Tag Archives: buồn

Đọc “Nhật ký chuyên văn” (Nhiều tác giả Văn Ams 92-95)

1. Tôi muốn bắt đầu từ những trang cuối cùng của cuốn sách, bằng những dòng mà Nguyên – một trong “ba con chim quý” của lớp 12 Văn khóa 92-95 – viết về ông thầy của mình. Nguyên, như những dòng tự bạch, là cậu bé sớm không vừa khuôn với thực tại, không chấp nhận mọi sự chật chội, bưng bít, hay nói như lời của chính ông thầy, “sớm có mầm nổi loạn”.  Không quá lời khi nói rằng cậu bé 15 tuổi ấy đã may mắn khi gặp được một người thầy như thầy Hùng, một người thấy đủ nhạy cảm để sớm nhận ra sự khác biệt của cậu học trò, nhìn thấy những mầm mống nổi loạn ấy không phải như những nhân tố tiêu cực để trấn áp, ngăn ngừa mà trái lại, như những dấu hiệu của tương lai. Một cậu bé như thế, hoặc sẽ rất dễ khủng hoảng tâm lý, dễ bị tổn thương, hoặc ở cực khác, sẽ trở nên vĩ cuồng, ảo tưởng nếu như không có một người đủ tin cậy để chia sẻ, một người có thể điềm tĩnh lắng nghe và cố gắng để hiểu, để cảm thông và khích lệ. Người thầy ở đây đã trở thành một người bạn xuất hiện đúng lúc.

Không hiểu sao, trong trường hợp này, không chỉ cậu học trò thấy may mắn, mà chính cả người thầy có lẽ cũng là người may mắn. Một thời gian tuy chưa thật dài gắn bó với phổ thông, làm công việc dạy văn, tôi cảm thấy một trong những điều thú vị nhất là môn học này giúp tôi nhận ra được những cá tính đặc biệt của học trò. Phải, cái môn học tưởng như đang bị thất thế ở thời điểm mà các giá trị thực dụng trong xã hội áp đảo, nơi hình mẫu của những người thành đạt mới là cái hấp dẫn cả phụ huynh lẫn học sinh thì chính qua môn văn, chính qua những trang sách văn chương, ta mới có thể nhận diện được tâm hồn của những người trẻ tuổi, những cậu bé, cô bé đã không khước từ nổi hồ nghi, băn khoăn, ngờ vực trước những gì đã và đang hiện diện như một đặc trưng tâm lý lứa tuổi. Chỉ ở những bài làm văn, người giáo viên mới phát hiện ra được những người học trò “cá biệt” bởi sớm nhìn ra những khoảng không gian khác bên ngoài những trang sách, những bức tường của gia đình, của trường lớp mà nhiều người cho rằng chúng thực hiện chức năng bảo vệ thay vì che chắn nhận thức cho học trò. Những đứa học trò cá biệt ấy vừa là niềm hạnh phúc của người dạy văn, vì các em luôn có khả năng đưa đến những bất ngờ trong nhận thức, vì các em nhạy cảm hơn, sớm già dặn hơn và do đó có thể chia sẻ phần nào đó thế giới tinh thần của người thầy bên ngoài giờ học, vừa là nỗi lo lắng khi các kỳ thi, với tính chất trường quy, với áp lực của bệnh thành tích, luôn dễ trở thành “nạn nhân” của nền giáo dục đáng kết án này. Không dễ để làm bạn với những học trò như thế, nhưng làm bạn được với họ – cuộc đời của người giáo viên sẽ có nhiều câu chuyện để nhớ lại, để suy nghĩ hơn là những chuỗi công việc lặp lại dễ nhàm của nghề dạy học.

Người dạy văn, may mắn hơn giáo viên những bộ môn khác, là dễ nhìn thấy được tâm hồn của học trò. Nhưng cái khó cũng là ở chỗ đó: bảo vệ, nuôi dưỡng thế giới tâm hồn đó không hề đơn giản. Bởi lẽ đó, trong nhiều câu chuyện về giáo dục, tôi vẫn hay bắt gặp những ký ức buồn của những người học trò về những ông thầy văn đã vô tình hay hữu ý làm tổn thương thế giới tâm hồn của họ. Tôi không biết nói gì với những người đã kết án nền giáo dục nặng nề nhất thông qua hình ảnh của người dạy văn: những người bắt học sinh chép văn mẫu, những người ghi những lời phê vô cảm trông những bài kiểm tra, những người dễ dàng có khả năng nói năng nghiệt ngã với học trò… Tất cả những điều đó là có thật, tôi không bao giờ dám chắc mình chưa từng làm học trò nào thất vọng, tổn thương. Kể cả chưa từng thì tôi cũng không tự tin là mình sẽ không bao giờ phạm vào điều ấy.

2. Nguyên viết về thầy Hùng: “1995, thầy vẫn trong chốn vô minh cùng xã hội. Thầy chỉ có một lỗ nhìn ra ngoài. Như cái lỗ mình đục trên tường nhà. Cái tủ sách văn. Mục trường của cái lỗ ấy nhỏ đến mức không nhìn thấy cái gì rõ nét.  Chỉ là một niềm tin mơ hồ: ngoài kia còn gì đấy nữa. Thầy biết thế, nên thầy biết mình. Và biết coi học trò là bạn…”

Đó là những dòng làm tôi xúc động nhất, thực sự là tôi đã khóc khi đọc những dòng ấy. Khác với nhiều đồng nghiệp thường tự hào về nghề dạy học, từ rất lâu, tôi đã luôn nghĩ cuộc đời của người thầy, về cơ bản, là nhàm chán hơn nhiều so với cuộc đời của những học trò. Chúng tôi sẽ không thể đi xa, đi nhiều hơn những gì mà các em có thể đi. Kiến thức trường học, nhất là thứ văn chương sách giáo khoa này, còn có ích gì cho các em khi vào đời. Người thầy, cùng lắm, nhưng cũng là điều có ý nghĩa hơn hết thảy, chỉ nói được với các em rằng: còn có gì khác nữa, ở ngoài kia, bên kia những gì đang che chắn, bên kia những gì đang bao bọc và trao cho ta một cảm giác an toàn nhưng đồng thời làm chúng ta chỉ biết chịu đựng và cam phận.

Trong ký ức về ông thầy, Nguyên nhớ đến những cuốn sách của Kafka, của Camus, nhớ đến những lời thầy giảng về Bakhtin khi cậu mới 16 tuổi. Kafka, Camus, Bakhtin…không có trong sách giáo khoa, đương nhiên sẽ chẳng bao giờ có trong nội dung thi cử. Những cuốn sách ấy gợi cho ông thầy một cái gì đó thật khác và đồng thời nó đánh thức trong cậu học trò nhạy cảm niềm tò mò và cả niềm tham vọng muốn nhìn thật rõ cái khác đó là gì. Phải, dạy học, nhất là dạy văn, chẳng đem được đến cái gì thực dụng đâu. Nhưng trách nhiệm lớn nhất của dạy văn là gợi ra được ý niệm về cái gì đó khác ở học trò. Người thầy không phải là người hiện hữu trước mắt học trò với những trang phục xa hoa, với những câu chuyện về hạnh phúc gia đình mình như một niềm hãnh diện, hay những câu chuyện đùa vui làm quà. Người thầy chỉ có thể đem đến ý niệm về cái gì đó khác. Tôi lại nhớ đến buổi học cuối cùng kỳ vừa rồi với các em sinh viên K63, cái lớp mà có thể tôi chỉ dạy một kỳ duy nhất, rằng những gì tôi giảng có thể sai, có thể hời hợt, nhưng những cuốn sách tôi đã có lần nói với các bạn, những tác phẩm của Cervantes, Tolstoy, Dostoevski, Kafka, Szymborska… các bạn hãy dành thời gian mà đọc. Để 4 năm sinh viên đi qua, mình còn có vài cuốn sách quý đồng hành. Đừng nhớ nhiều đến những gì thầy cô giảng… Có lẽ nhiều em sẽ chỉ nghĩ tôi hay nói cực đoan và khó hiểu. Nhưng nếu như tôi đã làm được một chút gì trên con đường học hành thì cũng là vì những người thầy dạy tôi đã là những người nói với tôi về những cuốn sách mở ra những khoảng trời khác. Tôi nhớ đến thầy mình qua những cuốn sách ấy.

Nguyên khi nhớ về thầy Hùng, nghĩ về cuốn sổ mà ông thầy trao cho đám học trò từ ngày đầu vào lớp 10 để làm nhật ký, đã thấy: cuốn sổ ấy, hơn cả một cuốn nhật ký, nó là thế giới của tự do. Với tôi, đây là thông điệp có ý nghĩa nhất khi đọc cuốn nhật ký này từ góc độ của một người giáo viên. Hãy trao cho học trò tự do, hãy gợi cho học trò biết rằng ngoài trời còn có trời. Chúng ta đi làm nghề dạy học vì đa phần yêu sự ổn định, thích sự an phận, nhưng chúng ta không thể dùng sự ổn định, an phận ấy như một thứ đạo đức để kìm hãm học trò được. Đừng nghĩ tự do là cái gì trừu tượng: tự do có thể bắt đầu bắt cách chúng ta hãy để các em được hồn nhiên, vô tư, được nghịch ngợm, được bất mãn, được nhận thức ngay cả những gì phi lý. Đừng biến lớp học thành không gian đóng. Những bài hát, những bài thơ chế…trong cuốn sách này cho thấy năng lực biết cười, biết khôi hài của những con người tuổi trẻ. Biết cười, biết khôi hài…cũng là năng lực của những con người tự do.

3. Tôi học sau của những nhân vật trong cuốn nhật ký này hai khóa. Ở mức độ nào đó, cuốn nhật ký nào cũng là những hồi ức của tôi 20 năm trước.  Cách đây 20 năm, khi không khí xã hội đã cởi mở hơn một phần nào đó, khi ý niệm về thế giới khác bên ngoài đến với chúng tôi chủ yếu qua những bài hát, những cuốn sách dịch, xã hội khi ấy đang sống lại một bầu không khí hơi giống những năm đầu thế kỷ: bọn trẻ con được quyền mơ mộng hơn, được phép vu vơ, lãng mạn, được tỏ ra cá tính… Nói không quá, thời ấy, ở nhưng trường chuyên, lớp chuyên văn thường là bộ mặt tinh thần của nó. Hai mươi năm sau, những nhân vật trong sách đã bước sang một giai đoạn khác trong đường đời. Tôi không rõ họ đã và đang làm gì, có địa vị nào trong xã hội. Nhưng việc cái tập thể lớp đó thống nhất công khai cuốn nhật ký này thành sách, với tôi, có cái gì đó vừa can đảm vừa mơ mộng. Nó làm tôi rưng rưng khi nhớ đến một chi tiết mà tôi không biết, thầy tôi – thầy Vũ Xuân Túc còn nhớ hay không?

Năm lớp 10, buổi đầu tiên khi thầy gặp mặt cả lớp, chúng tôi phải làm một bản điều tra cá nhân. Trong số các câu hỏi của thầy, có một câu hãy nên tên một tác phẩm của một nhà văn Việt Nam mà mình yêu thích nhất. Khi ấy, tôi có ghi tác phẩm mà tôi thích nhất là “Hoàng hôn màu cỏ úa” của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ. Tôi, khi ấy, một đứa trẻ khó ưa, đanh đá và thích chơi trội, tôi đã muốn ghi một tác phẩm mà trong lòng thầm đoán chả đứa nào trong lớp biết. Nhưng thực tình, đó cũng là tác phẩm ấn tượng với tôi nhất vào thời điểm đó. Câu chuyện ấy Nguyễn Thị Thu Huệ viết về buổi chiều chia tay cấp 3 trên bãi sông Hồng của đám học trò. Vào một khoảnh khắc bất ngờ, hoàng hôn ngả sang màu cỏ úa, cậu lớp trưởng khi ấy nói một điều gì đó với cả lớp. Rất dài, giờ tôi không nhớ chính xác, nhưng có đại ý lớp mình sau này, cuộc đời có thế nào, thì chúng ta cũng phải sống với nhau tử tế. Rồi hẹn nhau, cứ ngày này, hàng năm, lại gặp mặt. Cái lớp cấp ba ấy rồi tan tác, rồi chả mấy ai còn nhớ lời hẹn lúc hoàng hôn năm ấy. Số phận mỗi người cũng khác: có người tù tội, đứa hay khóc nhất lớp thì trở thành tú bà, có người thì số phận dường như chỉ là chuỗi dài của thất bại. Nhân vật người kể chuyện khi ấy nhận ra hình như vì tất cả chúng ta đều bị đời sống cuốn đi, chúng ta đã không nhớ gì đến khoảnh khắc trong sáng đẹp đẽ cao cả nhất của tuổi học trò. Chúng ta đã không nhớ gì hết. Và vì thế, chúng ta đã không nhìn vào nhau, không nhìn thấy nhau để thấy phải sống tự trọng, phải sống tử tế với nhau và với đời…

Tôi khi ấy ghi truyện ấy vào trong phiếu điều tra chỉ vì thời đó, tôi còn đang thích viết truyện đăng trên các báo tuổi mới lớn. Sau này, khi học hành văn vẻ ở cấp đại học, đọc lại thì thấy truyện cũng thường thôi về kỹ thuật, về văn chương. Nhưng nỗi xúc động của câu chuyện thì thỉnh thoảng vẫn trở lại. Tôi ít khi tụ tập với bạn bè thời đi học. Tôi cũng ít bày tỏ tình cảm trực tiếp với những người thầy của mình. Vì nhiều lý do. Có thể rất dở hơi. Thậm chí, tôi luôn tránh những màn ôn lại kỷ niệm tập thể. Nhưng một cách thật lòng, những lúc tôi cảm thấy cuộc sống chỉ đáng để căm ghét, xung quanh chỉ toàn là sự giả dối, người ta rất dễ trở nên hèn hạ, v.v…, tôi đã thường nén lại cảm xúc tiêu cực ấy khi bỗng nhiên tôi đã nhớ đến những người bạn của mình, những người bạn đôi khi gọi giật tên tôi trên phố, nhớ đến những đứa bạn gái cấp ba thi thoảng vẫn có thể tao-mày, tôi đã nhớ đến cái thời mà sự mơ mộng của mình không phải là tội lỗi… Những điều đẹp đẽ nho nhỏ ấy đã làm tôi dịu lại trong khoảnh khắc, để bình tâm hơn. Tôi đã nhớ đến lời nhận xét mà cũng là lời động viên của thầy tôi trên bài kiểm tra văn cuối cùng, rằng tôi phải giữ cái giọng riêng của mình trên đời viết còn dài của mình. Đó là lời động viên có sức nặng nhất đối với tôi. Nói lời cảm ơn với thầy, với các bạn sẽ là cái gì đó rất hình thức ở đây. Chỉ biết là ở thời điểm này, muốn nói với thầy, với các bạn: em vẫn ổn, vẫn cố gắng sống tử tế. Dù không đơn giản, thật không đơn giản…

Viết trước ngày bảo vệ luận án

Rồi thì cuối cùng cũng đến ngày đánh dấu đích đến của một hành trình hơn mười năm. Cái đích ấy không hẳn là thứ tôi đã nhắm đến ngay từ đầu, khi mới tốt nghiệp trường đại học. Cái đích ấy, nhiều lúc trên hành trình của mình, tôi cũng thấy nó thật phù phiếm. Lại cũng có lúc thấy nó xa đến độ tưởng như mình chỉ muốn bỏ cuộc. Cái đích ấy khi gần đến, bỗng nhiên tôi lại ngập ngừng. Và giờ đây, cảm giác của tôi đúng hơn là sự lo lắng: tôi mơ hồ nhận ra bên kia cái đích ấy là một sự trống rỗng, làm sao có thể lấp đầy?

Trong hơn mười năm, khi tôi vẫn xác định học hành là công việc chính yếu của mình, thế giới của sách vở với những thử thách của tư duy mà tôi phải đối diện có ý nghĩa như một nơi trú ẩn. Nó giúp tôi cảm thấy không cô độc, đúng hơn, là bình tâm trong sự cô độc. Nó giúp tôi có thể chống đỡ lại trước những câu hỏi đời thường nhiều khi như là sự xoáy móc nghiệt ngã. Nó biện hộ cho tôi rằng tôi đang “hái hoa trên trời”, cho dù nhiều khi thảng thốt, khi “đâu biết rằng mẹ tôi đang khóc dưới xa kia”. Khoảnh khắc giật mình ấy chính là lúc tôi cảm giác hơn bao giờ hình như mình đang rất ích kỷ và hình như mình cũng đang làm một điều gì đó có phần vô nghĩa. Những lúc như thế, tôi đã nghĩ đến một sự buông xuôi… Nhưng cũng có lẽ phần ích kỷ trong tôi vẫn mạnh hơn, để khiến tôi tiếp tục đi.

Nhưng thế giới của sách vở cũng đem đến cho tôi những trải nghiệm rộng mở, nó khiến đời sống của tôi không khép kín như bản thân tôi vẫn nghĩ. Tôi hay có cái thú thử đứng lại tại một thời điểm để nhìn lại những gì mình thu nhận được sau một chặng đường. Như chính là lúc này. Có thể là một cách diễn đạt có phần màu mè, nhưng nó làm tôi thấy thích thú, rằng hơn mười năm ấy, tôi đã có trải nghiệm giống như nhân vật trong loại tiểu thuyết bildungsroman, dấn vào một cuộc phiêu lưu, đối mặt với những thử thách, khó khăn, gặp gỡ được những bạn đồng hành, và để rồi đến cuối cuộc hành trình, cái kết quả mà nó nhận được là một sự thay đổi trong nhận thức, sự trưởng thành trong cách nghĩ và tình cảm. Lời cảm ơn viết trước ngày bảo vệ luận án này tôi xin dành cho những người đồng hành ấy.

1. Trước hết là bạn bè, với những sự trợ giúp quý báu cả về tri thức lẫn tình cảm. Trong số những người đã giúp đỡ tôi với lòng tốt không điều kiện này, có những người tôi còn chưa từng được gặp mặt ngoài đời. Chính các bạn đã làm tôi có được sự tự tin trong quá trình làm luận án:

Lời cảm ơn đầu tiên tôi muốn gửi tới Diệu Linh, người bạn đã học cùng lớp với tôi từ những năm cấp 3 cho đến suốt bốn năm đại học. Bạn là người không chỉ giúp tôi có được những tài liệu rất khó kiếm, đặc biệt là chuyên luận của Robert R.Wilson để tôi triển khai luận án mà còn là người mà tôi đã tìm được sự chia sẻ nhiều nhất những khó khăn, những sự mỏi mệt, khủng hoảng dù chính bạn, đấy cũng là thời điểm mọi thứ đều không hề dễ dàng. Tôi có được niềm tin vào điều mình nghĩ, điều mình làm, không cần câu chấp những cách ứng xử kiểu bầy đàn, nhỏ nhen của môi trường xung quanh mình, một phần lớn, là từ những sự động viên của bạn.

Tôi muốn nói lời cảm ơn đến ba người bạn mà những chia sẻ về tài liệu, tri thức của họ cực kỳ có giá trị đối với tôi, không chỉ trong quá trình thực hiện luận án này. Đó là anh Nguyễn Nguyên Phước, người bạn đầu tiên mà tôi quen biết qua blog. Anh là người đầu tiên để lại comment trên blog của tôi từ thời còn Yahoo 360. Những tài liệu mà anh đã tìm kiếm và photo cho tôi đã giúp tôi tìm được những gợi dẫn cực kỳ cần thiết vào những lúc tôi loay hoay nhất trong việc giải quyết những giả thiết của luận án. Đó là Nguyễn An Khương, người mà tôi chưa từng tiếp xúc ở ngoài đời. Không biết Khương có còn nhớ điều này, rằng bạn chính là người đầu tiên giới thiệu cho tôi biết về trang gigapedia, mà nhờ có nó, gần như trong thời gian làm luận án, tôi đã được làm việc trong một môi trường tư liệu tham khảo còn phong phú và cập nhật hơn cả thư viện quốc gia. Tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên nhận được email của Khương cũng gần vào khoảng thời gian này trong ngày. Khương đã nhiệt tình download giùm tôi những bài báo tôi cần sau khi đọc được một comment của tôi trên blog của người khác. Sự hào hiệp của Khương, của những người như Khương, giờ nhớ lại, tôi vẫn thấy cảm động. Nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như đã có dịp Khương ra HN và liên lạc với tôi nhưng không được. Tôi vẫn còn giữ cuốn sách “Miên man tùy bút” của Lý Lan, khi đó, muốn để tặng bạn nhưng rồi cũng lỡ dịp. Nhưng tôi tin rồi sẽ có ngày được gặp bạn. Đó là anh Phạm Quốc Lộc, một người bạn luôn hào hứng, nhiệt tình. Anh là người đầu tiên nói với tôi về giải cấu trúc, về translation studies, về nghiên cứu văn hóa. Những trò chuyện của anh là một dẫn nhập hữu ích để tôi tìm hiểu sâu hơn những vấn đề này. Cả ba người bạn, mà nhờ mạng, tôi có dịp được quen biết này, tôi đều xem là những cơ duyên may mắn trên con đường học hành của mình.

Tôi phải thừa nhận một điều: cái mà tôi được nhiều nhất trong quá trình làm luận án tiến sĩ này là được làm việc trong với lượng tài liệu tham khảo dồi dào, về cơ bản, thư mục mà tôi tham khảo có thể so được với các luận án trên thế giới đi cùng theo hướng nghiên cứu. Sự thuận lợi này một phần lớn là nhờ những người bạn của tôi: Đó là Nguyễn Phúc Anh, Lê Nguyên Long với những chia sẻ password để tiếp cận các cơ sở dữ liệu; là những tài liệu sách vở mà những bạn bè khác như Nguyễn Thanh Phượng, Ngô Vĩnh Long, Hồ Thị Hòa, Phạm Thị Hoài đã nhiệt tình tìm kiếm từ nước ngoài và gửi về. Bên cạnh đó, là những chia sẻ về ý tưởng, những góp ý, trao đổi của Ngô Thanh, Nhã Thuyên, Hà Thanh. Đôi khi từ những cuộc chát, từ những trao đổi nhiêu khi tưởng chừng vu vơ mà từ đó tôi lại lóe lên những suy nghĩ bất ngờ về vấn đề mình đang nghiên cứu. Xin cảm ơn các anh Hoàng Ngọc-Tuấn, Như Huy, Trần Nguyễn Anh, bạn Tôm Ngu… Và như thế để nói rằng, luận án của tôi in dấu ấn của rất nhiều bạn bè.

Những người bạn ấy còn giúp đỡ tôi rất nhiều, từ những việc nhỏ nhặt, với một sự hào hiệp, nhiệt tình như của người thân trong nhà. Xin cảm ơn chị Hồng Hà, Mai Liên, Trà My các bạn Ngọc Minh, Hải Phương, Diệu Linh, Thanh Tùng, Xuân Hương, Mạnh Hoàng vì tất cả những giúp đỡ của các chị, các bạn. Cảm ơn hai em học sinh của tôi – Văn Linh và Đức Anh – đã giúp đỡ trong việc in ấn, chế bản luận án.

Các bạn đã giúp tôi cảm thấy không đơn độc, cái cảm giác luôn có người song hành ngay cả những khi tôi mỏi mệt nhất. Và với tôi đấy là điều hạnh phúc mà tôi được trải nghiệm trong quá trình làm luận văn này.

2. Tôi luôn cho rằng, con đường học hành của tôi, từ cấp học phổ thông, vẫn là một con đường đẹp đẽ, may mắn. Một trong những điều may mắn nhất là tôi đã luôn được học với những người thầy vừa độ lượng, bao dung, nhưng đồng thời cũng là những người cực kỳ nghiêm túc, không cho phép học trò dễ dãi, tự mãn trong công việc. Và hơn hết, đó là đều là những người có khả năng truyền cảm hứng cho học trò. Và đấy là điều tôi luôn muốn học tập từ các thầy.

Thầy Trần Đình Sử với tôi là một người thầy như thế. Có thể chính thầy cũng không để ý rằng tôi là sinh viên cuối cùng của khoa Văn trường Sư phạm được thầy hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp đại học. Và rồi đã đi theo thầy hơn 10 năm, cho đến bậc học tiến sĩ. Hơn 10 năm ấy, từ một cậu học trò rụt rè, có tâm lý sợ thầy (tâm lý cũng có phần dễ hiểu của những đứa sinh viên trước những giáo sư được xem là đại thụ trong ngành), dường như tôi đã có thể nhìn thấy thầy ở một khoảng cách gần hơn: để đôi khi thấy ngậm ngùi khi bắt gặp hình ảnh một vị giáo sư ngồi viền lại chiếc áo đã sờn cổ, để đôi khi chợt xót xa khi nhìn thấy dáng thầy tất tả trên đường, đôi khi lặng người khi được thầy chia sẻ về cảm giác về sự thiếu hụt của mình khi đối diện với tri thức mới, một sự chân thành cực kỳ hiếm hoi trong mối quan hệ thầy-trò, và để rồi lại thấy xúc động hơn khi vẫn bắt gặp sự háo hức, say sưa và quyết tâm của thầy khi đọc được cái gì mới, khi muốn làm một điều gì có ý nghĩa, muốn tạo ra sự thay đổi bất chấp tuổi tác, bệnh tật. Tôi chưa bao giờ dám hứa với thầy về con đường học thuật của mình khi nhìn thấy con đường của thầy đi cần rất nhiều can đảm, nghị lực và sự say mê.

Tôi biết ơn thầy vì chính thầy đã giúp tôi trở thành một người “mạo hiểm” trong tư duy, trong suy nghĩ cho dù ngoài đời tôi lại là hiện thân của kiểu sống phẳng lặng, cầu an. Cái con người sẵn sàng nổi loạn ấy trng tôi khiến tôi không có cảm giác ngại sự phức tạp, né cái gai góc trong cách lựa chọn và giải quyết vấn đề nghiên cứu. Và xét đến cùng đó cũng là cái được của luận án của tôi khi tinh thần chọn cái an toàn, chọn cái nhàn nhạt mà viết đang là xu hướng phổ biến của các đề tài tiến sĩ văn học bây giờ.

Còn có nhiều người thầy nữa mà tôi muốn nói lời tri ân. Đó là thầy Túc, người thầy cấp 3 của tôi, đã ghi trong bài kiểm tra văn cuối cùng của tôi năm lớp 12 một nhận xét rằng chuyện viết lách của tôi (mà chữ thầy dùng, đến giờ, tôi còn nhớ, là “đời viết”) sẽ không dừng ở bài kiểm tra ấy. Là thầy La Khắc Hòa, người với nhiều ý tưởng mang tính kích thích rất cao đối với tư duy của tôi. Là cô Lê Lưu Oanh, thầy Trần Lê Bảo…những người đã giúp đỡ tôi rất nhiều cả về vật chất lẫn tinh thần.

Với các thầy, tôi chỉ muốn nói rằng, được là học trò của các thầy, đấy là một niềm may mắn lớn.

3. Bố mẹ và các chị. Tôi luôn cảm giác mình có lỗi với gia đình. Tôi luôn có cảm giác rằng bố mẹ đã phải chịu đựng quá nhiều vì sự ích kỷ của tôi, vì cái hứng thú riêng hái hoa trên trời của tôi. Có những lúc nhìn ra xung quanh, tôi cảm thấy rõ ràng mình chỉ như ông tiến sĩ giấy, tôi vẫn chưa thể giúp cho bố mẹ, cho các chị nhàn nhã được một ngày nào. Trong hơn 10 năm qua, có những lúc gần như sóng gió ập xuống quá mạnh và liên tục đối với gia đình tôi, nhưng ngay cả khi ấy, bố mẹ và các chị vẫn là những người chống đỡ cho tôi, tôi vẫn là kẻ được an toàn nhất. Hơn 10 năm, gần như không phải làm việc nhà, kiếm tiền cũng không nhiều, tiếng tăm cũng không có, quan hệ cũng không, giờ nói lời cảm ơn gia đình có khác gì một lời nói xin lỗi. Đó là nỗi day dứt tôi còn mang theo.

4.  Nhưng dù gì thì gì, tôi vẫn cho rằng chặng đường mình vừa đi đã cho tôi những trải nghiệm quý giá. Tôi vẫn còn nhớ bằng giờ này năm ngoái, khi đang phải dồn sức viết những chương cuối cùng của luận án, có những ngày gần như tôi làm việc xuyên đêm, khi lực viết cạn cũng là lúc chập 5h sáng. Tôi đã đi bộ, một cách thong dong, đầu trống rỗng một cách nhẹ nhõm, trên con phố. Tôi đã hòa vào dòng người tập dưỡng sinh ở lăng Bác, đôi khi thấy những khoảnh khắc êm đềm, trong trẻo ấy thật vô giá. Đơn độc và bình yên, tôi quan sát mọi người: từ những ông bạn già rủ nhau đi tập thể dục, từ một cặp vợ chồng già lục tục dạy dọn hàng bán nước… Một nhịp sống có gì đó đều đặn, thanh thản, rất bình thường và cũng rất đẹp. Tôi đã lưu giữ những khoảnh khắc ấy như thể nó là một cái được cực kỳ vô hình, rất cá nhân và không gì so sánh được.

Nhưng ngày mai, sau ngày mai thì sẽ ra sao? Tại sao giờ này tôi lại sợ nghĩ đến ngày mai như thế? Chặng đường mới là gì? Có một khoảng trống rỗng vô hình, tôi không muốn nghĩ đến nó nhưng nó vẫn cứ lởn vởn trong đầu. Tôi hình dung rất rõ chiều mai mình sẽ trở về, sẽ ngủ một giấc dài, và sẽ tỉnh dậy trong sự mệt mỏi. Không phải vì những gì đã qua. Mà những gì đang tới.

Và tôi lại hoang mang. Như thể cách đây hơn 10 năm, khi tốt nghiệp trường đại học, mình cũng đã rơi vào trạng thái không trọng lượng như thế.

Phía trước là gì?