Tag Archives: alice munro

Alice Munro – Con gấu trèo qua ngọn núi

Một câu chuyện nhọc nhằn. Hiểu theo nhiều nghĩa. Nguyên tác với quá nhiều đoạn hồi tưởng, tâm lý diễn ra theo những khúc ngoặt không đoán được, những miêu tả tỉ mỉ nhiều khi có cảm giác thừa thãi, hoặc cố làm cho mạch truyện trở nên chậm rãi và nhập nhằng. Nhưng thú vị. Tôi nghĩ bạn Tâm An đã có một trải nghiệm đáng kể khi bắt tay dịch truyện này để làm chất liệu cho khóa luận về đề tài “Sự thể hiện bệnh Alzheimer trong một số văn bản tự sự đương đại”.

Cả thầy trò chúng tôi đều không tự tin lắm vào bản dịch của mình. Nhưng tôi nghĩ Tâm An đã hiểu được những cắc cớ, éo le của con người khi rơi vào tình huống mà Alice Munro đã xây dựng trong tác phẩm này. Nếu được, rất mong nhận được sự góp ý của mọi người để bản dịch có thể hoàn thiện hơn.

Cuối cùng, tôi cũng cảm ơn cô học trò đã dám chấp nhận thách thức  khi làm khóa luận, nhất là trong điều kiện môi trường hầu như không khuyến khích sinh viên làm cái gì táo bạo hay gai góc.

Phim “Away from her” do Sarah Polley đạo diễn, sản xuất năm 2006, được chuyển thể từ truyện ngắn “The Bear Came Over the Mountain” của Alice Munro

*

Fiona sống trong ngôi nhà mà cha mẹ bà để lại, ở thị trấn nơi có trường đại học mà trước kia bà và Grant cùng học. Ngôi nhà khá lớn, cửa sổ xây lồi ra bên ngoài; trong mắt Grant, trông nó vừa xa hoa, vừa thiếu gọn gàng, với những miếng thảm trải xộc xệch trên sàn nhà và những vết ố của tách chén ăn vào lớp vec-ni trên mặt bàn. Mẹ bà là người Iceland – một phụ nữ mạnh mẽ, tóc xoăn trắng như bọt sóng, người cực kỳ định kiến với đường lối chính trị cực tả. Người cha là một bác sĩ tim mạch có tiếng, được trọng vọng ở bệnh viện nhưng lại rất nhũn nhặn khi ở nhà, nơi ông sẵn lòng lắng nghe đủ mọi lời kêu ca, chỉ trích của bà vợ với nụ cười lơ đãng. Đủ loại người, giàu lẫn nghèo, ai cũng kêu ca, chỉ trích, hết đến rồi đi, hết tranh cãi lại bàn luận, đôi khi bằng những phương ngữ xa lạ. Fiona có một chiếc xe hơi nhỏ của riêng mình và một đống áo len cashmere, nhưng bà chẳng gia nhập một hội nhóm sinh hoạt nào ở trường, nguyên nhân có lẽ vì quan điểm chính trị của bà mẹ.

Bà chẳng quan tâm. Những hội nhóm nữ sinh ở đại học chỉ là trò đùa với bà, chính trị cũng vậy – mặc dù bà rất thích nghe “The Four Insurgent Generals”[2] trên máy quay đĩa, và đôi khi mở “Quốc tế ca” thật lớn, nếu bà biết có vị khách nào mà mình có thể đuổi khéo người đó được bằng cách ấy. Đã từng có một anh chàng ngoại quốc tóc xoăn, mặt mũi lúc nào trông cũng ảm đạm có ý định theo đuổi bà – Fiona nói ông ta là người Visigoth – và cả đôi ba anh chàng bác sĩ thực tập nội trú rất đứng đắn và hay ngượng nữa. Fiona hay chế nhạo tất thảy bọn họ và ngay cả Grant. Bà thường giễu nhại lối nói tỉnh lẻ của ông. Grant đã tưởng rằng có lẽ bà chỉ đùa cợt khi cầu hôn ông, vào một ngày quang đãng và lạnh trên bãi biển ở Port Stanley. Cát bám vào mặt họ gây cảm giác ran rát và sóng xô đám sỏi vỡ dạt đến dưới chân họ.

“Anh nghĩ có thú vị không,” Fiona hét lên “Anh nghĩ có thú vị không nếu chúng mình lấy nhau?”

Grant nhấc bổng Fiona lên và hét lớn “đồng ý.” Grant không bao giờ muốn xa Fiona. Fiona mang trong mình tia lửa của sự sống.

***

Ngay trước khi họ ra khỏi nhà, Fiona phát hiện một vết bẩn trên sàn nhà bếp. Thủ phạm là đôi giày lười màu đen rẻ tiền mà bà đi vào buổi sáng.

“Em tưởng chúng sẽ không để lại vết bẩn nữa,” bà nói với một giọng khó chịu và đầy bối rối như thường lệ trong khi lau vết bẩn màu xám mà giờ trông nó cứ như do bút sáp dầu gây ra.

Bà nói bà sẽ không phải làm việc này bao giờ nữa, bởi từ giờ trở đi, bà sẽ không mang theo đôi giày đó.

“Chắc em phải ăn mặc chải chuốt cả ngày mất,” bà nói. “Hoặc ít nhất cũng phải nghiêm ngắn, chỉnh tề. Cứ như thể ở khách sạn vậy.”

Bà rũ sạch cái giẻ đã dùng và treo nó trên giá bên trong cánh cửa dưới bồn rửa. Sau đó, Fiona khoác chiếc áo trượt tuyết màu nâu vàng có lông cổ, bên trong bà mặc một chiếc áo len cao cổ màu trắng đi cùng với quần mặc thường ngày màu vàng nhạt. Bà là người dong dỏng cao, vai hẹp, một phụ nữ đã bảy mươi tuổi nhưng dáng vẫn thẳng và gọn gàng, với đôi chân và bàn chân dài, cổ tay với mắt cá chân thon gọn và đôi tai nhỏ xinh, trông có phần ngộ nghĩnh. Mái tóc bà nhẹ như sợi bông tơ, Grant chẳng hề nhận ra từ khi nào tóc vợ mình đã chuyển từ màu hoe vàng sang trắng, bà vẫn buông xõa xuống vai, giống như mẹ bà trước đây. (Chính điều này khiến mẹ của Grant – một góa phụ ở một thị trấn nhỏ, làm nhân viên trực phòng khám bệnh – cảm thấy không yên tâm. Mái tóc dài bạc trắng của mẹ Fiona, thậm chí hơn cả tình thế của ngôi nhà, đã nói với bà ta tất cả những gì cần biết về thái độ và quan điểm chính trị của mẹ Fiona).

Nhưng ngoài điều đó ra thì Fiona, với khung xương nhỏ và đôi mắt nhỏ màu ngọc xa-phia, không có gì giống với mẹ mình. Bà có khuôn miệng cong cong mà bà cố ý làm nổi bật bằng son môi đỏ, thường là việc cuối cùng bà ấy làm trước khi rời khỏi khỏi nhà. Hình ảnh của bà ngày hôm nay chính là hình ảnh thường trực của bà – vừa bộc trực vừa khó hiểu, vừa dịu dàng lại vừa có vẻ giễu cợt.

***

Hơn một năm trước, Grant đã bắt đầu phát hiện nhiều mẩu giấy ghi nhớ màu vàng dán khắp nhà. Đây không phải là chuyện kỳ lạ. Fiona vẫn luôn ghi chép đủ mọi thứ – tên một cuốn sách được nhắc đến trên đài phát thanh, những việc bà muốn phải được hoàn thành ngay trong ngày. Ngay cả thời gian biểu buổi sáng cũng được bà ghi lại. Nhưng sự chi ly của thời gian biểu ấy làm Grant thấy lạ và tò mò: “07:00 yoga. 7:30-7:45 vệ sinh cá nhân. 7:45-8:15 đi bộ. 08:15 Grant và bữa sáng.”

Những mẩu giấy nhắc việc mới đây lại khác hẳn. Chúng được dán đầy trên ngăn kéo bếp – “dao, kéo, khăn lau chén bát.” Chẳng nhẽ Fiona không thể mở ngăn kéo xem có những gì bên trong ư? Grant nhớ tới câu chuyện về những người lính Đức đi tuần tra biên giới Tiệp Khắc trong thời chiến. Một người Czech đã từng kể với Grant rằng mỗi con chó tuần tra được đeo một ký hiệu ghi chữ Hund. Người Séc hỏi “Vì sao?,” và người Đức trả lời, “Bởi vì đó là hund[3]”.

Ông định kể với Fiona, nhưng rồi ông nghĩ không kể thì tốt hơn. Vợ chồng họ luôn cười nhạo cùng một điều gì đó, nhưng nhỡ đâu lần này bà ấy không cười?

Những điều trầm trọng hơn rồi cũng xảy ra. Bà vào phố và gọi điện cho Grant từ một buồng điện thoại hỏi ông làm thế nào để lái xe về nhà. Bà đi dạo ngang qua cánh đồng dẫn vào rừng và trở về nhà theo đường bờ rào – một đường vòng rất dài. Bà nói bà cứ nghĩ đường bờ rào luôn dẫn người ta đến một nơi nào đó.

Thật quá khó hiểu. Bà nói về chuyện mình “mua đường” khi đi theo lối bờ rào như thể đó là một chuyện cười. Nhưng bà chẳng gặp khó khăn gì khi nhớ số điện thoại.

“Em nghĩ không có gì phải lo lắng đâu,” bà nói. “Chắc em hơi đãng trí mà thôi.”

Ông hỏi bà có phải gần đây bà uống thuốc ngủ.

“Có uống thì em cũng không nhớ,” bà nói. Rồi bà xin lỗi vì đã thiếu nghiêm túc.

“Em chắc chắn em không uống bất cứ thuốc gì. Có lẽ đáng ra em nên uống. Vitamin chăng?”

Vitamin cũng chẳng có tác dụng. Bà vẫn đứng loay hoay ở cửa, cố gắng nhớ xem mình đang định đi đâu. Bà quên bật bếp để nấu món rau hoặc cho thêm nước vào máy pha cà phê. Bà còn hỏi Grant họ chuyển đến ngôi nhà này từ bao giờ.

“Năm ngoái hay năm trước nữa nhỉ?”

Ông trả lời: cách đây 12 năm.

Bà nói, “Thật không ngờ.”

“Thỉnh thoảng bà ấy lại như thế,” Grant kể với bác sĩ. “Có lần bà ấy bỏ quên chiếc áo khoác lông thú trong kho và cứ thế không nhớ gì đến nó. Đó là lần hai chúng tôi đi nghỉ đông, như mọi năm. Sau này bà ấy nói như thể một sự vô tình có lí do, giống như một tội lỗi mà bà muốn chôn giấu. Người ta khiến Fiona cảm tưởng như có lỗi khi khoác lên mình chiếc áo lông thú.”

Ông bối rối cố gắng hết sức để giải thích rõ thêm về một biểu hiện nghiêm trọng hơn – sự ngạc nhiên và những lời xin lỗi của Fiona mà giờ đây dường như đã trở thành một phép lịch sự hàng ngày, có vẻ không phải bà đang trêu đùa ông. Như thể bỗng nhiên bà bước vào một cuộc phiêu lưu không báo trước. Hoặc bắt đầu một trò chơi mà bà hy vọng ông sẽ bị cuốn vào. Vợ chồng ông vẫn thường tự bày ra những trò chơi cho riêng mình – với những phương ngữ vô nghĩa, những nhân vật họ tưởng tượng ra. Đôi khi Fiona giả giọng thỏ thẻ hay nũng nịu (cái này ông không thể nói với bác sĩ) nghe rất giống những người phụ nữ Grant từng có quan hệ tình cảm, những người mà bà chưa từng gặp hay biết.

“Vâng,” bác sĩ nói. “Ban đầu có thể trí nhớ cũng tùy tiện. Chúng ta cũng chưa biết chắc phải không? Từ giờ đến khi có những triệu chứng suy thoái rõ rệt hơn, chúng tôi thực sự không thể chẩn đoán gì.”

Trong thời gian này việc tìm ra tên bệnh hay phân loại bệnh chính xác cũng không mấy quan trọng. Nhưng một hôm, Fiona – giờ đây đã không còn đi mua sắm một mình nữa – bỗng biến mất khỏi siêu thị khi Grant vừa quay lưng đi. Một cảnh sát đưa bà về khi thấy bà đang đi giữa lòng đường, cách siêu thị vài dãy nhà. Anh ta hỏi tên bà và bà trả lời một cách dễ dàng. Rồi anh hỏi bà tên của Thủ tướng.

“Nếu đến điều đó mà cậu còn không biết, thì cậu trẻ ạ, cậu thực sự không nên làm công việc đòi hỏi nhiều trách nhiệm như thế này.”

Anh cảnh sát bật cười. Nhưng rồi bà đã phạm sai lầm khi hỏi anh ta có thấy Boris và Natasha đâu không.

Đó là hai con chó săn sói giống Nga mà bà từng nhận nuôi giúp cho một người bạn nhiều năm trước đây, và rồi bà đã tận tâm chăm sóc đến khi chúng chết. Chuyện bà nhận nuôi chúng có lẽ ngẫu nhiên trùng hợp với thời điểm việc bà phát hiện ra rằng mình không có khả năng sinh con. Đại loại là tắc hay xoắn ống dẫn trứng, giờ thì Grant cũng không thể nhớ nổi nguyên nhân. Ông vốn luôn luôn lảng tránh ý nghĩ về cơ địa của phụ nữ. Hoặc có thể là kể từ khi mẹ của Fiona qua đời. Hai con chó chân dài, lông mượt, mặt nhỏ thó, trông vừa hiền, vừa bương bướng rất hợp với Fiona khi bà dắt chúng dạo bộ. Và ngay chuyện Grant kết hôn với Fiona, trong con mắt của một số người, chẳng qua cũng là sự lựa chọn ngẫu hứng của một tiểu thư vốn hay nảy sinh những ý nghĩ bất ngờ, lập dị. Rồi ông nhận được công việc đầu tiên ở trường đại học (trường này luôn sẵn sàng nhận tiền tài trợ của cha vợ ông, bất chấp quan điểm chính trị của ông cụ) cũng được xem như là ông gặp may nhờ vợ và gia đình nhà vợ, ông được vợ chăm chút, chiều chuộng, giúp đỡ. Mặc dù, may thay, ông không nhận thức được điều đó, cho đến mãi sau này.

***

Fiona nói với Grant, trong bữa tối cái hôm bà đi lạc khỏi siêu thị, “Anh biết phải làm gì với em rồi đúng không? Anh sẽ đưa em đến đó. Shallowlake thì phải?”

Grant đáp, “Meadowlake. Chưa đến mức đó đâu.”

“Shallowlake, Shillylake,” bà lại nói, như thể họ đang tham gia vào một trò chơi chữ vui vẻ. “Sillylake. Là Sillylake anh ạ.”

Ông chống khuỷu trên bàn, hai tay ôm lấy đầu. Ông nói rằng bác sĩ đã cân nhắc chuyện đó rồi, đó sẽ không phải là hình thức điều trị vĩnh viễn. Chỉ là thử nghiệm thôi. Na ná như kiểu chữa bệnh bằng cách thư giãn, nghỉ ngơi.

***

Viện Meadowlake đưa ra quy định không làm thủ tục nhập viện cho bất cứ ai trong tháng mười hai. Kỳ nghỉ lễ dễ tạo cho người ta những chấn động bất thường về cảm xúc. Vì vậy, Grant phải dời kế hoạch đưa Fiona nhập viện sang tháng Giêng, họ mất hai mươi phút lái xe từ nhà đến Meadowlake. Trước khi đến đường cao tốc, họ đi qua con đường làng hơi dốc bởi một vũng lầy nay đã hoàn toàn đóng băng. Những cây sồi đầm lầy và những cây phong hắt bóng xuống trông như những thanh dài trên nền tuyết trắng.

Fiona thốt lên: “Ôi, nhớ rồi!”

Grant nói: “Anh cũng đang nghĩ đến điều đó đấy.”

“Chỉ có điều là đêm ấy sáng trăng,” bà nói.

Bà đang nói về lần họ đi trượt tuyết vào đêm trăng đầy, trên nền tuyết trắng sọc đen, ở đây – chính ở nơi này, nơi người ta chỉ có thể đi vào được vào thời điểm lạnh nhất của mùa đông. Họ đã nghe những cành cây run rẩy như sắp gãy trong giá lạnh.

Nếu Fiona có thể nhớ điều đó sống động và chính xác đến thế thì liệu tình trạng của bà có thực sự nghiêm trọng?

Ông phải cố gắng lắm mới không quay xe chở bà về nhà.

***

Còn một nội quy nữa mà bác sĩ phụ trách giải thích cho Grant. Bệnh nhân mới không được tiếp người nhà trong vòng ba mươi ngày đầu. Hầu hết họ cần khoảng thời gian đó để ổn định tâm lý. Trước khi quy định này được đưa ra, người ta chứng kiến đủ những lời van xin, nước mắt và cơn giận dữ, thậm chí cả những bệnh nhân tự nguyện nhập viện cũng thế. Đến ngày thứ ba hoặc thứ tư, họ sẽ bắt đầu than thở và cầu xin được đưa về nhà. Vài người thân có thể sẽ mủi lòng, vì vậy sẽ có những người được chở về nhà, cho dù về đến nhà, họ chẳng chút nào tiến triển hơn khi mới đến. Sáu tháng hoặc có khi chỉ một vài tuần sau đó, toàn bộ tình trạng rắc rối rất phiền hà này lại tái diễn.

“Trong khi đó,” bác sĩ cho biết, “chúng tôi thấy nếu để họ lại một mình trong tháng đầu tiên, họ thường sớm thích nghi một cách vui vẻ hơn. Chúng tôi thậm chí còn phải lừa họ vào xe buýt để đưa họ đi một chuyến vào phố. Muốn họ về thăm nhà cũng phải thế. Đưa họ về nhà thăm một hai tiếng cũng không phiền gì – nhưng họ sẽ lo lắng về việc trở lại viện kịp giờ ăn tối. Khi đó thì Meadowlake đã là nhà của họ rồi. Tất nhiên, với những người trên tầng hai thì không phải như vậy, chúng tôi không thể để họ đi đâu hết. Việc đó quá khó, mà hơn nữa, họ còn không biết mình đang ở nơi nào.”

“Vợ tôi sẽ không ở tầng hai.” Grant nói.

“Không,” vị bác sĩ từ tốn nói. “Tôi chỉ muốn nói rõ ràng ngay từ đầu mà thôi.”

***

Mấy năm trước đây, hai vợ chồng ông đã từng đến Meadowlake vài lần để thăm Farquar, ông lão nông dân không vợ từng là hàng xóm của họ. Ông sống một mình trong ngôi nhà gạch thông thống gió lùa vốn chẳng thay đổi gì kể từ những năm đầu thế kỷ, ngoại trừ việc trong nhà có thêm một cái tủ lạnh và một tivi. Trước, ông Farquar cũng hay ghé chơi nhà Grant và Fiona tuy không báo trước nhưng họ đều ngồi lại với nhau khá lâu, và cùng với những vấn đề địa phương, ông thích bàn luận về những cuốn sách mình đã đọc – về chiến tranh ở khu vực Crimea[4] hay những cuộc thám hiểm hai cực địa cầu hoặc lịch sử phát minh vũ khí. Nhưng sau khi đến Meadowlake, ông chỉ biết nói về công việc thường làm trong ngày ở đó, và vợ chồng Grant có cảm giác những cuộc viếng thăm của họ, dù rất thiện chí, lại làm cho Farquar thấy nặng nề nhiều hơn. Và riêng Fiona thì đặc biệt ghét mùi nước tiểu và thuốc tẩy váng vất ở đó, bà cũng ghét những bó hoa nhựa bày đặt một cách chiếu lệ trên hành lang có trần thấp và trông rất tối tăm.

Giờ đây, khu viện Meadowlake cũ đã không còn nữa, mặc dù nó cũng mới chỉ được xây từ thập niên 50. Cũng như căn nhà ông Farquar, nay đã bị thay thế bởi một công trình giống như một lâu đài rẻ tiền – nơi nghỉ dưỡng cuối tuần của mấy người ở Toronto. Viện Meadowlake mới là một tòa nhà có mái vòm, rộng rãi, không khí thoang thoảng mùi thông dễ chịu. Từ những bình sành khổng lồ, cây lá trổ ra lòa xòa và đều là những cây lá thật.

Tuy nhiên, trong suốt một tháng dài xa cách, Grant cứ luôn hình dung Fiona sống trong khung cảnh viện Meadowlake trước kia. Ông cảm thấy đây là tháng dài nhất trong đời mình, dài hơn cả cái tháng ông cùng mẹ đi thăm họ hàng ở Lanark County hồi ông mới mười ba tuổi, đằng đẵng hơn cả cái tháng mà Jacqui Adams đi nghỉ với gia đình cô ấy, khi Grant và Jacqui mới bắt đầu nhen nhóm tình cảm. Ngày nào ông cũng gọi đến viện Meadowlake và hy vọng gặp được cô y tá tên Kristy. Cô có vẻ buồn cười vì sự kiên trì của Grant, nhưng cô luôn thông tin cho ông đầy đủ hơn bất kỳ y tá nào khác mà ông từng gặp.

Fiona bị cảm lạnh trong tuần đầu tiên, song không phải là điều gì bất thường đối với những người mới nhập viện.

“Giống như trẻ con khi mới đi học thôi,” Kristy nói. “Môi trường mới có nhiều mầm bệnh mới mà chúng dễ tiếp xúc và trong một lúc, chúng dính đủ thứ.”

Rồi bệnh cảm cũng đỡ dần. Fiona không còn phải dùng thuốc kháng sinh và bà không còn lúng túng như khi mới vào viện. (Đây là lần đầu Grant biết vợ mình phải dùng thuốc kháng sinh và cả việc Fiona lúng túng trong môi trường mới.) Bà ăn ngon miệng và có vẻ thích ngồi trong phòng kính nhìn ra ngoài trời. Dường như Fiona rất thích xem TV.

Một trong những điều thực sự khó chịu đựng nổi ở viện Meadowlake ngày trước là chỗ nào cũng có TV, chúng át cả dòng suy nghĩ hay xen vào những cuộc trò chuyện ở bất cứ nơi đâu mà người ta chọn ngồi. Một số “tù nhân” (khi đó Grant và Fiona gọi họ như vậy, chứ không phải là “bệnh nhân”) căng mắt theo dõi, một số thì đáp lại lời ti-vi, nhưng phần đông chỉ ngồi ngoan ngoãn và chịu đựng sự tấn công của nó. Ở tòa nhà mới, theo như Grant nhớ, thì TV được đặt trong một phòng tách biệt, hoặc trong phòng ngủ. Người nào thích thì đến ngồi xem.

Vậy hẳn Fiona thấy thú vị khi xem ti-vi. Nhưng mà xem cái gì?

Trong những năm họ sống trong ngôi nhà này, Grant và Fiona xem khá nhiều chương trình truyền hình cùng nhau. Họ cùng chăm chú quan sát cuộc sống của những con thú, bò sát, côn trùng hay sinh vật biển mà máy quay ghi lại được, và họ cũng đã dõi theo những diễn biến tương tự như nhau của hàng chục cuốn tiểu thuyết hay của thế kỷ XIX được chuyển thể thành phim truyền hình. Họ nghiện xem một chương trình hài kịch dài tập về đời sống ở một cửa hàng bách hóa, xem đi xem lại đến mức họ thuộc lòng cả lời thoại. Họ buồn bã vì sự vắng mặt của những tài tử đã chết ngoài đời thực hoặc đã theo đuổi sự nghiệp khác, họ hân hoan với sự trở lại của những diễn viên ấy – đồng nghĩa với việc nhân vật của họ lại được tái sinh. Họ để ý đến cả chuyện tóc của người đóng vai nhân viên chào hàng ngả từ đen sang xám, rồi cuối cùng lại đen trở lại trong khi bối cảnh nghèo nàn chẳng bao giờ thay đổi. Nhưng rồi chương trình cũng mất sức sống, những bối cảnh và mái tóc đen đến nhức mắt cuối cùng cũng trở nên nhạt nhẽo, như thể bụi đường London cũng đã lọt dưới cửa thang máy, điều này làm cho Grant và Fiona buồn hơn bất kỳ vở bi kịch nào trong bộ Kiệt tác sân khấu, vì thế, họ đã bỏ dở chương trình này trước khi nó kết thúc.

Fiona đã bắt đầu làm quen với những người bạn mới, Kristy kể. Rõ ràng bà ấy đang thoát khỏi vỏ bọc của chính mình.

Vỏ bọc nào vậy? Grant định hỏi, nhưng rồi kiềm chế bản thân, để giữ hình tượng tốt đẹp trong mắt Kristy.

***

Grant để máy trả lời tự động phòng khi có ai gọi điện. Những người mà họ phải xã giao, thi thoảng không phải láng giềng ở gần kề mà là những người sống quanh vùng quê đó, những người đã nghỉ hưu giống như họ, thường xuyên đi xa mà chẳng cần thông báo. Những năm đầu khi họ đến sống ở đây, Grant và Fiona đã ở trong nhà suốt mùa đông. Mùa đông ở vùng quê quả là một trải nghiệm mới, họ có nhiều việc phải làm để tu sửa căn nhà. Và rồi, họ hiểu rằng họ cũng nên đi du lịch đâu đó khi có thể, họ đi Hy Lạp, Úc, đi Costa Rica. Mọi người cứ tưởng lúc này ông và Fiona cũng đang đi du lịch kiểu như vậy.

Grant trượt tuyết để rèn luyện thân thể, nhưng ông không bao giờ trượt đến tận vùng đầm lầy này. Ông thường trượt tuyết khi mặt trời lặn dần để lại bầu trời nhuốm hồng bao phủ vùng quê, quanh cánh đồng sau nhà dường như bị viền quanh bởi lớp sóng băng anh ánh màu xanh lam. Ông đếm lại xem mình đã trượt quanh cánh đồng bao nhiêu lần, rồi trở về ngôi nhà phủ bóng tối của mình, bật chương trình thời sự trong khi chuẩn bị bữa tối. Ông bà vẫn thường cùng nhau nấu bữa tối. Một người pha đồ uống và một người lo nhóm lửa, họ trò chuyện về công việc của Grant (ông đang viết một công trình về hình tượng những con sói trong huyền thoại Bắc Âu và đặc biệt là con sói Fenrir khổng lồ, nuốt Odin nơi tận cùng thế giới[5]), về bất cứ cuốn sách nào Fiona đang đọc và những gì họ đã nghĩ trong một ngày họ sống bên cạnh nhau nhưng đồng thời mỗi người lại có những khoảng riêng của mình. Đó mới là thời điểm họ gần gũi nhau nhất, tất nhiên, ngoài ra vẫn có năm hay mười phút ngọt ngào, họ vuốt ve thân thể nhau trên giường – không hẳn là một ngày của họ sẽ kết thúc bằng ân ái, nhưng điều ấy cho thấy giữa hai người, ân ái vẫn còn như một ham muốn.

***

Đã có lần Grant mơ thấy mình đưa cho một đồng nghiệp – người ông coi là bạn hữu – xem một bức thư. Lá thư này từ người bạn cùng phòng với cô gái mà có một thời gian, ông không còn nghĩ đến. Lời lẽ cao đạo và thù địch, đe dọa theo kiểu của kẻ yếm thế – ông nghĩ người gửi thư này nhiều khả năng là một người đồng tính nữ. Còn chính cô gái, bạn của người viết lá thư này là người mà ông đã chia tay rất đàng hoàng và có vẻ như không phải người viết thư muốn gây chuyện ầm ĩ, chỉ là cô ta muốn tự tử, bức thư nói cho Grant biết điều đó theo một cách vừa rõ ràng mà cũng vừa rối rắm.

Tay đồng nghiệp ấy của Grant thuộc kiểu người chồng, người cha phóng túng, có thể quăng cà vạt, bỏ bê nhà cửa, đêm thì ngủ với cô bổ trẻ quyền rũ trên tấm nệm trải sàn nhà, sáng dậy đến cơ quan, đến trường, bộ dạng lôi thôi lếch thếch, người ám mùi chất gây nghiện và trầm hương. Nhưng giờ tay đồng nghiệp ấy lại tỏ ra bi quan khi nghe câu chuyện cắc cớ này của Grant và bỗng Grant nhớ ra rằng anh ta, trên thực tế, cũng đã kết hôn với một trong những cô bồ đó, và giờ cô ta phải lo chuẩn bị tiệc tối cho chồng và bận sinh con, như mọi người vợ khác.

“Tôi sẽ không cười đâu,” anh ta bảo với Grant dù ông không hề nghĩ anh ta sẽ cười. “Và nếu tôi là anh, tôi sẽ cố chuẩn bị tinh thần cho Fiona.”

Nghe vậy, Grant liền đi tìm Fiona ở Meadowlake – Meadowlake ngày xưa, nhưng rồi thay vào đó, ông lại đến một giảng đường. Ở đó mọi người đều đang chờ đợi ông đến dạy. Và ngồi ở hàng cuối cùng, cao nhất là một nhóm những phụ nữ trẻ tuổi với ánh mắt lạnh lùng, tất cả đều mặc áo choàng đen, mắt thâm tím, họ nhìn ông chằm chằm một cách sắc sói, họ thản nhiên không ghi chép hay để tâm đến bất cứ điều gì ông đang giảng.

Fiona ngồi ở hàng trên cùng, gương mặt bình thản. Bà biến cả giảng đường thành cái góc mà bà luôn tìm kiếm trong mỗi bữa tiệc, một vị trí cao ráo nơi bà nhâm nhi ly rượu với nước khoáng, hút loại thuốc lá thông thường và kể những chuyện hài hước về lũ chó. Bà ngồi ở đó, cùng với một vài người giống như bà, tách khỏi đám đông, xem những gì đang diễn ra ở những góc khác, trong phòng ngủ hay nơi hiên tối, chẳng hơn gì những hài kịch trẻ con. Cứ như thể lòng từ thiện chỉ là một thứ đạo đức thời thượng, sự trầm tĩnh, kiệm lời mới thực sự là một phẩm hạnh.

“Ôi dào,” Fiona nói. “Các cô tuổi này đi đâu chẳng rêu rao mình sẽ tự sát như thế nào.”

Nhưng điều mà Fiona nói vẫn không làm ông yên tâm – thực tế, lời nói ấy lại làm ông ớn lạnh. Ông sợ rằng Fiona đã nhầm, rằng điều gì đó khủng khiếp đã xảy ra, và ông có thể nhìn thấy những gì bà không thể thấy – đám phụ nữ áo đen như hóa thành một vòng tròn màu đen, mỗi lúc một dầy hơn, mỗi lúc một lớn hơn, nó bốc hơi bay lên, khắp trần nhà, đi vào khắp khí quản của ông gây ngạt thở.

***

Ông tự kéo mình ra khỏi giấc mơ và bắt đầu thử tách cái gì là thực từ cơn mộng mị ấy.

Đã từng có một bức thư, và mảng chữ “ĐỒ CHUỘT” viết bằng sơn đen ngòm xuất hiện trên cửa văn phòng Grant, và Fiona, khi được kể rằng có một cô gái phát cuồng vì chồng bà, đã đáp lại gần như chính xác những gì bà nói trong giấc mơ của ông. Còn những gì không có thật là sự hiện diện của người đồng nghiệp, những phụ nữ áo đen, và thực ra thì cũng chẳng ai tự tử. Grant không bị hư hại thanh danh, trên thực tế, ông đã tránh được chuyện rắc rối này khá dễ dàng. Giả dụ một vụ tai tiếng như thế này xảy ra vài năm sau đó, hằn những gì ông phải mất mát sẽ không nhỏ. Nhưng vẫn có những lời xì xào. Có người công khai bày tỏ sự lạnh nhạt đối với ông. Vợ chồng ông có rất ít lời mời dự tiệc Giáng sinh và đêm giao thừa, họ ngồi nhà, không có khách khứa nào cả. Grant say rượu, và dù không có điều gì thúc ép –cũng tạ ơn Chúa, lần này ông không phạm sai lầm bằng việc thú nhận – ông hứa với Fiona về một cuộc sống mới.

Sự xấu hổ ông cảm thấy khi đó là vì mình bị lừa, vì không nhận thấy sự thay đổi đang diễn ra. Và không có người phụ nữ nào giúp ông nhận thức được điều đó. Đã có sự thay đổi trong quá khứ khi đột nhiên rất nhiều phụ nữ dễ dãi mời mọc – hay chỉ là Grant thấy như vậy – và bây giờ với sự thay đổi mới này, khi họ nói rằng chuyện xảy ra không phải ý muốn của họ. Họ quan hệ chỉ vì khi đó họ thấy mình bất lực, hoang mang và lạc lối, họ bị tổn thương bởi tất cả chứ chẳng vui vẻ gì. Ngay cả khi họ đã chủ động thì họ làm vậy chỉ vì lá bài định mệnh cố ý làm hại họ.

Chưa thấy ở bất cứ đâu có chuyện một gã Don Juan (nếu đó là biệt danh Grant buộc phải tự gọi mình – mà thực tình thì những vụ chinh phục phụ nữ hay những mối dan díu mà ông vướng vào còn chưa bằng một nửa so với anh bạn đồng nghiệp đã trách móc ông trong giấc mơ) lại có những hành động tử tế, hào hiệp, lại còn cả đức hy sinh nữa. Không phải ngay từ đầu đã vậy, có lẽ thế, nhưng ít nhất khi câu chuyện diễn tiến thì đừng mơ đến những điều đó. Nhiều lần ông đã chiều lòng kiêu hãnh hay sự mong manh của phụ nữ bằng cách cố tỏ ra nhiều cảm xúc – hay tỏ ra say đắm lộ liễu – hơn cảm giác thật trong lòng ông. Chỉ thế thôi, vậy mà giờ ông cảm thấy mình như bị buộc tội vì đã gây tổn thương, lợi dụng và làm tan nát những người phụ nữ giàu tự trọng. Và là người đã lừa dối Fiona – tất nhiên rồi, ông đã lừa dối bà – nhưng có tốt hơn không nếu ông xử sự giống như những người đàn ông khác đối với vợ mình rồi ruồng bỏ bà?

Ông chưa từng nghĩ đến một việc tày trời như vậy. Ông vẫn làm tình với Fiona mặc kệ ở đâu đó có những mời mọc, những đề nghị dễ gây phân tâm. Ông chưa từng xa Fiona dù chỉ một đêm. Không bịa ra những câu chuyện lắt léo để qua đêm ở San Francisco, hay trong một ngôi lều trên đảo Manitoulin vào ngày cuối tuần. Ông đã hạn chế dùng chất gây nghiện và rượu bia, tiếp tục viết lách, nghiên cứu, tham gia vào các hội đồng, có những bước tiến trong trong sự nghiệp. Ông chưa bao giờ có ý định vứt bỏ sự nghiệp và hôn nhân, để rồi về quê làm mộc hay nuôi ong.

Nhưng điều tương tự cuối cùng cũng đã xảy ra. Ông xin nghỉ hưu sớm với lương hưu bị giảm trừ. Cha của Fiona qua đời, sau một thời gian bị lẫn, sống một phần đời khổ hạnh và cô đơn trong ngôi nhà rộng lớn. Fiona thừa hưởng toàn bộ tài sản và trang trại nơi người cha đã lớn lên ở vùng nông thôn gần Vịnh Georgia. Fiona cũng nghỉ việc tại bệnh viện, nơi bà làm điều phối viên cho dịch vụ tự nguyện (ở thế giới thường nhật ấy, như cách nói của bà, người ta thực sự gặp phải những rắc rối, phiền muộn không liên quan gì tới ma túy, tình dục hoặc những tranh cãi đau đầu). Một cuộc sống mới là một cuộc sống mới.

Boris và Natasha cũng chết vào khoảng thời gian ấy. Một con ốm và đi trước – Grant đã quên mất là con nào – rồi tiếp đến con còn lại, có lẽ vì thương tiếc con kia.

Grant và Fiona sửa sang lại căn nhà. Họ đi du lịch trượt tuyết. Họ không quá hòa đồng nhưng dần dần đã có một số bạn bè. Không còn nữa những trò tán tỉnh đong đưa. Không còn cảnh bà này dùng chân trần cọ vào ống quần ông kia trong bữa tiệc tối. Không còn nữa những cô vợ dễ dãi, phóng túng.

Thật đúng lúc, Grant đã nghĩ thế, khi cảm giác về sự bất công dần mòn đi. Các nhà nữ quyền, và có lẽ là cả cô nàng ngốc nghếch rầu rĩ ấy và những người tạm gọi là bạn bè rất hèn hạ ấy đã đẩy ông ra ngoài lề thật đúng lúc. Ra khỏi một đời sống mà thực ra ngày một phiền nhiễu hơn giá trị của nó. Và có thể cuối cùng cái đời sống ấy dễ khiến ông mất Fiona.

***

Vào sáng ngày ông định trở lại Meadowlake để thăm Fiona lần đầu sau một tháng xa cách, Grant dậy sớm. Trong ông đầy những hồi hộp của một người đang đứng trước một sự kiện trọng đại, y như thể buổi sáng lần đầu tiên ông hẹn hò với một người phụ nữ mới. Cảm giác đó chắc chắn không phải là cái rạo rực tình dục (sau này, khi những cuộc hẹn hò đã thành thói quen, thì đúng là như thế). Có mong muốn được khám phá, gần như một háo hức tinh thần. Cũng có cả nỗi rụt rè, ngại ngùng, lo âu.

Ông ra khỏi nhà quá sớm. Trước 2 giờ người nhà không được vào thăm. Grant không muốn phải ngồi ngoài bãi xe chờ đợi, nên ông quay xe đi theo một lối khác, lệch hẳn hướng.

Đã tan băng. Vẫn còn nhiều tuyết vương lại, nhưng phong cảnh lấp lóa, làm chói mắt trước đó của mùa đông đã tan biến. Những điểm tuyết tan lỗ rỗ dưới bầu trời xám trông giống như đống rác thải trên cánh đồng.

Đến một thị trấn gần Meadowlake, Grant tìm thấy một cửa hàng hoa và mua một bó hoa lớn. Ông chưa từng tặng hoa cho Fiona. Hay bất cứ ai khác. Ông bước vào tòa nhà với cảm giác như một người tình tuyệt vọng hay một người chồng tội lỗi trong các tranh biếm họa.

“Ồ. Hoa thủy tiên vào buổi sớm thế này,” Kristy nói. “Chắc cũng tốn kém đấy nhỉ”. Cô đi trước Grant dẫn đường dọc theo hành lang của phòng ăn lớn rồi đến một chạn bếp, bật đèn lên, tìm một chiếc bình. Cô là một phụ nữ trẻ đẫy đà, có vẻ như chẳng chăm chút gì cho ngoại hình, trừ mái tóc. Đó là mái tóc vàng, uốn từng lọn bồng bềnh theo phong cách diêm dúa của những cô tiếp viên cocktail hay vũ nữ thoát y, mái tóc kiểu cách ấy chẳng ăn nhập gì với một khuôn mặt và cơ thể rất bình thường, không có gì đặc biệt.

“Được rồi đó,” cô nói, rồi ra hiệu cho ông đi xuống dưới phòng ăn lớn. “Tên bệnh nhân ở trên cửa ấy”.

Ra vậy, tên người bệnh viết trên một tấm biển, có họa tiết trang trí là những con chim sơn ca. Ông đắn đo liệu có nên gõ cửa, rồi ông gõ, mở cửa và gọi tên bà.

Fiona không có ở trong phòng. Cánh cửa tủ đóng, giường phẳng phiu. Không có gì trên bàn cạnh giường, ngoại trừ một hộp Kleenex và một ly nước. Không một bức tranh, ảnh, không một cuốn sách hay tạp chí. Có lẽ những thứ ấy phải cất trong tủ.

Ông trở lại bàn y tá, hay bàn lễ tân, hay gọi thế nào cũng được. Kristy hỏi, “Bà ấy không có trong phòng sao?,” giọng tỏ vẻ bất ngờ nhưng Grant thấy cứ như hỏi lấy lệ.

Ông ngập ngừng, tay vẫn giữ chặt bó hoa. Cô nói: “Được rồi, được rồi – ta cứ đặt bó hoa xuống đây đã”. Đoạn cô thở dài, cứ như Grant là đứa trẻ đi muộn vào ngày đầu tiên đến lớp, cô dẫn ông đi dọc theo hành lang khu vực phòng ăn lớn, tới một không gian trung tâm khá rộng đón nhiều ánh sáng từ những ô cửa trời rất lớn và trần nhà được làm theo phong cách thánh đường. Vài người đang ngồi dọc theo tường, trên những chiếc ghế thư giãn, những người khác ngồi quanh những chiếc bàn giữa phòng, sàn phòng được trải thảm. Không ai trông quá tiểu tụy. Có người trông đã rất già – một số đã phải dùng đến xe lăn – nhưng vẫn bặt thiệp. Hồi vợ chồng ông đến thăm Farquar, có một vài hình ảnh của bệnh nhân làm hai người đều thấy rất đáng sợ. Râu mọc trên cằm các bà già, có người một bên mắt lồi ra như một quả mận đã thối mục. Đi lại rờ rẫm, đầu lúc nào cũng lắc lư, nói năng luyên thuyên như điên dở. Giờ có vẻ như đã không còn những ca tồi tệ nhất. Hay thuốc thang, y học giờ đã tốt hơn, đã tìm ra được những cách giảm nhẹ sự biến dạng hình hài, cũng như sự mất kiểm soát ngôn ngữ và nhiều hành vi khác – những phương thức mà chỉ mấy năm trước cũng chưa từng có.

Tuy nhiên, có một người phụ nữ ngồi bên chiếc dương cầm trông rất sầu muộn, bấm từng phím đàn với một ngón tay và mãi chẳng tạo nên một giai điệu nào. Một người phụ nữ khác, ngồi sau bình hãm cà phê và một chồng cốc nhựa cứ đăm đăm nhìn ra ngoài, đờ đẫn như hóa đá. Nhưng chắc đó là một nhân viên của viện – chị ta mặc bộ đồ xanh lá nhạt giống hệt của Kristy.

“Thấy chưa?” Kristy nói khẽ. “Ông chỉ cần đi đến, chào và cố gắng đừng để bà ấy giật mình. Hãy nhớ rằng có thể bà ấy sẽ không … Mà thôi. Ông đi đi.”

Ông thấy Fiona đang nhìn nghiêng nghiêng, bà ngồi sát một trong những chiếc bàn chơi bài, nhưng không chơi. Mặt bà hơi bụ ra, gò má hơi xệ che lấp khóe miệng, điều này Grant chưa từng thấy trước đây. Fiona đang xem người đàn ông ngồi gần nhất chơi bài. Ông ta cố tình nghiêng nghiêng bài để bà có thể xem cùng. Khi Grant lại gần, bà ngước lên. Tất cả đều ngẩng nhìn với vẻ khó chịu. Rồi họ ngay lập tức nhìn xuống bài của mình, như để tránh bất cứ sự xâm phạm nào.

Nhưng Fiona mỉm cười – nụ cười méo mó, lúng túng, kín đáo và vì thế lại rất có duyên của bà – bà đẩy ghế lùi lại, đến gần bên Grant, đưa ngón tay lên miệng.

“Đang chơi bài bridge”, bà thầm thì. “Căng thẳng ra trò. Họ còn khờ lắm.” Bà dẫn Grant về phía bàn cà phê, trò chuyện. “Em nhớ hồi học đại học, có dạo bọn em cũng hay chơi bài bridge. Bọn em hay bùng tiết, ngồi trong phòng sinh hoạt chung, hút thuốc và chơi bài, cũng găng lắm. Một người trong đám bạn khi đó là Phoebe, những người còn lại thì em không nhớ.”

“Phoebe Hart,” Grant nói. Ông nhớ lại cô gái mắt đen, ngực hóp, người nhỏ thó, có lẽ giờ đã qua đời. Giữa không gian ám khói thuốc, Fiona, Phoebe và đám con gái ấy say sưa với những quân bài như những cô phù thủy.

“Anh cũng biết cô ấy à?” Fiona hỏi, giờ bà hướng nụ cười về phía người phụ nữ ngồi thừ như hóa đá khi nãy. “Anh uống gì nhỉ? Một tách trà nhé? Nhưng e cà phê ở đây không ngon lắm.”

Grant chưa từng uống trà.

Ông không thể vòng tay ôm bà. Có gì đó trong giọng nói và nụ cười ấy, vẫn thân thuộc như ngày nào, nhưng cách bà không muốn ông làm phiền hội chơi bài và ngay cả người phụ nữ ngồi sau bình cà phê kia – cũng như tránh cho ông khỏi sự khó chịu từ họ – khiến ông không thể ôm bà.

“Anh mang tặng em bó hoa,” ông nói. “Anh nghĩ chúng sẽ làm phòng em sáng sủa hơn. Anh đã vào phòng, nhưng em không ở đó.”

“Vâng”, bà nói. “Em ở đây cơ mà.”

Grant nói, “Em đã có bạn mới nhỉ.” Ông hất đầu về phía người đàn ông mà Fiona ngồi bên lúc nãy. Đúng lúc lão ta ngẩng lên nhìn Fiona và bà quay lại, không biết vì những gì Grant đang nói hay là bà đã cảm thấy cái nhìn từ phía sau bà.

“Đó là Aubrey,” bà nói. “Điều thú vị là em đã biết ông ấy từ lâu lắm rồi. Ông ấy từng làm việc trong cửa hàng. Cái cửa hàng kim khí mà ông của em hay ghé mua sắm. Aubrey và em cũng hay tán chuyện qua lại nhưng ông ấy chẳng đủ dũng khí ngỏ lời với em. Cho đến tận ngày cuối tuần cuối cùng, ông ấy rủ em đi xem một trận cầu. Nhưng khi trận đấu kết thúc thì ông của em xuất hiện và lái xe đưa em về nhà. Khi đó em đến nghỉ hè. Đến thăm ông bà – họ sống ở trang trại.”

“Fiona. Anh biết ông bà của em sống ở đâu mà. Đó là nơi chúng ta ở. Từng ở.”

“Thật không?” bà nói nhưng không chú ý lắm vì ông bạn chơi bài đang nhìn bà, cái nhìn không phải đang cầu khẩn mà là đang ra lệnh. Ông ta tầm tuổi Grant, có khi già hơn một chút. Bộ tóc trắng dày thô lòa xòa trên trán, da dẻ trông vẫn tốt nhưng nước da đã nhờn nhợt, trắng ngà ngà như cái găng tay cũ nát của trẻ con. Khuôn mặt dài của ông ta nghiêm nghị và u sầu, ông khiến người ta nghĩ đến một con ngựa già, từng rất mạnh mẽ nhưng nay đã xuống sức, mỏi mệt , thờ ơ. Nhưng Fiona đang để tâm ở đâu lại là điều ông không hề thờ ơ.

“Em phải trở lại chỗ cũ thôi,” Fiona nói, khuôn mặt mới đầy đặn hơn một chút của bà trông hơi ửng hồng. “Ông ấy nghĩ mình không thể chơi mà không có em ngồi cạnh. Thật ngớ ngẩn, mà em thì gần như chẳng biết chơi thế nào nữa. Cho em xin phép nhé.”

“Sẽ xong nhanh chứ?”

“Ồ, chắc sắp hết ván rồi. Mà cũng còn tùy. Anh cứ ra hỏi cái bà trông nghiêm nghị kia thật nhẹ nhàng, bà ấy sẽ lấy cho anh một tách trà.”

“Không cần đâu,” Grant đáp.

“Vậy em đi nhé, anh biết cách tự giải khuây đúng không? Chắn chắn có nhiều lạ lẫm, nhưng rồi anh sẽ ngạc nhiên khi thấy mình làm quen rất nhanh chóng. Rồi ạnh sẽ biết hết mọi người ở đây. Ngoại trừ một số giống như ở trên mây ấy, anh biết mà – đừng mong đợi tất cả bọn họ biết anh là ai.”

Fiona nhanh chóng trở về ghế của mình, bà thì thầm gì đó vào tai của Aubrey. Bà gõ những ngón tay mình lên mu bàn tay của ông ta.

Grant đi tìm Kristy và gặp cô ở hành lang phòng ăn lớn. Cô đang đẩy một xe có bình nước táo và nước ép nho.

“Đợi tôi một chút nhé,” cô vừa nói với ông vừa ngó qua cửa phòng. “Có ai uống nước táo không? Nước nho? Bánh bích quy?”

Ông chờ đợi trong khi Kristy rót đầy hai cốc nhựa và mang vào phòng. Khi trở lại, cô lấy hai chiếc bánh bột dong cho mình và cho cả ông.

“Sao rồi?,” cô hỏi thăm. “Chắc ông cũng mừng khi thấy bà nhà rất hòa nhập?”

Grant nói, “Thực sự thì Fiona có nhận ra tôi là ai không?”

***

Ông không thể biết chính xác. Có thể bà ấy đang trêu đùa. Fiona là thế mà. Bà ấy đã đùa hơi quá ở phút cuối, khi vờ nói với Grant như thể bà nghĩ ông là bệnh nhân mới.

Cứ cho là bà ấy đang muốn diễn. Cứ cho đó là giả vờ.

Nhưng sao bà ấy không chạy theo và cười Grant sau khi đã lừa được ông? Bà ấy chắc chắn không thể trở lại bàn chơi bài và giả vờ quên ông được. Như thế thì thật quá đáng, thật tàn nhẫn.

Kristy nói, “Có thể ông gặp bà ấy không đúng thời điểm. Đang lúc chơi bài.”

“Khi đó bà ấy đâu có chơi,” ông nói.

“Vâng, nhưng bạn của bà ấy đang chơi. Aubrey ấy.”

“Thế Aubrey là ai?”

“Thì đó. Aubrey. Bạn của vợ ông. Ông muốn uống nước trái cây không?”

Grant lắc đầu.

“Ồ nhìn xem,” Kristy nói. “Họ quấn quýt nhau lắm. Cũng được khá lâu rồi. Kiểu như bạn thân nhất ấy. Chỉ một giai đoạn thôi.”

“Ý cô là bà ấy có thể thực sự không nhận ra tôi?”

“Có thể. Hôm nay thôi. Rồi ngày mai – người ta không biết trước được đúng không? Mọi thứ cứ thay đổi tới lui và ta chẳng thể làm gì được. Ông sẽ hiểu cái bệnh này nó thất thường như thế nào khi ông đến đây thường xuyên. Ông sẽ không nghiêm trọng hóa vấn đề nữa. Sẽ học chấp nhận điều đó dần mỗi ngày.”

***

Mỗi ngày. Nhưng mọi thứ thực sự chẳng hề thay đổi qua lại như thế, và Grant cũng không quen nổi với điều đó. Fiona mới là người dần quen với sự hiện diện của Grant, nhưng chỉ với tư cách một vị khách nhẫn nại có mối quan tâm đặc biệt đến bà. Thậm chí có khi như một kẻ quấy rầy mà bà muốn tránh mặt một cách lịch sự. Bà tiếp đãi ông rất lơ đễnh, thái độ tử tế xã giao, khiến Grant không tài nào hỏi bà vấn đề hiển nhiên, cần thiết nhất: liệu bà có còn nhớ ông – người chồng gần năm mươi năm của bà? Ông có ấn tượng rằng bà hẳn sẽ bối rối lắm trước một câu hỏi như vậy – không phải bối rối cho mình mà như ái ngại thay cho ông. Chắc bà ấy sẽ cười khúc khích và sẽ làm Grant xấu hổ bằng cả sự lịch thiệp và nỗi bối rối của mình, và theo cách nào đó, bà ấy sẽ không trả lời có hoặc không. Hoặc có thể bà sẽ chọn một trong hai câu trả lời mà dù thế nào cũng không thỏa mãn.

Kristy là y tá duy nhất Grant có thể trò chuyện. Một vài người khác coi mọi thứ như một trò đùa. Một y tá già, khá thô thiển khi cười và nói ông: “Aubrey và Fiona đó hả? Thắm thiết ra phết, phải không?”

Theo như Kristy kể lại, Aubrey từng làm đại lý cho một công ty bán thuốc diệt cỏ dại – “và tất cả những thứ như thế” – cho nông dân.

“Ông ấy là người đàng hoàng,” cô nói, và Grant không hiểu điều này có nghĩa Aubrey là người thật thà, rộng rãi và tử tế với mọi người, hay là ông ta là kẻ có khiếu ăn nói, mặc đẹp và lái xe xịn. Có lẽ cả hai nghĩa.

Và khi ông ta chưa già, thậm chí chưa nghỉ hưu, ông ấy đã trải qua một đận sức khỏe suy sụp một cách bất thường.

“Vợ Aubrey chăm nom ông ta, thường là ở nhà. Bà ta chỉ gửi ông ấy ở đây tạm thời để được nghỉ ngơi. Em gái muốn bà ta đến Florida. Đấy, bà ta cũng khổ sở lắm, ông sao có thể ngờ một người đàn ông như Aubrey – họ chỉ đi nghỉ đâu đó và ông ta đại loại là bị một con bọ đốt, làm cho sốt rất cao. Và ông ấy hôn mê rồi cứ thế như bây giờ.”

Grant hỏi cô về tình cảm giữa những bệnh nhân ở đây. Chúng có bao giờ đi quá giới hạn không? Giờ thì ông đã có thể giả vờ nói về chuyện này theo kiểu một kẻ hóng chuyện như thế, may ra ông khỏi phải nghe những bài giảng giải.

“Còn tùy thuộc vào ý ông muốn hỏi,” cô đáp. Cô tiếp tục ghi chép vào cuốn sổ theo dõi trong khi quyết định nên trả lời Grant ra sao. Khi viết xong, cô ngẩng lên nhìn ông với một nụ cười thẳng thắn.

“Vấn đề chúng ta đang phải đối mặt ở đây, buồn cười là ở chỗ, tình cảm thường xảy ra giữa những người trước đó chẳng thân thiện với nhau chút nào. Họ thậm chí có thể không biết gì về nhau, ngoài việc biết người kia là đàn ông hay đàn bà. Ta thường cho rằng các ông già luôn muốn mò đến giường các bà lão, nhưng ông biết không, tôi biết có đến 50% các trường hợp là diễn tiến theo chiều ngược lại. Các cụ bà thích gần gũi với các cụ ông. Có lẽ các bà ấy vẫn chưa quá mức già cỗi, tôi đoán vậy.”

Sau đó, cô không cười nữa, như thể vì sợ mình đã quá nhiều lời, hay nói quá vô tâm.

“Đừng hiểu sai ý tôi,” cô nói. ” Tôi không có ý nói đến Fiona. Fiona là một quý bà.”

Đúng, còn Aubrey thì nghĩ sao về bà? Grant muốn nói thế. Nhưng ông nhớ lại rằng Aubrey còn đang ngồi xe lăn.

“Fiona quả là một quý bà đích thực,” Kristy nói với một giọng quả quyết càng làm Grant thêm băn khoăn. Ông tưởng tượng trong đầu hình ảnh Fiona, mặc trên mình một trong những chiếc đầm ngủ thắt nơ xanh với viền ren, lần dở tấm trải giường của lão già nào đó đầy vẻ hí hửng.

“Vâng, tôi đôi khi cũng tự hỏi…,” ông ngập ngừng.

Kristy rành rọt, “Ông tự hỏi điều gì?”

“Tôi tự hỏi biết đâu bà ấy đang đóng kịch với tôi.”

“Hả, ông nói sao?”

***

Hầu như chiều nào cũng thấy hai người đó ở bàn chơi bài. Aubrey có bàn tay to bè và những ngón tay thô dày. Ông ta chật vật sắp xếp những quân bài. Fiona phải xáo và chia bài thay và đôi khi nhanh tay vuốt thẳng quân bài đang sắp tuột khỏi tay lão. Từ bên kia căn phòng, Grant dõi theo từng cử động như tên bắn và điệu cười hối lỗi chớp nhoáng của Fiona. Ông thấy được cái cau mày hay thường thấy ở những ông chồng khó tính của Aubrey mỗi khi một làn tóc của Fiona chạm vào má ông ta. Aubrey thích tỏ vẻ thờ ơ lạnh nhạt với Fiona khi bà ấy ở gần mình.

Nhưng ông ta cứ ngồi yên, khuôn mặt trầm trầm, nặng nề, nhìn Fiona mỉm cười chào Grant, rồi đẩy lùi chiếc ghế mình và tiến đến mời ông tách trà – điều này cho thấy bà đã chấp nhận quyền hiện diện của Grant ở đây. Rồi ông ta để mặc những quân bài tuột khỏi tay mình rơi xuống sàn nhà và thế là phá hỏng cả ván bài.

Và Fiona lại phải tất tả thu nhặt mọi thứ lại.

Nếu Fiona và Aubrey không ở bàn chơi bài, có thể họ đang dạo bộ dọc theo sảnh, Aubrey một tay bám vào thanh vịn, một tay nắm lấy cánh tay hoặc khoác vai Fiona. Các y tá thực sự cảm phục khi thấy Fiona làm cho lão rời khỏi cái xe lăn, cho dù nếu đi xa hơn – đến khu nhà trồng cây đầu bên này tòa nhà hoặc phòng TV đầu bên kia tòa nhà chẳng hạn – thì vẫn cần phải dùng đến.

Phòng xem TV có vẻ lúc nào cũng để kênh thể thao và Aubrey luôn chỉ xem môn thể thao h́nh như lão yêu thích nhất – golf. Grant không ngại ngồi xem cùng họ. Ông ngồi ở cách họ vài ghế. Trên màn hình lớn, những nhóm nhỏ khán giả và bình luận viên chạy theo sau các golf thủ quanh cái sân xanh yên ắng, và vào những lúc thích hợp thì vỗ tay rất nghi thức. Nhưng sẽ im bặt mỗi khi các tay golf thực hiện cú xoay người và quả bóng bay lên thật đơn độc xuyên qua màn trời. Aubrey, Fiona, Grant và có thể cũng có nhiều người khác ngồi xem, nín thở, sau đó Aubrey luôn là người lên trước tiên, thể hiện sự đắc ý hoặc thất vọng. Fiona sẽ hùa theo với cùng một ý đó chỉ vài giây sau.

Trong nhà kính trồng cây tĩnh lặng hơn nhiều. Bộ đôi hay chọn vị trí ngồi dưới vòm cây nhiệt đới xanh tươi, um tùm nhất, Grant đủ tự chủ để không xâm phạm không gian đó. Xen lẫn trong tiếng xào xạc của cây lá và tiếng nước tí tách là giọng nói dịu dàng và tiếng cười của Fiona.

Rồi đột nhiên có chuỗi âm thanh nghe như tiếng cười ngặt nghẽo. Là ai cười thế?

Mà có thể chẳng phải ai cười – có lẽ đó là tiếng của một trong những con chim sặc sỡ phá đám ở trong góc lồng kia.

Aubrey cũng nói, dù giọng của ông ta có thể không giống như trước đây. Lão dường như đang nói gì đó, thứ âm thanh nghe nặng trịch. Cẩn thận nhé. Hắn ta đang ở đây. Mình ạ.

Ở mặt đáy xanh dương của cái hồ dưới chân đài phun nước có vài đồng xu cầu nguyện. Grant chưa bao giờ thực sự chứng kiến người nào ném xu vào đó. Ông nhìn chăm chú vào những đồng 5, 10, 25 xu, tự hỏi rằng phải chăng người ta dán chúng vào gạch men lát đáy bể – một chi tiết trang trí khác của tòa nhà.

***

Đôi bạn tuổi hoa niên ở sân đấu bóng chày, họ ngồi hàng trên cùng của khán đài, tách khỏi đám bạn bè của cậu con trai. Giữa hai người chỉ có một thanh gỗ trơ mấy inch ngăn cách, bóng tối buông xuống, hơi lạnh của buổi chiều muộn cuối hạ nhanh chóng lan tỏa. Những bàn tay ngập ngừng, cơ thể hai người đều như bồn chồn, và mắt họ vẫn không rời trận bóng. Nếu đang mặc áo khoác, ông sẽ cởi ra, để choàng nó lên đôi vai hẹp của bà. Dưới lớp áo ấy, ông có thể kéo bà lại gần hơn, siết những ngón tay của mình vào cánh tay mềm mại của ấy.

Chứ không như bọn trẻ bây giờ, có thể quá trớn với nhau từ lần hẹn đầu tiên.

Cánh tay gầy và mềm mại của Fiona. Dục vọng tuổi trẻ làm Fiona ngỡ ngàng, nó truyền đi khắp cơ thể trinh nguyên dịu dàng của bà, khi bóng tối trở nên dày đặc hơn bên kia vùng ánh sáng phủ bụi trên sân bóng.

***

Ở Meadowlake có rất ít gương soi, nên Grant không phải bắt gặp cái cảnh đeo bám và rình mò của chính mình. Nhưng cũng có lúc ông nhận ra mình ngu ngốc, thảm hại thế nào, và hẳn trông ông điên rồ lắm khi cứ nhằng nhẵng bám theo sau Fiona và Aubrey. Và chẳng có cơ may nào để có thể đối đầu với bà, hoặc ông ta. Càng ngày ông lại càng không chắc chắn về quyền được hiện diện ở đó, nhưng lại không thể rút lui. Ngay cả ở nhà, khi ngồi bàn làm việc hay dọn dẹp, hay khi xúc tuyết khi cần thiết, trong đầu ông như có một cái máy gõ nhịp nhắc nhở về Meadowlake, về chuyến thăm tiếp theo của ông. Ðôi lúc ông tưởng mình như một anh chàng bướng bỉnh, cố đeo đuổi một mối tình vô vọng, có khi lại giống một gã khốn khổ thường bám đuôi những quý cô danh giá trên đường phố, cứ tin rằng rồi một ngày họ sẽ quay lại và nhận ra tấm chân tình.

Grant đã rất cố gắng, ông chỉ còn đến viện vào thứ tư và thứ bảy. Ngay cả khi ở đó, ông cũng để ý quan sát thêm về nơi này như là một vị khách bình thường hoặc một người làm công tác thanh tra hay nghiên cứu xã hội.

Thứ bảy là ngày lễ nên không khí ở viện vừa nhộn nhịp vừa căng thẳng. Các gia đình từng tốp kéo đến. Thường là các bà mẹ phải lo lắng mọi thứ, họ giống như những chú chó chăn cừu vừa vui vẻ vừa phải van xin những con cừu là các ông bố và lũ con nhỏ. Chỉ những đứa nhỏ nhất là không cần lo âu. Chúng ngay lập tức nhận thấy các ô gạch vuông màu trắng và xanh lá lát sàn ở sảnh là sân chơi của mình, chúng chọn một ô màu để đi, còn ô màu khác thì nhảy qua. Những đứa bạo hơn có thể chơi trò đu xe lăn. Một số đứa cứng đầu cứ tiếp tục những trò chơi đó bất chấp lời quát mắng, đến nỗi cuối cùng bị đưa ra xe hơi. Và những ông bố hay những đứa anh rất vui vẻ, sẵn sàng nhanh nhảu nhận làm nhiệm vụ này thay cho việc thăm hỏi.

Phụ nữ sẽ làm công việc chuyện trò. Những ông bố tỏ ra biết điều khi ở tình huống này, những đứa con mới lớn động một tí lại bị mắng mỏ. Những bệnh nhân có người nhà đến thăm ngồi trên chiếc xe lăn hoặc lập cập chống gậy đi lại, hoặc bước đi một cách khó khăn, không cần ai dìu, đi lên trước cả con cháu, như muốn chứng tỏ tình trạng được cải thiện của mình nhưng ánh mắt vẫn đờ đẫn, miệng lẩm bẩm tuyệt vọng vì áp lực căng thẳng. Bị vây quanh bởi những người “ở ngoài vào”, những người “sống ở trong” không còn trông giống như thường ngày ở viện nữa. Râu cứng trên cằm của các bà cụ có thể đã được cạo nhẵn, những đôi mắt xấu xí có thể đã được che đi sau cặp kính râm, những phát ngôn lung tung có thể được kiểm soát bằng thuốc, nhưng tất cả không giấu đi được vẻ đờ đẫn, sự cứng đơ như những bóng ma – có vẻ như con người ta bằng lòng khi trở thành ký ức của chính mình, họ hiện hữu như những bức ảnh cuối cùng của chính mình.

Giờ Grant đã hiểu rõ hơn cảm giác của ông Farquar. Những người ở đây, kể cả những người không tham gia bất cứ hoạt động nào mà chỉ ngồi nhìn những cánh cửa ra vào hay là trông ra ngoài cửa sổ – đang sống một cuộc đời bận rộn khác trong tâm tưởng của họ (chưa nói tới đời sống khác của cơ thể họ, những co thắt bất thường của đường ruột, những cảm giác nhói hay nhức ở khắp nơi trên cơ thể). Đó là một đời sống mà trong nhiều trường hợp, có thể sẽ rất khó mô tả hay ám chỉ về nó trước sự hiện diện của những vị khách. Tất cả những gì họ có thể làm là ngồi im trên xe lăn hoặc bằng cách nào đó đẩy mình loanh quanh với hy vọng sẽ nhớ ra thứ gì để khoe hay chủ đề gì đó để nói.

Có thể khoe về nhà kính trồng cây và cái TV màn ảnh rộng. Các ông bố sẽ nghĩ hẳn đó là những chuyện hay ho. Còn các bà mẹ sẽ khen đám dương xỉ tuyệt đẹp. Rồi cả nhà sẽ sớm ngồi xuống quanh cái bàn nhỏ và cùng ăn kem – mấy cô bé, cậu bé tuổi mới lớn hẳn sẽ chẳng thích gì chuyện ăn kem, chúng nghĩ cảnh cà nhà ăn kem là một cảnh tượng cực khó chịu. Những người phụ nữ lau những vết kem nhoe nhoét dây trên cái cằm run run của các cụ già còn đám đàn ông thì thường quay mặt đi.

Chắc cái nghi thức này hẳn cũng có thể đem đến một cảm giác hài lòng nào đó cho thành viên trong gia đình, và có lẽmột ngày nào đó, ngay cả đám trẻ mới lớn cũng thấy vui vẻ vì chúng đã đến đây. Grant không am hiểu lắm những vấn đề thuộc về gia đình.

Không có con cháu nào đến thăm Aubrey, và vì họ không có chỗ chơi bài nữa – bàn chơi bài đã bị lấy đi để phục vụ bữa tiệc kem – nên ông ta cùng Fiona thường tránh những buổi hội họp ngày thứ bảy. Khu nhà kính đã trở nên quá quen thuộc cho những cuộc trò chuyện thân mật giữa hai người.

Và dĩ nhiên, còn một nơi nữa để họ tâm tình: căn phòng đóng kín cửa của Fiona. Grant không thể nào gõ cửa, dù ông đứng đó khá lâu, nhìn chăm chăm vào cái biển tên được trang trí đậm chất Disney với cảm giác khó chịu cực độ.

Hoặc họ có thể ở trong phòng Aubrey. Nhưng Grant không biết phòng đó ở đâu. Càng thăm quan nhiều, ông càng khám phá ra nhiều hành lang và chỗ ngồi, đến nỗi khi đi lang thang quanh viện, có khi ông vẫn lạc đường. Ông phải lấy một bức tranh, hay một cái ghế để đánh dấu địa điểm, nhưng tuần sau khi quay lại, những vật ông chọn để đánh dấu lại bị chuyển đi chỗ nào khác rồi. Ông không kể chuyện đó với Kristy, sợ rằng cô sẽ nghĩ chính ông cũng đang mắc một chứng rối loạn tâm thần nào đó. Grant đoán người ta thay đổi vị trí hay sắp xếp lại đồ vật thường xuyên chính là vì bệnh nhân – để làm những cuộc dạo bộ hằng ngày của họ trở nên thú vị hơn.

Grant cũng không kể chuyện có lần ông nhìn thấy một phụ nữ từ đằng xa mà ông đoán là Fiona, nhưng rồi lại nghĩ chắc không phải, vì cách bà ta ăn mặc không giống như vợ ông. Đã bao giờ Fiona mặc những cái áo có hoa sáng màu với quần thường ngày màu xanh điện quang đâu? Vào một ngày thứ bảy, Grant nhìn ra cửa sổ và thấy Fiona – chắc chắn là bà ấy – đang đẩy xe lăn cho Aubrey trên con đường đã cào nhẵn băng tuyết. Bà ấy đội cái mũ len ngớ ngẩn, khoác cái áo có những xoáy xanh và tím -kiểu trang phục thường thấy phụ nữ vùng này mặc khi đi siêu thị.

Sự thực là ở đây người ta chẳng bận tâm phân loại quần áo của những bệnh nhân nữ mà nhìn chung đều có cùng khổ người như nhau. Và họ cũng nghĩ rằng người mặc dù sao cũng chẳng thể nhận ra quần áo họ.

Họ còn cắt tóc bà ấy nữa. Họ cắt mất cả quầng hào quang thiên thần trên mái tóc ấy. Vào một ngày thứ tư, khi mọi thứ trở về bình thường, những ván bài lại diễn ra, mấy bà già trong phòng Thủ công lại làm hoa lụa và may quần áo búp bê mà chẳng có ai xung quanh quấy rầy hay trầm trồ khen ngợi, và khi Aubrey và Fiona lại ngồi ở đó, Grant có được cơ hội trò chuyện ngắn, vừa thân thiện, vừa bực bội với vợ mình, ông hỏi bà: “Sao họ có thể cắt mất mái tóc của em?” Fiona rờ tay lên đầu kiểm tra.

“Thì sao? – tôi không hề lưu luyến nó,” bà nói.

***

Grant nghĩ ông nên tìm hiểu chuyện gì đang diễn ra trên tầng hai, nơi ở của những bệnh nhân mà theo cách nói của Kristy là đã hoàn toàn mất trí. Những người đi đi lại lại dưới tầng một tự nói chuyện một mình hay buông ra những câu hỏi kì quặc cho ai đi ngang qua, thí dụ, “Có phải tôi để quên cái áo len ở nhà thờ không?” mới chỉ là những ca mất một phần trí nhớ.

Nhưng thế chưa đủ để đánh giá.

Có cầu thang dẫn lên, nhưng cửa đi vào trong chỉ nhân viên – những người có chìa khóa – mới vào được. Không thể vào thang máy được nếu nhân viên không ấn nút ở đằng sau bàn tiếp tân.

Người ta làm gì mỗi ngày, khi họ đã mất trí?

“Vài người chỉ ngồi vậy”, Kristy kể. “Có người ngồi khóc. Một số thì la hét. Ông không muốn nghe đâu”.

Cũng có khi họ nhớ lại được.

“Thế này nhé, chẳng hạn ông đến thăm họ liên tục một năm nhưng họ chẳng bao giờ phân biệt nổi ông với những ông khác. Rồi đến một ngày, họ tỏ ra hoan hỉ “Ồ, chào, bao giờ thì ta về nhà?”. Đột nhiên trở lại bình thường”.

Nhưng chẳng được lâu đâu.

“Người ta nghĩ, chà, mọi chuyện lại ổn rồi. Nhưng thoắt một cái, bệnh nhân lại quên hết ngay”. Kristy bật ngón tay đánh “tách” cái. “Nhanh thế đấy”.

***

Ở thị trấn nơi Grant từng dạy học có một hiệu sách mà vợ chồng ông vẫn ghé qua đôi lần một năm. Ông trở lại hiệu sách đó một mình. Ông không muốn mua gì, nhưng ông đã viết ra một danh sách, chọn ra vài quyển có trong danh sách đó và mua thêm mấy quyển khác mà ông tình cờ chú ý. Sách về Iceland. Một cuốn sách có tranh màu nước thế kỉ XIX của một nhà du hành nữ từng đặt chân đến Iceland.

Fiona chưa từng học tiếng mẹ đẻ và bà cũng chưa bao giờ tỏ ra có nhiều quan tâm đến những câu chuyện của vùng đất ấy – những huyền thoại mà chồng bà đã giảng dạy, nghiên cứu, và giờ vẫn tiếp tục nghiên cứu. Bà hay gọi những anh hùng trong truyện là “Njal xa xưa” hay “Snorri xa xưa”[6]. Nhưng vài năm gần đây, bà đã dần quan tâm đến đất nước này và tra cứu trong những cuốn sách du lịch. Bà đọc về chuyến đi của William Morris và Auden. Không phải là bà đã có kế hoạch du lịch đến Iceland. Bà nói, thời tiết nơi đó quá khủng khiếp. Thêm nữa – bà nói thêm – cũng có những nơi ta nên nghĩ đến nó, tìm hiểu về nó, chờ đợi được đến đó, dẫu rằng chuyến đi có thể chẳng bao giờ thực hiện được.

***

Hồi Grant bắt đầu dạy Văn học Anglo-Saxon và Bắc Âu, sinh viên lớp ông đa phần là những sinh viên bình thường. Nhưng sau vài năm, ông nhận ra một thay đổi. Những sinh viên nữ đã lập gia đình bắt đầu quay lại trường học. Không phải họ học vì bằng cấp, để có công ăn việc làm tốt hơn, mà đơn giản là để giữ cho mình suy nghĩ về điều gì đó thú vị hơn là việc nội trợ và những thú vui tầm thường. Để làm cuộc sống của mình thêm phong phú. Và như một hệ quả tự nhiên, những giảng viên nam dạy những điều thú vị cho họ trở thành một phần của cuộc sống phong phú ấy, khi mà đối với những học viên nữ này, hình tượng người thầy có nhiều bí ẩn và đáng khao khát hơn là những ông chồng mà hằng ngày họ phải phục vụ ăn uống và phải ngủ cùng.

Những ngành họ chọn học thường là Tâm lí học hoặc Lịch sử văn hóa hay Văn học Anh. Khảo cổ học và Ngôn ngữ học thỉnh thoảng cũng có người chọn, nhưng họ thường bỏ khi thấy mấy ngành đó quá nặng. Những người đăng ký học khóa của Grant có thể có xuất thân Scandinavia – giống như Fiona – hoặc họ có thể đã học về thần thoại Bắc Âu từ Wagner[7] hay các tiểu thuyết lịch sử. Cũng có vài người nghĩ rằng Grant sẽ dạy ngôn ngữ Celtic[8] và với họ mọi thứ liên quan đến Celtic đều có một sức quyến rũ huyền bí.

Tại văn phòng của mình, Grant đã nói với những kẻ khao khát ấy khá thẳng thừng.

“Nếu các bạn muốn học một ngoại ngữ hay, hãy học tiếng Tây Ban Nha. Bạn có thể sử dụng được khi đến Mexico.”

Một số đã nghe theo lời khuyên đó và chuyển lớp. Những người còn lại dường như rung động một cách rất riêng tư trước giọng điệu quyền uy ấy của ông thầy. Họ rất chịu khó học hành và mang tới cho văn phòng của Grant, cho đời sống vốn đã ổn định và viên mãn của ông, một ý thức phục tùng tự giác đến ngạc nhiên của những phụ nữ trưởng thành, họ phấp phỏng hy vọng nhận được tín hiệu chấp nhận từ phía ông thầy.

Grant đã “gật đầu” với một học viên tên Jacqui Adams. Cô ta là hình ảnh trái ngược hẳn với Fiona—thấp lùn, đậm người, mắt sẫm màu, một tip người bộc trực. Thật thà đến độ không biết đùa. Cuộc tình kéo dài quãng một năm, cho đến khi chồng cô ta phải chuyển công tác. Khi từ biệt trong xe hơi của Jacqui, bống nhiên chị ta không ngừng run lên. Như thể đột ngột bị hạ thân nhiệt vậy. Sau này có vài lần Jacqui viết thư cho Grant, nhưng ông thấy lời lẽ trong thư trau chuốt, gọt giũa quá đỗi, đến mức không biết nên hồi âm ra sao. Ông đành mặc kệ chuyện hồi âm, và cũng trong thời gian này, một cách bất ngờ và không thể hiểu nổi, ông lại có quan hệ tình cảm với một cô gái mà chỉ đáng tuổi con gái của Jacqui.

Trong khi Grant vẫn đang cặp với Jacqui thì ông còn rơi vào một cơn “say nắng” khác, quái quỷ hơn. Những cô gái trẻ tóc dài, đi xăng-đan đến văn phòng thầy, không ngại ngần tuyên bố mình sẵn sàng dâng hiến cho thầy. Những sự tiếp xúc thận trọng, những gợi ý nhẹ nhàng về cảm xúc mà ông cần ở Jacqui nay bị vứt ra ngoài cửa sổ. Grant như bị cuốn theo một cơn lốc xoáy, cũng như nhiều đồng nghiệp khác của ông, ước muốn biến thành hành động chóng vánh đến nỗi ông phải băn khoăn không biết có điều gì bị bỏ lỡ hay không. Nhưng ai có thì giờ hối tiếc chứ? Ông chỉ nghe tiếng gọi của những mối quan hệ xuất hiện đồng thời, những dục vọng, ham mê man dại và liều lĩnh. Điều tiếng lan truyền, với những câu chuyện được kịch tính hóa một cách lâm li, đau khổ, nhưng có cảm giác rằng như vậy còn tốt hơn. Có trả thù; có đuổi việc. Nhưng kẻ bị đuổi việc chuyển đến giảng dạy tại một trường nhỏ hơn, bao dung hơn, hoặc Trung tâm Giáo dục cộng đồng, những người vợ bị bỏ rơi đành cố vượt qua cú sốc, họ đổi cách ăn mặc và tỏ ra dễ dãi, lả lơi giống như các cô gái đã dụ dỗ chồng họ. Những buổi tiệc tùng ở trường đại học, vốn chẳng mấy khi có sự bất ngờ, hóa ra là một bãi mìn. Một trận dịch bùng phát, lây lan như cúm Tây Ban Nha. Chỉ có điều ở đây người ta chạy theo mầm bệnh, và hầu như rất ít kẻ từ 16 đến 60 tuổi sẵn lòng chấp nhận đứng ngoài cuộc.

Tuy nhiên, Fiona có vẻ như sẵn lòng đứng ngoài vùng dịch đam mê ấy. Mẹ của bà sắp qua đời, kinh nghiệm làm việc tại bệnh viện đã khiến Fiona chuyển từ công việc hàng ngày ở phòng đăng ký khám bệnh qua một công việc mới. Grant không ra nước ngoài, ít nhất là khác với những đồng nghiệp xung quanh ông. Ông không để cho người đàn bà nào khác gần gũi với ông như Jacqui trước đây. Điều ông cảm nhận thấy rõ nhất ở mình dạo đó là ông rất sung sức. Từ năm 12 tuổi, ông đã rất dễ lên cân, vậy mà thời gian ấy, cơ thể ông hầu như không trở nên nặng nề. Ông có thể leo cầu thang hai bậc một. Trước đó, ông chưa từng cảm nhận được nét rực rỡ của những vầng mây tan và ánh hoàng hôn mùa đông loang loáng khi nhìn từ cửa sổ phòng làm việc, ông chưa bao giờ bị thú hút bởi ánh sáng lòa nhòa của cây đèn cổ hắt qua những tấm rèm phòng khách của nhà láng giềng, ông ít khi chú ý đến tiếng trẻ khóc trong công viên lúc chiều muộn vì không muốn rời ngọn đồi nơi chúng chơi trượt băng. Sang đến mùa hạ, Grant học thuộc tên các loài hoa. Được mẹ vợ hướng dẫn – khi đó, bà gần như đã mất giọng, ông đã mạnh dạn đứng trước lớp diễn xướng và dịch bản tụng ca sử thi trang trọng và bạo liệt – bản Höfuðlausn, tác phẩm tôn vinh vua Eric “Rìu máu” được sáng tác bởi một nghệ nhân hát rong mà trước đó nhà vua đã định kết án tử hình. (Và nghệ nhân ấy sau đó đã giữ được mạng sống của mình, được thả tự do bởi nhà vua tha tội, và bởi chính sức mạnh của thơ ca). Cả lớp đều vỗ tay thích thú – ngay cả những học viên tính vốn nhu mì mà Grant vẫn thường tếu táo với họ, “Này, đợi ngoài hội trường nhé?”. Khi lái xe về nhà ngày hôm đó hay những hôm sau, tự nhiên ông thấy lởn vởn trong đầu mình một câu Kinh Thánh nhại rất vô nghĩa mà cũng có phần báng bổ:

Người càng thêm khôn ngoan, thân hình càng cao lớn, càng được đẹp lòng Ðức Chúa Trời và loài người [9].

Tự nhiên nó làm ông bối rối, khiến ông ớn lạnh như thể có linh cảm gì đó. Mà quả là có chuyện thật. Nhưng trước khi chuyện ấy xảy ra, mọi chuyện dường như không có gì là bất thường cả.

* * *

Ông mang theo quyển sách về Iceland ấy trong lần kế tiếp đến Meadowlake. Đó là một ngày thứ tư. Ông tìm Fiona ở bàn chơi bài nhưng không thấy.

Một người phụ nữ gọi với ra, “Bà ấy không ở đây đâu. Bà ấy bị ốm”. Giọng của bà ấy vừa tỏ ra như thể mình là người quan trọng ở đây lại vừa có cái gì đó vui vui – vui vì mình đã nhận ra ông trong khi ông thì chẳng biết gì về người phụ nữ này. Và có thể bà ấy thấy vui, thấy mình quan trọng cũng bởi nghĩ mình biết quá rõ về Fiona, về cuộc sống của vợ ông ở nơi đây, biết nhiều hơn chính ông nữa.

“Ông ấy cũng không có đây đâu,” bà nói thêm.

Grant đi tìm Kristy.

“Không có gì nghiêm trọng đâu,” cô nói, khi Grant hỏi về tình hình của Fiona. “Chỉ là buổi nay bà ấy muốn nằm nghỉ, hơi khó chịu một chút ấy mà.”

Fiona ngồi dựng người trên giường. Grant chưa từng để ý, ông không mấy khi vào hẳn căn phòng này, rằng đây là giường chuyên dụng của bệnh viện và nó có thể dựng lên cho bệnh nhân ngồi dựa vào. Fiona mặc một trong những chiếc áo cổ lọ màu trắng, khá trẻ so với tuổi của mình, gương mặt của bà nhợt nhạt, trắng bệch ra như bị phủ một lớp bột mì.

Aubrey – ngồi cạnh Fiona – trên chiếc xe lăn được đẩy sát tận mép giường. Thay vì mặc chiếc áo sơ mi không cài khuy cổ như mọi khi, hôm nay ông ta mặc áo khoác, thắt cà vạt. Chiếc mũ bằng vải tuýt lịch lãm của ông ta đặt ở trên giường. Trông ông ta như thể vừa mới ra ngoài để bàn một việc quan trọng.

Đề gặp luật sư của ông ta chăng? Hay giám đốc ngân hàng của mình? Hay có việc phải bàn với người tổ chức tổ chức tang lễ?

Nhưng dù là việc gì đi nữa, thì có lẽ nó chính là nguyên nhân khiến giờ đây ông ta trông rất mệt mỏi. Thần sắc xanh xám, ủ ê.

Cả hai ngẩng lên nhìn Grant chằm chằm với vẻ e sợ và đau khổ nhưng rồi họ như thở phào nhẹ nhõm, nếu không muốn nói là họ tự nhiên như không, khi nhận ra ông là ai.

Không phải là người họ tưởng.

Cả hai nắm chặt tay nhau và nhất quyết không buông rời.

Cái mũ trên giường. Áo khoác và cà vạt.

Aubrey không phải mới ra ngoài rồi trở về. Vấn đề không phải là ông vừa đến chỗ nào hay đã gặp gỡ ai. Mà là ông ta sắp đi đâu.

Grant để cuốn sách trên giường bên cạnh bàn tay còn lại của Fiona.

“Sách về Iceland,” ông giới thiệu. “Anh nghĩ em có thể muốn xem.”

“Gì cơ, ồ, cảm ơn ông,” Fiona đáp. Bà còn không buồn liếc nhìn nó. Ông đặt tay bà lên cuốn sách.

“Iceland,” Grant nhắc lại.

“Ice-land.” Fiona lẩm nhẩm. Âm đầu tiên nghe có phần như háo hức nhưng ngay âm tiết sau, giọng của bà lại trầm xuống, thờ ơ. Dù sao thì bà cũng cần phải quay lại quan tâm đến Aubrey, ông ta đang rút bàn tay dày cộp, to bè của mình ra khỏi tay bà.

“Sao thế?” bà ân cần. “Sao thế, mình ơi?”.

Trước đây Grant chưa từng thấy Fiona sử dụng cách xưng hô thắm thiết như vậy.

“À được rồi,” bà nói. “Của mình đây.” Và bà rút một xấp giấy ăn trongchiếc hộp đặt cạnh giường.

Aubrey bắt đầu khóc. Nước mũi chảy ròng ròng, ông ta lo lắng vì trở thành một cảnh tượng đáng thương hại, nhất là lại trước mặt Grant như thế này.

“Đây. Đây,” Fiona dỗ dành. Bà định lau nước mắt nước mũi cho Aubrey, và giá như chỉ có hai người họ bên nhau, ông đã để yên cho bà làm thế. Nhưng có Grant ở đây, Aubrey không cho phép điều đó. Ông cố nắm lấy xấp giấy rồi chấm nước mắt rất vụng về, may mắn là dẫu sao ông vẫn còn làm được việc đó.

Trong lúc đó, Fiona quay sang Grant.

“Liệu ông có giúp chúng tôi được không?” bà thì thào. “Tôi từng thấy ông nói chuyện với họ …”

Aubrey tạo một tiếng động tỏ ý phản đối, hoặc muốn nói ông rất mệt mỏi, hay ghê tởm. Rồi ông ta như muốn nhoài mình về phía trước để ngã vào vòng tay Fiona. Bà toài nửa người ra ngoài giường để đỡ lấy Aubrey và giữ chặt lấy lão. Thật trớ trêu nếu Grant lại giúp Fiona một tay. Kể ra nếu như Aubrey đổ nhào xuống sàn nhà, chắc Grant sẽ không ngại đỡ ông ta dậy.

“Suỵt,” Fiona an ủi. “Mình à, khẽ chứ. Rồi ta sẽ tìm gặp nhau. Phải thế chứ. Tôi sẽ đến tìm và gặp mình. Mình cũng đến tìm gặp tôi.”

Aubrey lại phát ra cái âm thanh khó chịu đó khi mặt lão dựa vào ngực Fiona, và Grant chẳng còn cử chỉ nào đứng đắn hơn là bỏ ra ngoài.

“Tôi chỉ mong vợ ông ấy nhanh chóng đến đây,” Kristy chia sẻ khi bắt gặp Grant. “Tôi ước bà ta đến mang ông ấy đi, chấm dứt cái cảnh bi lụy này. Chúng tôi chuẩn bị phải cho Fiona ăn tối rồi, làm sao bà ấy nuốt nổi khi lão cứ quấn lấy như thế?”

Grant hỏi, “Tôi nên ở lại không?”

“Để làm gì chứ? Ông cũng biết thừa là bà không ốm đâu gì mà.”

“Cho bà ấy có bạn thôi,” ông đáp.

Kristy lắc đầu.

“Họ phải tự mình vượt qua được những đau đớn này. Thường thì họ chỉ nhớ ngắn hạn thôi. Cũng không quá lâu đâu.”

Kristy không hẳn là lạnh lùng vô cảm. Trong thời gian quen biết cô, Grant biết thêm một vài điều về cuộc sống của cô y tá. Cô có bốn con nhỏ. Cô không biết chồng mình đang ở đâu nhưng cô nghĩ là Alberta. Đứa con trai nhỏ của cô mắc bệnh hen nặng đến mức nó có thể đã chết vào một đêm tháng Giêng nếu như cô không kịp đưa đi cấp cứu. Nó không dùng thuốc phiện, nhưng còn thằng anh nó thì Kristy cũng không chắc.

Đối với cô, Grant, Fiona và cả Aubrey nữa quá may mắn. Họ sống cuộc đời đến tuổi này rồi và chẳng có quá nhiều khó khăn. Những gì họ đang trải qua là vì họ đã già, mà điều đó thì tính làm gì.

Grant ra về mà không trở lại phòng Fiona nữa. Ông nhận thấy ngoài này gió rất ấm và bầy quạ đang kêu xáo xác náo động. Trong bãi xe, một phụ nữ mặc bộ đồ len kẻ ô vuông đang nhấc một chiếc xe lăn xếp ra khỏi cốp xe của mình.

***

Con phố mà Grant lái xe xuống được gọi là đường Chim Ưng Đen. Tất cả những con phố quanh đây đều được đặt làm tên cho các đội khúc côn cầu tranh giải Hockey nhà nghề cấp quốc gia trước đây. Đây là khu vực xa trung tâm nhất của thị trấn nằm gần Meadowlake này. Ngày trước, vợ chồng ông cũng hay mua sắm trong thị trấn, nhưng chưa hẳn quen thuộc với bất kỳ khu nào, ngoại trừ con phố chính.

Nhà cửa ở đây trông có vẻ như được xây dựng cùng thời kì, có lẽ 30-40 năm trước. Phố rộng rãi và quanh co, không có vỉa hè – gợi nhớ cái thời mà người ta dường như nghĩ trong tương lai sẽ chẳng có ai còn đi bộ nhiều nữa. Những người bạn của vợ chồng Grant đã chuyển đến sống ở nơi giống thế này khi họ bắt đầu có con. Ban đầu họ còn nuối tiếc về việc phải chuyển đi. Họ gọi việc chuyển nhà của mình là “đi về quê ăn thịt nướng”.

Những gia đình trẻ tiếp tục sống ở đây. Những ngôi nhà có vành bóng rổ đóng trên cửa garage, và những chiếc xe đạp ba bánh dựng trên lối lái xe vào nhà. Nhưng có một vài ngôi nhà đang xuống cấp nhiều so với tình trạng ban đầu của chúng. Sân vườn hằn vết bánh xe, cửa sổ được phủ bằng giấy thiếc hoặc những lá cờ bạc màu.

Rồi những ngôi nhà được cho thuê. Người thuê là những gã trai trẻ độc thân, hay trở lại đời sống độc thân.

Một số đồ đạc dường như được những người chuyển đến từ lúc nhà mới xây giữ gìn hết sức có thể – đó là những người không có tiền hoặc không có nhu cầu chuyển tới nơi nào có điều kiện khá hơn. Những bụi cây đã mọc cao, lớp nhựa vynil trên ván gỗ ngoài giàn khung màu pastel đã gần như bị bợt hết do sơn lại quá nhiều. Những hàng rào hay bờ dậu được găm chặt là dấu hiệu cho biết những đứa trẻ ở đây đều đã trưởng thành và đi xa, các ông bố bà mẹ không còn thấy cần thiết phải giữ khoảng sân này làm chỗ chạy nhảy của bọn trẻ con nghịch ngợm của những nhà mới chuyển đến.

Ngôi nhà mà theo như danh bạ điện thoại là nhà vợ chồng Aubrey có đặc diểm y như thế. Sân trước nhà được lát bằng loại đá lát đường, viền xung quanh là khóm lan dạ hương đứng cứng queo, trông ngỡ như những bông hoa bằng sứ, màu hồng xen lẫn màu xanh dương.

***

Fiona vẫn không hết buồn bã. Bà liên tục bỏ bữa, dù bà vờ như vẫn ăn, bằng cách giấu thức ăn trong khăn ăn. Hai lần một ngày, bà được cho uống thêm ngoài bữa chính và có người ngồi bên theo dõi. Hàng ngày bà vẫn dậy, ra khỏi giừờng, tự mặc được quần áo, nhưng rồi chẳng muốn làm gì khác ngoài việc ngồi u uất trong phòng của mình. Bà sẽ không tập tành chút nào nếu như Kristy hay Grant trong giờ thăm của mình không dẫn bà dạo quanh hành lang hoặc đưa bà ra ngoài trời.

Trong ánh nắng mùa xuân, bà ngồi trên một băng ghế sát tường, khóc thút thít. Vẫn lịch thiệp như ngày nào – bà xin lỗi vì mình khóc, bà không bao giờ tranh cãi về bất kì đề nghị nào hay từ chối trả lời câu hỏi của ai đó. Nhưng bà vẫn cứ khóc. Khóc nhiều làm mắt bà không còn đường viền và mờ đi. Cái áo khoác len của Fiona – nếu đó thực sự là của bà – cài khuy lệch hàng. Bà chưa đến mức bỏ mặc mái tóc không chải hay để móng tay không sạch sẽ, nhưng có vẻ những điều đó rồi sẽ xảy ra.

Kristy nói rằng các cơ của Fiona đang yếu đi, và nếu bà không sớm cải thiện tình trạng này, họ sẽ buộc phải cho Fiona dùng dụng cụ tập đi.

“Nhưng ông biết đấy, một khi có dụng cụ đó, họ sẽ bắt đầu bị phụ thuộc, và rồi họ sẽ không bao giờ muốn đi lại nhiều nữa, chỉ đi đến nơi họ phải đến mà thôi”

“Ông phải sẽ phải vất vả hơn vì vợ mình đấy”, cô nói với Grant. “Hãy cố gắng động viên bà ấy.”

Nhưng Grant không có cơ hội nào để giúp đỡ Fiona. Bà có vẻ vẫn khó chịu với ông, cho dù bà cố che giấu điều đó. Có lẽ vì mỗi khi gặp Grant, bà như bị nhắc lại cái lần cuối bà ở bên Aubrey, khi mà bà đã đề nghị ông giúp đỡ và ông đã không giúp.

Grant thấy bây giờ việc đề cập đến chuyện hôn nhân của hai người chẳng còn ích gì nữa.

Fiona nhất định không xuống phòng ăn lớn, nơi hầu hết những người cũ vẫn đang chơi bài. Và bà cũng chẳng muốn vào phòng xem TV hay đến khu vườn nhà kính.

Bà bảo bà không thích màn hình rộng, nó làm bà đau mắt. Còn tiếng chim ở khu nhà kính rất khó chịu. Và bà cũng chỉ mong người ta sẽ tắt cái đài phun nước đi một thời gian.

Grant để ý thì thấy Fiona chưa một lần ngó đến cuốn sách về Iceland, hay bất kỳ cuốn nào khác trong số sách – ít một cách đáng ngạc nhiên – mà bà mang từ nhà đến. Bà hay ngồi nghỉ trong một pḥng đọc sách, Fiona chọn nó có lẽ cũng vì ít khi có ai ở đó, và nếu Grant lấy một cuốn sách ra khỏi kệ thì bà sẽ nghe ông đọc. Ông ngờ rằng bà ấy cho phép điều đó bởi nó làm cho sự có mặt của ông dễ chịu hơn – bà có thể nhắm mắt lại và lại chìm lắng trong nỗi đau riêng mình. Bởi nếu bà buông xuôi nỗi đau đó dù chỉ một phút thì rồi nó sẽ làm bà nhói buốt hơn khi trở lại. Và đôi khi Grant nghĩ, Fiona nhắm mắt lại để che giấu đi ánh nhìn tuyệt vọng hiển hiện vì sẽ không hay nếu để ông thấy được.

Vì vậy, ông chỉ biết ngồi đọc cho bà nghe một cuốn tiểu thuyết cũ về tình yêu trong sáng, về những chuyện may rủi đời người, loại sách có lẽ được được loại ra từ một thư viện làng ngày xưa hay thư viện của trường Chủ nhật. Rõ ràng sách vở ở phòng đọc sách này hầu như không được cập nhật như phần lớn những thứ khác ở viện.

Bìa các cuốn sách đều bọc da mềm như nhung, có họa tiết trang trí là hình ảnh những chiếc lá và hoa ép lên, khiến nhìn chúng giống như hộp đồ trang sức hay hộp sô cô la. Sách được bọc đẹp như thế để những độc giả nữ – Grant mặc định người mượn loại sách này ở thư viện là phụ nữ – có thể mang về như một món đồ quý.

***

Bác sĩ phụ trách gặp ông trong văn phòng. Cô trình bày việc Fiona không ăn uống được như họ mong muốn.

“Bà ấy đang sút cân, dù chúng tôi đã tăng cường bữa ăn bổ sung. Chúng tôi đang cố hết sức có thể”.

Grant nói ông biết bác sĩ và các nhân viên trong viện đã rất vất vả.

“Vấn đề ở đây là, tôi chắc là ông cũng biết, chúng tôi không thể để bệnh nhân nằm liệt giường ở tầng một. Chúng tôi tạm thời chấp nhận nếu như bệnh nhân thấy không khỏe, nhưng nếu họ đã quá yếu, không thể vận động, đi lại và tự xoay sở những nhu cầu tối thiểu, chúng tôi buộc phải tính đến việc chuyển họ lên tầng trên.”

Grant nói ông không nghĩ Fiona thường xuyên nằm lì trên giường đến mức đó.

“Không. Nhưng nếu bà ấy không giữ sức, bà ấy sẽ rơi vào tình trạng đó. Hiện giờ bà ấy đang ở ngấp nghé giai đoạn này rồi.”

Grant nói ông tưởng rằng tầng hai chỉ dành cho những ca có vấn đề về tâm thần.

“Cả những ca đó nữa” cô đáp.

***

Grant không nhớ gì đặc biệt về vợ Aubrey ngoại trừ bộ đồ len kẻ ô vuông mà ông thấy bà ta khoác ở bãi đỗ xe. Đuôi áo khoác xòe ra khi bà cúi xuống cốp xe. Ông hình dung đó là một phụ nữ với bờ eo thon cùng bộ hông nở nang.

Hôm nay, bà ta không mặc bộ hôm trước nữa. Quần nâu có thắt lưng và áo len hồng. Ông đoán đúng về phần eo thon – chiếc đai quần thít chặt đã khoe rõ. Nhưng sẽ đẹp hơn nếu không thắt đai vì nó lộ ra sự mất cân đối của phần trên và phần dưới eo.

Bà ta kém chồng khoảng 10-12 tuổi. Tóc ngắn, xoăn, nhuộm đỏ. Bà có đôi mắt xanh dương – không thẫm lại như màu mắt của Fiona – giống màu của trứng chim cổ đỏ, hay màu ngọc lam, xếch và hơi húp. Và vô cùng nhiều nếp nhăn. Chúng càng dễ được nhận ra bởi lớp phấn trang điểm màu gỗ óc chó mà bà ta dùng. Hoặc cũng có thể da bà ta rám nắng giống như dân Florida.

Grant nói ông không biết phải giới thiệu mình thế nào.

“Tôi từng gặp chồng bà ở Meadowlake. Tôi là khách thường xuyên đến thăm viện.”

“Vậy hả,” vợ Aubrey hất cằm đáp, dường như tỏ một thái độ không thân thiện

“Chồng của bà…ông ấy dạo này…khá chứ?”

Grant hơi ngập ngừng. Bình thường thì Grant chỉ hỏi một cách ngắn gọn “Chồng của bà khỏe không?”.

“Cũng ổn,” bà đáp.

“Vợ tôi và Aubrey khá thât thiết với nhau”

“Tôi có nghe nói.”

“Tôi có chuyện muốn nói với bà, nếu bà có thời gian.”

“Chồng tôi không hề có ý định gì với vợ ông cả, nếu ông muốn nói chuyện đó”, bà trả lời. “Aubrey không gạ gẫm vợ ông. Ông ấy không có khả năng đó và ông ấy cũng không bao giờ làm thế. Theo những gì tôi được nghe thì ngược lại, chuyện bắt đầu từ phía vợ ông mới đúng.”

Grant nói, “Không. Hoàn toàn không phải chuyện đó. Tôi không đến để than phiền về bất cứ điều gì cả.”

“Ồ, vậy ông thứ lỗi. Tôi cứ tưởng…”

Lời xin lỗi của bà ta chỉ cụt ngủn vậy đó. Và thậm chí nghe chẳng có vẻ gì là áy náy. Câu xin lỗi chỉ biểu lộ sự hẫng hụt và lúng túng.

“Thế ông vào nhà đã. Gió lạnh cứ lùa qua cửa ra vào thế này chán thế không biết. Nhìn trời hôm nay như vậy mà hóa ra lại không ấm.”

Được vào trong nhà này với Grant đã là một thắng lợi. Ông không hề nghĩ chuyện lại khó khăn đến thế. Ông vốn hình dung một kiểu người vợ khác. Một bà nội trợ bận rộn, vui vẻ vì có người đến thăm bất ngờ và thích được nghe người khác nịnh bằng một giọng thầm thì.

Bà vừa dẫn ông đi qua phòng khách, vừa nói, “Ta phải ngồi trong bếp thì tôi mới trông chừng Aubrey được”. Grant nhìn thấy cửa sổ trước được phủ hai lớp rèm, cả hai đều màu xanh dương, một tấm làm bằng vải mỏng tang và một tấm bằng lụa. Phòng khách một bộ sofa cùng màu xanh dương và một tấm thảm bạt màu cũ kỹ cùng nhiều gương và đồ trang trí sáng màu.

Fiona có một từ riêng để gọi loại rèm cửa rủ xuống đến tận sàn nhà như thế này – bà dùng từ đó với sắc thái bông đùa – đó không phải là từ bà nghĩ ra mà là học được từ những phụ nữ khác, dù trong cách nói của họ, đó là từ hoàn toàn nghiêm túc,. Căn phòng nào vào tay Fiona sửa sang đều nhiều không gian trống và sáng sủa. Hẳn bà sẽ ngạc nhiên lắm khi thấy cả đống đồ đạc bị dồn vào trong một không gian chật hẹp như thế này. Nhưng Grant không tài nào nhớ nổi đó là từ gì.

Từ một phòng cách căn bếp – kiểu phòng đón mặt trời, tuy mành rèm đã che hết ánh nắng chiều – Grant vẫn có thể nghe thấy tiếng TV.

Aubrey. Người mà Fiona mong mỏi chỉ ngồi cách đây vài bước chân, đang theo dõi gì đó nghe như âm thanh của một trận bóng. Vợ ông ta ghé vào kiểm tra. Bà hỏi, “Ông ổn chứ?” rồi khép hờ cánh cửa.

“Ông dùng một tách cà phê chứ?,” bà hỏi Grant. “Con trai tôi được nhận vào một kênh thể thao Giáng Sinh năm ngoái. Không thì chẳng biết chúng tôi sống sao.”

Trên bề mặt chỗ nấu ăn bày biện đủ các loại dụng cụ làm bếp, nhiều loại như là đồ tự chế – máy pha cà phê, máy chế biến thực phẩm, máy mài dao, và mấy thứ Grant không biết tên cũng như công dụng của chúng. Thứ nào thứ nấy đều mới và đắt tiền, cứ như là chúng mới được lấy ra từ bao bì đóng gói, hoặc ngày nào chúng cũng được chùi rửa đánh bóng.

Grant nghĩ ngắm nhìn các thứ máy móc ấy cũng hay hay. Ông khen cái máy pha cà phê mà bà ta đang dùng và nói vợ chồng ông luôn ao ước mua được một cái như thế. Nhưng điều đó hoàn toàn không đúng – Fiona vốn luôn yêu mến cái máy kì cục kiểu châu Âu trong nhà mình: nó chỉ pha được hai tách cà phê mỗi lần.

“Vợ chồng con trai tôi mua cho chúng tôi,” bà kể. “Chúng sống ở Kamloops. B.C. Chúng gửi về nhiều đồ đến mức tôi dùng không xuể. Nhưng có lẽ không đến nỗi đau lòng nếu như chúng dùng số tiền đó để về thăm bố mẹ…”

Grant bình thản, “Tôi nghĩ cô cậu ấy chắc bận bịu cuộc sống riêng của mình”

“Chúng vẫn thu xếp được để đi Hawaii mùa đông vừa rồi đấy thôi. Có thể thông cảm được nếu như chúng tôi còn có những người khác trong gia đình ở gần đây. Nhưng chúng tôi chỉ có mình đứa con trai ấy”

Cà phê pha xong, bà rót vào hai cốc sứ màu nâu-xanh lá mà bà lấy từ chiếc giá treo cốc bằng sứ có hình một thân cây tỏa nhánh được đặt trên bàn.

“Con người ai rồi cũng sẽ cô đơn”, Grant nói. Ông nghĩ đã có thể bắt vào câu chuyện của mình rồi. “Nếu họ không còn được gặp gỡ người mà họ quan tâm, họ sẽ rất buồn. Fiona chẳng hạn. Vợ tôi ấy.”

“Tôi tưởng ông bảo ông đi thăm bà ấy thường xuyên.”

“Vâng”, ông nói. “Nhưng vấn đề không phải ở chỗ đó.”

Rồi ông đánh liều, đi thẳng vào điều ông muốn đề nghị. Liệu bà ta có thể cân nhắc việc đưa Aubrey trở lại Meadowlake thăm Fiona, dù chỉ một lần mỗi tuần? Lái xe chỉ vài dặm là tới. Hoặc nếu bà ngại – trước đó Grant chưa hề nghĩ đến điều này và tự ông cũng thấy chẳng ra làm sao khi nghe chính mình nói ra – thì bản thân ông có thể đến đưa Aubrey đi, ông không nề hà gì hết. Ông đảm bảo mình có thể xoay xở được. Trong thời gian đó, bà có thể nghỉ ngơi.

Trong khi ông nói, đôi môi của bà mím chặt và cả cái lưỡi bên trong động đậy như đang cố gắng xác định một món gì không rõ vị. Bà mang sữa cho cà phê của Grant và một đĩa bánh quy gừng.

“Nhà làm đấy,” vừa nói bà vừa đặt đĩa xuống. Giọng điệu dường như đang thách thức chứ chẳng mấy thiện chí. Bà không nói gì thêm cho đến khi đã ngồi xuống, rót sữa vào và khuấy cốc cà phê của mình.

Rồi bà từ chối.

“Không. Tôi không thể. Và lý do là, tôi không muốn làm ông ấy bị xáo trộn”

“Vậy ư?” Grant hỏi rất chân thành.

“Vâng, đúng thế. Chẳng nên chút nào. Đưa ông ấy về nhà rồi lại trở lại đó. Đưa về nhà rồi lại trở lại đó, sẽ chỉ làm ông ấy lẫn lộn thêm”

“Nhưng chẳng nhẽ ông ấy sẽ không hiểu được rằng đó chỉ là một chuyến thăm sao? Ông ấy không quen dần được hay sao?”

“Cái gì ông ấy chả hiểu”. Bà ta đáp lại như thể Grant đã xúc phạm đến Aubrey. “Nhưng việc đó vẫn rất phiền hà. Rồi tôi lại phải chuẩn bị áo quần cho ông ấy, giúp ông ấy ngồi vào xe, ông ấy là một người to lớn, có dễ dàng xoay xở như ông nghĩ đâu. Tôi phải cho ông ấy ngồi vào xe và xếp cái xe lăn lên xe, tất cả những thứ đó, và rồi để làm gì? Nếu phải làm những việc lích kích ấy, tôi thà đưa ông ấy tới nơi nào đó hay ho hơn”.

“Ngay cả khi tôi sẵn lòng làm thay bà?” Grant hỏi, với một giọng điệu đặt nhiều hy vọng và cố thuyết phục. “Thật mà, bà không phải nhọc công đâu.”

“Không được,” bà thẳng thừng. “Ông không hiểu gì về chồng tôi. Ông không tự mình xoay xở nổi đâu. Ông ấy chắc chắn sẽ không chịu để ông làm gì cho mình. Tất cả những phiền nhiễu đó và rồi chồng tôi được cái gì? ”

Grant thấy mình không nên nhắc đến Fiona thêm nữa.

“Đưa ông ấy đến siêu thị còn có lí hơn,” bà nói. “Ông ấy có thể thấy lũ trẻ con và nhiều thứ khác. Nếu điều đó không làm ông ấy chua xót nhớ đến mấy đứa cháu nội mà ông ấy chẳng bao giờ được gặp. Hay là đưa ông ta ra hồ, thuyền trên hồ sắp bắt đầu hoạt động lại, ông ấy có thể nhớ lại chút gì khi nhìn thuyền chạy.”

Bà đứng dậy lấy thuốc lá và bật lửa trên bục cửa sổ phía trên bồn rửa.

“Ông hút thuốc không?”.

Ông từ chối và cảm ơn, dù ông cũng không biết có phải bà đang mời ông một điếu hay không.

“Ông không hút? Hay đã bỏ rồi?”

“Tôi bỏ rồi,” ông đáp.

“Lâu chưa vậy?”

Grant ngẫm nghĩ.

“Ba mươi năm. Từ đó thôi hẳn.”

Grant đã quyết định bỏ thuốc vào khoảng thời gian ông bắt đầu cặp với Jacqui. Nhưng ông không tài nào nhớ lại xem liệu ông cai thuốc trước, và nghĩ nếu cai được thì sẽ có một phần thưởng lớn, hay nghĩ rằng đã đến lúc phải cai thuốc, vì ông từ lâu đã quên việc này.

“Tôi đã bỏ việc bỏ thuốc, ” bà vừa nói vừa quẹt lửa. “Chỉ cần quyết tâm bỏ cái ý định muốn bỏ, thế thôi.”

Có lẽ đó là nguyên nhân của các nếp nhăn. Một phụ nữ nào đó đã nói với Grant rằng những phụ nữ hút thuốc sẽ có nếp nhăn trên mặt rất đặc biệt. Nhưng cũng có thể do ánh nắng mặt trời, hay đơn giản là do da bà vốn vậy – cổ bà ta cũng rất nhàu nhĩ. Cổ nhăn, bầu ngực thì vẫn căng tràn thanh xuân. Phụ nữ độ tuổi này thường có những đặc điểm mâu thuẫn như thế về ngoại hình. Những điểm xấu và tốt, những ưu điểm hay thiệt thòi do di truyền… tất cả đều xen lẫn với nhau. Rất ít người bảo lưu toàn vẹn vẻ đẹp của mình như Fiona, cho dù không còn rực rỡ như trước.

Và có khi điều đó cũng không đúng. Phải chăng Grant nghĩ thế chỉ vì ông biết Fiona từ khi bà còn trẻ. Có lẽ để có ấn tượng như thế về một người phụ nữ, người ta phải biết nàng từ khi nàng còn xuân sắc.

Vậy khi Aubrey nhìn vợ mình, ông ta có nhìn thấy một nữ sinh trung học khinh khỉnh, cục cằn, với cặp mí trên đôi mắt xanh màu trứng chim cổ đỏ, bờ môi khêu gợi phì phèo điếu thuốc lá vốn bị cấm?

“Vậy, vợ ông suy sụp lắm hả?” Vợ Aubrey hỏi. “Tên vợ ông là gì nhỉ? Tôi quên mất rồi”

“Là Fiona.”

“Fiona. Còn ông? Tôi không nhớ ông đã xưng danh.”

Grant đáp, “Tôi là Grant.”

Bà ta bất ngờ chìa tay ra.

“Xin chào, Grant. Tôi là Marian.”

“Giờ ta đã biết tên nhau,” bà nói, “không nói thẳng với ông suy nghĩ của mình cũng chẳng ích gì. Tôi không biết liệu ông ấy vẫn còn tha thiết muốn gặp vợ… gặp Fiona hay không. Tôi không hỏi và ông ấy cũng chẳng nói gì. Có thể chỉ là một tình cảm thoáng qua. Nhưng tôi cũng không muốn đưa ông ấy quay lại Meadowlake, nhỡ đâu lại có chuyện gì lớn hơn thế. Tôi không đủ sức để mạo hiểm. Tôi không muốn ông ấy ngày càng là gánh nặng. Tôi không muốn ông ấy buồn và tiếp tục như thế. Tôi đã vất vả vì ông ấy lắm rồi. Tôi chẳng có ai đỡ đần. Chỉ có mình tôi ở đây thôi. Một mình tôi.”

“Bà đã bao giờ cân nhắc… chắc chắn việc này rất khó cho bà”. Grant ngập ngừng một lát, “Nhưng bà đã bao giờ cân nhắc việc gửi ông nhà ở đó hẳn chưa?”

Grant đã cố hạ thấp giọng đến độ gần như nói thầm nhưng Marian dường như không thấy cần thiết phải hạ giọng mình xuống.

“Không,” bà đáp. “Tôi sẽ chăm ông ấy ở nhà.”

Grant nói, “Bà thật tử tế và đáng trọng.”

Ông hy vọng từ “đáng trọng” nghe không có vẻ mỉa mai. Ông thật lòng không có ý ấy.

“Ông nghĩ vậy à?,” Marion hỏi. “Đáng trọng không phải là điều tôi nghĩ đến.”

“Đúng thế mà. Việc bà đang làm đâu phải dễ dàng.”

“Vâng, không dễ. Nhưng với hoàn cảnh của tôi, tôi không có nhiều lựa chọn. Tôi không có tiền để cho Aubrey ở đó, trừ phi tôi bán nhà. Ngôi nhà này là tất cả những gì chúng tôi toàn quyền sở hữu. Tôi chẳng còn bất cứ thứ gì có giá trị. Năm tới, tôi sẽ được nhận lương hưu, tôi có tiền lương hưu của chồng và của mình, nhưng ngay cả như vậy thì tôi vẫn không đủ khả năng vừa chi trả cho ông ấy ở viện vừa giữ căn nhà. Và ngôi nhà có nghĩa rất lớn đối với tôi.”

“Ngôi nhà rất đẹp,” Grant nói.

“Vâng, đúng thế. Tôi đã đầu tư rất nhiều cho nó. Sửa chữa và duy trì.”

“Vâng. Tôi thấy rõ như thế.”

“Tôi không muốn đánh mất nó”.

“Vâng”

“Tôi sẽ không để mất nó”

“Tôi hiểu ý bà”.

“Công ty bỏ rơi chúng tôi” bà kể. “Tôi không biết lời lãi thế nào nhưng về cơ bản là Aubrey bị dính vào một vụ lùm xùm. Công ty quy kết Aubrey nợ tiền của họ và khi tôi cố gắng tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra thì ông ấy cứ bảo đấy không phải là việc của tôi. Tôi đoán là ông ấy đã làm một chuyện gì đó khá ngu ngốc. Nhưng tôi không được thắc mắc, nên tôi im lặng. Ông từng kết hôn. Đã kết hôn. Ông biết thế nào rồi đấy. Và giữa lúc tôi đang tìm hiểu sự tình thì chúng tôi có một chuyến đi không thể bỏ được với những người trong công ty. Và trong chuyến đó, ông ấy nhiễm một thứ virus chưa từng nghe nói đến và bị hôn mê. Trong cái rủi có cái may, ít ra ông ấy khỏi phải lo trả nợ.”

Grant nói, “Là chẳng may thôi mà”.

“Tôi không có ý nói rằng ông ấy cố tình mắc bệnh. Là tự nhiên thế thôi. Ông ấy không giận tôi nữa và tôi cũng không giận ông ấy. Ðời là thế.”

“Đúng thế”

“Làm sao thắng nổi cuộc đời?”.

Bà đánh lưỡi điệu nghệ như một cô mèo liếm những mẩu vụn bánh dính ở môi trên. “Tôi nói như triết gia ấy nhỉ? Họ kể với tôi rằng ông từng là giáo sư giảng dạy đại học”.

“Cũng khá lâu rồi,” Grant nói.

“Tôi không phải dân trí thức”, Marian nói.

“Chính tôi cũng không chắc mình có phải là trí thức không.”

“Nhưng tôi biết khi nào cần phải đưa ra quyết định. Và tôi đã quyết rồi. Tôi sẽ không để mất ngôi nhà này. Nghĩa là tôi sẽ giữ Aubrey ở đây, và tôi không muốn ông ấy bỗng dưng lại có ý nghĩ muốn chuyển đi đâu khác. Chuyện cho ông ấy vào viện để tôi được rảnh tay có thể là một sai lầm, nhưng tôi lấy đâu ra cơ hội nào khác, nên tôi quyết thế thôi. Thế. Giờ thì tôi hiểu chuyện hơn rồi.”

Bà ta lấy một điếu khác ra.

“Dám cá là tôi biết ông đang nghĩ gì,” bà nói. “Ông nghĩ tôi là loại người vụ lợi”

“Tôi không phán xét kiểu đó. Đó là cuộc sống của bà”

“Đúng quá rồi.”

Grant nghĩ cuộc trò chuyện nên kết thúc bằng điều gì đó trung tính hơn. Vì vậy, ông hỏi liệu có phải chồng bà đã từng làm cho một cửa hàng kim khí vào một mùa hè nào hay không, khi ông ta còn đang đi học.

“Tôi chưa từng nghe kể,” bà đáp. “Hồi nhỏ tôi không sống ở vùng này.”

***

Trên đường lái xe về nhà, Grant nhận ra cái đầm rỗng đã được lấp đầy tuyết từ bao giờ và bóng của những thân cây lúc này như sáng lên nhờ những bông hoa huệ tây hôi mọc quanh. Những chiếc lá tươi, trông như có thể ăn được của nó to ngang bằng những chiếc đĩa phẳng. Hoa mọc thẳng lên như những ngọn nến, xum xuê, với sắc vàng thuần khiết, chúng như hắt lên từ mặt đất một thứ ánh sáng trong một ngày nhiều mây như thế này. Fiona từng nói với ông rằng thứ hoa này còn tự sản sinh ra một lượng nhiệt của riêng nó. Lục tìm thông tin ở một bên túi, bà nói rằng người ta có thể đặt bàn tay mình vào bên trong cánh hoa cong cong và cảm nhận được hơi nóng. Bà kể rằng bà đã thử rồi, nhưng không chắc chắn là bà đang cảm giác hơi nóng thực sự của cây hoa hay là từ trí tưởng tượng của bà. Hơi nóng ấy thu hút những con côn trùng.

“Thiên nhiên không đánh lừa mọi thứ xung quanh, nó đâu phải chỉ để làm cảnh.”

Grant đã hoàn toàn thất bại với Marian, vợ Aubrey. Ông đã lường trước mình có thể thất bại, nhưng ông không hề lường trước được lí do bà ta từ chối. Ông đã lầm tưởng rằng ông sẽ phải đối mặt với sự ghen tuông tự nhiên của phụ nữ – hoặc nỗi oán giận, phần còn lại dai dẳng của sự ghen tuông ấy.

Ông đã không đoán được cái cách người đàn bà đó nhìn nhận sự việc. Nhưng đáng buồn thay, thực ra thì cuộc trò chuyện này chẳng xa lạ gì với ông …. Nó gợi nhắc Grant về những cuộc trò chuyện giữa ông với người thân của mình. Chú bác, họ hàng, có lẽ ngay cả mẹ ông, cũng nghĩ như Marian. Họ tin rằng những kẻ không nghĩ giống họ là những kẻ đang tự dối mình – những kẻ quá mơ mộng, hay ngốc nghếch, do có cuộc sống và nền tảng giáo dục thuận lợi và được bảo bọc. Những kẻ sống thiếu thực tế. Những kẻ có học, lắm chữ, giàu có – như gia đình bên vợ của Grant, những người theo chủ nghĩa xã hội – là những kẻ sông thiếu thực tế. Do một phúc phận không đáng được hưởng nào đó hay bẩm sinh đã ngu si. Grant ngờ rằng họ nghĩ ông thuộc cả hai trường hợp này.

Đó chắc chắn cũng là cách Marian nhìn nhận ông. Một kẻ ngớ ngẩn, toàn những kiến thức nhàm chán và nhờ ăn may mà không phải giáp mặt với hiện thực cuộc sống. Một kẻ chưa bao giờ phải đau đầu nghĩ cách giữ ngôi nhà của mình và có thể đi loanh quanh ngâm ngợi những ý nghĩ phức tạp. Tự do mơ mộng về những hoạch định tốt đẹp hào hiệp với lòng tin sẽ làm người khác hạnh phúc.

Thật là một gã ngốc, hẳn bà ta đang nghĩ vậy.

Đương đầu với một người như thế làm Grant cảm thấy vô vọng, bức bối, cuối cùng gần như buông xuôi. Tại sao? Bởi ông không chắc chắn rằng ông có thể tiếp tục nỗ lực đương đầu với những người như Marian ư? Hay bởi ông sợ rằng cuối cùng thì cách nghĩ của họ mới là chân lí? Fiona sẽ không cảm thấy bất kỳ mối nghi ngờ nào. Bà ấy luôn ngây thơ, chưa ai chèn ép, kiềm tỏa bà khi bà còn trẻ. Bà thấy cách giáo dục của nhà Grant có gì đó thật khôi hài, và có thể bà nghĩ những quan điểm thực tế khắc nghiệt ấy có phần kỳ lạ nữa..

Tương tự, họ cũng có quan điểm riêng của mình, những người ấy. (Grant nghe thấy chính mình đang phản biện ai đó. Fiona ư?) Sống thực tế cũng có cái hay. Nếu bị rơi vào khủng hoảng, một người thực tế như Marian có lẽ sẽ vẫn ổn. Bà ta sẽ sống sót được, dám trộm thức ăn và tái sử dụng đôi giày của một xác chết nào đó trên đường phố.

Cố gắng hiểu về Fiona luôn là vấn đề rất dễ nản lòng. Giống như theo đuổi một ảo ảnh nào đó. Không – là sống trong ảo ảnh thì chính xác hơn. Nhưng tiếp cận Marian lại nảy sinh một loại vấn đề khác. Giống như khi ta cắn vào một quả vải sấy khô vậy. Cùi vải mỏng mảnh. bao lấy cái hạt to đùng, cứng như đá nhưng lại có sự hấp dẫn nhân tạo, với mùi vị, hương thơm hóa học.

***

Grant rất có thể đã kết hôn với một người như Marian. Nghĩ thử xem. Ông có thể đã an bài với ai đó giống như thế. Nếu như ông cứ ở mãi nơi vùng quê ấy. Bà vợ ấy có thể cũng đủ ngon lành, với bộ ngực hấp dẫn. Một cô vợ thích được tán tỉnh. Cách mà bà ta nhúc nhích mông trên ghế, mim mím môi, tạo ra một sự khiêu khích có tính toán – có lẽ đó là tất cả những thủ thuật còn giữ lại được của một cô ả xuất thân từ tỉnh lẻ, thô kệch một cách hồn nhiên.

Marian hẳn cũng có một vài kỳ vọng khi chọn Aubrey làm chồng. Ngoại hình được, công việc của một nhân viên bán hàng cũng ổn, cũng có cơ hội thăng tiến . Bà hẳn đã tin tưởng rằng hậu vận sẽ phải khá hơn, không thể như hiện giờ. Và điều này cũng thường xảy ra với những người thực dụng kiểu đó. Bất chấp những tính toán, bất chấp bản năng sinh tồn của họ, họ đã không đạt được những gì mình mong đợi​​. Rõ ràng điều này có vẻ bất công.

Trong bếp, đồ vật đầu tiên mà Grant nhìn thấy là ánh sáng nhấp nháy trên máy trả lời tự động của ông. Như mọi khi, ông nghĩ ngay đến Fiona.

Ông nhấn nút, chưa kịp cởi áo khoác.

“Chào ông, Grant. Tôi hy vọng tôi gọi đúng số. Tôi mới nhớ ra chuyện này. Có một vũ hội trong thị trấn, ở Legion, dành riêng cho người độc thân vào tối thứ bảy này, và tôi ở trong ban chuẩn bị tiệc tối, nghĩa là tôi có thể mời thêm một khách nữa. Nên, tôi tự hỏi liệu ông có hứng tham dự không? Gọi cho tôi nếu ông đi được nhé.”

Giọng phụ nữ đọc một số điện thoại địa phương. Sau đó là một tiếng bíp và giọng nói vừa rồi lại tiếp tục.

“Giờ tôi mới nhận ra mình đã quên nói tên. Vâng, có thể ông đã nhận ra giọng tôi. Là Marian đây. Tôi vẫn chưa quen sử dụng mấy thứ máy móc này. Và tôi muốn nói rằng tôi biết ông không độc thân và tôi không có ý đó. Tôi cũng không phải độc thân, nhưng thỉnh thoảng đi chơi đây đó cũng chẳng mất gì. Dù sao thì, tôi cũng đã nói hết rồi, tôi thực sự mong tôi gọi đúng số của ông. Nghe đúng là giọng ông mà. Nếu ông có hứng thú thì cứ gọi cho tôi và nếu không thì cũng không phải bận tâm đâu. Tôi chỉ nghĩ ông có thể muốn có dịp đi đâu đó. Tôi là Marian. À mà tôi đã nói rồi nhỉ. O.K. Chào ông”.

Giọng Marian trên máy khác hẳn chất giọng mà Grant vừa nghe cách đây không lâu tại nhà bà ta. Ở lời nhắn đầu tiên thì có hơi khác một chút thôi, nhưng đến lời nhắn sau đó thì khác rất nhiều. Có một chút run run hồi hộp, cố giữ vẻ lãnh đạm, vội vã để được kết nối và rồi miễn cưỡng dập máy.

Điều gì đó đã xảy ra đối với Marian. Nhưng nó xảy ra từ lúc nào? Nếu là mới đây, thì bà ta đã che giấu thật khéo léo suốt khoảng thời gian ông ở đó. Nhiều khả năng là sau khi Grant ra về, những thay đổi ấy dần xuất hiện. Không hẳn là vì sức hút của ông. Chỉ là một nhận thức rằng ông là một khả năng bà ta có thể nghĩ đến, người đàn ông chỉ có một mình. Độc thân, không ít thì nhiều. Một khả năng mà bà nghĩ mình có thể chạm vào.

Nhưng chắc bà ta đã bồn chồn lắm khi chủ động trước. Bà thực sự đã đặt bản thân vào thế mạo hiểm. Đặt bao nhiêu phần trăm thì Grant chưa biết. Trong những thứ tình cảm như thế này, thì khả năng bị tổn thương của phụ nữ sẽ cao hơn khi câu chuyện tiến triển. Tất cả những gì ta có thể nói được ngay từ đầu là nếu như bây giờ câu chuyện đã manh nha những ham muốn thế này thì về sau, mọi thứ sẽ càng mãnh liệt hơn.

Điều này khiến ông thỏa mãn – việc gì phải chối? – vì ông đã đánh thức con người bên trong của Marian. Vì ông đã khơi gợi được một cái gì đó giống như một ánh sáng lung linh, mờ ảo hiển hiện lên trên bề mặt tính cách của bà. Vì đã nghe thấy một thỉnh cầu yếu đuối trong giọng điệu hay gắt gỏng và phát âm rất nặng của bà.

Grant lấy trứng và nấm để làm cho mình món trứng tráng. Rồi ông nghĩ có thể ông cũng uống chút rượu.

Điều gì cũng có thể xảy ra. Có thật không – rằng mọi thứ đều có thể? Ví dụ, nếu muốn, liệu ông có thể thuyết phục Marian, để bà ta đồng ý cho Aubrey trở lại thăm Fiona? Và không chỉ cho thăm, mà bà ấy sẽ để Aubrey ở nốt những ngày cuối đời bên Fiona. Cơn chấn động ấy sẽ đưa họ đi đến đâu? Đến sự xáo trộn, đến tận cùng bản năng tự phòng vệ của Marian? Hay đến hạnh phúc của Fiona?

Sẽ là một thử thách. Một thử thách và một kì tích vẻ vang. Đồng thời cũng là một trò đùa mà chẳng ai có thể tin nổi – rằng Grant đang làm một việc chẳng ra gì chỉ để đem lại điều tốt cho Fiona mà thôi.

Nhưng Grant không thể thực sự nghĩ về điều đó. Nếu nghĩ về nó, ông sẽ phải nghĩ xem sau khi ông đã đưa Aubrey về với Fiona, thì điều gì sẽ xảy đến với ông và Marian. Có thể chẳng được tích sự gì – ông không thể thấy được gì hơn những gì đã nhìn thấy trước, một mối toan tính vụ lợi thực ra khó trách được ở người phụ nữ có vẻ ngoài thô tháp này.

Làm sao chắc chắn được những chuyện như thế này sẽ diễn ra thế nào. Ta cứ tưởng như mình có thể biết, nhưng không bao giờ ta chắc chắn được.

Marian có lẽ cũng đang ngồi trong nhà, chờ đợi Grant gọi lại. Hoặc có thể không ngồi. Làm những việc lặt vặt để giữ cho mình bận rộn. Marian có vẻ là tuýp người luôn làm cho mình trở nên bận rộn. Cứ nhìn căn nhà của bà thì sẽ thấy bà luôn tay luôn chân chăm chút cho nó như thế nào. Và có Aubrey nữa – vẫn cứ phải tiếp tục chăm sóc ông ta như bình thường. Có thể Marian đã cho Aubrey ăn bữa tối sớm – cho ăn đúng như thời gian biểu ở Meadowlake để có thể cho ông đi ngủ sớm hơn, còn bà thì được nghỉ ngơi. (Không hiểu bà ta tính thế nào với Aubrey nếu như đi vũ hội? Cứ để ông ta một mình không hay bà ta sẽ thuê người trông? Liệu bà ta có nói với chồng rằng mình đi đâu và giới thiệu cả người bạn nhảy của mình? Liệu ông bạn nhảy đó có trả tiền trông Aubrey giùm bà không?)

Có thể Marian đã cho chồng ăn tối trong khi Grant mua nấm và lái xe về nhà. Có lẽ bà đang cho Aubrey đi ngủ. Nhưng suốt thời gian ấy, hẳn bà sẽ luôn nghe ngóng tiếng chuông điện thoại, sẽ bồn chồn vì sự im lặng của nó,. Có lẽ bà ấy đã tính xem mất bao lâu để Grant lái xe về đến nhà. Địa chỉ của ông trong danh bạ điện thoại có thể giúp bà đoán được nơi ông sống. Có thể bà đã tính xem đi mất bao lâu, rồi cộng cả thời gian mua đồ ăn tối (bà hình dung một người đàn ông dẫu ở một mình thì ngày nào cũng phải đi mua sắm). Sau đó là khoảng thời gian để ông nghe được lời nhắn của mình. Và sự im lặng kéo dài sẽ khiến bà tự bịa ra những lí do khác nữa. Những việc lặt vặt có thể Grant phải giải quyết trước khi về nhà. Hoặc có lẽ là ăn tối ở ngoài, một cuộc hẹn khiến ông không về nhà vào giờ ăn tối.

Có thể Marian sẽ đi ngủ muộn, lau chùi chạn bát, xem TV, tranh cãi với chính mình xem mình có cơ hội hay không.

Rồi ông thấy mình thật tự phụ khi suy diễn như thế. Trên hết Marian là một phụ nữ khôn ngoan. Bà ấy có thể đã đi ngủ như thường lệ, nghĩ rằng Grant trông không có vẻ gì là một người biết khiêu vũ. Một gã rất khô cứng, chắc chỉ biết đọc sách.

Grant ngồi gần điện thoại, xem tạp chí, nhưng khi điện thoại reo lần nữa, ông lại không nhấc máy lên.

“Grant. Tôi, Marian đây. Tôi vừa ở dưới tầng hầm cho đồ vào máy giặt thì nghe tiếng chuông điện thoại, khi tôi lên lầu thì người gọi đã dập máy rồi. Thế nên, tôi nghĩ là tôi nên nói rằng tôi vẫn ở nhà. Nếu là ông vừa gọi và nếu ông đang có nhà. Bởi vì rõ ràng là tôi không có máy trả lời, nên ông có thể không để lại lời nhắn được. Thế nên, tôi chỉ muốn. Báo cho ông biết.”

“Chào ông.”

Bây giờ là mười giờ hai nhăm.

Chào ông.

Ông có thể nói rằng ông vừa mới về đến nhà. Thật chẳng hay ho gì khi khiến Marian nghĩ rằng ông ngồi đây, so đo toan tính thiệt hơn.

Những tấm rèm. Đó có thể là cách Marian gọi những tấm màn xanh – rèm. Và sao lại không chứ? Ông nhớ những cái bánh quy gừng tròn trịa đến mức bà phải nói là bánh nhà làm, cái cốc cà phê sứ treo trên cái cây trang trí bằng sứ, tấm thảm phủ ở sảnh – Grant chắc chắn nó làm bằng nhựa. Ở ngôi nhà ấy, dường như mọi thứ đều chính xác và rất thiết thực – những phẩm chất mà mẹ Grant chưa bao giờ đạt đến và hẳn bà sẽ rất ngưỡng mộ những người như Marian. Nhưng hình như đó cũng chỉ là vẻ ngoài đánh lừa. Phải chăng vì thế tự nhiên ông cứ nhoi nhói cái cảm giác vừa tò mò, vừa ngờ ngợ không tin? Hay là do ông đã uống thêm hai ly rượu sau ly đầu tiên?

Làn da rám nắng màu nâu gỗ hồ đào – giờ thì ông dám chắc đó là rám nắng – ở vùng mặt và cổ của người phụ nữ ấy có khi còn lan xuống khe ngực bà ta cũng nên, vùng da nhăn nheo, có mùi thơm và nóng bỏng. Hình ảnh ấy hiện lên trong đầu Grant khi ông bấm số điện thoại mà ông đã ghi lại. Khe ngực và cái lưỡi mèo đầy nhục cảm của Marian. Và cả cặp mắt màu đá quý.

***

Fiona ở trong phòng mình, nhưng không nằm trên giường nữa. Bà ngồi bên ô cửa sổ mở, mặc một chiếc đầm hợp thời tiết nhưng ngắn và sáng màu một cách kỳ quặc. Một luồng hơi ấm nồng của hoa tử đinh hương đang nở rộ và phân bón vụ xuân trải khắp cánh đồng tràn qua cửa sổ vào phòng.

Có một cuốn sách đang mở để trên lòng bà.

Bà nói, “Nhìn cuốn sách xinh đẹp em tìm thấy này. Nó viết về Iceland. Anh tin được không, sao người ta lại để những cuốn sách quý thế này trong phòng. Những người sống ở đây có phải ai cũng thật thà đâu. Mà em nghĩ hình như họ đã cất nhầm quần áo. Em chưa bao giờ mặc màu vàng.”

“Fiona…”, Grant nói.

“Anh đi đâu lâu quá. Chúng ta chuẩn bị ra viện đúng không?”

“Fiona, anh mang đến cho em một bất ngờ. Em còn nhớ Aubrey chứ?”

Bà nhìn Grant chằm chằm một lúc, như thể hàng loạt đợt gió táp vào mặt bà. Vào mặt bà, vào đầu bà, làm mọi thứ vụn vỡ, tả tơi. Tả tơi, lỏng lẻo và rời rạc.

“Những cái tên cứ trôi tuột khỏi em,” bà nói bằng một giọng cay đắng.

Nhưng ánh nhìn ấy cũng biến mất, khi bằng một cố gắng lớn, bà lấy lại được nét duyên dáng của một quý bà vốn thích bỡn đùa. Bà cẩn thận đặt cuốn sách xuống và đứng dậy, vòng tay ôm lấy Grant. Từ da hay hơi thở của bà phả ra một mùi khó chịu, Grant thấy giống như mùi của những cành hoa bị cắt và ngâm quá lâu trong nước.

“Thật mừng là em lại được gặp anh,” bà nói, và véo tai Grant.

“Em cứ nghĩ anh đã lái xe đi thẳng,” bà nói. “Cứ thế mà đi, chẳng cần bận tâm gì về thế giới và bỏ quên em. Bỏ mặc em. Bỏ rơi em.”[10]

Ông áp mặt mình vào làn tóc trắng, mảng da đầu hồng hồng, mái đầu thanh tú của bà.Ông nói, Không đời nào.

Nguyễn Đức Tâm An dịch

Nguồn: Alice Munro, “The Bear Came Over the Mountain”, Hateship, friendship, courtship, love ship, marriage (Vintage: 2002)


[1] “The Bear Came Over the Mountain” là bài hát dân gian nổi tiếng dành cho trẻ em thường được hát theo giai điệu của”For He’s a Jolly Good Fellow”. Lời bài hát này có nhiều di bản nhưng tứ của nó về cơ bản là giống nhau: con gấu trèo qua ngọn núi, và cái nó nhìn thấy khi đến nơi chỉ là một phía khác của ngọn núi mà thôi. Đây là một bài hát vui tươi, có sắc thái châm biếm nhẹ nhàng về sự vô nghĩa (có thể làm ta liên hệ đến những bài đồng dao.ca dao của Việt Nam nói về sự vô nghĩa như bài Con kiến mà leo cành đa …)

Rất nhiều người khi diễn giải tác phẩm đã thử tìm mối liên hệ giữa nhan đề và nội dung câu chuyện mà Alice Munro kể lại. Có ý kiến cho rằng sự vô nghĩa của bài ca dao cũng chính là ẩn dụ về sự vô nghĩa của thế giới tuổi già như là phía bên kia ngọn núi cuộc đời. Một ý kiến khác cho rằng “con gấu” ở đây chính là ẩn dụ về Grant, về sự không chung thủy của nhân vật, về nỗ lực vô ích của lòng cao thượng ở Grant khi ông cố gắng tìm cách để giúp đỡ Fiona khi bà đang bệnh nặng.

[2] Còn gọi là “Bài ca tôi trung Tây Ban Nha” nổi tiếng trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha 1936-1939, nói về những người trung thành thuộc phái Công hòa, chống lại phe Franco

[3] Hund tiếng Đức nghĩa là “chó”

[4] Chiến tranh Crimea (Crimean War) bắt đầu từ năm 1853 và chấm dứt năm 1856, giữa hai lực lượng quân sự châu Âu, phe đồng minh gồm Đế quốc Pháp, Đế quốc Anh, Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ và Sardegna chống lại Đế quốc Nga. Cuộc chiến tranh này còn được người đương thời gọi là Chiến tranh nước Nga

[5] Trong thần thoại Bắc Âu, Fenrir là một con sói khổng lồ. Fenrir được chứng thực trong thơ Edda, biên soạn vào thế kỷ 13 từ các nguồn truyền thống trước đó bởi Snorri Sturluson. Trong cả Thơ Edda và Truyện Edda, Fenrir là cha của những con sói Skoll và Hati Hródvitnisson, là con trai của Loki, và nuốt thần Odin trong sự kiện Ragnarök, nhưng sau này lại bị con trai của Odin là Vídarr giết.

[6] Njáll Þorgeirsson (Njáll con trai của Þorgeir) là một trong những nhân vật chính của Truyện Njáls , một tác phẩm Iceland thời trung cổ; Snorri Þorgrímsson hay Snorri Godi là một thủ lĩnh Tây Iceland, người hùng trong Truyện Eyrbyggja của Iceland.

[7] Richard Wagner (1813–1883) biên soạn nên Der Ring des Nibelungen (Chiếc nhẫn của người Nibelung) – một chùm các vở opera, dựa chủ yếu vào thần thoại Bắc Âu (giống thần thoại Đức), và bài ca của Nibelung (Nibelungenlied).

[8] Tiếng Celtic là một nhánh của hệ ngôn ngữ gia Ấn-châu Âu lớn hơn. Vào thời điểm những cư dân nói tiếng Celtic bắt đầu xuất hiện trong lịch sử khoảng năm 400 trước Công nguyên, họ đã được chia thành nhiều nhóm ngôn ngữ, và trải rộng trên toàn lục địa Tây Âu, bán đảo Iberia, Ireland và Anh.

[9] Nguyên văn tiếng Anh: “So he increased in wisdom and stature -/ And in favour with God and man.”. Câu này được phái sinh từ Kinh Thánh, Thiên Luke 2.52. Bản tiếng Anh (bản do King James chính thống hóa): “And Jesus increased in wisdom and stature, and in favour with God and man”. Thiên Luke kể về sự giáng sinh của chúa Jesus.

[10] Trong nguyên tác, Alice Munro viết: “You could have just driven away…Just driven away without a care in the world and forsook me. Forsooken me. Forsaken”. Lời của Fiona cho thấy nỗ lực của nhân vật muốn nhớ lại cách chia động từ cho đúng. Trong tiếng Việt, do phạm trù “thời” không rõ nên chúng tôi lựa chọn phương án dịch để nhân vật cố nhớ lại, cố tìm được từ thích hợp nhất mô tả cảm giác của mình.

Sự bền bỉ của truyện ngắn

girl-reading

Thông cáo của Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển về giải Nobel Văn học 2013 dành cho Alice Munro chỉ đúc lại trong một khẳng định duy nhất: “Alice Munro – bậc thầy của nghệ thuật truyện ngắn”. Với sự khẳng định ấy, giải thưởng văn chương danh giá nhất thế giới này không chỉ tuyên dương nhà văn nữ người Canada mà còn là sự tôn vinh dành cho thể loại truyện ngắn vốn thường bị coi là thể loại nhỏ, phụ, có một địa vị khiêm nhường trong đời sống văn học thế giới. Các nhà văn theo đuổi thể loại này không có nhiều cơ may để được vinh danh trong các giải thưởng văn học lớn. Bản thân giải Nobel Văn học cũng đã bỏ lỡ những bậc thầy của nghệ thuật truyện ngắn, có ảnh hưởng sâu rộng đến tư duy tự sự hiện đại như Anton Chekhov, Jorge Luis Borges, Raymond Carver… và sự bỏ lỡ đó được xem như một mất mát đáng tiếc cho uy tín của giải thưởng. Chính Alice Munro khi phát biểu cảm tưởng về giải thưởng Nobel được trao cho mình cũng thừa nhận: “Đó là một điều tuyệt vời đối với cá nhân tôi, nhưng đồng thời cũng là điều tuyệt vời đối thể loại truyện ngắn… Truyện ngắn vốn thường chỉ được coi như là những bài tập trước khi người ta viết một cuốn tiểu thuyết… Tôi muốn truyện ngắn khẳng định được địa vị độc lập, đặc biệt của nó mà không cần phải vướng víu vào bất cứ điều gì khác”[1].

Lý do Alice Munro gắn bó với thể loại truyện ngắn dường như rất giản dị: viết tiểu thuyết đòi hỏi một khoảng thời gian tập trung liên tục tương đối dài – một điều kiện mà một phụ nữ làm nội trợ như bà khó đáp ứng được – trong khi nếu viết truyện ngắn, bà chỉ cần tận dụng những khoảng nghỉ trong ngày. Song trên thực tế, truyện ngắn của Alice Munro lại rất đậm chất tiểu thuyết: chúng có thể được xem là trường hợp điển hình của hiện tượng tiểu thuyết hóa truyện ngắn. Điều này không chỉ thể hiện ở dung lượng truyện ngắn của Munro: hơi nghịch lý khi nhiều người gọi đó là những truyện ngắn…dài bởi dung lượng lên đến 20-30 trang in. Nhưng quan trọng hơn, chất tiểu thuyết thể hiện ở chỗ từ những khoảnh khắc, những lát cắt thực tại, Alice Munro làm nổi bật những ngổn ngang không hoàn kết, những tình thế tiến thoái lưỡng nan của con người, những ràng rịt vô hình nhưng có sức nặng thật sự của tâm trạng làm con người bị mắc kẹt trong nghịch lý đời sống. Đó là loại truyện ngắn tâm lý kiểu Chekhov – nhà văn mà Alice Munro không giấu giếm việc chịu ảnh hưởng. Nhìn trên bề mặt, dễ có cảm giác Munro đi theo một lối viết nghiêng về cổ điển nhưng như nhà phê bình Jason Farago nhận xét: “Những truyện ngắn này trên thực tế lại thể hiện sự cách tân hình thức ở chiều sâu, với sự đổi giọng đột ngột và các dàn cảnh được đan móc với nhau một cách bất thường, cọ xát với nhau như kim loại cọ xát với kim loại. Đấy chính là cảm giác khó chịu, thậm chí gây bức bối mà một truyện ngắn của Munro thường để lại. Đó không phải làm ám ảnh về một chuyện tình dở dang, một cuộc vật lộn của con người với bệnh ung thư… mà là một cảm giác rộng hơn về tình trạng mất cân bằng và bất định. Cảm giác đó xuất phát từ hình thức, chứ không phải từ cốt truyện, và rõ ràng đó là một thành tựu xứng đáng với giải Nobel”[2]. Chất tiểu thuyết tâm lý ở truyện ngắn Munro, trên thực tế, hoàn toàn đủ bề rộng lẫn bề sâu để làm chất liệu cho các kịch bản điện ảnh, tương tự như một số truyện ngắn của Chekhov.

Trên thực tê, mô hình truyện ngắn tâm lý kiểu Chekhov không chỉ ảnh hưởng đến riêng Alice Munro; nó được nhiều nhà văn phương Tây khác kế thừa, trong đó có thể nhắc đến những tên tuổi như Carson McCullers, Edna O’Brien, Tobias Wolf…và đặc biệt là John Updike. Đặc trưng của mô hình truyện ngắn này, nếu phải thâu tóm trên nét lớn nhất, là cái nhìn cận cảnh, soi rọi tâm lý của con người trong những biểu hiện nhỏ nhặt, vặt vãnh của đời sống thường nhật, từ đó, tóm bắt được một khoảnh khắc đột biến từ bên trong có thể đẩy con người vào một khúc ngoặt bất định nào đó. Tất cả được diễn tả lại bằng một phương thức trần thuật điềm tĩnh, tỉ mỉ, nhẩn nha, nhằm khắc họa cuộc sống ở những bình diện vi mô, những xao động mơ hồ nhưng lại trở thành những thúc đẩy quyết định tại một lát cắt đời người. Trên tạp chí The New Yorker – một tạp chí hàng tuần vẫn dành trang để giới thiệu những tác phẩm hư cấu mới nhất (Alice Munro cũng là một tác giả thường xuyên được giới thiệu ở đây), có thể thấy rõ chủ nghĩa hiện thực tâm lý kiểu Chekhov vẫn có một sức sống mãnh liệt trong văn chương đương đại.

Nhưng thực ra diện mạo của truyện ngắn đương đại không phải là một bức tranh đơn điệu với sự kế thừa một truyền thống duy nhất từ truyện ngắn tâm lý kiểu Chekhov. Ernest Hemingway là người tạo ra một khúc ngoặt khác của truyện ngắn đương đại: truyền thống của chủ nghĩa tối giản trong văn xuôi. Nghệ thuật của văn xuôi tối giản, nếu dùng một hình ảnh so sánh, có thể ví như nghệ thuật điêu khắc: toàn bộ nỗi đam mê của chủ nghĩa tối giản dồn vào kỹ thuật tỉnh lược để những gì được giữ lại phải là những gì sắc nhọn nhất. Không ham những mô tả tỉ mỉ với các chi tiết rậm rạp, văn xuôi tối giản lại chú trọng tạo ra các khoảng trống, tạo ra những ám thị trong im lặng về những rạn vỡ, những đứt đoạn, những khủng hoảng của đời sống đương đại. Lối viết tối giản điển hình của Ernest Hemingway hay Raymond Carver cho thấy một chủ đề ám ảnh của truyện ngắn là sự loay hoay của con người hiện đại để nói ra lời của mình, sự bất lực của các nhân vật khi không biết kể thế nào, không biết diễn đạt thế nào về tình thế, về câu chuyện của mình, dù nó đã hay đang diễn ra. Khuynh hướng tối giản trên thực tế không đối lập hoàn toàn với truyền thống của Chekhov. Bản thân Raymond Carver cũng thường được goi là Chekhov của nước Mỹ thời hậu công nghiệp. Có lẽ sự khác biệt trong cách tiếp thu truyền thống của Chekhov ở Munro và Carver: một bên theo dõi những đường vòng của cảm xúc con người, một bên xoáy cái nhìn của mình vào những gián đoạn, đứt gãy mà con người cố dùng ngôn từ giao tiếp để che lấp.

Một dòng mạch khác có thể xem là dòng mạch “ngoại vi” của bản thân thể loại vốn thường bị mặc định là nhỏ, phụ này: xu hướng trò chơi với chính tính chất “ngắn”, với sức nén của thể loại. Những người thể nghiệm trò chơi này có thể nhắc đến như Jorge Luis Borges, Julio Cortazar, Augusto Montserro, Thomas Bernhard, Yasunari Kawabata… và trước hết, người xứng đáng được xem như người bày trò đầu tiên phải là Franz Kafka. Truyện ngắn theo khuynh hướng này tự làm khó mình thêm một cấp độ nữa: nó thể nghiệm ở một câu chuyện ở mức tới hạn của độ ngắn. Một câu chuyện có thể chỉ gói trong một, hai câu. Với thể nghiệm này, truyện ngắn hiện đại dường như phục nguyên sức mạnh của những thể loại lời nói ngắn: những cách ngôn, câu đố, mật ngữ, thơ. Cái “ngắn” trong những truyện ngắn kiểu Kafka, kiểu Borges hàm chứa trong mình sức mạnh của những suy tưởng triết học, của những quan hệ liên văn bản được dồn nén, sự kinh ngạc của các hình ảnh lẫn sự gợi cảm, trọng lượng không thể thay thế được của từ, của nhịp văn. Đơn cử như truyện ngắn dưới đây của Thomas Bernhard:

“Tuần trước, tại Linz, 180 người bị cúm trong đợt dịch đang nổi lên ở đây đã chết, song họ không chết vì cúm, họ chết do đơn thuốc bị hiểu sai bởi một tay dược sĩ vừa mới được nhận việc. Tay dược sĩ đó chắc sẽ bị xử vì tội giết người không cố ý và vụ án có thể được xét xử, theo như lời báo chí, thậm chí ngay trước Lễ Giáng sinh.” (“Đơn thuốc”)[3].

Truyện cực ngắn này chồng chất các nghịch lý, tạo thành độ căng tự sự. Thủ pháp nhại phong cách tin tức báo chí khiến câu chuyện mang màu sắc hài hước đen rõ nét, vừa xoáy sâu vào sự vô trách nhiệm, ấu trĩ của cá nhân trong mối quan hệ với xã hội, vừa phơi bày cả sự tàn nhẫn của đám đông trong mối liên hệ với một cá nhân. Câu chuyện cô đọng những xung đột tiềm tàng của xã hội hiện đại chỉ trong hai câu văn.

Ba mô hình truyện ngắn: kiểu Chekhov, kiểu Hemingway, kiểu Kafka…chưa hẳn đã bao quát được diện mạo phong phú của thể loại này trong văn chương đương đại thế giới. Điều đáng nói là cả ba mô hình truyện ngắn này đều có thể tìm thấy trong văn xuôi đương đại Việt Nam. Người ta có thể thấy mô hình Chekhov trong các truyện ngắn của Dạ Ngân, sự tương ứng với lối viết tối giản trong truyện ngắn Phan Triều Hải, Ngô Phan Lưu, hay những truyện cực ngắn giàu tính thơ và tính dụ ngôn theo phong cách Kafka, Borges của Nhật Chiêu, Nguyễn Nguyên Phước, Hoàng Long, Lê Minh Phong…

Trở lại với bức tranh truyện ngắn đương đại thế giới, Aleksandar Hemon trong bài viết “The Short Story – A Surving Species” (Truyện ngắn – một chủng loại sống sót) đã cung cấp một gợi ý lý thú để suy ngẫm về địa vị cũng như triển vọng của hai thể loại vốn được xem là không cùng đẳng cấp với nhau: tiểu thuyết và truyện ngắn. Hemon trích lại nhận định của Benedict Anderson để thấy tiểu thuyết được đề cao vì nó gắn liền với sự tưởng tượng về quốc gia: “Ý niệm về một tổ chức xã hội vận động trên một khoảng thời gian đồng nhất, rỗng (giống như sự di chuyển của nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết) hoàn toàn tương đồng với ý niệm về quốc gia, vốn được hình dung như một cộng đồng vững chãi vận động đều đều theo hướng đi lên hoặc đi xuống trong lịch sử”[4]. Truyện ngắn thì khác, “nó được nuôi dưỡng bởi những phần dư thừa của tự sự về tinh dân tộc”. Ý thức hệ chìm dưới mỗi thể loại đã khiến tiểu thuyết và truyện ngắn, tuy cùng trỗi dậy ở thế kỷ XIX, nhưng được trao cho những danh phận khác nhau. Tuy nhiên, tình hình đã khác ở những năm cuối thế kỷ XX- đầu thế kỷ XXI này, khi xu hướng giải lãnh thổ diễn ra mạnh mẽ dưới ảnh hưởng của internet, truyện ngắn dường như đang bắt đầu một sinh lộ mới. Aleksandar Hemon viết: “Vì tiểu thuyết là thể loại được cưng chiều của các nền văn học quốc gia, nó có nguy cơ bị mất vị thế cùng với ý niệm về văn học quốc gia, hay ít nhất phải chịu đựng sự chuyển hóa đau đớn mà các nên văn hóa quốc gia đang trải qua. Truyện ngăn sẵn sàng hơn để thích ứng với một thế giới mới chính bởi địa vị được mặc định là nhỏ, phụ, thứ yếu của nó. Truyện ngắn ít lệ thuộc vào tính hiệu lực của các thiết chế của văn học quốc gia. Gắn bó một cách cố hữu với báo chí, hình thái xuất bản điều chỉnh nhanh hơn so với sách, truyện ngắn có thể đáp ứng độc giả và cái thế giới đang thay đổi chóng mặt theo một cách thức mau lẹ và gần gũi mà tiểu thuyết khó sánh được. Hơn nữa, khi điều kiện đọc cũng thay đổi theo sự mở rộng của công nghiệp máy tính và internet, truyện ngắn tương thích với phương tiện mới mà không cần phải cố gắng gì nhiều, trong khi tiểu thuyết sẽ phải tốn rất nhiều thời gian – tiến trình của một tổ chức xã hội giờ đã là một câu chuyện hoàn toàn khác trong không gian số phi biên giới, phi biên niên”[5]. Dẫn lại phân tích của Aleksandar Hemon để thấy khả năng hòa vào bức tranh chung của thể loại truyện ngắn trong thời đại mạng hóa, toàn cầu hóa là một cơ hội mở ra với các nhà văn Việt Nam hôm nay./.

Trần Ngọc Hiếu

(Bài đăng báo Văn nghệ trẻ số 2-1-2014.)


[1] Lisa Allardice: “Nobel Prize Winner Alice Munro: ‘It’s a wonderful thing for the short story”, http://www.theguardian.com/books/2013/dec/06/alice-munro-interview-nobel-prize-short-story-literature

[2] Jason Farago, “At last, a Genuine Popular Nobel Laureate”, http://www.newrepublic.com/article/115131/alice-munro-nobel-prize-modern-master

[3] Thomas Bernhard, “Prescription”, 104 Stories by Thomas Bernhard, bản dịch tiếng Anh của Kenneth J. Northcott, The University of Chicago Press, Chicago & London: 1997, trang 26.

[4] Dẫn theo Aleksandar Hemon, “The Short Story – A Surviving Species”, in trong Writers on Writing: The Art of the Short Story, Maurice A. Lee biên soạn, Greenwood Publish Group, 2005, trang 208.

[5] Aleksandar Hemon, sđd, trang 212.

Về Alice Munro

Alice-Munro-001

Alice Munro – Tôi trao cho câu chuyện tất cả không gian mà nó cần

Bà có thể nói về quá trình sáng tạo của mình?

Tôi làm việc chậm; viết lách là một công việc khó khăn – hầu như luôn là như thế. Thực sự, tôi đã viết đều đặn kể từ khi hai mươi tuổi, và giờ đây tôi đã 81 tuổi. Thói quen của tôi bây giờ là thức dậy vào buổi sáng, uống chút cà phê và bắt đầu viết. Rồi sau đó, tôi nghỉ một lát, ăn cái gì đó, rồi lại viết tiếp. Có lẽ tôi chỉ viết liên tục trong khoảng ba tiếng đồng hồ thôi. Tôi viết lại rất nhiều; tôi viết lại phần đã viết, đến khi thấy ổn thì gửi bản thảo đi. Rồi tôi lại muốn viết lại thêm chút nữa. Đôi khi, đối với tôi, một đôi từ quan trọng đến mức tôi phải xin rút bản thảo về để thêm chúng vào.

Tôi bắt đầu nghề văn với ý tưởng trở thành tác giả tiểu thuyết và rồi tôi lại viết các truyện ngắn vì đó là cách duy nhất để tôi còn có thời gian. Tôi có thể tạm gác việc nhà hay chăm sóc con cái trong một khoảng thời gian nhất định, nhưng khoảng thời gian đó không đủ để người ta viết một cuốn tiểu thuyết. Sau một thời gian, tôi nhận thấy hình thức truyện ngắn – mà đúng hơn, tôi chọn một hình thức truyện ngắn hơi bất thường, một truyện ngắn có dung lượng khá dài – là thứ tôi muốn thể nghiệm. Tôi có thể nói điều mình muốn nói trong không gian ấy. Và ban đầu đó là điều khó khăn vì truyện ngắn là thể loại mà người ta muốn xác định độ dài ở một giới hạn nhất định. Họ muốn nó là một truyện ngắn, trong khi đó truyện của tôi lại hơi bất thường theo kiểu nó là câu chuyện cứ triển khai mãi và nói với người ta những chuyện khác biệt, và cứ thế.

Tôi không bao giờ biết – hay chí ít, tôi thường không biết – một câu chuyện sẽ phải giới hạn ở độ dài bao nhiêu. Nhưng tôi không ngạc nhiên. Tôi trao cho câu chuyện rất cả không gian mà nó cần.

Nhưng dù sao thì tôi không bận tâm thứ tôi giờ đây đang viết được xếp là truyện hay là thể loại gì khác. Nó là một tác phẩm hư cấu, vậy là được.

Văn của bà rất trữ tình. Bà vẫn viết thơ đó chứ?

Ồ, có, thi thoảng vẫn viết. Tôi thích ý tưởng liên hệ giữa văn của tôi và thơ, nhưng chị biết đó, khi người ta viết văn xuôi, tôi nghĩ người ta phải rất cẩn thận để văn mình không mang tính trữ tình một cách cố ý. Văn xuôi cần phải có một sự sắc nhọn nhất định và đó chính là cách viết mà tôi thích. Tôi muốn viết như thế, theo cái cách như thế, có thể gây cho người đọc một chút sợ hãi chăng?

Tôi có cảm giác bà rất quan tâm đến folklore?

Đúng rồi. Nhưng bạn không bao giờ biết được mình định quan tâm đến cái gì. Bạn không thể quyết định điều đó từ trước. Rồi đột nhiên, bạn nhận ra đây những gì bạn muốn kể, bạn nắm bắt nhịp điệu của chúng và cố gắng viết ra. Tôi tự hỏi, tại sao kiểu chuyện kể này lại quan trọng đối với con người đến thế? Tôi nghĩ bạn vẫn nghe rất nhiều câu chuyện mà người đời kể, những câu chuyện có lẽ được xem như là minh họa cho một số điều lạ lùng về cuộc đời này. Và tôi thích tìm những câu chuyện ấy, xem chúng kể với tôi điều gì và tôi sẽ muốn giải quyết chúng như thế nào.

Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó rằng folklore được xem là hình thức kể chuyện của phụ nữ?

Tôi nghĩ điều đó đúng, phụ nữ vốn không được coi trọng, thậm chí kể cả sau khi đã biết chữ, biết viết thì phụ nữ vẫn cứ kể chuyện. Chị biết đấy, phụ nữ hay ngồi tỉ tê với nhau, hay họ đã từng có thói quen như thế. Và tôi có thể nhớ những việc chị em phụ nữ chúng ta làm cùng nhau khi phải lo bữa ăn phụ cho cả đám đàn ông trong nhà. Đám đàn ông làm việc ngoài đồng và khi về nhà, bạn sẽ phục vụ họ một bữa ăn hoành tráng – đấy, tôi nhớ cảnh tượng ấy hồi mình còn nhỏ. Có một niềm hãnh diện lớn cho cánh phụ nữ khi nhìn thấy bữa ăn thịnh soạn, hoành tráng như thế nào, rồi sau đó, bạn có cả núi bát đĩa phải rửa. Suốt thời gian ấy, chị em phụ nữ chuyện trò với nhau. Hình thức trò chuyện này rất quan trọng.

Nhưng tất nhiên giờ chuyện đó không còn nữa. Đó là một lối sống cũ – lối sống của người nhà quê – và tôi không biết giờ phụ nữ có còn nói chuyện theo kiểu này hay không. Phụ nữ có còn nói chuyện với nhau không? Họ có được khuyến khích để làm việc đó hay không? Nhưng tôi nghĩ hễ ở đâu phụ nữ tụm lại với nhau là họ có sự hối thúc để kể những câu chuyện, để nói với nhau: “Tại sao chị nghĩ chuyện này lại xảy ra?”, “Đó chẳng phải là chuyện lạ lùng hay sao?” hay “Điều đó có nghĩa gì?”. Phụ nữ có thiên hướng diễn dịch đời sống bằng lời nói. Trong khi nhiều đàn ông mà tôi biết, hay đã từng biết, lại không có sự hối thúc này. Họ cảm thấy sẽ tốt hơn nếu cứ đi thẳng, giải quyết việc gì liên quan đến mình và có lẽ không băn khoăn quá nhiều về nó.

Tôi không rõ liệu đây có thể coi như một điểm tựa để giải thích vì sao bà chọn hình thức truyện ngắn – hay chính thể loại này chọn bà?

Có thể. Tôi thích làm việc với mọi người, nghe trò chuyện của mọi người và cộng hưởng với những niềm ngạc nhiên của họ. Đối với tôi, điều đó quan trọng lắm. Chuyện xảy ra lại là chuyện bạn không chờ đợi. Trong một truyện ngắn của tôi – “Trốn chạy”, một phụ nữ có một cuộc hôn nhân rất khổ sở, quyết định rời bỏ người chồng của mình, chị ta lại được một người phụ nữ lớn tuổi hơn động viên làm việc đó, và cuối cùng chị cũng đã thực hiện quyết định của đời mình. Thế rồi khi chị đang cố gắng trốn chạy, chị lại nhận ra mình không thể làm được việc đó. Đó là một việc nhạy cảm, chị có nhiều lý do để dứt bỏ, để chạy trốn nhưng chỉ là chị không thể làm được. Sao lại dùng dằng như thế? Nhưng đó chính là câu chuyện mà tôi muốn viết. Vì tôi cũng không biết “sao lại như thế”. Nhưng tôi phải chú ý đến nó. Ở câu chuyện đó, có có cái gì đó rất đáng để chú ý.

Trong truyện “Dear Life” (Cuộc đời thân mến), bà đã khám phá nghịch lý trong mối quan hệ của bà với cha mẹ mình.

Phải, đó là mối quan hệ gồm cả tình yêu, nỗi sợ hãi và sự khó chịu. Có tất cả những thứ đó.

Bà cứ trở đi trở lại trong những tác phẩm sau này câu chuyện về mối quan hệ giữa bà và người cha của mình, người cũng là một nhà văn có tài, đặc biệt nhạy cảm và cũng đọc sách cả đời.

Đúng là ông ấy.

Đó là một người, trong nhiều truyện của bà, giống như một bóng ma đang sống đối với bà, khi bà còn là một nhà văn trẻ đang định hình. Nhưng có một sự thật không thay đổi được là bà từ chối ngoảnh mặt quay đi, và chính vì thái độ đó, ông ấy đã lấy dây thắt lưng đánh bà khi bà còn là một cô bé mới lớn.

Có chuyện đó. Và tôi có thể nói rằng, “Ừ thì tất nhiên, đấy là chuyện rất phổ biến ở thời kỳ đó – hầu hết những người tôi biết đều thi thoảng bị đánh đòn.” Và việc đánh một đứa trẻ con không hề là việc cần phải lên án. Đó là một cách tự nhiên để uốn nắn đứa trẻ. Và cũng bởi nghèo đói, bởi cần trẻ em để làm việc nhà, bởi một đứa trẻ thiếu niên ngày đó không được xem như một đứa bé đáng yêu chỉ cần ngồi lì trong nhà như trẻ em bây giờ. Do đó, việc này rất thực tế, cần phải làm. Đồng thời nó cũng rất đáng sợ và có thể – như nhiều người sẽ nói – đó là việc hủy hoại con người. Tôi không thể nghĩ như vậy…Tôi vẫn là người từ chối đòn roi và thấy đó là thứ rất đáng sợ. Tôi có mặc cảm khi đó mình là kẻ vô giá trị và đó là điều gây cho chị những ý nghĩ về tôi như thế. Nhưng đồng thời tôi cũng nhận thấy đó là chuyện đã xảy ra vào thời điểm ấy và người ta không thể né tránh nó. Và người ta cũng không thể né tránh việc cần hiểu tại sao chuyện đó phải xảy ra. Thời đó, người ta không có thời gian, cũng chẳng có tiền để nuôi dạy trẻ con theo cách biết để ý, quan tâm đến những nhu cầu của chúng – lý do vì sao người lớn lại hành xử như thế với trẻ con. Mà trẻ con cũng không có thời gian để lắm lời hay nói lại, chị biết rồi đấy. Người ta không có điều kiện để quan tâm đến tất cả chuyện này. Vì cái người ta quan tâm chủ yếu là làm sao có cái ăn đủ để sống, gia đình là nơi ai cũng phải làm việc và phải tỏ ra hữu dụng. Vì tôi là một đứa trẻ rất nổi loạn, hay ít nhất tôi luôn nghĩ đến việc phải thoát khỏi không gian này, nên tôi sẵn sàng tỏ ra bất cần đáp lại bất cứ ai. Đó là tác dụng ngược của nếp sống gia đình này.

Trong truyện “Cuộc đời thân mến”, bà sử dụng ý niệm về sự tân trang một ngôi nhà trong mối liên hệ với lao động của ký ức. Bà có thể chia sẻ suy nghĩ của bà về bản chất của ký ức?

Những gì xảy ra khi chúng ta già hơn cũng lý thú đó chứ, vì ký ức khi đó trở nên sống động hơn, nhất là thứ ký ức xa xôi. Song tôi không hề phải vất vả với ký ức vì mọi thứ vẫn ở đó, luôn là thế và tôi không rõ mình có viết về nó nhiều hơn đã từng hay không. Rõ ràng những câu chuyện ở phần “Finale” (Đoạn kết) trong tập truyện này là kết quả của sự lao động đầy ý thức với ký ức và tôi không thường làm việc này nhiều lắm vì tôi nghĩ nếu người ta muốn viết nghiêm túc về cha mẹ mình, về tuổi thơ của mình thì người ta phải hết sức chân thành, trung thực, người ta phải nghĩ xem chuyện gì thật sự đã xảy ra thay vì nghĩ đến câu chuyện mà ký ức bày ra cho bạn. Nhưng cố nhiên bạn không bao giờ có thể làm được điều đó vì thế ít nhất bạn phải nói, “Đây là chỗ đứng của tôi trong câu chuyện –đó là những gì tôi nhớ.”

Bà từng nói với tôi rằng thỉnh thoảng chúng ta lại cứ lặp lại những việc vốn rất khó khăn cho đến khi chúng ta chịu đựng và vượt qua được chúng.

Tôi nghĩ đó là điều đúng, đặc biệt khi chúng liên quan đến những ký ức ấu thơ rất sớm ở con người. Và bao giờ cũng cần phải có những nỗ lực để vượt qua chúng. Nhưng “vượt qua” ở đây nghĩa là gì? Là chúng không còn trở nên đau đớn nữa? Là mình đã nghiền ngẫm về chúng và những gì mình nghĩ đưa ra được một ý niệm công bằng về những gì đã diễn ra? Nhưng bạn sẽ không bao giờ viết về điều đó. Bạn có con. Khi bạn viết câu chuyện về tuổi thơ của chúng, nó vẫn cứ chỉ là câu chuyện của chúng, cái tôi của bạn trong câu chuyện ấy sẽ là cái tôi mà bạn có thể không nhận ra. Và đó là lý do tại sao tôi lại nghĩ rằng: ta phải thừa nhận ngay đến cả câu chuyện có nỗ lực cao nhất vẫn không thể đạt đến sự thật của tất cả mọi người. Nhưng cố gắng đó là đáng ghi nhận.

Nếu là nhà văn, bạn sẽ là kẻ dành cả đời để cố gắng tưởng tượng ra các hình tượng, và bạn đặt những hình tượng của mình lên giấy, người khác sẽ đọc chúng. Đó là một việc rất kỳ quặc, thật đấy.

Bạn dành cả đời làm việc đó, thế nhưng bạn biết mình thất bại. Bạn không thất bại hoàn toàn, công việc đó không tuyệt đối vô nghĩa, nó là vẫn là việc đáng làm, dù sao đi nữa – tôi nghĩ thế. Nhưng nó giống như việc dần dần bạn nhận thấy mình chỉ có thể hiểu được những gì mình chỉ nắm được từng phần.

Nghe rất vô vọng. Nhưng tôi lại không cảm thấy vô vọng chút nào.

Hải Ngọc lược dịch

Nguồn: Lisa Dickler Awano, “An Interview with Alice Munro”, Virginia Quarterly Review, Spring 2013, p.180-184.

 Margaret Atwood: Alice Munro – Nhà văn của những thị trấn nhỏ

Thập niên 50 là thập niên của đàn ông trong văn chương Mỹ. Nước Mỹ không có truyền thống các tác giả nữ. Trong số các nhà văn nữ, ai được ngưỡng mộ? Eudora Welty, Katherin Anne Porter. Còn các nữ thi sĩ? Emily Dickinson. Còn có bao nhiêu những gương mặt khác nữa? Ở Canada, là phụ nữ, bạn sẽ không bị trừ điểm khi viết văn đâu. Không có nhiều thách thức đối với phụ nữ ở Canada. Thêu thùa, vẽ tranh sơn dầu, sáng tác – tất cả đều chỉ được xem như là thú vui. Viết lách chẳng phải là việc quan trọng. Hầu như không có thị trường cho các tiểu thuyết mới. Cộng đồng văn chương ở đây vào thời điểm đó rất nhỏ. Vì thói quen đọc và vì sáng tác văn chương chủ yếu chỉ được in trên các tạp chí nhỏ, các nhà thơ có thể biết về tác phẩm của đồng nghiệp chứ đối với các cây bút văn xuôi, đó lại là chuyện khác.

Khi chúng tôi trưởng thành, ý nghĩ trở thành nhà văn là một điều gì đó xa lạ. Chỉ riêng việc nghĩ rằng mình có thể làm được việc đó đã là một sự ngạo mạn rất khó chấp nhận. Tài năng là thứ không được khuyến khích. Thế nhưng từ khi còn nhỏ, Alice đã đọc Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh Emily ở trang trại Trăng non của L.M. Montgomery,  tác phẩm kể về một cô bé lớn lên trên Hòn đảo Hoàng tử Edward, mơ ước trở thành nhà văn. Trong đó, cuốn sách thứ hai còn là cuốn mà sau này Alice viết lời bạt cho nó.

Hai cuốn sách khác ảnh hưởng đến chặng đầu trên con đường văn chương của bà là Đồi gió hú Kiêu hãnh và định kiến. Ở Đồi gió hú, bạn sẽ không bao giờ nghe câu chuyện trực tiếp từ những nhân vật có quyền uy nhất trong đó. Mà bạn sẽ được nghe câu chuyện đó từ những người quan sát: một quý ông tên là Lockwood, người thuê trang trại Thrushcross, và Nelly, người quản gia. Đây chính là một cách rất thú vị để cấu trúc tác phẩm. Đồng thời, trong cuốn tiểu thuyết cũng có hai ngôi nhà. Có nhà Linton, những người thuộc tầng lớp thượng lưu song quyền uy cũng không mạnh và cũng không được miêu tả như những nhân vật gợi cảm. Rồi có Heathcliff. Kiêu hãnh và định kiến cũng là một cuốn sách có kết cấu tốt, khơi gợi những xúc cảm chúng ta thích ve vuốt, và rồi xuất hiện ngài Darcy, một người thô thiển nhưng lại lắm tiền. Kinh tế là một vấn đề lớn trong tác phẩm của Alice. Ai có tiền, ai không, ai cần, ai làm ra, ai trả?

Những nguồn ảnh hưởng khác đối với Alice là những nhà văn viết những câu chuyện lấy bối cảnh những thị trấn nhỏ. Alice đã đọc Sherwood Anderson- người đã khiến bà nghĩ mình cũng có khả năng viết được những câu chuyện như thế – rồi bà đọc cả Eudora Welty, Flannery O’Connor và Carson McCullers. Bản thân cũng lớn lên ở một thị trấn nhỏ, Alice rất hiểu về không gian ấy, nhất là những thị trấn nhỏ ở tây nam Ontario. Tại sao lại có nhiều người điên khùng, loạn trí ở một thị trấn nhỏ? Có vẻ đấy là một không gian mọi người đều biết về nhau, đều biết về lai lịch của người khác. Giống như một gia đình lớn, bất thường. Điều này cũng giống như ở các thành phố thôi, nhưng ở đó, bạn không nhất thiết phải biết tất cả về thành phố ấy, vì bạn có thể không biết gì về những người vừa qua phố, thậm chí vừa qua cửa nhà bạn. Còn ở thị trấn nhỏ, người ta rất quan tâm đến những lời đồn đại, bàn tán, họ rất ý thức đến việc phải giả vờ và sự thay đổi dần dần trong thang bậc xã hội của kẻ khác. Thị trấn là một không gian khép kín với nhiều sự giam hãm.

Đó là lý do tại sao những câu chuyện của Alice lại có bối cảnh không gian và thời gian rất đặc trưng. Người ta ăn gì, mặc gì, dùng dụng cụ gì, đối với bà, đều là điều quan trọng. Bà quan tâm đến những câu hỏi về sự chân thực; bà quan sát mặt của nhân vật và để ý sự đóng vai của họ, cố gắng phán đoán xem bằng sự giả vờ ấy, họ cố đạt đến điều gì, và rồi bà xem xét những gì nằm bên dưới. Cũng có thể các nhân vật của bà nhìn lẫn nhau, họ cũng nói dối, ngay cả trong những lời xã giao, thí dụ, “Bạn trông tuyệt quá!” Có khi câu nói đó là lời tử tế; nhưng cũng có khi không.

Bà viết về những khó khăn mà những nhân vật của bà phải đối mặt, những người luôn lớn hơn hoặc nhỏ hơn những gì họ được nghĩ về. Khi các nhân vật chính của bà nhìn lại, từ điểm nhìn ở giai đoạn sau này trong cuộc đời mình, khi họ già hơn, họ sẽ sở hữu bên trong mình tất cả những con người mà họ đã từng là. Bà rất giỏi khi miêu tả những gì mà con người kỳ vọng và cả nỗi thất vọng của họ.

Một trong nhiều điều mà Alice thể hiện rất tinh tế trong văn của mình là đối lập giữa cách người ta nghĩ một điều gì đó nên như thế nào với việc mọi chuyện lại hóa ra như thế nào. Chúng ta luôn bị phụ thuộc vào sự lấp đầy một số niềm kỳ vọng. Buổi sáng mặt trời sẽ mọc. Bà  Brown sẽ mở quầy hàng ở gốc phố vào lúc tám giờ sáng và bán sữa. Trong truyện của Alice Muron, người ta đi vào một ngôi nhà và phát hiện ra một người đã bị giết. Mọi kỳ vọng đều được thực hiện; và rồi, một sự kiện, một sự ngạc nhiên nảy sinh – và câu chuyện là thế.

Hải Ngọc dịch

Michael Cunningham: Alice Munro – Bậc thầy của những bí ẩn nơi trái tim con người

Alice Munro kể những câu chuyện lớn lao về những con người có đời sống bề ngoài nhỏ bé. Hiếm khi bà viết về một con người bên lề với phẩm chất đặc biệt. Bà là người bảo vệ lớn cho những kẻ bên lề bình thường, của những người không thể vừa vặn với cuộc đời ở những điểm tuy nhỏ nhưng lại rất quan trọng, những người cần một đời sống tốt đẹp hơn thứ được đem đến cho họ. Giống như Virginia Woolf, bà vẫn luôn nhấn mạnh vào tầm quan trọng đặc biệt của đời sống người phụ nữ, nhấn mạnh rằng câu chuyện về một người vợ bất hạnh ở tuổi trung niên cũng quan trọng chẳng kém câu chuyện về một thuyền trưởng dấn mình vào cuộc kiếm tìm con cá voi trắng. Làm như vậy, Munro, có lẽ hơn bất kỳ nhà văn đương đại nào, nhắc nhở chúng ta về phạm vi và tầm vóc mà một truyện ngắn có thể đạt đến. Bà khắc họa và phân tích tỉ mỉ những cuộc đời đầy biến cố lớn lao với một sự chu toàn mà ta cứ ngỡ chỉ có thể đạt được trong tiểu thuyết.

Câu văn của bà luôn giản dị và trong sáng nhưng không bao giờ bị rơi vào buồn tẻ. Văn xuôi của Munro rất có nhịp điệu. Bà biết một dòng nên dài đến đâu, hay khi nào một câu dài nên được tiếp nối bằng một câu ngắn hơn. Cảm quan nhạc tính của Munro thật hoàn hảo, vậy nhưng tác phẩm của bà không thuộc loại trưng trổ kỹ thuật với tham vọng làm lại văn chương. Munro không phải Joyce, cũng chẳng phải David Foster Wallace – tôi nhắc đến họ với niềm kính trọng. Tác phẩm của bà được viết bằng một lối viết khiêm nhường hơn và theo nghĩa nào đấy nó cũng là canh bạc lớn hơn. Bà không mong trở thành một trong số những chàng tuổi trẻ – dường như họ hầu hết chỉ là những chàng trai –  muốn tạo ra những sự thách đố và gây hấn trong văn chương vốn thường được người ta nghĩ đến như những khẩu thần công, và bởi tác phẩm của bà không hô hào, ngôn từ của bà chẳng quả quyết, bà chấp nhận mạo hiểm đứng khuất sau những phong cách ồn ã khác. Trên thực tế, sự quả quyết khi bà đào sâu vào đời sống nhân vật của mình khiến những thử nghiệm bề mặt bỗng trở thành hướng đi dễ dãi. Munro không bận tâm nhiều đến việc gây ấn tượng với độc giả. Bà bận tâm nhiều hơn đến sự thâm trầm, vẻ đẹp và chân lý trong những truyện của bà

Tôi không biết liệu có tác giả nào khác có thể làm tốt hơn Munro trong việc khắc họa những hỗn độn nơi bản thể con người, sự phức tạp và mờ tối khó ngờ của những cảm xúc. Chẳng hạn, Munro kiên quyết từ chối chấp nhận ý niệm rằng người mẹ hay đứa con hành xử theo những phương thức khả đoán. Bà để cho cha mẹ có những cảm giác nhập nhằng về những đứa con của họ và ngược lại. Và cách Munro xử lý vấn đề tình dục trong tác phẩm của mình có chút gì đó giống với điều Flannery O’Connor từng làm với sự can thiệp của thánh thần (divine intervention)[1]. Rất nhiều truyện của Munro xoay quanh sự hiện diện của những quan hệ dục tính cuốn phăng cuộc đời nhân vật chính hệt như Bàn tay của Chúa trong tác phẩm của O’Connor. Thật khó tin nhưng đó là sự thật. Còn thứ gì khác có thể đảo lộn những kế hoạch của chúng ta hơn tình dục và tình yêu? Bạn đang sống và mọi thứ có vẻ yên ổn, và rồi – kapow! một quan hệ dục tính xuất hiện và đời bạn chẳng còn như xưa nữa.

Munro thấu hiểu mối tương tác phức tạp giữa ý chí, khát vọng của chúng ta với những ngoại lực mà ta hầu như không thể kiểm soát. Một ngoại lực có thể đến, từ sự kiểm soát của chính quyền cho đến thứ gì đó đột ngột cho bạn thấy đời sống lãng mạn của bạn chỉ là một ảo tưởng, một sự giả tạo. Munro không e sợ cái hỗn loạn; bà biết rằng sự hỗn loạn sẽ bồi đắp bản lĩnh chúng ta. Như mọi tác gia tôi kính trọng, bà hiểu rằng công việc của nhà văn hư cấu chính là làm cho thế giới này càng thêm phức tạp. Bà buộc độc giả ý thức rằng dù mọi thứ trông có vẻ phức tạp đến đâu, thực chất chúng còn phức tạp hơn thế.

Nếu các nhà văn có xu hướng hoặc hết sức lãnh đạm hoặc quá mức ân cần, thì Munro lại thuộc về một đẳng cấp của riêng bà. Bà mang lòng trắc ẩn lớn lao nhưng không hề ủy mị. Munro nhắc nhở chúng ta rằng không có cách giải quyết đơn giản nào cả. Có hạnh phúc, bi kịch và những thứ ở giữa chúng; và bất kì thế giới quan nào khăng khăng thứ này và bỏ qua thứ khác thì đều bất toàn hoặc phiến diện. Bí ẩn và bất ngờ là thành phần cốt yếu của mọi câu chuyện, và Munro là bậc thầy về cái bí ẩn náu mình trong trái tim con người. Ít kinh nghiệm nào có thể khiến độc giả thỏa mãn hơn việc được nhìn nhân vật làm điều gì hoàn toàn bất ngờ và rồi chợt nhận ra đó là thứ duy nhất mà nhân vật có thể làm. Trong truyện của Munro, bạn không biết được điều gì sắp xảy đến với mọi người – tựa như trong chính cuộc đời này vậy.

Đức Anh dịch

Nguồn: “Appreciations of Alice Munro”, Lisa Dickler Awano biên soạn, The Virginia Quarterly Review, Summer 2006; 2, 3, trang 91-4.


[1] divine intervention: sự can thiệp của thần thánh vào diễn biến sự kiện, kiểu như trong thần thoại Hy Lạp