Tag Archives: con người là gì?

Christy Wampole – Bám chặt “rễ” của mình

Christy Wampole là phó giáo sư Văn học Pháp và Italia tại Đại học Princeton (Mỹ). Chuyên luận của bà  – “Rootedness: The Ramifications of a Metaphor” (University of Chicago Press, 2016) đã được trao giải thưởng của Hiệp hội nghiên cứu Ngữ văn hiên đại (MLA) cho công trình nghiên cứu đầu tay được xuất bản xuất sắc nhất. Bài dịch này của bà như  một khởi động cho cá nhân tôi để đọc cuốn sách ấy.

2006AG3569_jpg_l

 

*

Cách đây không lâu, tôi tình cờ xem một mẩu quảng cáo cho website nghiên cứu phả hệ Ancestry.com, trong đó, một người đàn ông kể lại anh ta đã luôn đinh ninh rằng cội rễ của mình là người Đức. Anh ta luôn tự hào về di sản này – thí dụ, qua việc mặc quần ống túm bằng da Lederhosen, gia nhập một vũ đoàn Đức – cho đến khi một lần kiểm tra DNA đã phát lộ thực tế bị che giấu về cội nguồn của anh ta: 52% tổ tiên của anh đến từ Scotland và Ireland – anh ta biết vậy; trong cây phả hệ gia đình nhà anh, không có người Đức nào cả. “Thế là tôi bán cái quần ống túm Lederhosen của mình để đổi lấy cái váy của người Scotland,” người đàn ông ấy kể. Và tương tự như thế, anh ta thay thế một bộ rễ của mình bằng một bộ khác, chẳng khác Tarzan đu mình từ dây leo này sang dây leo kia.

 

Nội dung quảng cáo ấy thật ngớ ngẩn khi nó giản lược vấn đề bản sắc thành một sự lựa chọn trong tủ đồ, nhưng nó cho ta thấy một điều gì đó trong cảm nhận về bản ngã mà chúng ta rút ra từ ý niệm về cội rễ của mình, điều vừa trở nên rắc rối, vừa trở nên phong phú bởi thực tại do công nghệ kiến tạo mang tính toàn cầu của thời đại này. Chúng ta có thể biết nhiều hơn bao giờ hết về những tổ tiên xa xôi. Song mục đích mà thứ tri thức này phục vụ là gì? Tại sao cội rễ lại là một ẩn dụ có sức mạnh thôi thúc ta nghĩ về mối kết nối của mình với tổ tiên, quê hương và bản thân trái đất này?

 

Con người là tạo vật tìm kiếm bối cảnh và nhu cầu cảm nhận này được đan dệt vào thế giới trong nhiều hình thức: ý thức tìm hiểu lịch sử gia đình; niềm kiêu hãnh về quê nhà, thành phố hay đất nước của mình, cũng như những đặc thù của những nơi chốn này đánh dấu tính cách, hành vi và ngôn ngữ của một người; sự hoài niệm về một quá khứ khi con người dường như có những vận mệnh chắc chắn, vai trò của giới, địa vị xã hội và “trật tự của vật” dường như rõ ràng hơn, những phạm trù được kế thừa không bị thách thức; nỗi khắc khoải mang tinh thần của truyền thống mục đồng muốn khôi phục một mối giao cảm đã mất với chính trái đất. Cội rễ là ẩn dụ linh hoạt nhất để nói về con người như một tồn tại được đặt vào bối cảnh. Nó thường trực thôi thúc ta đến mức ta quên mất nó là một ẩn dụ.

 

Gần đây, phiên bản làm lại của mini-series truyền hình “Cội rễ” (vốn dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Alex Haley (1976) và kịch bản chuyển thể được phát sóng trên ti vi nhiều lần kể từ lần đầu tiên vào năm 1977) chiếu trên kênh History, ở chừng mực nào đó, đã đem ý niệm này trở lại với ý thức của người Mỹ đương thời. Lần này, di sản văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong bối cảnh của thời buôn bán nô lệ trên nước Mỹ đã trao tiếng nói cho di sản của những người phải chịu cảnh ly tán gia đình và bị ném vào một tương lai bi kịch, không thể thay đổi được. Đây là một tự sự đặc trưng của nước Mỹ nhưng ngôn ngữ của cội rễ có thể tìm thấy trong một phạm vi rộng rãi các ngữ cảnh, xuyên qua các nền văn hóa và trong tất cả các thể loại văn chương – bao gồm thơ ca, các sáng tác về thiên nhiên và triết học phê bình sinh thái – để mô tả tình trạng tự trừu xuất mình khỏi mặt đất của con người. Làm thế nào mà một hình ảnh như thế lại có thể được sử dụng trong những bối cảnh hết sức đa dạng?

 

 

Tiểu thuyết gia người Pháp, đồng thời là cây bút tiểu luận, theo khuynh hướng siêu hình, Michel Tournier (1924-2016), tin rằng nguồn gốc của hầu hết các xung đột của con người nằm trong mối quan hệ căng thẳng giữa những người bật rễ và những người bám rễ. Ông đưa ra nhiều ví dụ trong tiểu luận “Kẻ du mục và người tĩnh tại” (“Nomad and Sedentary”) trong cuốn sách The Mirrors of Ideas (Những tấm gương của ý niệm): vụ sát hại anh em trong Sáng thế ký, bao gồm cả vụ người nông dân Cain, vốn quen môi trường tĩnh tại, giết Abel, người em chăn cừu – dân du mục của mình; sáng kiến dùng hãng rào kẽm gai ở nước Mỹ vào những năm 1800 đánh dấu sự chiếm đóng của những người khai hoang và cuộc đổ máu giữa họ với những chủ nhân thực sực của vùng đất; mối xung đột giữa người du mục Tuareg và dân định cự Saharan; và việc phát xít Đức đã  biến hình ảnh người Do Thái, vốn được tưởng tượng như là kẻ bật rễ, do đó bị xem là dân tạm lưu bất chính, thành quỷ.

 

Người ta thường cho rằng việc truy nòi giống của mình xa đến một mức nào đó sẽ cho thấy sẽ cho thấy chúng ta đều đến từ cùng một nơi. Song cội rễ nguyên thủy lại thường bị coi thường. Vì lý do nào đó, mỗi một tập thể, dù đó là một quốc gia, một nhóm sắc tộc hay một bộ lạc, có xu hướng xây dựng một hình dung đặc thù về cội nguồn của mình, phớt lờ đến ý niệm cơ bản nhất này về bản chất kết nối của con người.

 

Chúng ta đã đi đến một điểm khớp nối lạ lùng của lịch sử, nó đặt hai hệ thống thế giới vào tình thế xung đột với nhau: thứ nhất – một hệ thống xưa cũ hơn, trao đặc quyền cho những tôn ti theo trục dọc, những gì thuộc về truyền thống và bá quyền dân tộc; thứ hai, một hàng rào mắt cáo theo chiều ngang của sự chuyển giao thông tin trong môi trường điều khiển học và mạng lưới kết nối về kinh tế.

 

Có lẽ đây là điều hai triết gia người Pháp, Gilles Deleuze và Félix Guattari đã dự cảm trong lời giới thiệu cuốn sách xuất bản vào năm 1980 của họ, A Thousand Plateaus (tạm dịch Một ngàn mặt phẳng) khi họ mô tả thân rễ (rhizome), một hình tượng của những hệ thống hình thành ở chính giữa, không có khởi đầu hay kết thúc có thể thấy rõ rệt và hoạt động theo một cơ chế sinh sôi theo bề ngang, không dự đoán được. Việc tính thân rễ ở thời điểm hiện tại của chúng ta, với sự phát triển mạnh mẽ của những mạng lưới công nghệ hiện tại, trở nên rõ rệt hơn không có nghĩa là ý niệm cội rễ đã không còn sức hấp dẫn đối với con người. Trái lại, có lẽ giờ đây, hơn bất cứ lúc nào, con người có những lý do hoàn toàn hiểu được khi thấy mình xa lạ với thế giới và với người khác  – mức độ xa lạ này càng lớn thì cội rễ lại càng trở nên quý giá.

 

Ngày nay, con người trên khắp thế giới đối mặt với một loạt thế lực làm bật rễ và dẫn đến tình trạng xa lạ: khủng hoảng tị nạn của người Syria, chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo, làn sóng di dân, khuynh hướng phân rã bản sắc của Liên minh châu Âu, cuộc cạnh tranh toàn cầu, sự đồng phục hóa của chủ nghĩa tư bản và nỗi cô đơn mênh mông của thời đại số. Không phải ngẫu nhiên khi mỗi một sự kiện này đều được nhận về lời đáp, theo những cách khác nhau, của khuynh hướng bám rễ, hay, đúng hơi, một thứ tinh thần bắt rễ lại. Người ta nghe thấy trong những diễn văn của Donald Trump và Marine Le Pen một khát vọng định vị lại gốc rễ của những nền văn hóa dân tộc. Một sự tôn vinh rễ chính là động thái quan trọng của những người muốn giữ những biểu tượng, biểu hiệu của liên minh các bang miền Nam nước Mỹ, thể hiện nét đặc thù của di sản người da trắng trong không gian công cộng. Nghịch lý thay, cũng có thể nghe thấy khát vọng này trong những lời kêu gọi khôi phục những lịch sử thiểu số, những tiếng nói bị trấn áp hay danh dự của những nạn nhân lịch sử.

 

Mặc dù chủ nghĩa dân tộc ái quốc thường được hình dung như là cực đối lập của chủ nghĩa đa văn hóa vốn chú trọng đến tính đa dạng nhưng những nhân vật khởi xướng của cả hai khuynh hướng này thực tìn lại có những động cơ và mong muốn rất giống nhau. Mỗi nhóm đều hy vọng có thể bảo tồn hay khôi phục một cảm thức về gốc rễ ở một cái gì đó. Nhìn vào những mối băn khoăn lớn về việc làm thế nào khi tôn vinh cội rễ của một bộ phận nào đó, ta không làm tổn thương cội rễ của những người khác, ta sẽ thấy cuộc đấu tranh này chắc chắn còn tiếp diễn trong những thập niên tới.

 

Quốc gia dân tộc, cố nhiên, vẫn sẽ là một đơn vị quan trọng. Suốt nhiều thế kỷ, người ta đã chết, và còn tiếp tục chết, cho dân tộc của mình. Ngược lại, không ai sẽ sẵn sàng chết cho cái gọi là “toàn cầu”, như nhận định rất sâu sắc từ một người bạn của tôi. Trên thực tế, chủ nghĩa toàn cầu dường như đang thách thức chính khả thể của tính bám rễ, ít nhất là cách mà người ta từng dựa vào nhà nước- quốc gia để lấy quyền lực tượng trưng của nó. Con người sẽ bám rễ như thế nào trong tương lai nếu các mạng lưới toàn cầu thay thế các quốc gia dân tộc? Qua dòng máu? Qua ý thức hệ? Những thực hành văn hóa cùng chia sẻ? Những sự tương đồng tập thể? Liệu chúng ta có trở nên thoải mái hơn khi bám rễ vào trạng thái không cội rễ?

 

Những câu hỏi này liên quan chặt chẽ đến những sự không chắc chắn về tình trạng sức khỏe của hành tinh chúng ta. Mối quan hệ giữa ta và trái đất đang trĩu nặng âu lo, nếu không có cách gì để thay đổi nhận thức về những mối lợi ích được duy trì liên tục trong suốt Thế nhân tân cũng như những tuyên ngôn khác về nhấn mạnh vào sự đứt lìa của nhân loại với thế giới tự nhiên.

 

Trong những nỗ lực nhằm sửa chữa tình trạng đứt mạch với hành tinh, phải kể đến việc thúc đẩy những hoạt động ngoài trời cho trẻ trước tuổi đi học để khôi phục sự kết nối mang ý nghĩa trung tâm giữa trẻ em và Đất mẹ bằng việc đưa các em trở về với môi trường sống tự nhiên. Rudolf Steiner, người sáng lập quỹ giáo dục Waldorf, đã gây ấn tượng mạnh khi thường xuyên đưa ra sự tương đồng giữa trẻ em và cây cỏ trong những trang viết của mình. Trong nhãn quan của ông, cây cỏ là hình mẫu cho sự được gắn kết vào vũ trụ, một điều cần thiết đối với hạnh phúc con người, do đó, đem tới trẻ em một ví dụ sinh động về sự kháng cự lại những sức mạnh gây bật rễ vốn cấu thành tính hiện đại.

 

Xuyên suốt lịch sử, nhiều triết gia – trong đó có thể nhắc tới những tên tuổi như Montesquieu, Rousseau và Heidegger – đã tin rằng đất đai và khí hậu của một vùng đất cụ thể có thể truyền cho cư dân nơi ấy những đặc điểm nào đó ở tính khí, ngôn ngữ và các sản phẩm văn hóa – những thứ in dấu ấn sâu sắc những tác động của địa hình, khí tượng và thực vật. Chủ nghĩa vùng miền sinh học (bioregionalism) này gợi nhớ đến khái niệm terroir trong tiếng Pháp vốn được dùng trong nông nghiệp và văn hóa ẩm thực để chỉ mối quan hệ giữa hương vị và nơi chốn. Nhưng điều này liệu cũng có đúng đối với con người?

 

Một nỗi khao khát về cội rễ và sự bám rễ có thể có một tầm quan trọng mới trong hoàn cảnh mới, đầy phức tạp của toàn cầu hóa, nơi sự chắc chắn là thứ khó có được. Nhưng tôi đôi khi cứ băn khoăn liệu có phải chính lối suy nghĩ bám rễ này thực sự đã gây ra nhiều vấn đề mà chúng ta dường như không thể tìm được giải pháp hay không. Hãy nghĩ về những cội rễ của chính bạn và thử xem có bao nhiêu phần bản sắc của bạn phụ thuộc vào chúng. Có bao nhiêu thứ làm phiền bạn hay làm bạn giận dữ, theo cách nào đó có liên hệ, dù chỉ là ngoại biên theo cách nào đó, với sự bám rễ này? Nếu bỗng nhiên bạn phát hiện ra mình nhầm lẫn về gốc rễ, bạn có bán chiếc quần Lederhosen lấy một cái váy Scotland? Cảm quan về bản ngã của bạn mang tính thương thỏa đến mức nào? Cội rễ của bạn chi phối hành động của bạn đến mức nào? Sẽ ra sao nếu bạn sinh ra với cội rễ của kẻ khác, chẳng hạn, kẻ thù của bạn?

 

Mỗi cá nhân sẽ có những câu trả lời khác nhau cho những câu hỏi trên. Song le, vẫn còn gì đó mang tính phổ quát ở sự bám rễ. Tất cả mọi người đều kiếm tìm một bối cảnh mà họ có thể tự bọc mình trong đó. Nếu ta thực sự bị mắc vào mạng lưới của vô vàn kết nối, thì theo nghĩa nào đó ta đã được toại nguyện ước muốn của mình; hệ thống mạng lưới chưa từng có tiền lệ giờ đây đã làm tính toàn cầu co lại và ít nhất, nó đã đem đến khả năng cho những hình thức mới của tính liên tục và sự phát triển. Song vẫn còn phải xem liệu tính kết nối này sẽ hòa giải làm sao với những bản sắc cá nhân, với những cách thức cũ tạo ra sự gắn bó, và với niềm hoài nhớ của con người về khu vườn đầu tiên mình từng thuộc về.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Christy Wampole, “Clinging to  Our Roots”, https://www.nytimes.com/2016/05/30/opinion/clinging-to-our-roots.html

Martha C. Nussbaum – “Làm người nghĩa là gì?” – Xin ngừng hỏi câu ấy!

Bài viết của Martha C. Nussbaum (1947) là một ý kiến khác trong cuộc thảo luận xung quanh câu hỏi “Làm người nghĩa là gì” trên chuyên mục Stone của The New York Times mùa hé này. Nussbaum là giáo sư tại Đại học University of Chicago Law School. Bà là tác giả của nhiều công trình gây ảnh hưởng lớn về đạo đức và giáo dục, trong đó cuốn Not for profit: why democracy needs the humanities (2010) đã được Ban tu thư Đại học Hoa Sen dịch và xuất bản dưới nhan đề Vô vị lợi: Vì sao nên dân chủ cần các môn học nhân văn (Bùi Thanh Châu dịch)

68281246-portrait-of-a-big-beautiful-elephant-outdoors-wild-animal

*

Trải theo thời gian, ý niệm “làm người” chắc chắn đã – và sẽ còn tiếp tục – nói lên nhiều điều. Chưa bao giờ chỉ có một lời đáp cho nó. Nhưng chắc chắn có một điều mà giờ đây cần được hàm chứa trong câu trả lời cho câu hỏi “Làm người nghĩa là gì?” Làm người, tức là phải mang năng lực nhận ra câu hỏi này, bản thân nó, đã là có vấn đề.

Con người chúng ta rất chuyên chú vào chính bản thân mình. Ta có xu hướng nghĩ rằng làm người, theo cách nào đó, là rất đặc biệt và quan trọng, vì vậy, ta cứ băn khoăn về nó, thay vì hỏi rằng làm một con voi, con heo hay một con chim thì nghĩa là gì. Sự thiếu vắng nỗi tò mò này thuộc về một vấn đề đạo đức rộng lớn.

Câu hỏi, “Làm người nghĩa là gì?”, không chỉ phản ánh khuynh hướng ái kỷ mà còn thể hiện một nhận thức trì trệ đáng trách cứ. Nó cũng tương tự như khi hỏi “Làm người da trắng nghĩa là gì?” Nó hàm ẩn trong đó những đặc quyền không kiếm mà có, được sử dụng để áp đặt sự thống trị và bóc lột. Song chúng ta lại thường không nhận ra điều này vì chủ nghĩa ái kỷ của chúng ta quá toàn vẹn.

Chúng ta sống chung hành tinh với hàng tỉ sinh thể có cảm giác khác và chúng đều có những cách thức phức tạp của riêng mình để tồn tại, bất kể chúng là gì. Mọi động vật trong thế giới của chúng ta, như Aristotle quan sát và nhận định từ lâu, đều cố gắng để sống sót và sinh sôi nảy nở nhiều hơn. Tất cả các loài vật này đều có khả năng tri nhận, đều có ham muốn. Và hầu hết đều di chuyển từ nơi này đến nơi khác để kiếm những gì chúng muốn và cần. Aristotle đềnghị chúng ta hãy cố gắng để tìm được một kiến giải chung về cách các loài động vật, gồm cả loài người tri nhận, ham muốn và di chuyển.

Chúng ta biết Aristotle là triết gia, song ông đồng thời cũng là một nhà sinh vật học vĩ đại, người đã nghiên cứu các loài giáp xác và những sinh vật lớn nhỏ khác. Ông khuyên học trò của mình đừng quay lưng với những loài vật trông không có vẻ lấp lánh, vì luôn có điều kỳ diệu trong tất cả các loài ấy, nhất là khía cạnh thực tế, rằng chúng đều cố gắng để đời sống được tiếp nối.

Cảm quan ngạc nhiên này, điều sẽ dẫn ta đến một mối bận tâm đạo đức đầy đủ hơn, là một phần sâu xa của nhân tín chúng ta. Nhưng nỗi ngạc nhiên đang suy giảm, loài người chúng ta giờ đây thống trị địa cầu đến nỗi chúng ta hiếm khi cảm thấy mình cần sống với những loài vật khác trong quan hệ tương hỗ.

Các loài vật được thuần hóa chiếm một vị trí ưu tiên, nhưng kể cả như thế, chúng thường bị đối xử một cách tàn nhẫn (hãy nghĩ đến những con chó hoang hay mèo hoang bị ruồng bỏ). Những trang trại lợn, gà và các loài động vật khác là một hình thức tương đối mới của sự tàn nhẫn bị che giấu. Còn đối với những sinh vật “hoang”, chúng ta có thể thấy tội ác của loài người chúng ta đã dẫn đến những hệ quả lớn đối với chúng: những tổn hại đến từ các phòng thí nghiệm sử dụng các động vật; những tác hại nhiều mặt có tính chất đặc thù từ việc giam nhốt khỉ và voi trong các vườn bách thú; sự giảm sút số lượng cá voi do việc đánh bắt bằng lao móc;  việc săn trộm voi và tê giác để thu lợi nhuận từ thị trường chợ đen quốc tế; việc buôn lậu voi bất hợp phát từ châu Phi sang các vườn bách thú ở Mỹ; sự tàn phá  môi trường sống của nhiều loài động vật có vú cỡ lớn là hệ quả từ biến đổi khí hậu. Giờ đây ước tính hoạt động của loài người đã góp phần dẫn đến sự tuyệt chủng của hơn 80 loài động vật có vú.

Nhiều vấn đề mới liên tục nảy sinh. Thế giới cần đến một cuộc cách mạng về đạo đức, một phong trào khơi dậy ý thức trên quy mô toàn cầu đúng nghĩa. Nhưng cuộc cách mạng này lại bị cản trở bởi quán tính của con người vốn xem mình luôn là trung tâm mà điều này lại nằm trong chính câu hỏi, “Làm người nghĩa là gì?”

Thay cho nó, hãy kích hoạt lại và mở rộng cảm quan ngạc nhiên của chúng ta bằng cách đặt câu hỏi: “Thế làm một con cá heo nghĩa là gì?”. Rồi hãy quan sát loài cá heo một cách tốt nhất trong khả năng của chúng ta, đọc những nghiên cứu rất hấp dẫn của các nhà khoa học như Hal WhiteheadLuke Rendell. Hãy ngẫm nghĩ về loài voi (loài vật mà cá nhân tôi yêu mến nhất), và nếu chúng ta không thể có một chuyến tham quan, hãy xem những bộ phim nói về loài voi sống đời mình một cách giản dị, thể hiện sự tận tụy với cộng đồng, niềm cảm thông, nỗi đau buồn và nhiều trạng thái phức tạp khác mà loài người chúng ta cứ nghĩ rằng chỉ riêng mình mới sở hữu.

Và hãy làm nhiều hơn nữa công việc mang tính triết học và pháp lý đối với những cách tiếp cận lý thuyết liên quan đến việc bảo vệ các loài động vật khác và phát triển mối quan hệ tương hỗ mật thiết với chúng. Chúng ta đã tập hợp được nhiều thông tin khoa học về sự phức tạp của đời sống loài vật. Giờ đã là lúc sử dụng chúng với ý thức triết học. Will KymlickaSue Donaldson đã có những công trình tuyệt vời về sự tương hỗ và gắn kết cộng đồng với các loài động vật được thuần hóa, nhưng vẫn còn nhiều việc nữa phải làm.

Trong thế giới nơi các chính sách chịu ảnh hưởng từ triết học, cách tiếp cận quan trọng có ảnh hưởng nhất về quyền động vật cho đến giờ vẫn là từ Jeremy Bentham – triết gia người Anh theo thuyết vị lợi. Nó tiếp tục được Peter Singer phát triển một cách rất thông minh và táo bạo. Cách tiếp cận này tiếp tục có một tầm quan trọng lớn vì nó tập trung vào những sự đau khổ mà loài vật chịu đựng. Nếu chúng ta chỉ cần ngừng gây ra những đau đớn vô cớ đối với loài vật, đó đã là một bước tiến rất đáng kể rồi.

Giờ đây, chúng ta đã biết loài vật cần nhiều thứ mà không phải lúc nào những thứ này cũng gây ra đau đớn cho chúng khi không được đáp ứng: cơ hội gắn kết với những con vật khác trong loài để lập nhóm; cơ hội để được hát hay rống theo những cách đặc trưng của chúng; cơ hội để sinh sản; cơ hội được di chuyển tự do qua những không gian không bị cản trở; cơ hội thỏa mãn tính tò mò và được khám phá những thứ mới. Bởi vậy, tôi tin chúng ta cũng cần một cách tiếp cận tập trung vào sự đa dạng của “những năng lực” đặc trưng hay sự đa dạng của tự do mà mỗi loài đòi hỏi để sống một đời sống trọn vẹn.

Tôi đang viết một cuốn sách trong đó sẽ sử dụng nghiên cứu trước đó của mình về “cách tiếp cận các năng lực” để xây dựng một khung đạo đức mới nhằm định hướng luật lệ và chính sách trong lĩnh vực này. Song cách của tôi chỉ là một hướng tiếp cận, nó nên và cần được thách thức bởi những hướng tiếp cận khác theo những mô hình khác. Các luật sư làm việc vì quyền lợi của động vật theo luật lệ của địa phương hay quốc tế cũng cần đến những góc tiếp cận lý thuyết sắc sảo và các triết gia nên hỗ trợ họ trong công việc của mình. Còn nhiều việc phải làm.

Vì thế, hãy nên gạt ra một bên khuynh hướng ái kỷ khi chỉ đặt câu hỏi về chính chúng ta. Hãy nỗ lực cho một thời đại mới mà việc làm người cũng có nghĩa là liên đới với những giống loài khác cũng đang chung sống với ta trên thế giới này.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Martha C. Nussbaum, “What Does It Mean to be Human? Don’t Ask”, https://www.nytimes.com/2018/08/20/opinion/what-does-it-mean-to-be-human-dont-ask.html?rref=collection%2Fcolumn%2Fthe-stone&action=click&contentCollection=opinion&region=stream&module=stream_unit&version=latest&contentPlacement=6&pgtype=collection