Tag Archives: chủ nghĩa cấu trúc

Huyền thoại và giải huyền thoại

Tôi sẽ cố gắng dành thời gian để dịch các thuật ngữ văn học và nghiên cứu văn hóa trên blog cá nhân của mình.

Hai mục từ dưới đây được dịch để hỗ trợ dự án “Những huyền thoại” mà tôi làm cùng với các bạn trẻ sinh hoạt trong nhóm đọc sách – “Nhóm thứ 6” – một hoạt động do Sakedemy tổ chức. Càng làm, càng thấy dự án liên quan đến nhiều thuật ngữ. Đây là hai thuật ngữ then chốt trong dự án này.

andy-warhol-monroe

*

HUYỀN THOẠI (MYTH)

Huyền thoại là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong phê bình văn học, đặc biệt trong những giải thích theo khuynh hướng phê bình lịch sử về những huyền thoại mà các nhà văn thường khai thác và trong những miêu tả của phê bình cổ mẫu về những cách thức qua đó những hình ảnh, kiểu nhân vật và mô hình tự sự phổ biến tái diễn xuyên suốt sự phát triển của văn học. Northrop Frye coi huyền thoại như là nền móng cấu trúc của văn học và phân tích phương thức tu từ của huyền thoại – một cách tiếp cận gần gũi với cách Tzvetan Todorov phân tích ngữ pháp của biểu đạt thi ca. Còn có nhiều cách sử dụng khái niệm huyền thoại theo lối phi văn chương, có lẽ nổi bật hơn cả là cách của Claude-Levi Strauss trong nghiên cứu của ông về hệ huyền thoại của thổ dân da đỏ châu Mỹ theo phương pháp cấu trúc luận.

Theo nghĩa thông thường nhất, một huyền thoại là một câu chuyện về một thần linh hay một thực thể siêu nhiên nào khác; đôi khi nó liên quan đến một con người được phong thánh hoặc một kẻ trị vì có dòng dõi thiêng liêng. Tập hợp những huyền thoại truyền thống trong một nền văn hóa cụ thể tạo nên một hệ huyền thoại minh họa hoặc giải thích nguồn cội của thế giới, tại sao thế giới từng như thế này hay thế khác, nó đã biến đổi làm sao và tại sao có những sự việc nào đó xảy ra. Mỗi huyền thoại đều đảm nhiệm chức năng mô tả hay giải thích bằng cách quy chiếu về những ý nghĩ, ham muốn và hành động của thần linh hay nhưng thực thể siêu nhiên khác. Từ những câu chuyện về tổ tiên hay huyền thoại, con người thuộc một nền văn hóa hay một xã hội cụ thể học được cách mình phải sống như thế nào và những ý nghĩa gì được gắn cho cuộc đời của họ.

Bởi vì nhiều nhà văn sử dụng những chuyện cũ hay những huyền thoại từ nền văn hóa của mình hay nền văn hóa khác, nên phê bình đã rất cố gắng để nhận diện những hiện tượng trở đi trở lại này và lý giải những phương thức mà chúng hoạt động trong tác phẩm văn học. Có khi huyền thoại xuất hiện trong văn học chỉ đơn thuần như một câu chuyện được dội về mạnh mẽ; lại có khi chúng chỉ cung cấp một âm bội có tính trang sức. Tuy nhiên, như trong nghĩa từ nguyên trong tiếng Hy Lạp, mythos (vốn có nghĩa là cốt truyện, chuyện kể, trần thuật), huyền thoại là bản thân cấu trúc tự sự của tác phẩm văn chương.

Từ góc độ phê bình cổ mẫu, các huyền thoại là nguyên tắc cấu trúc của văn học làm cho hoạt động giao tiếp bằng lời và ý nghĩa của tự sự/truyện kể trở thành khả thi và khả hữu. Dựa vào mối quan tâm của nhân học văn hóa về nghi lễ và mối quan tâm của tâm lý học phân tích đến những giấc mơ, phê bình văn học xem huyền thoại như là thể hợp nhất của nghi lễ và giấc mơ trong hình thức ngôn từ mà nếu không có nó, cả hai yếu tố này vẫn cứ ở trong tình trạng không thể diễn tả rõ ràng. Nghi lễ không thể giải thích cho chính nó còn giấc mơ chỉ là một tập hợp những quy chiếu được mã hóa về đời sống của kẻ nằm mơ. Việc ngôn từ hóa huyền thoại cấp ý nghĩa cho nghi lễ và hình thức tự sự cho giấc mơ, do đó làm cho giao tiếp xã hội trở thành khả thể.

Trong thế giới của huyền thoại, nhà văn tìm được một nhà kho trừu tượng hay mang tính văn chương thuần túy của những mô hình hư cấu và đề tài không chịu ảnh hưởng bởi những điển phạm về sự mô phỏng đáng tin những kinh nghiệm thông thường của con người. Huyền thoại cấp cho nhà văn một thế giới của ẩn dụ tổng thể trong đó mọi thứ đều có thể đồng thời là tất cả những thứ khác. Khi nhà văn rời khỏi việc sử dụng trực tiếp huyền thoại, những tác phẩm đậm hiện thực hơn sẽ xuất hiện.

Một khái niệm hoàn toàn khác về hiện thực được Roland Barthes đưa ra trong cuốn “Những huyền thoại” (1957), trong đó, ông xem xét các “huyền thoại” hay các tạo tác văn hóa của văn hóa đại chúng Pháp, bao gồm sự viết lách, thể thao, phim ảnh, quảng cáo, thức ăn. Coi ngôn ngữ không phải như một phương tiện giao tiếp trong suốt mà như một phương tiện tạo ra sự trấn áp bởi giai cấp tư sản, Barthes đã lập luận để thấy ngôn ngữ củng cố một ý thức hệ nhất định. Nghiên cứu một loạt những văn bản khác nhau, Barthes đã đề nghị một lối đọc “nghịch lý” (paradoxical), theo đó, người đọc phải đi tìm ý nghĩa “huyền thoại” hay mới mẻ xung đột với logic bề mặt của ngôn ngữ một văn bản. Người đọc phải phá bỏ những giá trị xã hội truyền thống có vẻ như là “tự nhiên” và phải lấy lại những quan điểm mang tính đa nguyên hơn.

ALVIN A. LEE

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Encyclopedia of Contemporary Literary Theory – Approaches, Scholars and Terms, do Irena M. Makaryk chủ biên, University of Toronto Press, 1995, trang 596-7

*

GIẢI HUYỀN THOẠI (DEMYTHOLOGIZING)

Được gợi ý từ những học giả theo đường lối cánh tả tại Pháp và trường phái Frankfurt, các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa duy vật văn hóa đã nêu lên luận điểm, theo đó, trong xã hội có một khuynh hướng cho rằng có những thứ mang bản chất cố hữu, tự nhiên, “theo cách chúng vốn vậy”, và được hiểu như những mặc định, mà không thừa nhận tính “tự nhiên” ấy thực tế là một tạo tác hoặc là một quá trình của ý thức hệ văn hóa, phụ thuộc vào tập quán xã hội. Dù với lý do đi nào đi nữa (và những nhà Marxist, những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thần bí hóa” [mystification], đã mặc định rằng những lý do này được gắn kết với chủ nghĩa tư bản), văn hóa vẫn cứ muốn hình dung một sự vật, hoạt động hay quá trình nào đó là cái gì đó mang tính tự nhiên hơn là mang tính văn hóa và thần bí hóa nó lên. Hơn thế, những gì được huyền thoại hóa lại thường chiếu theo những quan điểm nhân văn – duy lý về các giá trị tuyệt đối, các nền văn hóa bao trùm và những bản ngã thống nhất, ổn định – những thứ mà Jacques Derrida gọi là “cái được biểu đạt siêu nghiệm” và Paul de Man gọi là “những biểu tượng tự huyền thoại hóa” dựa trên những ý niệm mạch lạc về Thượng đế, bản ngã và ngôn từ. Trên thực tế, các huyền thoại trong Kinh Thánh nằm trong số những đối tượng đầu tiên bị xem xét dưới cái nhìn của một học giả người Đức, Rudolf Bultmann, người sử dụng thuật ngữ Entmythologisierung (giải huyền thoại) để chỉ quá trình thông diễn học mà qua đó, các diễn dịch quy phạm về Thiên Chúa giáo có thể được định giá lại theo những phạm trù hiện sinh. Do đó, một trong những nhiệm vụ của các nhà nhân học, ký hiệu học và chủ nghĩa duy vật văn hóa là khám phá những cách thức mà ý nghĩa được cấu trúc và thể hiện trong một nền văn hóa cụ thể, xem xét cách mà các ký hiệu lan khắp mọi bình diện của đời sống và chứng minh xem làm thế nào mà những ký hiệu này có thể được coi là những sáng chế văn hóa hay những huyền thoại và hệ quả là, chúng có thể được “giải huyền thoại”, “giải thần bí” như thế nào.

Những cặp khái niệm như văn hóa/tự nhiên, huyền thoại hóa/ giải huyền thoại hóa (thần bí hóa), vốn liên hệ với nhau ràng rịt, đã được một số học giả xem xét kỹ lưỡng, trong đó có Claude Lévi-Strauss, người coi các cặp đối lập này như là bộ phận của một cấu trúc quan hệ hay hệ thống những khác biệt và khám phá tầm quan trọng phổ biến của chúng, phân loại chúng và đánh giá những kết hợp tượng trưng của chúng bên trong hệ thống ấy.

Có lẽ nhà giải huyền thoại gây ảnh hưởng lớn nhất là Roland Barthes, người nhận thấy ngôn ngữ là một phương tiện xã hội mà giai cấp tư sản sử dụng để tạo ra sự trấn áp và tha hóa hơn là một công cụ để tự biểu đạt và giao tiếp. Cho rằng ngôn ngữ duy trì cấu trúc của quyền lực trong một khoảng thời gian không xác định và hệ quả là, nó giúp củng cố một ý thức hệ nhất định, ông nêu lên quan điểm: nhiệm vụ của nhà phân tích là phải đưa ra được một lối đọc đối lập với lịch sử và văn hóa, từ đó, phơi bày quá trình sản xuất ý nghĩa, phê phán những huyền thoại văn hóa, “phá bỏ” (unlearn) những giá trị văn hóa chính thống, thiết lập những quan điểm mang tính đa nguyên hơn. Mặc dù ở mức độ nào đó, tất cả các công trình của ông đều theo đuổi nhiệm vụ này nhưng hai tác phẩm sớm nhất của ông dành cho nó là “Độ không của lối viết” (1953) và “Những huyền thoại” (1957). Trong cuốn đầu, ông bàn về lối viết tư sản hay lối viết cổ điển của văn chương Pháp từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX. Tính khả đoán của lối viết này khiến nó trở nên dễ đọc hay, nói như Barthes, làm nó có vẻ “tự nhiên”. Việc giải tính tự nhiên của nó bằng việc nghiên cứu xem lối viết này được tạo ra thế nào sẽ làm suy giảm quyền năng vốn có và sự kiểm soát của nó. Ở cuốn sách thứ hai, ông quan sát những loại huyền thoại xã hội trong văn hóa đại chúng (mà lối viết là một huyền thoại trong đó) để giải mã phương thức mà chúng tác động lên con người. Huyền thoại này bao gồm thể thao, phim ảnh, thức ăn đồ uống, quảng cáo, xe ô tô, nhiếp ảnh và nhiều thứ khác – tất cả đều không phải là những sản phẩm phụ ngây thơ của nền văn hóa chúng ta mà là những cách thức nhờ đó ý thức hệ thống trị tự khẳng định nó.

Jacques Derrida đã khám phá hệ thống ngôn ngữ, cách lập luận và logic để giải huyền thoại hay giải cấu trúc các thực hành văn hóa và các niềm tin. Theo ông, nói chung, các niềm tin của văn hóa phương Tây thường chụm quanh những khái niệm siêu nghiệm nguyên thủy mà ông gọi là tinh thần trung tâm luận (logocentric), chẳng hạn một lời nói nào đó được xem là tối hậu, sự hiện diện (presence), trung tâm, cội nguồn cố định, chân lý hay hiện thực. Để giải huyền thoại chúng, ông xem xét một số văn bản quan trọng đã tạo nên siêu hình học phương Tây, gồm có “Phaedrus” của Plato, “Bài giảng ngôn ngữ học đại cương” của Ferdinand de Saussure, “Sống và Chín” của Lévi- Strauss. Bằng việc thẩm định lại nhưng giả định được xem là vững chắc của chúng, những cấu trúc mạch lạc và giá trị nền tảng của chúng, ông phát hiện ra những khoảnh khắc khó xử mà ở đó các văn bản lộ ra những khiếm khuyết, những điểm yếu của mình; ông nhận thấy chính những nứt rạn, đứt gãy của chúng và mở chúng ra cho những diễn giải mới. Ông cho rằng những văn bản và những quan niệm này thực ra không nhất quán mà đúng hơn, chúng bao hàm nhiều điểm tự mâu thuẫn, những đối chọi không được nhận thấy, những nhận định xung đột lẫn nhau. Derrida gợi ý: mọi thứ đều tự mâu thuẫn và tự bất đồng (différence), bởi thế sẽ không bao giờ chịu đầu hàng trước một kết luận đơn nhất và được xã hội chấp nhận.; cái ý nghĩa cuối cùng, giả sử nó có tồn tại, sẽ là thứ luôn bị trì hoãn vĩnh viễn (différance).

Giống như Barthes và Derrida, Michel Foucault cũng mạo hiểm đi vào địa hạt ngôn ngữ và các thực hành biểu nghĩa trong xã hội để khám phá những gì cấu thành nên tri thức, ai kiểm soát nó, nó được mã hóa thế nào, ý thức hệ cất giấu nó ở đâu trong các diễn ngôn và thực hành diễn ngôn. Vai trò của ông và những người khác khi khám phá quan hệ của ngôn ngữ và ý thức hệ văn hóa là phát hiện phả hệ (cội rễ) của những mục đích, những nguyên lý văn hóa được đóng vào ngôn ngữ và giải trung tâm chúng. Vì “ham muốn và quyền lực” lúc nào cũng dính chặt vào diễn ngôn nên giải huyền thoại luôn là việc khó khăn, song những khó khăn có thể vượt qua được một phần bằng việc chấp nhận tính võ đoán của ngôn ngữ và tất cả các quy phạm xã hội. Tất cả các phương thức diễn ngôn đều là kiến tạo văn hóa, đều được hệ thống hóa, đưa vào trật tự và trao chức năng cũng như giá trị trong một nền văn hóa và thời đại cụ thể.

Mặc dù Jacques Lacan được biết đến nhiều hơn về sự “trở lại” với Freud hơn là những phát biểu của ông về giải huyền thoại song phân tích của ông về sự phát triển nhân cách phụ thuộc vào một khái niệm về bản ngã được cấu trúc theo những hình ảnh về kẻ khác. Quan điểm của Lacan là khi những hình ảnh này cũng như văn hóa thay đổi thì bản ngã cũng sẽ thay đổi. Khi một đứa bé bước vào giai đoạn hậu-gương (post-mirror) lúc khoảng 18 tháng và gia nhập Luật của Người Cha [Law-of-the-Father] (những mã xã hội và ngôn ngữ cấu thành nên một xã hội cụ thể), nó nhận ra sự cần thiết của việc phải thích nghi với những điều kiện và hệ hình biến đổi. Bản ngã, bởi vậy, luôn liên tục lưu chuyển. Đối với Lacan, qquan điểm về một bản ngã nhất quán, siêu nghiệm là một huyền thoại; chủ thể bị tự phân chia, bị tách giữa một bên là ước muốn về cái toàn thể (cái Tưởng tượng [Imaginary]) và một bên là thực tại phân mảnh (cái Tượng trưng [Symbolic]); hệ quả là, nó cũng võ đoán, cũng tùy tiện như các chuẩn mực và thiết chế văn hóa khác. Tuy nhiên, bởi văn hóa gắn chặt với nhãn quan về một bản ngã siêu nghiệm, mạch lạc, thống nhất nên quan điểm ấy cũng cần bị giải huyền thoại.

Huyền thoại, như thế, bao trùm khía cạnh của hiện sinh, bao gồm ngôn ngữ, các quan niệm về bản ngã, các khuôn mẫu và thiết chế văn hóa. Theo các nhà cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận, tất cả đều cần được giải thần bí hóa và được xem là võ đoán và được cấu thành trong những điều kiện đặc thù của một xã hội cụ thể tại một thời điểm nhất định. Một số nhà phê bình, tuy vậy, lại thấy khái niệm võ đoán tự nó cũng võ đoán. Chủ nghĩa tương đối luận nằm dưới quá trình giải huyền thoại không hấp dẫn cũng không dễ chấp nhận đối với những ai tin vào những giá trị vĩnh viễn hay nhu cầu về những kiến tạo văn hóa có tính thống nhất.

GORDON E. SLETHAUG

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Encyclopedia of Contemporary Literary Theory – Approaches, Scholars and Terms, do Irena M. Makaryk chủ biên, University of Toronto Press, 1995, trang 529-530

 

Jeffrey T. Nealon – Thời đại của những thứ “Hậu” (phần 2)

Hậu cấu trúc luận

 

Với tư cách một thuật ngữ, “hậu cấu trúc luận” cũng phức tạp không kém “hậu hiện đại”: Trước khi nắm được chữ “hậu” trong thuật ngữ này có ý nghĩa gì, ta cần phải biết đôi điều về cấu trúc luận mà về logic, nó xuất hiện trước hậu cấu trúc luận. Cấu trúc luận là hay đã từng là một trào lưu xuyên/liên ngành trong lĩnh vực nhân văn và khoa học xã hội, có tác động lớn nhất đến ngôn ngữ học, dân tộc học, nhân học và phê bình văn học. Về bản chất, cấu trúc luận quan tâm đến việc nghiên cứu hệ thống biểu nghĩa hay biểu tượng và tiền đề cơ bản của trào lưu này đã trao cho nó tên gọi: Đối với bất kỳ một hiện tượng biểu nghĩa có sẵn, phải có một cấu trúc chìm bên dưới khiến cho hành động biểu nghĩa trở nên khả hữu và chi phối hành vi này theo cách thức nào đó.

 

Chẳng hạn, để bất kỳ một hành động ngôn từ nào có thể hiểu được, phải có một ngữ pháp chung giúp giải thích trật tự từ cụ thể, mẫu câu, ví trị của chủ ngữ, động từ, bổ ngữ, v.v… Bất cứ một hiện tượng biểu nghĩa hay có ý nghĩa nào cũng tiền giả định một kiểu cấu trúc nào đó, một hệ thống luật lệ và giá trị mà nhờ đó hiện tượng này được tạo lập và bên trong cấu trúc này, ít nhất, nó có thể hiểu được ở cấp độ tối thiểu đối với những ai nắm được hệ thống này. Theo đó, nghĩa của từ “cấu trúc” trong thuật ngữ “cấu trúc luận” phần nào đó trùng với “tư tưởng hệ” (ideology) trong định nghĩa thứ hai về khái niệm này như là “ý nghĩa chung phổ quát” (“common sense”) có tính chất chỉ đạo – một thỏa thuận được chia sẻ song chủ yếu thuộc về vô thức – của một xã hội (social body).

 

Một ví dụ về cách phân tích theo kiểu cấu trúc luận: để một người hiểu một mệnh lệnh đơn giản trong tiếng Anh “Đóng cửa lại!”, cả người nói và người nghe nhất thiết đã phải nắm được một lượng rất đáng kể thông tin “cấu trúc”, cả về thứ ngôn ngữ mà họ đang nói và cả tình huống giao tiếp của họ lúc này. Hình thức mệnh lệnh là một hình thức đặc biệt khó nắm bắt trong tiếng Anh, nó dựa trên giọng điệu của lời nói và những vấn đề thuộc về ngữ cảnh (vị trí xã hội tương đối giữa người nói và người nghe, sự hiểu lẫn nhau của người nói và người nghe về “vấn đề” được tạo ra từ một cánh cửa còn mở ngỏ, v.v…) cũng như “nội dung” của thông điệp; bên cạnh đó, chủ thể của mệnh lệnh được hàm ẩn hơn là biểu hiện trực tiếp, do vậy, để biết có thật là bạn là đối tượng được nhắm đến hay không, xét một cách nghiêm ngặt, thì dường như không thể nhìn ra ngay được từ bản thân câu nói. Để hiểu được ý nghĩa của mệnh lệnh giản đơn này, bạn cần phải nắm được cả ngữ pháp tiếng Anh và tình huống trong đó câu nói này được phát ngôn.

 

Nói khác đi, một số “cấu trúc” phức tạp chìm bên dưới cần phải nắm được trước khi một hành động tượng trưng đơn giản được trao cho ý nghĩa, và chủ nghĩa cấu trúc quan tâm đến việc phát lộ những hiện tượng ẩn chìm này. Như Robert Scholes đã viết trong cuốn Structuralism in Literature [Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học], “để tồn tại, bất kỳ một lĩnh vực khoa học nhân văn nào cũng phải chuyển trọng tâm từ những hiện tượng mà nó nhận ra đến cái hệ thống chi phối chúng” (14). Trên thực tế, người ta có thể nói rằng bước chuyển từ các sự vật sang các cấu trúc chi phối chúng là sự chuyển dịch mang tính trung tâm của mọi chủ nghĩa cấu trúc.

 

Lẽ dĩ nhiên, mỗi chúng ta, ai cũng vẫn luôn thể hiện những chuyển dịch cấu trúc luận như thế – từ một hành động tượng trưng cụ thể đến cấu trúc làm cho nó trở nên mang tính khả thụ (intelligible) – chúng ta chọn lựa, ít nhiều vô thức, các ký hiệu và biểu trưng theo các cấu trúc của tính khả thụ mà chúng ta đã học từ trước đó rất lâu. Thí dụ, trỏ ngón tay giữa nhằm vào ai đó, tự bản thân nó, là một hành động vô nghĩa, song nếu khi ta hiểu động tác này từ ngữ pháp cấu trúc của xã hội Mỹ, nó lại mang một ý nghĩa đặc biệt. Trên thực tế, quá trình quy chiếu (reference) thường xuyên mang tính tự động đến nỗi chúng ta nhận ra điều này chỉ khi nó bị phá vỡ theo cách nào đó, khi, chẳng hạn, ngôn từ và hình ảnh trở nên khó vì chúng bị “chồng mã” (over-coded) với sự đa bội của ý nghĩa (như trong ngôn ngữ văn chương hay thi ca) hay khi chúng ta tìm cách để hiểu một ngôn ngữ không quen hay tiếng nước ngoài-lúc đó chúng ta không biết được những cấu trúc xã hội và ngôn ngữ chìm bên dưới. Nói cách khác, khi chúng ta không biết hay không thể luận ra được các cấu trúc chìm của ý nghĩa thì ta mấy thấy rõ hơn bao giờ hết sự tồn tại của những cấu trúc này.

 

Câu hỏi thảo luận 1:

 

Hãy nhớ lại và mô tả lần gần đây nhất bạn ở trong một tình huống mà mình không hiểu được những cấu trúc chìm của ý nghĩa chi phối một cuộc chuyện trò. Một lần đến một đất nước khác chẳng hạn? Hay đến một vùng lân cận, một cửa hàng hay một quán bar ngay trong thành phố của mình? Đến dự một buổi tiệc cơ quan tại một nơi mà bạn không làm việc ở đó? Một trận cricket trên TV? Hay một buổi tối đi chơi với một nhóm người đều cùng làm một nghề – nha sĩ, chuyên gia máy tính, lái xe tải, thợ sửa đường nước, nhạc sĩ – và họ cứ nói không biết mệt về công việc hay sở thích của mình bằng một thứ ngôn ngữ có nhiều đặc thù mà bạn không hiểu?

 

Điều gì mà bạn cảm thấy không hiểu nhất khi ở trong một tình huống như thế? Hệ quả của điều đó đối với bạn là gì? Đó có phải là trường hợp mà bạn cần phải biết nhiều các cấu trúc phức tạp để bước vào những cuộc chuyện trò đơn giản?

 

*

Có lẽ diễn ngôn xác lập hệ hình cho chủ nghĩa cấu trúc là ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure. Chúng ta nhớ rằng Saussure đã phân biệt giữa ký hiệu vật chất (material sign) hay hành động ngôn từ (speech act) và các cấu trúc chìm – tương ứng lần lượt với cái được biểu đạt (signified) và ngữ pháp (grammar) – vốn làm cho những hành động tượng trưng như vậy trở nên có thể hiểu được. Saussure vẫn còn có ảnh hưởng quan trọng đối với hậu cấu trúc luận nhưng hậu cấu trúc đã soi rọi và chất vất cấu trúc luận tại chính điểm trọng tâm nhất của nó, tức sự chuyển dịch từ cái cụ thể (cái biểu đạt) sang cái cấu trúc chi phối nó (cái được biểu đạt).

 

Chắc chắn các nhà hậu cấu trúc sẽ đồng ý rằng ở vào một tình huống mà ta không hiểu một điều gì đó, những cấu trúc chìm của ý nghĩa sẽ trở nên hiển lộ rõ nhất: Khi người thợ sửa đường ống nước mô tả cho bạn một cách chi tiết hoạt động bên trong của một toilet, bạn sẽ nhận thấy anh ta đang liên hệ đến những cấu trúc mà bạn không hiểu; tương tự, khi bạn gọi một bữa sáng ở Đức và nhận về một thứ giống như là bữa trưa, bạn nhận ra-giống như Dorothy-mình không còn ở Kansas nữa. Bạn không nói sai nhưng “bữa sáng” trong tiếng Đức (cái mà người ta có thể gọi là cái được biểu đạt của bữa sáng) mang nghĩa khác với tiếng Anh.

 

Tuy nhiên, đối với những vở kịch nhỏ này, các nhà hậu cấu trúc luận sẽ bổ sung một quan sát khác: việc nhận ra mình không hiểu anh thợ sửa đường ống nước nói gì hay không thể gọi một bữa ăn sáng đúng nghĩa bằng tiếng Đức đồng thời cũng kéo theo việc nhận ra các cấu trúc của tính khả thụ không phải mang tính phổ quát hay trừu tượng. Khi hệ thống của bạn bị phá vỡ, bạn nhận thấy những cấu trúc chìm của ý nghĩa (những ngữ cảnh [context] tạo nghĩa) mỗi nơi một khác. Các cấu trúc của ý nghĩa, giống như bản thân ý nghĩa, không trừu tượng hay mang tính siêu nghiệm: Cái được biểu đạt (khái niệm bữa sáng, chẳng hạn) cũng mang tính cụ thể (phụ thuộc vào ngữ cảnh của ý nghĩa của nó) như cái biểu đạt (“breakfast” trong tiếng Anh hay “Fruhstuck” trong tiếng Đức); cái dường như là thứ ngữ pháp trừu tượng và phổ quát (bạn gọi món ?) cũng cụ thể và có thể thay đổi như câu hay từ liên quan đến nó.

 

Đối với một nhà hậu cấu trúc luận, cả cái biểu đạt cái được biểu đạt đều “võ đoán” (arbitrary) như thế này. Không có một liên hệ tất yếu (hay cấu trúc) nào giữa một từ và ý nghĩa của từ đó. Đây có lẽ là sự bổ sung quan trọng nhất của các nhà hậu cấu trúc luận  cho cấu trúc luận: Ngay cả bản thân các cấu trúc bề sâu hay cấu trúc chìm của ý nghĩa cũng mang tính võ đoán; cái chúng ta coi là nguyên nhân (cause) của ý nghĩa hay tính khả thụ tự thân nó đã là một kết quả (effect); ở bất cứ chỗ nào mà bạn nghĩ bạn đang thấy cái tự nhiên (nature) thì hóa ra ở đó văn hóa (culture) đã hiện hữu.

 

Nói một cái gì đó mang tính võ đoán, về cơ bản, nghĩa là nói rằng nó dựa trên sự thiên vị mang tính chất cá nhân và vì thế mà cũng dễ thay đổi nó được. Hiểu như vậy, cái mà hôm qua bạn gọi là bữa trưa là “võ đoán”, tùy tiện – nó là một sự thiên vị mang tính cá nhân không có logic nào ở đây và có thể thay đổi theo từng ngày. Tất nhiên, đây không phải là sự võ đoán theo nghĩa mà Saussure dùng để nói về bản chất của cái biểu đạt. Trong tiếng Anh, bữa ăn giữa ngày hôm qua được gọi là “bữa trưa” (lunch) như nhiều năm trước nó cũng vẫn được gọi như thế và sẽ rất tốt nếu ngày mai và nhiều nhiều năm sau, nó vẫn tiếp tục được gọi như vậy. Bạn có thể thể hiện sự thiên vị cá nhân của mình khi gọi nó là “flanjor” nhưng đừng kỳ vọng bất cứ ai cũng hiểu bạn đang nói gì khi nói “Hey, nào đi ăn flanjor thôi”. Cái biểu đạt, mặc dù mang tính “võ đoán”, không phải là một sự thiên vị cá nhân.

 

Trên thực tế, như Saussure đã viết, “bản chất võ đoán của ký hiệu thực chất chính là cái bảo vệ ngôn ngữ khỏi những mưu toan muốn biến đổi nó”. Nghe có vẻ lạ: Nếu “võ đoán” nghĩa là không có mối liên hệ “tự nhiên” nào giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt (đó là mối liên hệ “bị kiến tạo về văn hóa”, đối lập với cái gọi là “tất yếu” [essential]), thì chẳng phải suy ra từ điều này, mối liên hệ đó sẽ dễ dàng thay đổi hay điều chỉnh hơn sao? Nếu mối liên hệ giữa từ và ý nghĩa là “võ đoán” hơn là “tất yếu”, thế thì chẳng phải tất cả mọi từ đều phụ thuộc vào “sự biến đổi” (modification) dễ dàng theo cách này sao?

 

Câu hỏi thảo luận 2:

 

Vậy thì nói một điều gì đó là “võ đoán” nhưng vì thế nó kháng cự lại sự thay đổi thì có nghĩa lý gì? Để thay đổi một điều gì đó, chẳng phải ta phải chỉ ra nó không phải “tự nhiên” và do đó, có thể bị thay đổi hay sao? Nếu cái biểu đạt là “võ đoán” hay đơn thuần chỉ là “bị kiến tạo về văn hóa”, tại sao không nhiều người muốn gọi “lunch” là “flanjor”?

 

*

Sau cấu trúc luận, nói một điều gì đó mang tính chất “kiến tạo văn hóa” hơn là “bản chất” hay “tự nhiên” cũng có nghĩa hàm ý muốn nói điều đó không khó để thay đổi: Nếu nó không phải là bản chất hay tự nhiên thì sẽ dễ dàng để biến đổi nó, phải không? Ồ, không. Lấy thí dụ, đa số mọi người sẽ đồng ý rằng những vấn đề cấp thiết nhất của thời đại này đều là những kiến tạo xã hội: đói nghèo, tội phạm, phân biệt đối xử, thuế má, chiến tranh. Ai cũng biết những vấn đề này là những kiến tạo xã hội; sự phân biệt đối xử không phải là hiện tượng “tự nhiên” cũng như những thứ thuế cao hay chiến tranh; con người trở thành những tín đồ mù quáng, họ không được sinh ra như thế. Thế nhưng thực tế này dường như lại chẳng có tác động gì lớn lên diễn ngôn về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hay giới tính. Phần lớn mọi người có lẽ đều đồng ý rằng vai trò của phụ nữ không đơn thuần chỉ là làm vợ, làm mẹ nhưng điều này không thay đổi được thực tế của sự phân biệt giới tính trong xã hội. Nói như nhà nữ quyền luận Eve Kosofsky Sedgwick: “Tôi nhớ sự nồng nhiệt thể hiện trên bề mặt khi các học giả nữ quyền luận chào đón những phát hiện về bản chất văn hóa, chứ không phải bản chất sinh học, của hình thức này hay hình thức kia của sự trấn áp. Tôi đã thường băn khoăn rằng cái gì là nền tảng cho niềm lạc quan của chúng ta về khả năng dễ uốn nắn của văn hóa mà bất kỳ một nhóm hay một chương trình nào có thể tạo ra”.

 

Thực tế cho thấy nếu sự phân biệt đối xử là một thứ “tự nhiên” và theo cách nào đó, nó có thể bị vô hiệu hóa về mặt khoa học thì nó còn dễ thay đổi hơn là khi người ta đồng ý rằng sự phân biệt đã là một hiện tượng kiến tạo xã hội ngay từ đầu. Các tập quán xã hội, trên thực tế, cực khó để thay đổi, không phải vì chúng mang tính “tất yếu”/”bản chất” mà chính là vì chúng ta đã quen với nó. Không có lý do nhất thiết nào để hầu hết các trận cầu Mỹ chỉ diễn ra vào ngày chủ nhật (cũng như không có mối liên hệ tất yếu nào giữa từ “football” và phiên bản Mỹ của môn thể thao này) nhưng việc không có lý do nhất thiết nào cho việc nó được diễn ra theo cách này chắc chắn không có nghĩa là thực sự dễ quyết định làm việc đó theo một cách khác.

 

Vì “võ đoán” nghĩa là “được kiến tạo về mặt xã hội” theo Saussure, tất yếu nó cũng có nghĩa là “kháng cự lại sự thay đổi”. Các tập quán xã hội đã trở nên thâm căn cố đế, và các quy ước xã hội, bởi thế, không thể thay đổi chỉ qua bất cứ một hành động của cá nhân nào. Ngôn ngữ, như Saussure chỉ ra, có lẽ là ví dụ tuyệt vời nhất cho điều này: ngôn ngữ là một hệ thống xã hội về ý nghĩa mang tính võ đoán dựa trên những quy ước đã duy trì từ lâu nên nó có sức kháng cự rất cao đối với sự thay đổi. Thay từ “lunch” bằng từ “flanjor” khi từ “lunch” vẫn có một lực hấp dẫn trong cách sử dụng ngôn ngữ hàng ngày thì để làm gì? Chỉ ra một cái gì đó được kiến tạo hay được cấu trúc không giống với việc cuối cùng ta cũng hiểu được nó hay có thể bằng cách nào đó thay đổi nó toàn diện.

 

Tuy nhiên, trong nhiều biến thể của nó, cấu trúc luận mơ ước tìm thấy một kiểu cấu trúc phổ quát cho những hệ thống biểu tượng và một thứ tự nhiên có tính chất nền tảng nhất, xuất hiện trước bất kỳ một thứ văn hóa nào. Nhân học cấu trúc, chẳng hạn, đã lập luận rằng sự cấm kỵ loạn luân là cấu trúc nền tảng hay cấu trúc chìm của mọi hệ thống biểu tượng trong mọi xã hội. Như Jacques Derrida đã viết về tác phẩm của nhà nhân học cấu trúc Claude Levi-Strauss:

 

Xã hội, ngôn ngữ, lịch sử, cách diễn đạt (articulation)…được sinh ra cùng lúc với sự cấm kỵ loạn luân…vốn nằm ở bản lề giữa tự nhiên và văn hóa…[Sự cấm kỵ loạn luân], hơn thế, không đơn giản là một thành tố, giữa những thành tố khác, của văn hóa, vì nó là một lệnh cấm thiêng liêng và phổ quát. Nó là thành tố của bản thân văn hóa, cội nguồn không được công khai của những đam mê, của xã hội của ngôn ngữ.

 

Theo Derrida, một nhà hậu cấu trúc luận, cái đáng ngờ ở đây là phẩm chất “thiêng liêng và phổ quát” của sự cấm kỵ loạn luân mà Levi-Strauss khẳng định. Nói khác đi, điều đáng ngờ đối với một nhà hậu cấu trúc luận là dấu vết của một khẳng định mang hơi hướng thần học hay tính chất siêu nghiệm nào đó về “cấu trúc” theo quan điểm của cấu trúc luận. Tuy nhiên, các cấu trúc dường như chi phối các thực hành văn hóa bản thân chúng cũng là sản phẩm của các thực hành văn hóa. Đây là bài học của chủ nghĩa hậu cấu trúc và cũng là điểm nào mà nó dễ móc nối với chủ nghĩa hậu hiện đại nhất: Cả các nhà hậu hiện đại và hậu cấu trúc đều nhấn mạnh và làm nổi bật bản chất tạm thời của mọi khẳng định về sự thật/chân lý.Các sự thật/chân lý chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh đặc thù, điều đó không có nghĩa bất kỳ điều gì chúng ta nghĩ cũng đúng cả (như ta thấy xuyên suốt văn bản này), mà đúng hơn là các sự thật/chân lý phụ thuộc vào các ngữ cảnh đặc thù.

 

Câu hỏi thảo luận 3:

 

Thuyết big bang dường như là một phiên bản khoa học được chấp nhận về sự ra đời của vũ trụ: Tất cả bắt đầu từ một khối khổng lồ vỡ ra từ một vụ nổ lớn. Vũ trụ sẽ mở rộng ra đến hết khả năng của nó và lại bắt đầu thu nhỏ lại, ghép tất cả những vì vỡ vụn lại thành một khối không phân hóa. (Lý thuyết này đồng thời cũng giúp giải thích thuyết trọng lực, thuyết entropy, thuyết nhiệt động lực học và hàng loạt các khái niệm khoa học khác.)

 

Vậy có điểm gì đáng ngờ về lý thuyết big bang từ quan điểm hậu cấu trúc luận?

 

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Jeffrey Nealon & Susan Searls Giroux, The Theory Toolbox- Critical Concepts for the Humanities, Arts & Social Sciences, Rowman & Littlefield Publishers, Inc, 2003, p.131-140..