấn, nhưng chưa hẳn quen thuộc với bất kỳ khu nào, ngoại trừ con phố chính.

Nhà cửa ở đây trông có vẻ như được xây dựng cùng thời kì, có lẽ 30-40 năm trước. Phố rộng rãi và quanh co, không có vỉa hè – gợi nhớ cái thời mà người ta dường như nghĩ trong tương lai sẽ chẳng có ai còn đi bộ nhiều nữa. Những người bạn của vợ chồng Grant đã chuyển đến sống ở nơi giống thế này khi họ bắt đầu có con. Ban đầu họ còn nuối tiếc về việc phải chuyển đi. Họ gọi việc chuyển nhà của mình là “đi về quê ăn thịt nướng”.

Những gia đình trẻ tiếp tục sống ở đây. Những ngôi nhà có vành bóng rổ đóng trên cửa garage, và những chiếc xe đạp ba bánh dựng trên lối lái xe vào nhà. Nhưng có một vài ngôi nhà đang xuống cấp nhiều so với tình trạng ban đầu của chúng. Sân vườn hằn vết bánh xe, cửa sổ được phủ bằng giấy thiếc hoặc những lá cờ bạc màu.

Rồi những ngôi nhà được cho thuê. Người thuê là những gã trai trẻ độc thân, hay trở lại đời sống độc thân.

Một số đồ đạc dường như được những người chuyển đến từ lúc nhà mới xây giữ gìn hết sức có thể – đó là những người không có tiền hoặc không có nhu cầu chuyển tới nơi nào có điều kiện khá hơn. Những bụi cây đã mọc cao, lớp nhựa vynil trên ván gỗ ngoài giàn khung màu pastel đã gần như bị bợt hết do sơn lại quá nhiều. Những hàng rào hay bờ dậu được găm chặt là dấu hiệu cho biết những đứa trẻ ở đây đều đã trưởng thành và đi xa, các ông bố bà mẹ không còn thấy cần thiết phải giữ khoảng sân này làm chỗ chạy nhảy của bọn trẻ con nghịch ngợm của những nhà mới chuyển đến.

Ngôi nhà mà theo như danh bạ điện thoại là nhà vợ chồng Aubrey có đặc diểm y như thế. Sân trước nhà được lát bằng loại đá lát đường, viền xung quanh là khóm lan dạ hương đứng cứng queo, trông ngỡ như những bông hoa bằng sứ, màu hồng xen lẫn màu xanh dương.

***

Fiona vẫn không hết buồn bã. Bà liên tục bỏ bữa, dù bà vờ như vẫn ăn, bằng cách giấu thức ăn trong khăn ăn. Hai lần một ngày, bà được cho uống thêm ngoài bữa chính và có người ngồi bên theo dõi. Hàng ngày bà vẫn dậy, ra khỏi giừờng, tự mặc được quần áo, nhưng rồi chẳng muốn làm gì khác ngoài việc ngồi u uất trong phòng của mình. Bà sẽ không tập tành chút nào nếu như Kristy hay Grant trong giờ thăm của mình không dẫn bà dạo quanh hành lang hoặc đưa bà ra ngoài trời.

Trong ánh nắng mùa xuân, bà ngồi trên một băng ghế sát tường, khóc thút thít. Vẫn lịch thiệp như ngày nào – bà xin lỗi vì mình khóc, bà không bao giờ tranh cãi về bất kì đề nghị nào hay từ chối trả lời câu hỏi của ai đó. Nhưng bà vẫn cứ khóc. Khóc nhiều làm mắt bà không còn đường viền và mờ đi. Cái áo khoác len của Fiona – nếu đó thực sự là của bà – cài khuy lệch hàng. Bà chưa đến mức bỏ mặc mái tóc không chải hay để móng tay không sạch sẽ, nhưng có vẻ những điều đó rồi sẽ xảy ra.

Kristy nói rằng các cơ của Fiona đang yếu đi, và nếu bà không sớm cải thiện tình trạng này, họ sẽ buộc phải cho Fiona dùng dụng cụ tập đi.

“Nhưng ông biết đấy, một khi có dụng cụ đó, họ sẽ bắt đầu bị phụ thuộc, và rồi họ sẽ không bao giờ muốn đi lại nhiều nữa, chỉ đi đến nơi họ phải đến mà thôi”

“Ông phải sẽ phải vất vả hơn vì vợ mình đấy”, cô nói với Grant. “Hãy cố gắng động viên bà ấy.”

Nhưng Grant không có cơ hội nào để giúp đỡ Fiona. Bà có vẻ vẫn khó chịu với ông, cho dù bà cố che giấu điều đó. Có lẽ vì mỗi khi gặp Grant, bà như bị nhắc lại cái lần cuối bà ở bên Aubrey, khi mà bà đã đề nghị ông giúp đỡ và ông đã không giúp.

Grant thấy bây giờ việc đề cập đến chuyện hôn nhân của hai người chẳng còn ích gì nữa.

Fiona nhất định không xuống phòng ăn lớn, nơi hầu hết những người cũ vẫn đang chơi bài. Và bà cũng chẳng muốn vào phòng xem TV hay đến khu vườn nhà kính.

Bà bảo bà không thích màn hình rộng, nó làm bà đau mắt. Còn tiếng chim ở khu nhà kính rất khó chịu. Và bà cũng chỉ mong người ta sẽ tắt cái đài phun nước đi một thời gian.

Grant để ý thì thấy Fiona chưa một lần ngó đến cuốn sách về Iceland, hay bất kỳ cuốn nào khác trong số sách – ít một cách đáng ngạc nhiên – mà bà mang từ nhà đến. Bà hay ngồi nghỉ trong một pḥng đọc sách, Fiona chọn nó có lẽ cũng vì ít khi có ai ở đó, và nếu Grant lấy một cuốn sách ra khỏi kệ thì bà sẽ nghe ông đọc. Ông ngờ rằng bà ấy cho phép điều đó bởi nó làm cho sự có mặt của ông dễ chịu hơn – bà có thể nhắm mắt lại và lại chìm lắng trong nỗi đau riêng mình. Bởi nếu bà buông xuôi nỗi đau đó dù chỉ một phút thì rồi nó sẽ làm bà nhói buốt hơn khi trở lại. Và đôi khi Grant nghĩ, Fiona nhắm mắt lại để che giấu đi ánh nhìn tuyệt vọng hiển hiện vì sẽ không hay nếu để ông thấy được.

Vì vậy, ông chỉ biết ngồi đọc cho bà nghe một cuốn tiểu thuyết cũ về tình yêu trong sáng, về những chuyện may rủi đời người, loại sách có lẽ được được loại ra từ một thư viện làng ngày xưa hay thư viện của trường Chủ nhật. Rõ ràng sách vở ở phòng đọc sách này hầu như không được cập nhật như phần lớn những thứ khác ở viện.

Bìa các cuốn sách đều bọc da mềm như nhung, có họa tiết trang trí là hình ảnh những chiếc lá và hoa ép lên, khiến nhìn chúng giống như hộp đồ trang sức hay hộp sô cô la. Sách được bọc đẹp như thế để những độc giả nữ – Grant mặc định người mượn loại sách này ở thư viện là phụ nữ – có thể mang về như một món đồ quý.

***

Bác sĩ phụ trách gặp ông trong văn phòng. Cô trình bày việc Fiona không ăn uống được như họ mong muốn.

“Bà ấy đang sút cân, dù chúng tôi đã tăng cường bữa ăn bổ sung. Chúng tôi đang cố hết sức có thể”.

Grant nói ông biết bác sĩ và các nhân viên trong viện đã rất vất vả.

“Vấn đề ở đây là, tôi chắc là ông cũng biết, chúng tôi không thể để bệnh nhân nằm liệt giường ở tầng một. Chúng tôi tạm thời chấp nhận nếu như bệnh nhân thấy không khỏe, nhưng nếu họ đã quá yếu, không thể vận động, đi lại và tự xoay sở những nhu cầu tối thiểu, chúng tôi buộc phải tính đến việc chuyển họ lên tầng trên.”

Grant nói ông không nghĩ Fiona thường xuyên nằm lì trên giường đến mức đó.

“Không. Nhưng nếu bà ấy không giữ sức, bà ấy sẽ rơi vào tình trạng đó. Hiện giờ bà ấy đang ở ngấp nghé giai đoạn này rồi.”

Grant nói ông tưởng rằng tầng hai chỉ dành cho những ca có vấn đề về tâm thần.

“Cả những ca đó nữa” cô đáp.

***

Grant không nhớ gì đặc biệt về vợ Aubrey ngoại trừ bộ đồ len kẻ ô vuông mà ông thấy bà ta khoác ở bãi đỗ xe. Đuôi áo khoác xòe ra khi bà cúi xuống cốp xe. Ông hình dung đó là một phụ nữ với bờ eo thon cùng bộ hông nở nang.

Hôm nay, bà ta không mặc bộ hôm trước nữa. Quần nâu có thắt lưng và áo len hồng. Ông đoán đúng về phần eo thon – chiếc đai quần thít chặt đã khoe rõ. Nhưng sẽ đẹp hơn nếu không thắt đai vì nó lộ ra sự mất cân đối của phần trên và phần dưới eo.

Bà ta kém chồng khoảng 10-12 tuổi. Tóc ngắn, xoăn, nhuộm đỏ. Bà có đôi mắt xanh dương – không thẫm lại như màu mắt của Fiona – giống màu của trứng chim cổ đỏ, hay màu ngọc lam, xếch và hơi húp. Và vô cùng nhiều nếp nhăn. Chúng càng dễ được nhận ra bởi lớp phấn trang điểm màu gỗ óc chó mà bà ta dùng. Hoặc cũng có thể da bà ta rám nắng giống như dân Florida.

Grant nói ông không biết phải giới thiệu mình thế nào.

“Tôi từng gặp chồng bà ở Meadowlake. Tôi là khách thường xuyên đến thăm viện.”

“Vậy hả,” vợ Aubrey hất cằm đáp, dường như tỏ một thái độ không thân thiện

“Chồng của bà…ông ấy dạo này…khá chứ?”

Grant hơi ngập ngừng. Bình thường thì Grant chỉ hỏi một cách ngắn gọn “Chồng của bà khỏe không?”.

“Cũng ổn,” bà đáp.

“Vợ tôi và Aubrey khá thât thiết với nhau”

“Tôi có nghe nói.”

“Tôi có chuyện muốn nói với bà, nếu bà có thời gian.”

“Chồng tôi không hề có ý định gì với vợ ông cả, nếu ông muốn nói chuyện đó”, bà trả lời. “Aubrey không gạ gẫm vợ ông. Ông ấy không có khả năng đó và ông ấy cũng không bao giờ làm thế. Theo những gì tôi được nghe thì ngược lại, chuyện bắt đầu từ phía vợ ông mới đúng.”

Grant nói, “Không. Hoàn toàn không phải chuyện đó. Tôi không đến để than phiền về bất cứ điều gì cả.”

“Ồ, vậy ông thứ lỗi. Tôi cứ tưởng…”

Lời xin lỗi của bà ta chỉ cụt ngủn vậy đó. Và thậm chí nghe chẳng có vẻ gì là áy náy. Câu xin lỗi chỉ biểu lộ sự hẫng hụt và lúng túng.

“Thế ông vào nhà đã. Gió lạnh cứ lùa qua cửa ra vào thế này chán thế không biết. Nhìn trời hôm nay như vậy mà hóa ra lại không ấm.”

Được vào trong nhà này với Grant đã là một thắng lợi. Ông không hề nghĩ chuyện lại khó khăn đến thế. Ông vốn hình dung một kiểu người vợ khác. Một bà nội trợ bận rộn, vui vẻ vì có người đến thăm bất ngờ và thích được nghe người khác nịnh bằng một giọng thầm thì.

Bà vừa dẫn ông đi qua phòng khách, vừa nói, “Ta phải ngồi trong bếp thì tôi mới trông chừng Aubrey được”. Grant nhìn thấy cửa sổ trước được phủ hai lớp rèm, cả hai đều màu xanh dương, một tấm làm bằng vải mỏng tang và một tấm bằng lụa. Phòng khách một bộ sofa cùng màu xanh dương và một tấm thảm bạt màu cũ kỹ cùng nhiều gương và đồ trang trí sáng màu.

Fiona có một từ riêng để gọi loại rèm cửa rủ xuống đến tận sàn nhà như thế này – bà dùng từ đó với sắc thái bông đùa – đó không phải là từ bà nghĩ ra mà là học được từ những phụ nữ khác, dù trong cách nói của họ, đó là từ hoàn toàn nghiêm túc,. Căn phòng nào vào tay Fiona sửa sang đều nhiều không gian trống và sáng sủa. Hẳn bà sẽ ngạc nhiên lắm khi thấy cả đống đồ đạc bị dồn vào trong một không gian chật hẹp như thế này. Nhưng Grant không tài nào nhớ nổi đó là từ gì.

Từ một phòng cách căn bếp – kiểu phòng đón mặt trời, tuy mành rèm đã che hết ánh nắng chiều – Grant vẫn có thể nghe thấy tiếng TV.

Aubrey. Người mà Fiona mong mỏi chỉ ngồi cách đây vài bước chân, đang theo dõi gì đó nghe như âm thanh của một trận bóng. Vợ ông ta ghé vào kiểm tra. Bà hỏi, “Ông ổn chứ?” rồi khép hờ cánh cửa.

“Ông dùng một tách cà phê chứ?,” bà hỏi Grant. “Con trai tôi được nhận vào một kênh thể thao Giáng Sinh năm ngoái. Không thì chẳng biết chúng tôi sống sao.”

Trên bề mặt chỗ nấu ăn bày biện đủ các loại dụng cụ làm bếp, nhiều loại như là đồ tự chế – máy pha cà phê, máy chế biến thực phẩm, máy mài dao, và mấy thứ Grant không biết tên cũng như công dụng của chúng. Thứ nào thứ nấy đều mới và đắt tiền, cứ như là chúng mới được lấy ra từ bao bì đóng gói, hoặc ngày nào chúng cũng được chùi rửa đánh bóng.

Grant nghĩ ngắm nhìn các thứ máy móc ấy cũng hay hay. Ông khen cái máy pha cà phê mà bà ta đang dùng và nói vợ chồng ông luôn ao ước mua được một cái như thế. Nhưng điều đó hoàn toàn không đúng – Fiona vốn luôn yêu mến cái máy kì cục kiểu châu Âu trong nhà mình: nó chỉ pha được hai tách cà phê mỗi lần.

“Vợ chồng con trai tôi mua cho chúng tôi,” bà kể. “Chúng sống ở Kamloops. B.C. Chúng gửi về nhiều đồ đến mức tôi dùng không xuể. Nhưng có lẽ không đến nỗi đau lòng nếu như chúng dùng số tiền đó để về thăm bố mẹ…”

Grant bình thản, “Tôi nghĩ cô cậu ấy chắc bận bịu cuộc sống riêng của mình”

“Chúng vẫn thu xếp được để đi Hawaii mùa đông vừa rồi đấy thôi. Có thể thông cảm được nếu như chúng tôi còn có những người khác trong gia đình ở gần đây. Nhưng chúng tôi chỉ có mình đứa con trai ấy”

Cà phê pha xong, bà rót vào hai cốc sứ màu nâu-xanh lá mà bà lấy từ chiếc giá treo cốc bằng sứ có hình một thân cây tỏa nhánh được đặt trên bàn.

“Con người ai rồi cũng sẽ cô đơn”, Grant nói. Ông nghĩ đã có thể bắt vào câu chuyện của mình rồi. “Nếu họ không còn được gặp gỡ người mà họ quan tâm, họ sẽ rất buồn. Fiona chẳng hạn. Vợ tôi ấy.”

“Tôi tưởng ông bảo ông đi thăm bà ấy thường xuyên.”

“Vâng”, ông nói. “Nhưng vấn đề không phải ở chỗ đó.”

Rồi ông đánh liều, đi thẳng vào điều ông muốn đề nghị. Liệu bà ta có thể cân nhắc việc đưa Aubrey trở lại Meadowlake thăm Fiona, dù chỉ một lần mỗi tuần? Lái xe chỉ vài dặm là tới. Hoặc nếu bà ngại – trước đó Grant chưa hề nghĩ đến điều này và tự ông cũng thấy chẳng ra làm sao khi nghe chính mình nói ra – thì bản thân ông có thể đến đưa Aubrey đi, ông không nề hà gì hết. Ông đảm bảo mình có thể xoay xở được. Trong thời gian đó, bà có thể nghỉ ngơi.

Trong khi ông nói, đôi môi của bà mím chặt và cả cái lưỡi bên trong động đậy như đang cố gắng xác định một món gì không rõ vị. Bà mang sữa cho cà phê của Grant và một đĩa bánh quy gừng.

“Nhà làm đấy,” vừa nói bà vừa đặt đĩa xuống. Giọng điệu dường như đang thách thức chứ chẳng mấy thiện chí. Bà không nói gì thêm cho đến khi đã ngồi xuống, rót sữa vào và khuấy cốc cà phê của mình.

Rồi bà từ chối.

“Không. Tôi không thể. Và lý do là, tôi không muốn làm ông ấy bị xáo trộn”

“Vậy ư?” Grant hỏi rất chân thành.

“Vâng, đúng thế. Chẳng nên chút nào. Đưa ông ấy về nhà rồi lại trở lại đó. Đưa về nhà rồi lại trở lại đó, sẽ chỉ làm ông ấy lẫn lộn thêm”

“Nhưng chẳng nhẽ ông ấy sẽ không hiểu được rằng đó chỉ là một chuyến thăm sao? Ông ấy không quen dần được hay sao?”

“Cái gì ông ấy chả hiểu”. Bà ta đáp lại như thể Grant đã xúc phạm đến Aubrey. “Nhưng việc đó vẫn rất phiền hà. Rồi tôi lại phải chuẩn bị áo quần cho ông ấy, giúp ông ấy ngồi vào xe, ông ấy là một người to lớn, có dễ dàng xoay xở như ông nghĩ đâu. Tôi phải cho ông ấy ngồi vào xe và xếp cái xe lăn lên xe, tất cả những thứ đó, và rồi để làm gì? Nếu phải làm những việc lích kích ấy, tôi thà đưa ông ấy tới nơi nào đó hay ho hơn”.

“Ngay cả khi tôi sẵn lòng làm thay bà?” Grant hỏi, với một giọng điệu đặt nhiều hy vọng và cố thuyết phục. “Thật mà, bà không phải nhọc công đâu.”

“Không được,” bà thẳng thừng. “Ông không hiểu gì về chồng tôi. Ông không tự mình xoay xở nổi đâu. Ông ấy chắc chắn sẽ không chịu để ông làm gì cho mình. Tất cả những phiền nhiễu đó và rồi chồng tôi được cái gì? ”

Grant thấy mình không nên nhắc đến Fiona thêm nữa.

“Đưa ông ấy đến siêu thị còn có lí hơn,” bà nói. “Ông ấy có thể thấy lũ trẻ con và nhiều thứ khác. Nếu điều đó không làm ông ấy chua xót nhớ đến mấy đứa cháu nội mà ông ấy chẳng bao giờ được gặp. Hay là đưa ông ta ra hồ, thuyền trên hồ sắp bắt đầu hoạt động lại, ông ấy có thể nhớ lại chút gì khi nhìn thuyền chạy.”

Bà đứng dậy lấy thuốc lá và bật lửa trên bục cửa sổ phía trên bồn rửa.

“Ông hút thuốc không?”.

Ông từ chối và cảm ơn, dù ông cũng không biết có phải bà đang mời ông một điếu hay không.

“Ông không hút? Hay đã bỏ rồi?”

“Tôi bỏ rồi,” ông đáp.

“Lâu chưa vậy?”

Grant ngẫm nghĩ.

“Ba mươi năm. Từ đó thôi hẳn.”

Grant đã quyết định bỏ thuốc vào khoảng thời gian ông bắt đầu cặp với Jacqui. Nhưng ông không tài nào nhớ lại xem liệu ông cai thuốc trước, và nghĩ nếu cai được thì sẽ có một phần thưởng lớn, hay nghĩ rằng đã đến lúc phải cai thuốc, vì ông từ lâu đã quên việc này.

“Tôi đã bỏ việc bỏ thuốc, ” bà vừa nói vừa quẹt lửa. “Chỉ cần quyết tâm bỏ cái ý định muốn bỏ, thế thôi.”

Có lẽ đó là nguyên nhân của các nếp nhăn. Một phụ nữ nào đó đã nói với Grant rằng những phụ nữ hút thuốc sẽ có nếp nhăn trên mặt rất đặc biệt. Nhưng cũng có thể do ánh nắng mặt trời, hay đơn giản là do da bà vốn vậy – cổ bà ta cũng rất nhàu nhĩ. Cổ nhăn, bầu ngực thì vẫn căng tràn thanh xuân. Phụ nữ độ tuổi này thường có những đặc điểm mâu thuẫn như thế về ngoại hình. Những điểm xấu và tốt, những ưu điểm hay thiệt thòi do di truyền… tất cả đều xen lẫn với nhau. Rất ít người bảo lưu toàn vẹn vẻ đẹp của mình như Fiona, cho dù không còn rực rỡ như trước.

Và có khi điều đó cũng không đúng. Phải chăng Grant nghĩ thế chỉ vì ông biết Fiona từ khi bà còn trẻ. Có lẽ để có ấn tượng như thế về một người phụ nữ, người ta phải biết nàng từ khi nàng còn xuân sắc.

Vậy khi Aubrey nhìn vợ mình, ông ta có nhìn thấy một nữ sinh trung học khinh khỉnh, cục cằn, với cặp mí trên đôi mắt xanh màu trứng chim cổ đỏ, bờ môi khêu gợi phì phèo điếu thuốc lá vốn bị cấm?

“Vậy, vợ ông suy sụp lắm hả?” Vợ Aubrey hỏi. “Tên vợ ông là gì nhỉ? Tôi quên mất rồi”

“Là Fiona.”

“Fiona. Còn ông? Tôi không nhớ ông đã xưng danh.”

Grant đáp, “Tôi là Grant.”

Bà ta bất ngờ chìa tay ra.

“Xin chào, Grant. Tôi là Marian.”

“Giờ ta đã biết tên nhau,” bà nói, “không nói thẳng với ông suy nghĩ của mình cũng chẳng ích gì. Tôi không biết liệu ông ấy vẫn còn tha thiết muốn gặp vợ… gặp Fiona hay không. Tôi không hỏi và ông ấy cũng chẳng nói gì. Có thể chỉ là một tình cảm thoáng qua. Nhưng tôi cũng không muốn đưa ông ấy quay lại Meadowlake, nhỡ đâu lại có chuyện gì lớn hơn thế. Tôi không đủ sức để mạo hiểm. Tôi không muốn ông ấy ngày càng là gánh nặng. Tôi không muốn ông ấy buồn và tiếp tục như thế. Tôi đã vất vả vì ông ấy lắm rồi. Tôi chẳng có ai đỡ đần. Chỉ có mình tôi ở đây thôi. Một mình tôi.”

“Bà đã bao giờ cân nhắc… chắc chắn việc này rất khó cho bà”. Grant ngập ngừng một lát, “Nhưng bà đã bao giờ cân nhắc việc gửi ông nhà ở đó hẳn chưa?”

Grant đã cố hạ thấp giọng đến độ gần như nói thầm nhưng Marian dường như không thấy cần thiết phải hạ giọng mình xuống.

“Không,” bà đáp. “Tôi sẽ chăm ông ấy ở nhà.”

Grant nói, “Bà thật tử tế và đáng trọng.”

Ông hy vọng từ “đáng trọng” nghe không có vẻ mỉa mai. Ông thật lòng không có ý ấy.

“Ông nghĩ vậy à?,” Marion hỏi. “Đáng trọng không phải là điều tôi nghĩ đến.”

“Đúng thế mà. Việc bà đang làm đâu phải dễ dàng.”

“Vâng, không dễ. Nhưng với hoàn cảnh của tôi, tôi không có nhiều lựa chọn. Tôi không có tiền để cho Aubrey ở đó, trừ phi tôi bán nhà. Ngôi nhà này là tất cả những gì chúng tôi toàn quyền sở hữu. Tôi chẳng còn bất cứ thứ gì có giá trị. Năm tới, tôi sẽ được nhận lương hưu, tôi có tiền lương hưu của chồng và của mình, nhưng ngay cả như vậy thì tôi vẫn không đủ khả năng vừa chi trả cho ông ấy ở viện vừa giữ căn nhà. Và ngôi nhà có nghĩa rất lớn đối với tôi.”

“Ngôi nhà rất đẹp,” Grant nói.

“Vâng, đúng thế. Tôi đã đầu tư rất nhiều cho nó. Sửa chữa và duy trì.”

“Vâng. Tôi thấy rõ như thế.”

“Tôi không muốn đánh mất nó”.

“Vâng”

“Tôi sẽ không để mất nó”

“Tôi hiểu ý bà”.

“Công ty bỏ rơi chúng tôi” bà kể. “Tôi không biết lời lãi thế nào nhưng về cơ bản là Aubrey bị dính vào một vụ lùm xùm. Công ty quy kết Aubrey nợ tiền của họ và khi tôi cố gắng tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra thì ông ấy cứ bảo đấy không phải là việc của tôi. Tôi đoán là ông ấy đã làm một chuyện gì đó khá ngu ngốc. Nhưng tôi không được thắc mắc, nên tôi im lặng. Ông từng kết hôn. Đã kết hôn. Ông biết thế nào rồi đấy. Và giữa lúc tôi đang tìm hiểu sự tình thì chúng tôi có một chuyến đi không thể bỏ được với những người trong công ty. Và trong chuyến đó, ông ấy nhiễm một thứ virus chưa từng nghe nói đến và bị hôn mê. Trong cái rủi có cái may, ít ra ông ấy khỏi phải lo trả nợ.”

Grant nói, “Là chẳng may thôi mà”.

“Tôi không có ý nói rằng ông ấy cố tình mắc bệnh. Là tự nhiên thế thôi. Ông ấy không giận tôi nữa và tôi cũng không giận ông ấy. Ðời là thế.”

“Đúng thế”

“Làm sao thắng nổi cuộc đời?”.

Bà đánh lưỡi điệu nghệ như một cô mèo liếm những mẩu vụn bánh dính ở môi trên. “Tôi nói như triết gia ấy nhỉ? Họ kể với tôi rằng ông từng là giáo sư giảng dạy đại học”.

“Cũng khá lâu rồi,” Grant nói.

“Tôi không phải dân trí thức”, Marian nói.

“Chính tôi cũng không chắc mình có phải là trí thức không.”

“Nhưng tôi biết khi nào cần phải đưa ra quyết định. Và tôi đã quyết rồi. Tôi sẽ không để mất ngôi nhà này. Nghĩa là tôi sẽ giữ Aubrey ở đây, và tôi không muốn ông ấy bỗng dưng lại có ý nghĩ muốn chuyển đi đâu khác. Chuyện cho ông ấy vào viện để tôi được rảnh tay có thể là một sai lầm, nhưng tôi lấy đâu ra cơ hội nào khác, nên tôi quyết thế thôi. Thế. Giờ thì tôi hiểu chuyện hơn rồi.”

Bà ta lấy một điếu khác ra.

“Dám cá là tôi biết ông đang nghĩ gì,” bà nói. “Ông nghĩ tôi là loại người vụ lợi”

“Tôi không phán xét kiểu đó. Đó là cuộc sống của bà”

“Đúng quá rồi.”

Grant nghĩ cuộc trò chuyện nên kết thúc bằng điều gì đó trung tính hơn. Vì vậy, ông hỏi liệu có phải chồng bà đã từng làm cho một cửa hàng kim khí vào một mùa hè nào hay không, khi ông ta còn đang đi học.

“Tôi chưa từng nghe kể,” bà đáp. “Hồi nhỏ tôi không sống ở vùng này.”

***

Trên đường lái xe về nhà, Grant nhận ra cái đầm rỗng đã được lấp đầy tuyết từ bao giờ và bóng của những thân cây lúc này như sáng lên nhờ những bông hoa huệ tây hôi mọc quanh. Những chiếc lá tươi, trông như có thể ăn được của nó to ngang bằng những chiếc đĩa phẳng. Hoa mọc thẳng lên như những ngọn nến, xum xuê, với sắc vàng thuần khiết, chúng như hắt lên từ mặt đất một thứ ánh sáng trong một ngày nhiều mây như thế này. Fiona từng nói với ông rằng thứ hoa này còn tự sản sinh ra một lượng nhiệt của riêng nó. Lục tìm thông tin ở một bên túi, bà nói rằng người ta có thể đặt bàn tay mình vào bên trong cánh hoa cong cong và cảm nhận được hơi nóng. Bà kể rằng bà đã thử rồi, nhưng không chắc chắn là bà đang cảm giác hơi nóng thực sự của cây hoa hay là từ trí tưởng tượng của bà. Hơi nóng ấy thu hút những con côn trùng.

“Thiên nhiên không đánh lừa mọi thứ xung quanh, nó đâu phải chỉ để làm cảnh.”

Grant đã hoàn toàn thất bại với Marian, vợ Aubrey. Ông đã lường trước mình có thể thất bại, nhưng ông không hề lường trước được lí do bà ta từ chối. Ông đã lầm tưởng rằng ông sẽ phải đối mặt với sự ghen tuông tự nhiên của phụ nữ – hoặc nỗi oán giận, phần còn lại dai dẳng của sự ghen tuông ấy.

Ông đã không đoán được cái cách người đàn bà đó nhìn nhận sự việc. Nhưng đáng buồn thay, thực ra thì cuộc trò chuyện này chẳng xa lạ gì với ông …. Nó gợi nhắc Grant về những cuộc trò chuyện giữa ông với người thân của mình. Chú bác, họ hàng, có lẽ ngay cả mẹ ông, cũng nghĩ như Marian. Họ tin rằng những kẻ không nghĩ giống họ là những kẻ đang tự dối mình – những kẻ quá mơ mộng, hay ngốc nghếch, do có cuộc sống và nền tảng giáo dục thuận lợi và được bảo bọc. Những kẻ sống thiếu thực tế. Những kẻ có học, lắm chữ, giàu có – như gia đình bên vợ của Grant, những người theo chủ nghĩa xã hội – là những kẻ sông thiếu thực tế. Do một phúc phận không đáng được hưởng nào đó hay bẩm sinh đã ngu si. Grant ngờ rằng họ nghĩ ông thuộc cả hai trường hợp này.

Đó chắc chắn cũng là cách Marian nhìn nhận ông. Một kẻ ngớ ngẩn, toàn những kiến thức nhàm chán và nhờ ăn may mà không phải giáp mặt với hiện thực cuộc sống. Một kẻ chưa bao giờ phải đau đầu nghĩ cách giữ ngôi nhà của mình và có thể đi loanh quanh ngâm ngợi những ý nghĩ phức tạp. Tự do mơ mộng về những hoạch định tốt đẹp hào hiệp với lòng tin sẽ làm người khác hạnh phúc.

Thật là một gã ngốc, hẳn bà ta đang nghĩ vậy.

Đương đầu với một người như thế làm Grant cảm thấy vô vọng, bức bối, cuối cùng gần như buông xuôi. Tại sao? Bởi ông không chắc chắn rằng ông có thể tiếp tục nỗ lực đương đầu với những người như Marian ư? Hay bởi ông sợ rằng cuối cùng thì cách nghĩ của họ mới là chân lí? Fiona sẽ không cảm thấy bất kỳ mối nghi ngờ nào. Bà ấy luôn ngây thơ, chưa ai chèn ép, kiềm tỏa bà khi bà còn trẻ. Bà thấy cách giáo dục của nhà Grant có gì đó thật khôi hài, và có thể bà nghĩ những quan điểm thực tế khắc nghiệt ấy có phần kỳ lạ nữa..

Tương tự, họ cũng có quan điểm riêng của mình, những người ấy. (Grant nghe thấy chính mình đang phản biện ai đó. Fiona ư?) Sống thực tế cũng có cái hay. Nếu bị rơi vào khủng hoảng, một người thực tế như Marian có lẽ sẽ vẫn ổn. Bà ta sẽ sống sót được, dám trộm thức ăn và tái sử dụng đôi giày của một xác chết nào đó trên đường phố.

Cố gắng hiểu về Fiona luôn là vấn đề rất dễ nản lòng. Giống như theo đuổi một ảo ảnh nào đó. Không – là sống trong ảo ảnh thì chính xác hơn. Nhưng tiếp cận Marian lại nảy sinh một loại vấn đề khác. Giống như khi ta cắn vào một quả vải sấy khô vậy. Cùi vải mỏng mảnh. bao lấy cái hạt to đùng, cứng như đá nhưng lại có sự hấp dẫn nhân tạo, với mùi vị, hương thơm hóa học.

***

Grant rất có thể đã kết hôn với một người như Marian. Nghĩ thử xem. Ông có thể đã an bài với ai đó giống như thế. Nếu như ông cứ ở mãi nơi vùng quê ấy. Bà vợ ấy có thể cũng đủ ngon lành, với bộ ngực hấp dẫn. Một cô vợ thích được tán tỉnh. Cách mà bà ta nhúc nhích mông trên ghế, mim mím môi, tạo ra một sự khiêu khích có tính toán – có lẽ đó là tất cả những thủ thuật còn giữ lại được của một cô ả xuất thân từ tỉnh lẻ, thô kệch một cách hồn nhiên.

Marian hẳn cũng có một vài kỳ vọng khi chọn Aubrey làm chồng. Ngoại hình được, công việc của một nhân viên bán hàng cũng ổn, cũng có cơ hội thăng tiến . Bà hẳn đã tin tưởng rằng hậu vận sẽ phải khá hơn, không thể như hiện giờ. Và điều này cũng thường xảy ra với những người thực dụng kiểu đó. Bất chấp những tính toán, bất chấp bản năng sinh tồn của họ, họ đã không đạt được những gì mình mong đợi​​. Rõ ràng điều này có vẻ bất công.

Trong bếp, đồ vật đầu tiên mà Grant nhìn thấy là ánh sáng nhấp nháy trên máy trả lời tự động của ông. Như mọi khi, ông nghĩ ngay đến Fiona.

Ông nhấn nút, chưa kịp cởi áo khoác.

“Chào ông, Grant. Tôi hy vọng tôi gọi đúng số. Tôi mới nhớ ra chuyện này. Có một vũ hội trong thị trấn, ở Legion, dành riêng cho người độc thân vào tối thứ bảy này, và tôi ở trong ban chuẩn bị tiệc tối, nghĩa là tôi có thể mời thêm một khách nữa. Nên, tôi tự hỏi liệu ông có hứng tham dự không? Gọi cho tôi nếu ông đi được nhé.”

Giọng phụ nữ đọc một số điện thoại địa phương. Sau đó là một tiếng bíp và giọng nói vừa rồi lại tiếp tục.

“Giờ tôi mới nhận ra mình đã quên nói tên. Vâng, có thể ông đã nhận ra giọng tôi. Là Marian đây. Tôi vẫn chưa quen sử dụng mấy thứ máy móc này. Và tôi muốn nói rằng tôi biết ông không độc thân và tôi không có ý đó. Tôi cũng không phải độc thân, nhưng thỉnh thoảng đi chơi đây đó cũng chẳng mất gì. Dù sao thì, tôi cũng đã nói hết rồi, tôi thực sự mong tôi gọi đúng số của ông. Nghe đúng là giọng ông mà. Nếu ông có hứng thú thì cứ gọi cho tôi và nếu không thì cũng không phải bận tâm đâu. Tôi chỉ nghĩ ông có thể muốn có dịp đi đâu đó. Tôi là Marian. À mà tôi đã nói rồi nhỉ. O.K. Chào ông”.

Giọng Marian trên máy khác hẳn chất giọng mà Grant vừa nghe cách đây không lâu tại nhà bà ta. Ở lời nhắn đầu tiên thì có hơi khác một chút thôi, nhưng đến lời nhắn sau đó thì khác rất nhiều. Có một chút run run hồi hộp, cố giữ vẻ lãnh đạm, vội vã để được kết nối và rồi miễn cưỡng dập máy.

Điều gì đó đã xảy ra đối với Marian. Nhưng nó xảy ra từ lúc nào? Nếu là mới đây, thì bà ta đã che giấu thật khéo léo suốt khoảng thời gian ông ở đó. Nhiều khả năng là sau khi Grant ra về, những thay đổi ấy dần xuất hiện. Không hẳn là vì sức hút của ông. Chỉ là một nhận thức rằng ông là một khả năng bà ta có thể nghĩ đến, người đàn ông chỉ có một mình. Độc thân, không ít thì nhiều. Một khả năng mà bà nghĩ mình có thể chạm vào.

Nhưng chắc bà ta đã bồn chồn lắm khi chủ động trước. Bà thực sự đã đặt bản thân vào thế mạo hiểm. Đặt bao nhiêu phần trăm thì Grant chưa biết. Trong những thứ tình cảm như thế này, thì khả năng bị tổn thương của phụ nữ sẽ cao hơn khi câu chuyện tiến triển. Tất cả những gì ta có thể nói được ngay từ đầu là nếu như bây giờ câu chuyện đã manh nha những ham muốn thế này thì về sau, mọi thứ sẽ càng mãnh liệt hơn.

Điều này khiến ông thỏa mãn – việc gì phải chối? – vì ông đã đánh thức con người bên trong của Marian. Vì ông đã khơi gợi được một cái gì đó giống như một ánh sáng lung linh, mờ ảo hiển hiện lên trên bề mặt tính cách của bà. Vì đã nghe thấy một thỉnh cầu yếu đuối trong giọng điệu hay gắt gỏng và phát âm rất nặng của bà.

Grant lấy trứng và nấm để làm cho mình món trứng tráng. Rồi ông nghĩ có thể ông cũng uống chút rượu.

Điều gì cũng có thể xảy ra. Có thật không – rằng mọi thứ đều có thể? Ví dụ, nếu muốn, liệu ông có thể thuyết phục Marian, để bà ta đồng ý cho Aubrey trở lại thăm Fiona? Và không chỉ cho thăm, mà bà ấy sẽ để Aubrey ở nốt những ngày cuối đời bên Fiona. Cơn chấn động ấy sẽ đưa họ đi đến đâu? Đến sự xáo trộn, đến tận cùng bản năng tự phòng vệ của Marian? Hay đến hạnh phúc của Fiona?

Sẽ là một thử thách. Một thử thách và một kì tích vẻ vang. Đồng thời cũng là một trò đùa mà chẳng ai có thể tin nổi – rằng Grant đang làm một việc chẳng ra gì chỉ để đem lại điều tốt cho Fiona mà thôi.

Nhưng Grant không thể thực sự nghĩ về điều đó. Nếu nghĩ về nó, ông sẽ phải nghĩ xem sau khi ông đã đưa Aubrey về với Fiona, thì điều gì sẽ xảy đến với ông và Marian. Có thể chẳng được tích sự gì – ông không thể thấy được gì hơn những gì đã nhìn thấy trước, một mối toan tính vụ lợi thực ra khó trách được ở người phụ nữ có vẻ ngoài thô tháp này.

Làm sao chắc chắn được những chuyện như thế này sẽ diễn ra thế nào. Ta cứ tưởng như mình có thể biết, nhưng không bao giờ ta chắc chắn được.

Marian có lẽ cũng đang ngồi trong nhà, chờ đợi Grant gọi lại. Hoặc có thể không ngồi. Làm những việc lặt vặt để giữ cho mình bận rộn. Marian có vẻ là tuýp người luôn làm cho mình trở nên bận rộn. Cứ nhìn căn nhà của bà thì sẽ thấy bà luôn tay luôn chân chăm chút cho nó như thế nào. Và có Aubrey nữa – vẫn cứ phải tiếp tục chăm sóc ông ta như bình thường. Có thể Marian đã cho Aubrey ăn bữa tối sớm – cho ăn đúng như thời gian biểu ở Meadowlake để có thể cho ông đi ngủ sớm hơn, còn bà thì được nghỉ ngơi. (Không hiểu bà ta tính thế nào với Aubrey nếu như đi vũ hội? Cứ để ông ta một mình không hay bà ta sẽ thuê người trông? Liệu bà ta có nói với chồng rằng mình đi đâu và giới thiệu cả người bạn nhảy của mình? Liệu ông bạn nhảy đó có trả tiền trông Aubrey giùm bà không?)

Có thể Marian đã cho chồng ăn tối trong khi Grant mua nấm và lái xe về nhà. Có lẽ bà đang cho Aubrey đi ngủ. Nhưng suốt thời gian ấy, hẳn bà sẽ luôn nghe ngóng tiếng chuông điện thoại, sẽ bồn chồn vì sự im lặng của nó,. Có lẽ bà ấy đã tính xem mất bao lâu để Grant lái xe về đến nhà. Địa chỉ của ông trong danh bạ điện thoại có thể giúp bà đoán được nơi ông sống. Có thể bà đã tính xem đi mất bao lâu, rồi cộng cả thời gian mua đồ ăn tối (bà hình dung một người đàn ông dẫu ở một mình thì ngày nào cũng phải đi mua sắm). Sau đó là khoảng thời gian để ông nghe được lời nhắn của mình. Và sự im lặng kéo dài sẽ khiến bà tự bịa ra những lí do khác nữa. Những việc lặt vặt có thể Grant phải giải quyết trước khi về nhà. Hoặc có lẽ là ăn tối ở ngoài, một cuộc hẹn khiến ông không về nhà vào giờ ăn tối.

Có thể Marian sẽ đi ngủ muộn, lau chùi chạn bát, xem TV, tranh cãi với chính mình xem mình có cơ hội hay không.

Rồi ông thấy mình thật tự phụ khi suy diễn như thế. Trên hết Marian là một phụ nữ khôn ngoan. Bà ấy có thể đã đi ngủ như thường lệ, nghĩ rằng Grant trông không có vẻ gì là một người biết khiêu vũ. Một gã rất khô cứng, chắc chỉ biết đọc sách.

Grant ngồi gần điện thoại, xem tạp chí, nhưng khi điện thoại reo lần nữa, ông lại không nhấc máy lên.

“Grant. Tôi, Marian đây. Tôi vừa ở dưới tầng hầm cho đồ vào máy giặt thì nghe tiếng chuông điện thoại, khi tôi lên lầu thì người gọi đã dập máy rồi. Thế nên, tôi nghĩ là tôi nên nói rằng tôi vẫn ở nhà. Nếu là ông vừa gọi và nếu ông đang có nhà. Bởi vì rõ ràng là tôi không có máy trả lời, nên ông có thể không để lại lời nhắn được. Thế nên, tôi chỉ muốn. Báo cho ông biết.”

“Chào ông.”

Bây giờ là mười giờ hai nhăm.

Chào ông.

Ông có thể nói rằng ông vừa mới về đến nhà. Thật chẳng hay ho gì khi khiến Marian nghĩ rằng ông ngồi đây, so đo toan tính thiệt hơn.

Những tấm rèm. Đó có thể là cách Marian gọi những tấm màn xanh – rèm. Và sao lại không chứ? Ông nhớ những cái bánh quy gừng tròn trịa đến mức bà phải nói là bánh nhà làm, cái cốc cà phê sứ treo trên cái cây trang trí bằng sứ, tấm thảm phủ ở sảnh – Grant chắc chắn nó làm bằng nhựa. Ở ngôi nhà ấy, dường như mọi thứ đều chính xác và rất thiết thực – những phẩm chất mà mẹ Grant chưa bao giờ đạt đến và hẳn bà sẽ rất ngưỡng mộ những người như Marian. Nhưng hình như đó cũng chỉ là vẻ ngoài đánh lừa. Phải chăng vì thế tự nhiên ông cứ nhoi nhói cái cảm giác vừa tò mò, vừa ngờ ngợ không tin? Hay là do ông đã uống thêm hai ly rượu sau ly đầu tiên?

Làn da rám nắng màu nâu gỗ hồ đào – giờ thì ông dám chắc đó là rám nắng – ở vùng mặt và cổ của người phụ nữ ấy có khi còn lan xuống khe ngực bà ta cũng nên, vùng da nhăn nheo, có mùi thơm và nóng bỏng. Hình ảnh ấy hiện lên trong đầu Grant khi ông bấm số điện thoại mà ông đã ghi lại. Khe ngực và cái lưỡi mèo đầy nhục cảm của Marian. Và cả cặp mắt màu đá quý.

***

Fiona ở trong phòng mình, nhưng không nằm trên giường nữa. Bà ngồi bên ô cửa sổ mở, mặc một chiếc đầm hợp thời tiết nhưng ngắn và sáng màu một cách kỳ quặc. Một luồng hơi ấm nồng của hoa tử đinh hương đang nở rộ và phân bón vụ xuân trải khắp cánh đồng tràn qua cửa sổ vào phòng.

Có một cuốn sách đang mở để trên lòng bà.

Bà nói, “Nhìn cuốn sách xinh đẹp em tìm thấy này. Nó viết về Iceland. Anh tin được không, sao người ta lại để những cuốn sách quý thế này trong phòng. Những người sống ở đây có phải ai cũng thật thà đâu. Mà em nghĩ hình như họ đã cất nhầm quần áo. Em chưa bao giờ mặc màu vàng.”

“Fiona…”, Grant nói.

“Anh đi đâu lâu quá. Chúng ta chuẩn bị ra viện đúng không?”

“Fiona, anh mang đến cho em một bất ngờ. Em còn nhớ Aubrey chứ?”

Bà nhìn Grant chằm chằm một lúc, như thể hàng loạt đợt gió táp vào mặt bà. Vào mặt bà, vào đầu bà, làm mọi thứ vụn vỡ, tả tơi. Tả tơi, lỏng lẻo và rời rạc.

“Những cái tên cứ trôi tuột khỏi em,” bà nói bằng một giọng cay đắng.

Nhưng ánh nhìn ấy cũng biến mất, khi bằng một cố gắng lớn, bà lấy lại được nét duyên dáng của một quý bà vốn thích bỡn đùa. Bà cẩn thận đặt cuốn sách xuống và đứng dậy, vòng tay ôm lấy Grant. Từ da hay hơi thở của bà phả ra một mùi khó chịu, Grant thấy giống như mùi của những cành hoa bị cắt và ngâm quá lâu trong nước.

“Thật mừng là em lại được gặp anh,” bà nói, và véo tai Grant.

“Em cứ nghĩ anh đã lái xe đi thẳng,” bà nói. “Cứ thế mà đi, chẳng cần bận tâm gì về thế giới và bỏ quên em. Bỏ mặc em. Bỏ rơi em.”[10]

Ông áp mặt mình vào làn tóc trắng, mảng da đầu hồng hồng, mái đầu thanh tú của bà.Ông nói, Không đời nào.

Nguyễn Đức Tâm An dịch

Nguồn: Alice Munro, “The Bear Came Over the Mountain”, Hateship, friendship, courtship, love ship, marriage (Vintage: 2002)


[1] “The Bear Came Over the Mountain” là bài hát dân gian nổi tiếng dành cho trẻ em thường được hát theo giai điệu của”For He’s a Jolly Good Fellow”. Lời bài hát này có nhiều di bản nhưng tứ của nó về cơ bản là giống nhau: con gấu trèo qua ngọn núi, và cái nó nhìn thấy khi đến nơi chỉ là một phía khác của ngọn núi mà thôi. Đây là một bài hát vui tươi, có sắc thái châm biếm nhẹ nhàng về sự vô nghĩa (có thể làm ta liên hệ đến những bài đồng dao.ca dao của Việt Nam nói về sự vô nghĩa như bài Con kiến mà leo cành đa …)

Rất nhiều người khi diễn giải tác phẩm đã thử tìm mối liên hệ giữa nhan đề và nội dung câu chuyện mà Alice Munro kể lại. Có ý kiến cho rằng sự vô nghĩa của bài ca dao cũng chính là ẩn dụ về sự vô nghĩa của thế giới tuổi già như là phía bên kia ngọn núi cuộc đời. Một ý kiến khác cho rằng “con gấu” ở đây chính là ẩn dụ về Grant, về sự không chung thủy của nhân vật, về nỗ lực vô ích của lòng cao thượng ở Grant khi ông cố gắng tìm cách để giúp đỡ Fiona khi bà đang bệnh nặng.

[2] Còn gọi là “Bài ca tôi trung Tây Ban Nha” nổi tiếng trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha 1936-1939, nói về những người trung thành thuộc phái Công hòa, chống lại phe Franco

[3] Hund tiếng Đức nghĩa là “chó”

[4] Chiến tranh Crimea (Crimean War) bắt đầu từ năm 1853 và chấm dứt năm 1856, giữa hai lực lượng quân sự châu Âu, phe đồng minh gồm Đế quốc Pháp, Đế quốc Anh, Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ và Sardegna chống lại Đế quốc Nga. Cuộc chiến tranh này còn được người đương thời gọi là Chiến tranh nước Nga

[5] Trong thần thoại Bắc Âu, Fenrir là một con sói khổng lồ. Fenrir được chứng thực trong thơ Edda, biên soạn vào thế kỷ 13 từ các nguồn truyền thống trước đó bởi Snorri Sturluson. Trong cả Thơ Edda và Truyện Edda, Fenrir là cha của những con sói Skoll và Hati Hródvitnisson, là con trai của Loki, và nuốt thần Odin trong sự kiện Ragnarök, nhưng sau này lại bị con trai của Odin là Vídarr giết.

[6] Njáll Þorgeirsson (Njáll con trai của Þorgeir) là một trong những nhân vật chính của Truyện Njáls , một tác phẩm Iceland thời trung cổ; Snorri Þorgrímsson hay Snorri Godi là một thủ lĩnh Tây Iceland, người hùng trong Truyện Eyrbyggja của Iceland.

[7] Richard Wagner (1813–1883) biên soạn nên Der Ring des Nibelungen (Chiếc nhẫn của người Nibelung) – một chùm các vở opera, dựa chủ yếu vào thần thoại Bắc Âu (giống thần thoại Đức), và bài ca của Nibelung (Nibelungenlied).

[8] Tiếng Celtic là một nhánh của hệ ngôn ngữ gia Ấn-châu Âu lớn hơn. Vào thời điểm những cư dân nói tiếng Celtic bắt đầu xuất hiện trong lịch sử khoảng năm 400 trước Công nguyên, họ đã được chia thành nhiều nhóm ngôn ngữ, và trải rộng trên toàn lục địa Tây Âu, bán đảo Iberia, Ireland và Anh.

[9] Nguyên văn tiếng Anh: “So he increased in wisdom and stature -/ And in favour with God and man.”. Câu này được phái sinh từ Kinh Thánh, Thiên Luke 2.52. Bản tiếng Anh (bản do King James chính thống hóa): “And Jesus increased in wisdom and stature, and in favour with God and man”. Thiên Luke kể về sự giáng sinh của chúa Jesus.

[10] Trong nguyên tác, Alice Munro viết: “You could have just driven away…Just driven away without a care in the world and forsook me. Forsooken me. Forsaken”. Lời của Fiona cho thấy nỗ lực của nhân vật muốn nhớ lại cách chia động từ cho đúng. Trong tiếng Việt, do phạm trù “thời” không rõ nên chúng tôi lựa chọn phương án dịch để nhân vật cố nhớ lại, cố tìm được từ thích hợp nhất mô tả cảm giác của mình.