Tag Archives: bell hooks

bell hooks – Lời giới thiệu bản dịch “Nữ quyền cho tất cả mọi người” (NXB Phụ Nữ, 2022)

bell hooks (tác giả chủ ý không vết hoa) là bút danh của Gloria Jean Watkins (sinh năm 1952), giáo sư ngành Nhân văn và Nghệ thuật từng làm việc ở nhiều đại học danh tiếng của Hoa Kỳ, nhà tư tưởng nữ quyền, nhà giáo dục học, nhà hoạt động xã hội vì quyền của người da màu và tầng lớp lao động, một tác giả với 30 đầu sách đã được xuất bản, từ các công trình học thuật đến những tác phẩm dành cho thiếu nhi. Đấy là chưa nói đến một số vai trò khác của bà như làm diễn giả, viết kịch bản phim… Tạp chí The Atlantic Monthly đã khẳng định bà là “một trong những tri thức công chúng có sức ảnh hưởng lớn nhất nước Mỹ”.

Chính trị nữ quyền nằm ở trung tâm các hoạt động tri thức và xã hội của bell hooks. Từ thời sinh viên, bà đã viết cuốn sách đầu tay Ain’t I a Woman? Black Women and Feminism (Tôi có phải là một phụ nữ không? Phụ nữ da đen và nữ quyền luận) (1981). Nhan đề của cuốn sách láy lại tên bài diễn thuyết nổi tiếng “Ain’t I a Woman?” của Sojourner Truth (1797-1883), một phụ nữ da đen vốn xuất thân từ tầng lớp nô lệ ở nước Mỹ, người không biết chữ nhưng có thể dùng năng lực kể chuyện và hùng biện của mình để khẳng định giá trị và đấu tranh cho quyền của phụ nữ da màu. Trong sự nghiệp của mình, bell hooks luôn nhắc đến Truth như một nguồn ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và cách dấn thân cho nữ quyền của bà, theo đó, cuộc đấu tranh nữ quyền không tách rời với cuộc đấu tranh giai cấp và chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.

Cuốn Feminism is for Everybody (Nữ quyền luận cho mọi người) được bell hooks cho ra mắt vào năm 2000, sau một thời gian dài bà nghiên cứu nữ quyền luận trong khu vực học thuật hàn lâm với những công trình gây nhiều tiếng vang cũng như đã tham gia vào phong trào nữ quyền như một nhà hoạt động xã hội hăng hái. Cuốn sách còn có một tiêu đề phụ, theo đó, nữ quyền luận được hiểu như một đường lối chính trị nhiệt thành, say mê, “Passionate Politics”. Với một dung lượng không quá đồ sộ, cuốn sách của bell hooks nhìn lại những chặng đường thăng trầm mà phong trào nữ quyền luận ở Hoa Kỳ đã trải qua, từ làn sóng thứ nhất bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX với những cuộc đấu tranh mở đường để phụ nữ tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội, giáo dục, khẳng định năng lực và giá trị của bản thân đến những động hướng của nữ quyền luận đương đại bắt đầu từ cuối thập niên 1980. Không thể phủ nhận, phong trào nữ quyền đã thúc đẩy việc gia tăng địa vị và quyền năng của người phụ nữ trong xã hội Mỹ, đem đến cho họ nhiều sự bình đẳng nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề của phụ nữ chưa được nhận thức thấu đáo và giải quyết, dẫn đến những ngộ nhận và cả những chia rẽ nội bộ. Thực tiễn ấy thôi thúc bell hooks viết Nữ quyền luận cho mọi người, một cuốn sách có tính chất như một cẩm nang bỏ túi về phong trào này, được viết bằng một thứ văn phong bình dân, dễ tiếp cận, thay vì mang tính chất kinh viện. Mục đích của bà là lan tỏa rộng rãi những nhận thức đúng đắn về nữ quyền luận, khiến trào lưu này không chỉ là đối tượng quan tâm của giới học thuật hay của phụ nữ thuộc tầng lớp đặc quyền, từ đó, thách thức lại những hình ảnh bị bóp méo của phong trào được truyền thông đại chúng dòng chính của xã hội gia trưởng tư bản thượng tôn da trắng đưa ra cho công chúng.

Việc đầu tiên mà bell hooks làm rõ trong cuốn sách này là đưa ra một định nghĩa cô đọng nhất, bản chất nhất về phong trào nữ quyền. Theo đó, nữ quyền luận là một phong trào tư tưởng và xã hội nhằm chấm dứt tất cả những hình thức của định kiến giới, bóc lột và đàn áp giới. Phạm vi vấn đề mà cuốn sách thảo luận rất rộng, từ chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa cho đến những khía cạnh thuộc về đời sống riêng tư, cá nhân như tình dục, việc làm mẹ, quan niệm về vẻ đẹp thể chất của phụ nữ… Có thể thấy, mọi vấn đề của đời sống, dù ở cấp độ xã hội hay cá nhân, đều nên được tham chiếu từ lăng kính nữ quyền luận. Bởi những gì mà nữ quyền luận quan tâm cũng là những gì mà mọi người đều cần quan tâm, chúng thiết thân với cuộc sống của tất cả mọi người, dù thuộc giới nào đi nữa. Đó là những vấn đề mà con người cần phải đối mặt để tìm cách cùng tháo gỡ, giải quyết những khúc mắc, mâu thuẫn để hướng tới việc chung sống hài hòa trong cõi sống này. Nữ quyền luận, trong tầm nhìn của bell hooks, hoàn toàn không phải việc đảo ngược lại thế đối lập nhị nguyên giữa nam giới và nữ giới, biến nam giới thành mục tiêu công kích và giành lấy địa vị cho nữ giới như một hình thức soán ngôi. Theo bell hooks, đối tượng mà nữ quyền luận phải đấu tranh để xóa bỏ là chế độ gia trưởng, đặc biệt là hình thái tư bản thượng tôn da trắng của nó. Chính nó đã áp đặt lên những ràng buộc và khuôn mẫu cho cả nam giới và nữ giới, cấu trúc nên tình trạng bất bình đẳng và đặc biệt biến những sự bất bình đẳng này thành một tình trạng đương nhiên, miễn trừ sự chất vấn. Nữ quyền, vì thế, là nhân quyền; phong trào nữ quyền không chỉ nhằm giải phóng phụ nữ mà giải phóng con người nói chung, xây dựng nên những mối quan hệ của con người trong đời sống trên nền tảng nhân văn mới.

Có thể thấy lập trường nữ quyền luận của bell hooks mang tinh thần Marxist rõ nét. Ngay từ cuốn sách đầu tiên của mình, bell hooks đã nhận thức rõ: các vấn đề nằm trong nghị trình của nữ quyền luận đan cài một cách phức tạp với các vấn đề về giai cấp và chủng tộc. Những hạn chế của phong trào nữ quyền ở Mỹ, theo phân tích của bà, một phần quan trọng nằm ở việc các nhà tư tưởng và hoạt động chưa ý thức được sâu sắc sự đan cài này, từ đó dẫn đến những hệ lụy nhất thiết phải khắc phục sớm. Chẳng hạn, nữ quyền luận dường như được hình dung là một phong trào do phụ nữ da trắng, thuộc tầng lớp đặc quyền trong xã hội nắm lấy ngọn cờ và do vậy, chỉ tập trung vào những đòi hỏi của bộ phận đặc quyền này nhằm gia tăng địa vị của mình, trong khi đó, bộ phận phụ nữ da màu, phụ nữ nghèo, phụ nữ thuộc tầng lớp lao động – những đối tượng mà đáng ra phong trào nữ quyền phải bảo vệ, bênh vực trước hết lại bị vô hình hóa. Chủ nghĩa cơ hội trong phong trào nữ quyền ở Mỹ là một thực tế khi những nhà tư tưởng và hoạt động nữ quyền da trắng không đặt mình vào vị thế của những người phụ nữ thuộc nhóm thiểu số và yếu thế trong xã hội để cất liên tiếng nói đòi bình đẳng. bell hooks không hài lòng với cách tiếp cận theo khuynh hướng cải lương của các nhà nữ quyền thế hệ trước và cùng thời với bà bởi theo bà, cách tiếp cận này không thúc đẩy những chất vấn cần thiết, mang tính hệ thống đối với các cấu trúc duy trì nền văn hóa gia trưởng tư bản thượng tôn da trắng, không tạo ra những thay đổi mang tính bản chất về cơ sở hạ tầng và ý thức hệ để giải phóng phụ nữ thực sự. Phong trào nữ quyền, vì thế, vẫn để số đông phụ nữ phải đương đầu với nhiều áp lực và chịu đựng nhiều bất công, chẳng hạn, phải cân đối việc phát triển sự nghiệp và chăm sóc gia đình, phải chấp nhận mức lương thua thiệt so với nam giới khi đi làm trong khi hệ thống phúc lợi xã hội vẫn chưa quan tâm đúng mức đến điều kiện sức khỏe, điều kiện sống của họ… Điều này khiến cho nữ quyền luận ở Mỹ vẫn chưa trở thành một phong trào quy tụ rộng rãi quần chúng như nó được kỳ vọng: nó thiếu tiếng nói cần được lắng nghe nhất từ phía những phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi nhất trong chế độ gia trưởng tư bản thượng tôn da trắng, nó chưa có được sự liên minh với nam giới, những người ý thức được sự cầm tù của khuôn mẫu gia trưởng đối với sự phát triển tự do và toàn vẹn của chính mình, nó đang nói một thứ ngôn ngữ kinh viện, nhiều biệt ngữ và ít khả năng lay động.

Mặt khác, cũng có lý khi Jennifer Hockenbery Dragseth[1] xếp bell hooks vào những nhà nữ quyền hiện sinh, những người coi giới là một phạm trù văn hóa và giải phóng khuôn mẫu giới đòi hỏi phải giải phóng các cơ chế của văn hóa đóng khuôn những hình dung về phụ nữ, nữ tính. Vốn xuất thân là người theo học văn chương, bell hooks nhận ra một trong những định kiến sâu sắc nhất mà văn hóa gia trưởng duy trì dai dẳng là việc xem thường các giá trị văn hóa do phụ nữ sáng tạo. Bà nhìn vào hệ thống điển phạm văn chương phương Tây nơi các đại diện của phụ nữ luôn chỉ được nhìn nhận như những nét chấm phá. Và càng hiếm hoi hơn nữa là những sáng tạo văn hóa của phụ nữ da màu được thừa nhận về giá trị. bell hooks cũng phân tích thuyết phục cơ chế quỷ quyệt của văn hóa gia trưởng khi nó biến phụ nữ từ chỗ là nạn nhân của những định kiến mà nó hun đúc đến chỗ biến họ trở thành đồng lõa với những định kiến ấy, trở thành những người áp đặt logic thống trị của nam giới lên những phụ nữ khác, lên chính con em của họ. Những phân tích của bà về bạo lực gia trưởng ngay ở phụ nữ thể hiện một cái nhìn nghiêm khắc nhưng xác đáng đối với những vấn đề còn tồn tại mà bản thân phụ nữ phải nhận ra và thay đổi. Tất nhiên, ngoài sự thay đổi tự giác ở mỗi cá nhân, cần thiết phải xóa bỏ các thiết chế văn hóa gia trưởng vốn luôn tìm cách đồng hóa phụ nữ vào trong logic của chúng.

Nữ quyền luận cho mọi người không chỉ là một tập tản văn chính luận mà còn mang tính tự sự rất đậm. bell hooks viết cuốn sách này không chỉ như một nỗ lực nhận diện và phê bình phong trào nữ quyền ở Mỹ; cuốn sách còn là sự nhìn lại chính mình như một phụ nữ da màu dấn thân vào phong trào. Và ở đây, có thể thấy rõ ở bà hình ảnh của một trí thức trung thực khi bà không ngần ngại nói về những thời điểm nhận thức của mình còn chưa chín, chưa cặn kẽ. Khi phê bình giới hạn của phong trào, bell hooks đồng thời thực hiện việc phê bình chính những giới hạn của bản thân. Phải nói thêm, đọc Nữ quyền luận cho mọi người, ta có thể hiểu hơn tầm quan trọng của ý thức phê phán. Theo đó, mục đích chính của phê phán không phải là tấn công, đả kích mà hơn hết, phê phán gợi mở những hình thức can thiệp. Nói khác đi, phê phán mở ra khả thể. Tính khai phóng của nữ quyền luận trong tư cách một trào lưu tư tưởng cần được hiểu như thế.

Việc dịch và giới thiệu cuốn sách này trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, theo tôi, có nhiều ý nghĩa. Lịch sử hiện đại của Việt Nam gắn liền với nhiều phong trào xã hội, trong đó có làn sóng nữ quyền nổi lên từ đầu thế kỷ XX, nơi phụ nữ dấn thân, cất tiếng nói đòi hỏi sự tôn trọng về nhân cách, tài năng, thân thể và các quyền làm người cơ bản.Tuy nhiên, phong trào nữ quyền trong lịch sử Việt Nam hiện đại phần nào cũng vẫn là một lịch sử bị ngoại biên hóa, có những gián đoạn, thăng trầm trong sự phát triển của nó. Những thảo luận về bình đẳng giới nổi lên trên truyền thông đại chúng gây cảm giác về một sự trở lại (hoặc cũng có thể nghĩ như một làn sóng mới) của nữ quyền trong xã hội Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, liệu nữ quyền luận ở Việt Nam đã thoát khỏi những nghi kỵ, định kiến về nó như là một trào lưu Tây học, một cuộc nổi loạn của những phụ nữ thuộc tầng lớp đặc quyền trong môi trường thị dân phá vỡ truyền thống hay một xu hướng gây hấn với nam giới hay chưa? Những hình thức đóng khung phụ nữ, “vật hóa” phụ nữ vẫn đang diễn ra công khai trong đời sống, từ trong những lời bông đùa cho đến những hình ảnh phổ biến trong quảng cáo, truyền thông, phim ảnh, văn chương ở Việt Nam. Những vấn đề về bạo lực gia đình, quấy rối tình dục mà phụ nữ là nạn nhân, những điều kiện cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội vẫn còn quá nhiều bất cập đối với phụ nữ… không phải chưa từng được phản ánh, được nêu lên trước công luận nhưng có lẽ “nữ quyền luận” vẫn đang được hình dung như một khuynh hướng tư tưởng trưởng giả hay một thứ lý thuyết kinh viện, không có nhiều giá trị thực tiễn. Cuốn sách của bell hooks là một tham khảo cần thiết đối với những nhà hoạt động xã hội ở Việt Nam để cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới thật sự có những bước đột phá.

Nhưng sẽ là phiến diện nếu nghĩ Nữ quyền luận cho mọi người chỉ là sách dành cho những nhà hoạt động xã hội. Trong chương cuối của cuốn sách, khi nói về tầm nhìn của nữ quyền luận, bell hooks cho rằng cốt lõi của nữ quyền luận chính là tình yêu, là sự cảm thông và tôn trọng giữa người với người, vượt qua những khác biệt về giai cấp, chủng tộc, khuynh hướng tính dục. Tinh thần của nữ quyền luận còn là nền tảng của một đạo đức nhân văn mới, một đạo đức của tinh thần biết chăm sóc, nuôi nấng sự sống, hướng tới thấu hiểu và tôn vinh các giá trị đa dạng, thay thế cho nền tảng đạo lý lấy sự thống trị và phục tùng mà văn hóa gia trưởng xem là hạt nhân trung tâm. Hơn cả một trào lưu, một làn sóng, tinh thần của nữ quyền cần phải là chất men thiết yếu để gắn kết con người với con người, con người với thế giới, xây dựng nên một trạng thái chung sống hài hòa trên cõi sống này, vươn đến sự tự do đích thực – “tự do cùng nhau”. Tất nhiên, để trở thành chất men như thế, nữ quyền luận luôn phải chống lại việc trở nên xơ cứng và giáo điều, không gắn với những điều kiện lịch sử, chính trị, văn hóa đặc thù của từng bối cảnh. bell hooks không trình bày về nữ quyền luận như một dự án không tưởng; bà tin vào tính khả thi của nó cũng như tin vào việc con người có khả năng thay đổi để làm cho cõi sống này thực sự đáng sống, dẫu rằng hành trình để hiện thực hóa dự án này nhọc nhằn và dài lâu. Nhưng những gì đẹp đẽ nhất xưa nay vẫn luôn đòi hỏi sự nhẫn nại, bền bỉ, nỗ lực của con người. Nữ quyền luận, vì thế, là một tư tưởng lạc quan hiểu theo nghĩa ấy.

Trần Ngọc Hiếu


[1] Jennifer Hockenbery Dragseth,

Thinking Woman: A Philosophical Approach to the Quandary of Gender, The Lutterworth Press, 2016.

bell hooks – Ngoại vi như là nơi kháng cự

Tôi dịch bài luận ngắn “Marginality as a site of resistance” của bell hooks (bút danh của nữ  học giả người Mỹ Gloria Jean Watkins – 1952, bút danh này được bà chủ ý không viết hoa) để giới thiệu thêm một cách hiểu về phạm trù ngoại vi (margin/marginal/marginality) trong văn hóa, văn học hiện nay. Ở Việt Nam, thời gian gần đấy, cặp khái niệm “trung tâm”-“ngoại vi” cũng thường xuyên xuất hiện trong các diễn ngôn phê bình. Tuy nhiên, cũng như  rất nhiều khái niệm khác, từ “ngoại vi” đã trở thành một thứ thời thường, được hiểu một cách dễ dãi và tương đối tùy hứng.  Khi cái ngoại vi được nhắc đến như một thứ mốt (cũng như  những từ như diễn ngôn, thi pháp…) thì đó cũng là lúc người ta nên nghi ngờ vào chính ngôn ngữ.

Cách đây một thời gian, khi nói chuyện với một người bạn, anh Phạm Quốc Lộc, tôi nhớ anh đã nói cặp khái niệm “trung tâm”-“ngoại vi” vẫn còn dấu vết của cấu trúc luận và thiên về bề mặt, hình thức chứ chưa chạm vào cảm thức con người trong cuộc đấu tranh văn hóa diễn ra dai dẳng và không hề kém quyết liệt trong đời sống đương đại. Ý kiến này của anh khiến tôi nghiệm ra cái đáng sợ phổ biến trong những nghiên cứu văn hóa, văn học hiện nay chính là sự vô cảm. Sự vô cảm thể hiện ở chỗ những nghiên cứu của chúng ta, trong khi tưởng như  đang tìm cách khẳng định cái hay, cái đẹp của chữ nghĩa (mà không hiểu rằng chữ nghĩa chưa bao giờ là cái gì thuần túy), say sưa đi tìm những quy luật nội tại của văn chương, siết chặt các khái niệm, đóng đinh những định nghĩa, thì lại cách rất xa tâm thức của con người, thậm chí đồng lõa với những lực lượng muốn trấn áp con người. Chính sự vô cảm ấy khiến những nghiên cứu văn hóa, văn học của chúng ta hiện nay hầu như không có vang âm đáng kể gì trong đời sống. Chính động hướng ngoại vi hóa của bản thân lý thuyết hiện nay, khi lý thuyết giờ đây xoay quanh những câu chuyện về thân thể, giới tính, sắc tộc, chấn thương, sinh thái, hậu thực dân… cũng chính là sự tự  phản tỉnh của lý thuyết, khiến lý thuyết không phải là cái gì trừu tượng, mệnh lệnh mà là cái mang tính nhân văn thực sự.  Nó không áp đặt tư  duy; trái lại, nó luôn là một độ mở để tư duy ta tiếp tục hành trình suy ngẫm của mình.

*

bell hooks

Bốn năm trước, trong lời tựa cuốn Feminist Theory: From Margin to Center [Nữ quyền luận: Từ Ngoại vi đến Trung tâm], tôi đã trình bày những suy nghĩ của mình về tính ngoại vi (marginality):

Ở vị trí ngoại vi nghĩa là anh là một bộ phận của cái toàn thể, nhưng đồng thời anh lại ở bên ngoài thành phần chính yếu. Chẳng hạn, đối với những người Mỹ da đen sống ở một thị trấn nhỏ ở Kentucky, đường xe lửa chính là hình ảnh gợi nhắc về vị trí ngoại biên trong đời sống thường ngày của chúng ta. Dọc theo những đường xe lửa này là những hè phố, những cửa hiệu chúng ta không được phép đi trên đó hay bước chân vào, những nhà hàng chúng ta không được phép ngồi ăn, và những con người chúng ta không được quyền nhìn thẳng vào họ. Dọc theo đường xe lửa là một thế giới nơi ta có thể làm việc như là những người hầu, những người trông coi nhà cửa khi chủ vắng mặt, những gái điếm khi nào thế giới đó cần phục vụ. Chúng ta có thể bước vào thế giới đó nhưng lại không thể sống ở đó. Chúng ta luôn phải trở về ngoại biên, băng qua đường xe lửa, về lại những ngôi nhà tồi tàn, bị bỏ hoang bên rìa thị trấn.

 Có những thứ luật lệ để bảo đảm việc trở về của chúng ta. Không trở về tức là có nguy cơ bị trừng phạt. Sống như chúng ta – tức sống bên lề – chúng ta hình thành một cách nhìn đặc thù về hiện thực. Chúng ta vừa nhìn  từ bên ngoài vào bên trong, lại vừa từ bên trong nhìn ra bên ngoài. Chúng ta tập trung sự chú ý của mình vào nơi trung tâm cũng như vào cả phần ngoại vi. Chúng ta hiểu cả hai. Cách nhìn này gợi chúng nghĩ đến sự tồn tại của một vũ trụ toàn vẹn, một cái toàn thể được cấu thành bởi cả cái trung tâm lẫn cái ngoại vi. Sự sống còn của chúng ta phụ thuộc vào một nhận thức công khai luôn vận động của ta về sự chia tách của cái ngoại vi và cái trung tâm cũng như sự nhận thức cá nhân luôn vận động của chúng ta, rằng ta là cái bộ phận tất yếu, năng động của cái toàn thể.

 Cảm quan về cái toàn thể, vốn áp đặt lên ý thức của chúng ta bằng cấu trúc của đời sống thường nhật mà ta đang sống, cung cấp cho chúng ta một thế giới quan đối lập – một cách nhìn thế giới mà những kẻ đàn áp chúng ta không biết tới, chính nó đã duy trì chúng ta, đã trợ giúp chúng ta trong cuộc đấu tranh để vượt qua đói nghèo và tuyệt vọng, củng cố cảm quan về bản ngã cũng như sự đoàn kết của chúng ta.

Dẫu vẫn chưa hoàn thành nhưng khi viết ra những nhận định này, tôi muốn xác định không gian ngoại vi còn có ý nghĩa nhiều hơn một không gian của thân phận bị tước đoạt. Trên thực tế, tôi muốn nói điều ngược lại: đấy còn là nơi của những khả năng đột phá quyết liệt, một không gian của sự kháng cự. Tôi muốn gọi cái không gian ngoại vi này như một địa điểm trung tâm để tạo sinh một thứ diễn ngôn phản bá quyền vốn không chỉ được nhìn thấy ở ngôn từ mà còn ở thói quen và cách mà người ta sống. Chiếu theo cách hiểu vốn phổ biến thì ở đây tôi không muốn nói đến một thứ ngoại vi như mà người ta muốn rũ bỏ, khước từ hoặc chấp nhận nhượng bộ như một phần động thái của việc dịch vào trung tâm; đúng hơn, đó lại là nơi mà người ta ở đó, thậm chí, còn muốn giữ chặt, vì nó nuôi dưỡng khả năng kháng cự của người ta. Nó đem đến khả năng của một góc nhìn cấp tiến mà từ đó người ta có thể thấy và sáng tạo, tưởng tượng nên những sự phá cách, những thế giới mới.

Đây không phải là một quan niệm thần bí về tính ngoại vi. Nó đến từ chính kinh nghiệm sống. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây là ý nghĩa của cuộc đấu tranh nhằm duy trì tính ngoại vi này ngay cả khi người ta làm việc, sản xuất, sống – nếu họ muốn – ở trung tâm. Giờ đây, tôi không còn sống trong cái thế giới bị cô lập bên đường xe lửa nữa. Điều có ý nghĩa trung tâm trong đời sống nơi thế giới ấy là ý thức không ngừng về tính cấp thiết của sự đối lập. Khi Bob Marley hát, “Chúng tôi chối từ làm kẻ mà các người muốn chúng tôi trở thành, chúng tôi là chúng tôi, và trong tương lai thì cũng vẫn như thế,” thì không gian của sự chối từ, nơi người ta có thể nói “không” với kẻ thực dân, với kẻ áp bức, được đặt ở bên lề. Và người ta chỉ có thể nói “không”, nói với cái giọng nói phản kháng kia bởi vì có sự tồn tại của một thứ ngôn ngữ đối lập. Tuy có nhiều điểm giống với ngôn ngữ của kẻ thực dân song nó cũng phải trải qua sự biến đổi. Nó đã bị thay đổi như một tình thế không thể khác được. Khi tôi rời không gian cụ thể ở bên lề, tôi luôn giữ trong mình cách nhìn hiện thực vốn không ngừng khẳng định không những tầm quan trọng của sự kháng cự mà còn cả tính tất yếu của sự kháng cự được duy trì bởi ký ức về quá khứ, trong đó bao hàm cả sự hồi tưởng về những tiếng nói từng bị coi thường, bị phá vỡ. Sự kháng cự này trao cho chúng ta những cách cất lời để giải thực dân nhận thức của chúng ta, sự sống của chính chúng ta. Có một lần, mẹ tôi tâm sự với tôi khi tôi lại chuẩn bị để vào học ở trường đại học vốn chủ yếu dành cho dân da trắng, “Con có thể nhận những gì mà người da trắng phải dành cho con song con không nhất thiết phải yêu họ.” Giờ đây, khi hiểu mã văn hóa ẩn chím trong lời của mẹ, tôi hiểu bà không dạy tôi đừng yêu thương những kẻ khác chủng tộc với mình. Bà đã nói đến sự thực dân hóa và thực tế của những gì được dạy trong một nền văn hóa có sự thống trị bởi những kẻ cai trị. Bà đã nhấn mạnh đến quyền năng của tôi trong việc có thể tách tri thức hữu ích mà tôi có thể thu nhận được từ nhóm thống trị với việc chấp nhận những hiểu biết áp đặt sẽ dẫn đến việc mình bị họ coi như kẻ xa lạ, làm cho trở nên tha hóa, và tệ hơn nữa, bị họ đồng hóa và thu phục. Mẹ tôi nói tôi không cần thiết phải giao nộp bản thân mình cho họ để học. Dù không ở trong những thiết chế ấy, mẹ tôi vẫn hiểu tôi sẽ phải đối mặt liên tục với những tình huống mà tôi bị người ta “thử”, làm cho mình có cảm giác như thể đấy là yêu cầu từ cái trung tâm để xem tôi có thể được chấp nhận hay không, và đấy sẽ là điều kiện để tôi được tham gia vào cái hệ thống trao đổi sẽ đảm bảo cho thành công của tôi, cho “việc tôi có thể làm được”. Mẹ đã nhắc tôi về sự cần thiết của ý thức đối lập, đồng thời khích lệ tôi không từ bỏ quan điểm triệt để được hình thành và nhạo nặn bởi vị trí bên lề.

Sự hiểu thấu về vị trí bên lề như là lập trường và không gian của sự kháng cự là điều đặc biệt quan trọng đối với những người bị áp bức, bóc lột, chịu ách thực dân. Nếu ta chỉ nhìn “lề” như một ký hiệu, đánh dấu hoàn cảnh khổ đau và bị tước đoạt của chúng ta, thì một nỗi vô vọng, tuyệt vọng, một thứ hư vô chủ nghĩa sâu sắc sẽ xuyên thấm vào chính nền tảng của sự tồn tại của chúng ta theo một cách thức hủy hoại. Chính ở đó, trong không gian của sự tuyệt vọng tập thể, sự sáng tạo, sức tưởng tượng của con người bị lâm nguy, nhận thức của con người sẽ bị thực dân hóa trọn vẹn, thứ tự do mà con người mong mỏi sẽ bị đánh mất. Thực sự, cái ý thức kháng cự lại sự thực dân hóa luôn đấu tranh cho sự tự do biểu hiện. Cuộc đấu tranh ấy, thậm chí, có thể không bắt đầu với kẻ thực dân mà bắt đầu ngay từ bên trong không gian bị cô lập của cộng đồng và gia đình của mỗi người. Tôi muốn lưu ý rằng tôi không cố gắng khắc họa lại một cách lãng mạn ý niệm về không gian ngoại vi, nơi những kẻ bị đàn áp sống tách khỏi những những kẻ áp bức mình, như một không gian “thuần khiết”. Tôi muốn nói rằng những không gian ngoại vi này một mặt, vữa có tính chất của một không gian trấn áp, mặt khác, vừa có tính chất của một không gian phản kháng. Và vì chúng ta có thể dễ gọi được bản chất của sự trấn áp nên chúng ta thường hiểu ngoại vi như là không gian của sự tước đoạt. Chúng ta thường im lặng hơn khi nói ngoại vi như là không gian của sự kháng cự. Chúng ta thường bị buộc phải im lặng khi cần phải nói về ngoại vi như không gian của sự kháng cự.

Bị im lặng. Trong suốt thời sinh viên, tôi nghe thấy chính mình thường nói bằng giọng phản kháng. Tôi không thể nói lời nói của tôi được đón nhận. Tôi không thể nói lời nói của tôi đã được nghe theo hướng nó có thể điều chỉnh mối quan hệ giữa kẻ thực dân và kẻ chịu sự áp bức thực dân. Tuy nhiên, điều mà tôi nhận ra là  những học giả, đặc biệt nhất là những người tự xem mình là những nhà tư tưởng phê phán cấp tiến, giờ lại đang tham gia hết mình vào sự kiến tạo một diễn ngôn về Cái/Kẻ Khác. Tôi bị coi là “kẻ khác” ngay trong không gian cùng với họ. Trong cái không gian bên lề, trong cái thế giới bị cách ly của quá khứ và hiện tại của mình, tôi không phải là kẻ khác. Họ không gặp tôi ở đó, trong không gian ấy. Họ gặp tôi ở trung tâm. Họ chào đón tôi trong tư thế của những kẻ thực dân. Tôi đợi để được học từ họ con đường phản kháng, để hiểu làm thế nào mà họ có thể từ bỏ quyền lực để hành động như những kẻ thực dân. Tôi đợi việc họ sẽ làm chứng, trình bày những chứng ước. Họ nói diễn ngôn  về ngoại vi, về sự khác biệt giờ đã nằm ngoài cuộc thảo luận giữa chúng tôi và họ. Họ không nói động hướng này đã xảy ra như thế nào. Đây là một phản ứng từ vị trí được ý thức rất triệt để của địa vị ngoại vi của tôi. Đó là một không gian kháng cự. Là không gian tôi lựa chọn.

Tôi đợi họ ngừng nói về “cái/kẻ khác”, thậm chí, thôi nói về tầm quan trọng của việc có thể nói về sự khác biệt. Quan trọng không phải ở chỗ chúng ta nói về cái gì, mà nói như thế nào và tại sao nói. Thường thì thứ lời nói về kẻ khác này cũng là một mặt nạ, một cách nói chuyện trấn áp che giấu những khoảng trống, những sự khuyết diện, chế giấu đi không gian của ngôn từ chúng ta, nếu chúng ta nói, nếu chúng ta im lặng, nếu chúng ta ở đó. Chữ “chúng ta” ở đây là thứ “chúng ta” ở bên lề, thứ “chúng ta” nơi không gian ngoại vi: đó không phải là địa điểm của sự thống trị mà là nơi kháng cự. Hãy bước vào không gian ấy. Thường thì thứ lời nói về “cái/kẻ khác” này thủ tiêu, xóa bỏ. Không cần phải nghe giọng nói của chị khi tôi có thể nói về chị tốt hơn chính chị nói về bản thân mình. Không cần phải nghe giọng nói của chị. Chỉ cần kể cho tôi nỗi đau của chị. Tôi muốn biết câu chuyện của chị. Và rồi tôi sẽ kể lại nó cho chị theo một cách thức mới. Tôi sẽ kể lại nó cho chị theo một cách mà câu chuyện ấy sẽ là của tôi, của riêng tôi. Viết lại chị thì đồng thời tôi cũng viết lại bản thân tôi, theo kiểu để làm mới chính tôi. Tôi vẫn là tác giả, tôi có thẩm quyền. Tôi vẫn là kẻ thực dân, chủ thể nói và chị, bây giờ, là trọng tâm của lời nói của tôi. Chúng tôi chào đón bạn như những kẻ giải phóng. Chữ “chúng tôi” ở đây là thứ chúng tôi ở bên lề, là thứ chúng tôi nơi không gian ngoại vi: đó không phải là địa điểm của sự thống trị mà là nơi kháng cự. Hãy bước vào không gian ấy. Đây là một sự can thiệp. Tôi đang viết cho bạn. Tôi đang nói từ một nơi ngoại vi nơi tôi là kẻ khác biệt – nơi tôi nhìn mọi thứ khác biệt. Nói từ bên lề. Nói với ý thức kháng cự. Tôi mở một cuốn sách. Trên bìa sau cuốn sách là dòng chữ “ĐỪNG BAO GIỜ Ở TRONG BÓNG NỮA”, một cuốn sách gợi ra khả năng của sự cất lời như những kẻ giải phóng. Chỉ những người lên tiếng và im lặng. Chỉ những người đứng trong những cái bóng – bóng của khung cửa, không gian nơi hình ảnh phụ nữ da đen được thể hiện như những kẻ không có tiếng nói, không gian nơi ngôn từ của chúng ta chỉ được viện đến để phục vụ và ủng hộ, không gian của sự vắng mặt của chính chúng ta. Những có những vọng âm nho nhỏ của sự phản kháng. Chúng ta được viết lại. Chúng ta là “kẻ khác”. Chúng ta là ngoại vi. Ai đang nói và nói với ai. Nơi nào ta dịnh vị chúng ta và những đồng chí của mình.

Bị im lặng.  Chúng ta sợ những kẻ nói về chúng ta những kẻ không nói với chúng ta cùng chúng ta. Chúng ta hiểu bị buộc phải im lặng là như thế nào. Chúng ta hiểu những sức mạnh bắt ta câm lặng vì chúng không bao giờ muốn chúng ta lên tiếng, muốn chúng ta khác với những sức mạnh bảo rằng: Nào, nói đi, kể cho tôi nghe câu chuyện của bạn. Chỉ có điều đừng nói bằng giọng kháng cự. Chỉ được nói từ không gian bên lề được hiểu như một ký hiệu về sự bị tước đoạt, như một vết thương, một mong mỏi không được thực hiện. Chỉ được nói nỗi đau của bạn.

Đây là một sự can thiệp. Một thông điệp từ không gian ngoại vi là địa điểm của sự sáng tạo và quyền năng, là không gian bao chứa nơi chúng ta phục hồi bản ngã của mình, nơi chúng ta chuyển động trong sự đoàn kết để xóa bỏ cặp đối lập kẻ bị thực dân hóa/kẻ thực dân. Ngoại vi như là không gian kháng cự.

Hãy bước vào không gian ấy. Gặp chúng tôi ở đó. Hãy bước vào không gian ấy. Xin chào đón bạn như những người giải phóng.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: bell hooks, “Marginality As a Site of Resistance” in Out There: Marginalization and Contemporary Cultures, ed. by Russell Ferguson, Martha Gever, Trinh T. Minh-ha, Cornel West,  The MIT Press 1992, p.341-3.