Eldar Sarajlic – Là bậc sinh thành của chính mình

Eldar Sarajlic hiện là phó giáo sư triết học tại City University of New York, Borough of Manhattan Community College. Như trong bài viết này, ta có thể biết thêm một vài thông tin tự thuật của tác giả. Với riêng tôi, bài viết này là một cuộc gặp gỡ lạ lùng bởi khi mới bắt đầu thử đi vào việc dịch, tôi đã bị ấn tượng rất mạnh bởi những tác giả di dân đến từ Nam Tư cũ. Đã có lúc tôi từng nghĩ nếu có dịp đi nước ngoài, có lẽ tôi sẽ đi đến đất nước ở vùng Balkan này.

mother_and_child_2

Triết học từng hấp dẫn tôi hơn tình phụ tử. Tôi từng tưởng tượng đời mình như một chuỗi những suy tư lặng lẽ, đọc sách và du lịch. Tôi không nghĩ nhiều về con cái, dù ở mức độ nào đó, tôi đã nghĩ mình nên có một đứa con. Làm cha không phải là một điều gì đó mà tôi muốn gắn kết với một cuộc đời tôi đã dành cho triết học.

Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi khi con gái tôi chào đời vào năm 2014, ba tháng sau khi tôi bảo vệ luận án tiến sĩ. Trong một mùa hè, tôi vừa trở thành một ông bố đồng thời vừa làm công việc của một triết gia. Cả hai việc ấy hòa lẫn trong tôi và tạo nên một căn tính hoàn toàn mới. Trước ngày con tôi được sinh ra, tôi chủ yếu chỉ quan tâm đến triết học chính trị. Tôi bị cuốn vào những câu hỏi về công lí xã hội và chính trị, về chủ nghĩa tự do và tính hợp pháp. Thế rồi khi con gái tôi tượng hình trong bụng mẹ nó, một loạt những mối quan tâm và ý tưởng mới bắt đầu nảy sinh trong tâm trí tôi. Vợ tôi sinh ra một đứa bé; đứa bé ấy lại sinh ra một tư tưởng mới.

Việc làm cha mẹ, khi tôi đi vào tìm hiểu, đã mở ra nhiều lối đi cho sự suy tư. Các triết gia thường đặt ra một dải các câu hỏi về việc làm cha mẹ: Có một sự biện hộ về đạo đức nào cho việc có con? Những bình diện đạo đức của việc nuôi nấng một đứa trẻ là gì? Giờ đây, khi làm một người cha cũng như một triết gia, tôi bắt đầu đặt những câu hỏi tương tự: Tôi nên nuôi một đứa trẻ như thế nào?  Làm thế nào tôi có thể là một người cha tốt?

Như hầu hết những ông bố bà mẹ đã biết, những tháng đầu tiên khi làm cha mẹ là một phức hợp của niềm vui, sợ hãi, mỏi mệt và hơn hết, sự mất ngủ. Chính là trong những khoảng thời gian eo hẹp của những tháng đầu tiên làm bố mà mối bận tâm suy tưởng của tôi vấp phải một câu hỏi đặc biệt: Con gái tôi khi lớn lên sẽ là ai? Căn tính của nó sẽ là gì? Khi tôi quan sát cơ thể bé xíu của nó, tôi cứ nghĩ hoài về những tương lai khả hữu phía trước nó. Liệu nó có trở thành người mà nó muốn không?

Phía sau câu hỏi ấy là cả một câu chuyện của cá nhân tôi. Tôi sinh ra ở Bosnia – Herzegovina trong một gia đình Hồi giáo thế tục và sống ở đất nước ấy trong suốt 30 năm đầu tiên cuộc đời. Lớn lên đúng vào lúc xung đột sắc tộc dữ dội bùng nổ hồi đầu thập niên 1990, tôi bị quy về một thứ căn tính văn hóa mà người ta bảo nó thuộc về tôi. Bị khủng bố bởi việc là người Hồi giáo khiến ý thức kháng cự cá nhân và kháng cự văn hóa trỗi dậy trong tôi. Tôi chấp nhận và đề cao thứ căn tính bị khinh miệt ấy. Dần dần, tôi trở thành  một người Hồi giáo. Tôi mang mục tiêu ấy trên lưng và biến nó thành của mình. Song tôi nhận ra nhanh chóng, rằng việc nhận lấy một thứ căn tính như một hình thức kháng cự chỉ đưa người ta đi xa được đến mức ấy là cùng. Giống như một bộ đồ may bằng vải polyester không vừa vặn, thứ căn tính này làm tôi khó xoay sở, tôi thèm muốn được mặc lên mình một cái gì đó dễ chịu hơn.

Triết học đã trở thành một phần quý giá trong tiến trình mà tôi sáng tạo nên bản ngã của mình. Nó giúp tôi ngộ ra và chấp nhận mình là ai, nhưng nó cũng trao cho tôi những công cụ mà tôi cần để thay đổi bộ đồ gây khó chịu cho mình, tìm thấy cái gì đó phù hợp hơn. Một trong những nhà tư tưởng đầu tiên đã truyền cảm hứng cho quá trình này là Hannah Arendt. Khi tôi tìm hiểu quan điểm của bà về tự do, tôi lập tức nhận ra mình trong suy tưởng của bà. Đối với Arendt, tự do nghĩa là năng lực tạo ra một khởi đầu mới. Nó được hiện thực hóa trong năng lực hành động ở con người, một năng lực mà mọi con người đều được phú cho ngay từ khi mới ra đời. Cội rễ của tự do, theo bà, nằm ở trong khái niệm “sinh thành” (natality), trong thực tế ai cũng dễ nhận thấy, rằng mỗi con người mới được sinh ra đều đại diện cho một sự mới mẻ được dẫn nhập vào thế giới. Trẻ em là chủ thể tươi mới tuyệt đối, một sự hiện thân đích thực của tự do và là người dẫn dắt để cấu trúc thế giới xã hội của chúng ta.

Ví dụ lịch sử mà Arendt yêu thích khi nói về sự sinh thành là Cách mạng Mỹ, một hành động triệt để của việc đem tự do cho thế giới. Tôi nhận thấy nỗi khao khát của mình về Thế Giới Mới là một hình thức của nỗi khao khát có một bản ngã mới. Khi đặt chân đến New York, nơi của cái mới không ngừng được sinh thành này, tôi đã có một khởi đầu mới để tái tạo mình: có một đứa con.

Tôi đã nghĩ đến Hannah Arendt rất nhiều trong những đêm mất ngủ, khi con gái của tôi quẫy đạp trong bụng mẹ nó. Nếu cô bé là cái mới hoàn toàn trong thế giới này, tôi nhớ mình đã tự hỏi, liệu tôi có thể giúp con duy trì sự mới mẻ ấy và không kìm nén sự độc đáo của con? Làm sao tôi có thể nuôi sinh linh bé nhỏ này, để nó là chính mình, chứ không pải ai khác? Tôi có thể làm gì để nuôi con gái mình như một bản nguyên chứ không phải một bản sao của tôi, nền tảng của tôi hay những kỳ vọng văn hóa về thời gian và nơi chốn mà cô bé được sinh ra?

Những đêm mất ngủ ấy khơi dậy trong tôi nhiều suy nghĩ rất khác nhau. Trước hết, tôi nhận ra Arendt đúng: Trẻ em là những chủ thể mới toàn diện và phải được đối xử như thế. Mặc dù điều này đôi khi không dễ hiểu, nhất là với những bậc cha mẹ cảm thấy hạnh phúc khi nhận thấy những đặc điểm của mình in dấu lên đứa trẻ mới lọt lòng (“Nhìn này, anh yêu, con ta có cái mũi giống em!”), nhưng đó là một mệnh lệnh cả trên phương diện đạo đức lẫn thực tiễn mà chúng ta phải thực hiện. Cho dù gene của đứa con được kế thừa từ mẹ nó và tôi, con tôi vẫn là một con người đơn nhất, độc đáo, và tôi không thể dự đoán, chứ đừng nói là quyết đoán được bản ngã tương lai của nó. Liệu căn tính của nó có xác nhận những kỳ vọng, mong đợi của tôi không? Tôi không có quyền để mong đợi điều ấy.

Tôi đã chứng kiến nhiều nỗi thất vọng từ các bậc phụ huynh khi nhìn thấy con họ lớn lên: những ông bố bị ám ảnh khi con trai họ trở thành gay, những bà mẹ tuyệt vọng khi con gái mình khước từ tôn giáo của cha mẹ. Những phương pháp trị liệu để chữa đồng tính và những mối quan hệ đầy khoảng cách giữa những đứa con là chuyển giới và cha mẹ mình là những ví dụ rõ nét cho thấy khi những kỳ vọng vào con cái của cha mẹ trượt khỏi đường ray, họ đã làm gì. Tôi biết mình muốn trở nên tốt hơn những ví dụ mình đã thấy. Song làm cách nào?

Để trẻ em lớn lên như những con người chân thực, đúng là mình, chứ không phải sản phẩm của những kỳ vọng từ cha mẹ, các em cần phải được học để hiểu rằng căn tính được xây dựng trên các lý do, tức những sự biện hộ dược xem là có lý; bản thân khái niệm căn tính được phát sinh từ chính khái niệm lý do này.

Nếu căn tính cá nhân là một dạng niềm tin về chính mình, nó luôn là sản phẩm của mối quan hệ giữa ý thức của cá nhân ấy với một tập hợp nhất định các dữ kiện thực tế. Theo đó, có thể có những kiểu lý do khác nhau để xác nhận căn tính, phụ thuộc vào bản chất của các dữ kiện khác nhau. Một số trong đó dựa trên việc chúng ta được cấu thành về mặt thể chất ra sao. Nếu một đứa bé cảm thấy dễ chịu hơn trong một cái nhãn về giới tính đối lập (hay ở giữa hoặc nằm bên ngoài) cái nhãn mà người ta gán cho nó ngay khi chào đời, thế tì hẳn có một lý do nào đó để nó định dạng mình theo cách như vậy. Những lý do khác được dựa trên những dữ kiện về lịch sử, môi trường và kinh nghiệm.

Nếu một đứa trẻ biết đến những cách sống khác, nhờ trường học hay nhờ quá trình xã hội hóa, và quyết định chấp nhận nó, thì cha mẹ phải tôn trọng rằng con của mình có lý do hiệu lực để đi chệch khỏi văn hóa của gia đình. Việc ngăn cấm trẻ con hành động theo những lý do mà chúng nhận thức được mà không quan tâm đến căn cứ vững chắc của chúng, sẽ phản bộ lại giá trị và ý nghĩa của mối quan hệ cha mẹ – con cái.

Thứ hai, tôi nhận ra việc làm cha mẹ là một bài tập tuyệt vời để tự biết mình. Người ta có được một cơ hội để khám phá bản thân. Trở thành một người cha giúp tôi hiểu được quan điểm triết học của chính mình. Nghĩ về những lý do có thể làm điểm tựa cho bản ngã tương lai của con gái mình giúp tôi hiểu ra những lý do đằng sau căn tính cá nhân và tư tưởng triết học của mình. Cụ thể là, vốn là dân nhập cư ở Mỹ, tôi mang hai tư cách công dân và hai nền văn hóa. Chính điều này đã chi phối những vấn đề triết học mà tôi quan tâm. Mặc dù sống tại Mỹ nhưng tôi tồn tại trên đường biên của hai nền văn hóa, hai tư cách căn tính. Tôi chưa bao giờ thôi thoát khỏi hai hệ thống quy chiếu ấy: con người/văn hóa Bosnia và con người/văn hóa Mỹ. Tính song trùng là trạng thái mặc định của sự tồn tại của tôi. Vì thế tôi không ngừng phải ý thức về những hoạt động, những sự hành chức của văn hóa. Bởi tôi luôn thấy được những cạnh rìa của nó nên tôi không ngừng chất vấn trung tâm của nó.

Thậm chí ý nghĩ của tôi về quyền của con trẻ trong việc xác định căn tính chân thực cũng phản ánh tính song trùng của những truyền thống triết học mà tôi coi là bệ đỡ cho tư tưởng của mình. Chẳng hạn, tính chân thực, trong truyền thống, đã từng là chủ đề các nhà Lãng mạn, chẳng hạn như Rousseau, bàn đến với giọng điệu ít nhiều mang sắc thái mỉa mai, những người vốn cho rằng tiến trình của thời Khai sáng sẽ đi đến chỗ làm xói mòn bản chất độc đáo của các cá nhân. Tất cả chúng ta sinh ra là nguyên bản song đều chết như là những bản sao. Khoảng thời gian ở giữa sự sinh ra đời và sự chết đi của chúng ta bị nhào nặn bởi văn minh, vốn đúc khuôn chúng ta theo những cách thường tương phản với những phần mà chúng ta được tự nhiên trao cho. Quan điểm của Rousseau, Montesquieu, Marshall Berman và những nhà tư tưởng khác đề cao tính chân thực hiện sinh luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với cá nhân tôi.

Thế nhưng cho rằng một cá nhân chỉ chân thực, đúng là mình thông qua cách tiếp cận và sự đánh giá bằng các lý do lại phản ánh những phương pháp và ý tưởng thường thấy trong truyền thống của các nhà tư tưởng Khai Sáng. Không giống các nhà Lãng mạn, tôi cho rằng việc sử dụng và thúc đẩy lý do giúp chúng ta trở thành chính mình đích thực. Đánh mất chính mình là hệ quả của một tâm trí mất đi lý tính. Như John Locke, tôi tin rằng căn tính là sản phẩm của ý thức và lý do. Chúng ta không thể trở thành một tồn tại chân thực nếu như chúng ta không tìm thấy lý do nào.

Những đêm mất ngủ với đứa con mới ra đời đã nằm lại sau lưng tôi. Giờ, con gái tôi đã bốn tuổi, với căn tính của riêng mình và một ý chí mạnh mẽ để làm mọi thứ theo cách của mình. Tuy nhiên, nỗi sợ một tương lai bất ngờ vẫn còn choán lấy tôi giữa lúc đêm khuya và khiến tôi chất vấn mọi thứ, làm đảo lộn những viễn cảnh về một sự ngơi nghỉ yên tĩnh. Điệu ru mà tôi cần không thể tìm thấy được ở đâu; tất cả những gì tôi có thể làm là nhìn chăm chú vào khoảng trống mà không hy vọng gì nó sẽ nhìn lại.

Song khi nhìn con gái của mình nằm ngủ ngoan, tôi hiểu ra khoảng trống ấy không phải là thứ để mình sợ hãi. Nó không phải là vực nước xoáy của sự vô nghĩa sẽ làm ta phát điên. Khoảng trống đó là cảnh cửa cho bản ngã của chúng ta. Nó là thứ để chúng ta lấp vào đó bất cứ cái gì ta muốn – những giấc mơ, những nỗi sợ, những tham vọng. Đó là cơ hội duy nhất để trở thành cái mà chúng ta thực sự là: ta là bậc sinh thành của chính mình.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Eldar Sarajlic, “Becoming Parents to Ourselves”, https://www.nytimes.com/2019/06/06/opinion/fathers-philosophy.html

Yuval Noah Harari – Tại sao hư cấu thắng sự thật?

Yuval Noah Harari (1976) là sử gia của người Israel, tác giả của những cuốn sách gây ảnh hưởng lớn trên toàn cầu như Homo Sapiens: Lược sử loài người, Homo Deus: Lược sử tương lai, 21 Bài học cho thế kỷ 21. Bài viết dưới đây của ông nằm trong chùm bài thảo luận về quyền lực đăng trên New York Times mùa hè này và cũng là bài viết kết tinh khá nhiều tư tưởng quan trọng mà ông đã trình bày trong những cuốn sách của mình. Nhan đề của bài viết thực ra hơi khó dịch đối với tôi bởi tôi đoán ở đây tác giả có sự chơi chữ với một sự mỉa mai ngầm về thời đại mà Donald Trump lên ngôi. Tôi chọn cách dịch giữ được nét nghĩa lớn chứ chưa tìm ra được giải pháp cho nét nghĩa tu từ.

4e181267a53c4a8f831f60f47899a0c7-superJumbo

 

*

Nhiều người tin sự thật chuyên chở quyền lực. Nếu một số nhà lãnh đạo, một số tôn giáo hay hệ tư tưởng bóp méo, xuyên tạc hiện thực thì rốt cục họ sẽ thất thế trước những đối thủ trình bày về nó một cách sáng rõ hơn. Thật không may, đây chỉ là một huyền thoại có tính an ủi. Trên thực tế, sự thật và quyền lực có mối quan hệ phức tạp hơn rất nhiều, vì trong xã hội con người, quyền lực mang hai nghĩa rất khác nhau.

Một mặt, quyền lực có nghĩa là sở hữu khả năng thao túng những thực tại khách quan như săn bắt các loài động vật, xây dựng những cây cầu, chữa trị các loại bệnh tật, chế tạo bom nguyên tử. Thứ quyền năng này gắn bó chặt chẽ với sự thật. Nếu bạn tin vào một lý thuyết vật lý sai lầm, bạn sẽ không thể nào chế tạo được một quả bom nguyên tử cả.

Mặt khác, quyền lực cũng có nghĩa là sở hữu năng lực thao túng những niềm tin của con người, nhờ đó, có thể làm cho nhiều người hợp tác hiệu quả. Làm ra một quả bom nguyên tử không chỉ cần đến một sự am tường về vật lý mà còn đòi hỏi sự cộng tác lao động của hàng triệu con người. Hành tinh Trái đất chịu sự thống trị bởi loài Homo Sapiens hơn là loài tinh tinh hay voi bởi vì chúng ta là loài động vật có vú duy nhất có thể hợp tác với số lượng rất lớn. Và sự hợp tác trên quy mô lớn này phụ thuộc vào niềm tin vào những câu chuyện chung. Song những câu chuyện này không nhất thiết cần phải đúng. Người ta có thể thống nhất hàng triệu người bằng cách làm họ tin vào những câu chuyện hoàn toàn hư cấu về Thượng đế, về chủng tộc hay về kinh tế.

Bản chất hai mặt này của quyền lực dẫn đến hệ quả là một thực tế gây ngạc nhiên, theo đó, loài người chúng ta biết nhiều các chân lý hơn bất cứ loài vật nào khác, nhưng chúng ta đồng thời lại cũng tin tưởng vào nhiều điều vô nghĩa hơn. Chúng ta vừa là những cư dân thông minh nhất và cũng vừa là những kẻ khờ khạo nhất, dễ bị lừa gạt nhất trên hành tinh Trái Đất này. Loài thỏ không biết đến phương trình E= MC2, không biết vũ trụ xấp xỉ 13.8 tỉ tuổi, và DNA được cấu tạo bởi cytosine, guanine, adenine và thymine. Nhưng mặt khác, thỏ không tin vào những huyễn tưởng huyền thoại và những sự phi lý mang tính ý thức hệ đã mê hoặc vô số con người trong hàng ngàn năm. Không con thỏ nào sẵn sàng đâm máy bay vào Trung tâm thương mại thế giới với hy vọng được tặng thưởng 72 con thỏ còn trinh bạch ở hậu kiếp.

Khi cần thống nhất con người quanh một câu chuyện chung, hư cấu thường có ba điểm lợi thế cố hữu so với sự thật. Thứ nhất, trong khi sự thật mang tính phổ quát thì hư cấu thường có xu hướng mang tính địa phương. Hệ quả là, nếu ta muốn phân biệt bộ lạc của ta với những kẻ ngoại tộc, một câu chuyện hư cấu sẽ phục vụ cho như cầu kiến tạo bản sắc một cách tốt hơn nhiều so với một câu chuyện có thật. Giả sử chúng ta muốn dạy cho các thành viên trong bộ lạc của mình tin rằng “mặt trời mọc ở đằng đông và lặn ở đằng tây” – đó sẽ là một huyền thoại rất nghèo nàn của bộ lạc. Vì nếu gặp ai đó trong rừng và người đó nói với tôi mặt trời mọc ở đằng đông, đó có thể là chỉ dấu cho thấy người ấy là thành viên trong bộ lạc của tôi, nhưng cũng có thể nó cho biết đó là một người ngoài bộ lạc thông minh có khả năng đi đến cùng một kết luận một cách độc lập với bộ lạc của tôi. Vì thế, tốt hơn là dạy cho thành viên bộ lạc rằng “mặt trời là con mắt của một chú ếch khổng lồ mà mỗi ngày lại nhảy ngang qua bầu trời”, bởi sẽ rất ít người ngoại tộc – dù thông minh đến đâu – cũng có thể độc lập đi đến một ý tưởng đặc biệt như thế.

Lợi thế rất lớn thứ hai của hư cấu so với sự thật liên quan đến nguyên lý bất lợi, tức là những tín hiệu đáng tin cậy phải cực kỳ đắt giá đối với kẻ ra tín hiệu. Nếu không, chúng có thể bị làm giả bởi những kẻ gạt lừa. Thí dụ, những con công đực phải khoe sinh lực của mình trước những con công cái bằng những cái đuôi không lồ sặc sỡ. Đây chính là một dấu hiệu đáng tin cậy về sự dồi dào sinh lực, vì cái đuôi đó rất nặng, cồng kềnh và thu hút những loài săn mồi. Chỉ những con công khỏe mạnh thật sự mới có thể sống sót được bất kể sự bất lợi này. Điều này cũng xảy ra tương tự đối với những chuyện kể.

Nếu một sự trung thành về chính trị được thể hiện bằng niềm tin vào một câu chuyện đúng, có thật, ai cũng có thể làm giả được câu chuyện ấy. Nhưng tin vào những câu chuyện lố bịch và kỳ dị đòi một cái giá lớn hơn, và do đó, trở thành một tín hiệu tốt hơn về lòng trung thành. Nếu bạn tin vào nhà lãnh đạo của mình chỉ khi ông ta nói sự thật, điều đó chứng tỏ cái gì? Ngược lại, nếu bạn tin nhà lãnh đạo của mình kể cả khi ông ta xây một lâu đài trên không trung, đó mới là trung thành! Những nhà lãnh đạo tinh vi có thể đôi khi cố ý nói ra những thứ vô nghĩa như một cách để phân biệt ai là những cử tri đáng tin và ai là những kẻ “khi vui thì vỗ tay vào”.

Thứ ba, và đây là điều quan trọng nhất, sự thật thường đau đớn và gây bất an. Bởi thế, nếu cứ kiên trì đeo đuổi một thứ hiện thực thuần khiết, sẽ rất ít người đi theo bạn. Nếu một ứng cử viên tổng thống Mỹ sẽ nói với công chúng Mỹ sự thật, toàn bộ sự thật và không có gì khác ngoài lịch sử nước Mỹ thì 100% ứng cử viên ấy sẽ thất bại trong cuộc bầu cử. Điều tương tự cũng có thể thấy ở những ứng cử viên khác tại tất cả những quốc gia khác. Có bao nhiêu người Israel, Italian, hay Ấn Độ có thể chịu nổi thứ sự thật bị gột sạch không còn vết nhơ nào về dân tộc mình? Một sự trung thành không nhượng bộ với sự thật có thể là một thực hành tinh thần đáng ngưỡng vọng nhưng lại không phải là một thứ chiến lược chính trị để giành phần thắng.

Có thể có người sẽ biện luận rằng những cái giá dài hạn của việc tin vào những câu chuyện hư cấu có thể hiệu quả hơn bất kỳ một lợi thế ngắn hạn nào trong sự cố kết xã hội. Một khi người ta hình thành thói quen tin vào những hư cấu phi lý và những sự lừa dối tiện lợi, thói quen này sẽ mỗi lúc sẽ tràn vào nhiều lĩnh vực hơn, dẫn đến chỗ người ta có thể đưa ra những quyết định tệ hại về kinh tế, chấp nhận những kế hoạch quân sự không có lợi mà còn có hại thêm và không phát triển được những công nghệ có hiệu quả. Tuy điều này đôi khi có xảy ra nhưng nó còn xa mới là một quy luật phổ quát. Thậm chí những người cuồng tín và quá khích cực đoan nhất cũng có thể thường xuyên phải phân khu lại đầu óc phi lý tính của mình để làm sao họ có thể tin cái vô nghĩa trong một vài lĩnh vực trong khi đó lại rất duy lý trong những lĩnh vực khác.

Chẳng hạn, hãy nghĩ đến phát xít Đức. Thuyết chủng tộc của phát xít Đức là một thứ ngụy khoa học tồi tệ. Mặc dù họ cố gắng củng cố nó bằng những chứng cớ khoa học, phát xít Đức, dẫu vậy, phải nén lại sự duy lý của mình nhằm phát triển một niềm tin mãnh liệt đủ đến biện hộ cho việc giết chết hàng triệu người. Tuy nhiên, đến lúc cần phải thiết kế những phòng ga và xếp thời gian biểu cho những chuyến tàu chở người Do Thái từ Auschwitz, tính duy lý của phát xít Đức lại trỗi dậy vẹn nguyên từ chỗ nó nén lại, giấu mình.

Điều mà ta thấy ở phát xít Đức cũng đúng với nhiều nhóm quá khích, cuồng tín khác trong lịch sử. Cần phải tỉnh táo để thấy cuộc Cách mạng khoa học đã bắt đầu ở nền văn hóa cuồng tín nhất thế giới. Châu Âu vào thời của Columbus, Copernicus và Newton là một trong những nơi tập trung lớn nhất trong lịch sử những tín đồ tôn giáo cực đoan và là xã hội có mức độ khoan dung thấp nhất.

Bản thân Newton rõ ràng dành nhiều thời gian để tìm kiếm những thông điệp bí mật trong Thánh kinh hơn là giải mã các quy luật vật lý. Những danh nhân của cuộc Cách mạng khoa học sống trong một xã hội xua đuổi người Do Thái và Hồi giáo, thiêu sống hàng loạt những người dị giáo, có thể phát quyết bất kỳ một người phụ nữ lớn tuổi yêu mèo nào là phù thủy và cứ mỗi tháng lại phát động một cuộc chiến tranh tôn giáo.

Nếu bạn đến Cairo hay Istanbul cách đây 400 năm, bạn sẽ nhận thấy một thủ phủ đa văn hóa và giàu tinh thần khoa dung nơi những người Hồi giáo Sunni, Shiite, Chính thống giáo, Catholics, Amernian,  những người Ai Cập không thuộc dòng giống Arab, những người Do Thái, thậm chí đôi khi còn có những người Hindu sống bên cạnh nhau trong mối quan hệ hài hòa. Dù họ có những bất đồng và cả những cuộc nổi loạn – và mặc dù Đế chế Ottoman vẫn thường phân biệt đối xử  với những người thuộc những truyền thống tôn giáo khác – đó vẫn cứ là một thiên đường tự do nếu so với Tây Âu. Nếu lúc đó bạn đặt chân đến Paris hay London đương thời, bạn sẽ nhìn thấy những thành phố tràn ngập niềm tin tôn giáo mù quáng mà ở đó chỉ có những người thuộc những tông phái chủ lưu mới sống được. Ở London, người ta giết những người Catholics, ở Paris, người ta thanh trừng những người Thanh giáo; người Do Thái từ lâu đã bị xua đuổi; và không một ai lại có thể nghĩ đến việc để cho một người Hồi giáo nào vào nơi mình sống. Thế nhưng Cách mạng khoa học lại bắt đầu ở London và Paris chứ không phải từ Cairo hay Istanbul.

Năng lực phân khu lý tính có lẽ có nhiều điểm liên quan đến cấu trúc não bộ của chúng ta. Những phần khác nhau của bộ não chịu trách nhiệm cho những phương thức tư duy khác nhau. Con người có thể dừng hoạt động theo tiềm thức và kích hoạt lại những bộ phận của não đóng vai trò cốt yếu đối với tư duy hoài nghi. Bởi thế Adolf Eichmann có thể đóng thùy trán của mình khi lắng nghe Hitler say sưa trình bày diễn văn sau đó lại tái khởi động nó khi nghiên cứu lịch trình của những đoàn tàu từ Auschwitz

Thậm chí nếu phải trả một cái giá nào đó để dừng hoạt động của những năng lực lý tính ở chúng ta thì những lợi thế từ sự cố kết xã hội được gia tăng lại thường lớn đến nỗi những câu chuyện hư cấu vẫn cứ thắng sự thật trong lịch sử loài người. Các học giả thực ra đã biết điều này từ nghìn năm, đó là lý do tại sao họ phải phân vân nên phụng sự sự thật hay cho sự hài hòa xã hội. Họ nên hướng đến sự thống nhất con người bằng việc đảm bảo ai cũng tin vào cùng một câu chuyện hư cấu hay nên để mọi người nhìn ra sự thật, ngay cả khi phải trả giá cho nó bằng sự tan rã? Socrates chọn sự thật và bị kết án tử hình. Những học phái quyền uy nhất trong lịch sử – dù đó là những tu sĩ Ky tô giáo, những sĩ phu Nho giáo hay những nhà tư tưởng của chủ nghĩa Cộng sản – đặt sự thống nhất cao hơn sự thật. Đó là lý do vì sao họ lại mạnh đến vậy.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Yuval Noah Harari, “Why Fiction Trumps Truth”, https://www.nytimes.com/2019/05/24/opinion/why-fiction-trumps-truth.html

Roland Barthes – Bernard Buffet kết liễu New York

Bernard Buffet (1928-1999) là một họa sĩ người Pháp theo Chủ nghĩa biểu hiện và là một thành viên của nhóm họa sĩ L’homme Témoin với chủ trương chống lại nghệ thuật trừu tượng. Bài viết này của Roland Barthes có thể xem là một bài “đọc” những bức tranh của Buffett vẽ cảnh quan New York. Văn bản này chưa được dịch trong  cuốn Những huyền thoại bản tiếng Việt. Tôi giới thiệu bài viết này của Barthes để hưởng ứng dự án Những huyền thoại của Nhóm thứ 6. Văn bản ngắn nhưng rất khó dịch bởi lối hành văn rất phức tạp của Barthes, do đó, có thể có những sai sót mà tôi thực tâm mong nhận được sự chỉ giáo của những người quan tâm.

buffet new york

*

New York trong tranh Bernard Buffet sẽ không đảo lộn nhiều định kiến: nó là thành phố của những chiều cao hình học, một sa mạc hóa thạch của mạng lưới những đường dây điện và những hàng rào mắt cáo, một địa ngục của vật trừu tượng màu xanh lục dưới một bầu trời bằng phẳng, một thủ phủ thực thụ mà từ đó con người vắng mặt bởi chính sự tích tụ của y; một thứ đạo lý ẩn ngầm của một Greuze[1] mới trong thời đại chúng ta, theo đó, chúng ta thấy mình rõ ràng hạnh phúc ở Belleville hơn là ở Manhattan. Đây là một New York của văn hóa folklore hơn là một Tây Ban Nha của Bizet[2] hay một nước Ý của phòng hòa nhạc Théâtre Mogador[3]: nó là một thứ chủ nghĩa exotic khẳng định niềm kiêu hãnh của người Pháp (cụ thể hơn, ở đây, chính là Buffet – N.D) về sự ưu việt của nơi họ sống.

Theo Buffet, kiến trúc của thành phố này là những hình tứ giác và những hình tượng được kéo dài mang tính đồng phục. Ở đây, đường dây điện thống trị trong hình thức ít gây thiện cảm nhất của nó: cái đường viền này, đường thẳng màu đen này  bao quanh mọi thứ, rõ ràng muốn trục xuất con người khỏi thành phố. Với sự nhân bội đến mức ám ảnh ô cửa sổ, dùng màu đen dát nó, Buffet đã làm trống nó, phá hủy nó, biến một kiến trúc sống thành một bề mặt chết, cứ như thể các con số rốt cục buộc phải lập nên một trật tự trừu tượng, nếu chúng tụ tập lại đông đúc; Buffet đã hình học hóa New York để làm thành phố ấy thưa thớt hơn đi: ai cũng biết trừu tượng là “cằn cỗi”. Giờ đây, trong cảm quan của tôi về nó, một trong những bài học của thành phố kỳ diệu này đem đến là trừu tượng đồng nghĩa với sống động, và nghịch lý thay, phải là một họa sĩ mới từ chối chúng ta sự thật này. Song cũng chắc chắn là chỉ một họa sĩ “trừu tượng” mới có thể đối xử công bằng với New York, mới có thể hiểu được các mặt phẳng và đường thẳng, hình thức và ý nghĩa ở đây cũng rất đỗi sống động như trong những bố cục của Mondrian: ở đây, tính hình tượng đã gian xảo phục vụ cho mục đích phá hủy: vẽ nghĩa là đánh lừa. Buffet đã “hình tượng hóa” New York để giải trừ nó.

341560

Cũng có thể nhìn thấy một động thái gây hấn tương tự liên quan đến một biểu tượng lớn nhưng sáo mòn của thành phố: nhà chọc trời. Điều ngạc nhiên ở nhà chọc trời là nó không gây ngạc nhiên. Khi ta thực sự nhìn thấy một tòa nhà như thế (mà thực sự chúng ta đã từng nhìn thấy chăng?), cảm giác mà nó gợi lên là: tại sao không? Với Buffet thì ngược lại, tòa nhà chọc trời lúc nào cũng nằm cứ nằm trong một tuyển tập nào đó và đó luôn là những gì mà ông thể hiện với sự trau chuốt trên nét bút nhọn – hình thù gây ám ảnh của tòa nhà với những đường nét mảnh, góc cạnh. Cứ như thể chính toan vẽ của ông, với những tỉ lệ được tính toán về vật chất, đã làm nên tòa nhà chọc trời; đối với ông nhà chọc trời là một Hữu thể (Being), một tồn tại đã bị kết án từ trước. Dĩ nhiên, đôi khi Buffet tỏ ra nhạy cảm với chiều rộng choáng ngợp của thành phố, với diện tích nền móng của nó (bởi New York là một thành phố được sắp đặt huy hoàng, giống như mọi thủ phủ hoành tráng khác); vì lẽ đó mà ông đã vẽ một mặt ngoài rất hiện thực của các kết cấu, ông nhìn New York trực diện – đó là cách tốt để ông tự giải phóng mình khỏi nó; hoặc ông để lơ lửng hình cuộn trang trí cỡ lớn của một cây cầu ngay cận cảnh; song ngay cả trong những cố gắng để phóng đại bề rộng này, chiều cao vẫn cứ len lén tái xuất: toàn cảnh căng rộng ra hình ảnh của những nhà chọc trời chỉ để làm cho bóng đổ của chúng nối nhau không liên tục, cây cầu lấn át chúng chỉ để tôn lên sức mạnh hùng hổ của chúng nhìn từ xa. Có một cuộc giao tranh huyền thoại giữa Nền và Đỉnh, như thi sĩ René Char từng nói; song thay cho độ cao so với mặt biển dễ cuốn hút đám đông trước mặt (trên thực tế, New York là thành phố của chiều sâu, chứ không phải thành phố của tầm cao), Buffet lại trao cho nó nỗi cô độc phi lý của ông; ông vẽ các tòa nhà chọc trời như thể chúng là những giáo đường rỗng: ông làm dẹt “cảnh quan”.

item_915121_0357ea8ef2

Buffet đã hoàn thiện New York bằng cách làm đường phố trở nên trống trơn bóng người. Tôi không có ý muốn nói sự thật thì New York là không gian của bầy đàn, một quan điểm đầy định kiến của châu Âu. Bản thân sự quy hoạch đô thị – thứ tạo nên bàn cờ đam của những đường phố vô danh – là cái giá buộc phải trả để những đường phố này trở nên hữu dụng và không còn là thứ chỉ có trong tranh nữa, để con người và các vật thể luân chuyển, thích ứng với những khoảng cách, làm chủ một cách hiệu quả lên cái thiên nhiên đô thị khổng lồ này: thành phố lớn nhất thế giới (cùng với Tokyo) cũng là thứ mà ta có thể sở hữu trong một buổi chiều, bằng hoạt động gây hào hứng bậc nhất: vì ở đây sở hữu cũng có nghĩa là hiểu biết: New York tự trải mình ra trước niềm khao khát hiểu biết và sự thân quen của ta với nó đến rất đỗi nhanh chóng. Đó là mục đích của những con phố được đánh số này, chúng được bố trí một cách cứng nhắc theo những khoảng cách đều đặn: không phải để biến thành phố thành một cỗ máy khổng lồ và người thì thành robot như cách mà người ta – những kẻ xem sự quanh co dích dắc và sự bẩn thỉu như là những thứ gắn với tinh thần, vẫn cứ lải nhải một cách ngớ ngẩn với chúng ta mà ngược lại, để ta có thể làm chủ những khoảng cách và định hướng bằng tâm trí, để cho ta tùy nghi sử dụng cái không gian chứa đựng 12 triệu người, cái kho chứa thần thoại, cái trung tâm buôn bán của thế giới mà mọi hàng hóa tốt đều có, ngoại trừ sự đa dạng về ý nghĩa siêu hình. Đấy chính là mục đích của tính hình học của New York: rằng mỗi cá nhân đều nên là một chủ nhân, theo nét nghĩa thơ ca của từ này, của thủ đô thế giới này. Không phải ta nên nhìn New York với ánh mắt ngước lên, hướng về trời; mà ta phải nhìn xuống, về phía con người và hàng hóa: bằng một nghịch lý tĩnh tại tuyệt vời, tòa nhà chọc trời tạo nên các khối nhà, các khối nhà tạo nên đường phố, đường phố hiến mình cho con người. Buffet, dĩ nhiên, đi theo hướng ngược lại: ông làm rỗng phố, leo lên mặt ngoài của tòa nhà, lướt qua những bề mặt, ông làm loãng đi: New York của ông là một phản thành phố.

Để vẽ New York từ trên cao, từ đỉnh, là một lần nữa phải dựa vào huyền thoại tâm linh đầu tiên của nó, nghĩa là, huyền thoại về hình học giết chết con người. Với bút pháp của mình, Buffet đã theo gót những nhà đạo đức đáng kính, mà đối với họ cái tủ lạnh là thứ gây ác cảm với tâm hồn. Vẻ hiu quạnh, muộn sầu đầy chủ ý của New York trong tranh của ông có thể mang ý nghĩa gì nếu nó không phải là thông điệp rằng thật tồi tệ nếu con người phải sống trong bầy đàn, rằng con số giết chết tinh thần, rằng quá nhiều phòng tắm sẽ có hại với sức khỏe tinh thần của một dân tộc, rằng một thế giới quá “hiện đại” là một thế tàn ác, rằng chúng ta sa vào chán nản khi chúng ta sống trong tiện nghi, hay nói gọn lại, theo nhận định phản động nhất trong lịch sử nhân loại, bằng chứng ngoại phạm của mọi hình thứ bóc lột, rằng “tiền không làm nên hạnh phúc”? Bản thân tôi có thể hình dung rằng làm việc ở New York là một điều thậm tệ, song không phải New York là thứ khủng khiếp mà chính là công việc. Bằng việc biến thành phố này thành một nghĩa địa trẻ con hóa thạch, từ đó thấp thoáng hiện ra một thời đại “trừu tượng” (than ôi, nhưng không phải nghệ thuật “trừu tượng”), Buffet một lần nữa biến lịch sử thành siêu hình học. Những người da đen khi nhìn vào nước Mỹ luôn bắt đầu bằng hình ảnh những nhà chọc trời và mắt cứ bị dán vào đó. Tuy nhiên, những gì mà những người hành hương dỡ xuống từ con tàu Mayflower[4] không phải chỉ là chủ nghĩa duy nghiệm, tinh thần nghiệp đoàn, nói tóm lại, những hạt giống mà chắc chắn đã tạo nên một thành phố lạ kỳ nhất thế giới mà còn là tinh thần Thanh giáo và đầu óc quan tâm đến lợi nhuận, tiền và siêu hình học. Cái gì tốt, Buffet hồ nghi. Còn cái gì xấu, ông bỏ qua nó trong im lặng.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: “Buffet Finishes Off New York”, trong Roland Barthes (1979), The Eiffel Tower and Other Mythologies, bản dịch tiếng Anh của Richard Howard, trang 149-152.

[1] Jean-Baptiste Greuze (1725-1805), họa sĩ người Pháp, người được xem là đã truyền đạt trong những bức tranh chân dung, tranh về đề tài lịch sử của mình những giá trị của đạo đức tư sản.

[2] Georges Bizet (1838-1875), nhà soạn nhạc lãng mạn Pháp với tác phẩm nổi tiếng nhất là vở opera Carmen.

[3] Phòng hòa nhạc tại quận 9, thủ đô Paris, nước Pháp, được xây dựng vào năm 1913. Phòng hòa nhạc này ưu tiên cho trình diễn opera.

[4] Con tàu Mayflower là con tàu đã chở những người Thanh giáo Anh đầu tiên (ngày nay được gọi là những người hành hương [Pilgrims]) từ Plymouth nước Anh đến Tân thế giới vào năm 1620. Con tàu này đã trở thành biểu tượng văn hóa và lịch sử của Hoa Kỳ.

Elena Ferrante – Quyền lực riêng

Bài viết này của Elena Ferrante, nhà văn Italia, được cho là sinh năm 1943 nằm trong series bài về “Quyền lực” trên The New York Times mùa hè này mà tôi sẽ cố gắng dịch để giới thiệu trên blog cá nhân của mình. Ferrante là một nhà văn bí ẩn, dù tác phẩm của bà được đánh giá rất cao trên thế giới. Năm 2016, một nhà báo đã cố tìm cách tiết lộ danh tính của bà nhưng vụ việc này gây nhiều tranh cãi, trong đó có luồng ý kiến phê phán báo chí đã tấn công thế giới riêng tư của nhà văn.

 Tôi chọn bài viểt này để dịch đầu tiên bởi ngẫu nhiên trong ngày đọc được tin Susan Sontag là tác giả của cuốn sách lâu nay được cho là của chồng bà. Sự kiện này làm tôi nhớ đến bộ phim “The Wife” (2018) với diễn xuất của Glenn Close – một ví dụ nữa cho thấy quyền năng của sự kể chuyện, sự viết không phải là thứ mặc định dành cho phụ nữ. Bài của Ferrante hay ở chỗ tác giả luôn ngập ngừng trước cái gọi là quyền lực. Nỗ lực trốn tránh việc bị tiết lộ nhân thân của bà có lẽ cũng là nỗ lực trốn chạy thứ quyền lực của danh vọng – một trong những thứ đáng khát khao, song cũng là thứ dễ làm ta tha hóa bậc nhất.

fed3d0e0bfa478d93e6e5c21d9c67073--striped-sofa-mary-cassatt

*

Quyền lực là thứ luôn được khao khát dẫu rằng sử dụng nó chẳng bao giờ là chuyện đơn giản. Không có cá nhân, hội nhóm, giáo phái, đảng đoàn hay đám đông nào lại không thèm muốn quyền lực; họ còn tin chắc rằng mình sẽ biết cách sử dụng nó không giống như bất cứ ai trước đó.

Tôi cũng vậy thôi. Tuy nhiên, tôi đã từng luôn e ngại việc mình được gán cho một uy quyền nào đó. Dù là ở trường học hay trong công việc, đàn ông luôn chiếm đa số, đóng vai trò chủ đạo và phụ nữ thì làm theo những cách thức mà đàn ông đưa ra. Tôi chưa bao giờ cảm thấy thoải mái, vì thế tôi chọn đứng bên lề. Tôi chắc chắn mình không có sức mạnh để đối chọi với nam giới và tôi sẽ phản bội bản thân nếu để nhãn quan của mình tương thích với nhãn quan của họ. Trong hàng thiên niên kỷ, mọi biểu hiện quyền lực đều bị điều kiện hóa bởi thái độ của nam giới đối với thế giới. Do đó, đối với phụ nữ, dường như quyền lực chỉ có thể được sử dụng với những cách thức mà đàn ông, theo truyền thống, đã sử dụng nó.

Có một hình thức của quyền lực hấp dẫn tôi kể từ khi tôi còn là một cô bé, cho dù nó đã bị chiếm dụng rộng rãi bởi đàn ông: quyền lực của sự kể chuyện. Kể các câu chuyện thực chất là một hình thức quyền lực, thậm chí một quyền lực đáng kể. Các câu chuyện định hình cho kinh nghiệm, đôi khi bằng cách cấp cho nó những hình thức văn chương truyền thống, đôi khi bằng cách lật ngược chúng, đôi khi lại bằng việc tái cấu trúc chúng. Các câu chuyện lôi kéo độc giả vào trong mạng lưới của mình, cuốn lấy họ bằng cách gắn vào công việc, thân thể và tâm hồn, nhờ đó chúng có thể chuyển hóa sợi chỉ màu đen của sự viết thành con người, ý tưởng, cảm xúc, hành động, thành phố, thế giới, nhân loại, đời sống. Nghệ thuật kể chuyện, nói khác đi, trao cho ta quyền năng đem đến trật tự cho sự hỗn mang của cái thực bằng ký hiệu của riêng mình và điều này không xa lắm với quyền lực chính trị.

Ban đầu, tôi cũng chưa hiểu rằng kể chuyện là một dạng quyền lực. Tôi chỉ nhận ra điều này một cách chậm chạp và có cảm nhận về một thứ trách nhiệm thường xuyên trong tình trạng tê liệt. Tôi vẫn còn cảm giác ấy. Quyền lực không tốt, cũng không xấu – nó phụ thuộc vào những gì ta chủ định làm với nó. Càng nhiều tuổi hơn, tôi càng ngần ngại khi sử dụng quyền năng kể chuyện một cách dở tệ. Những chủ định của tôi nói chung là tốt song đôi khi việc kể một câu chuyện theo cách này thì thành công mà đôi khi theo cách khác lại thất bại. Niềm an ủi duy nhất tôi có là dù một câu chuyện có thể được hình dung và được viết ra một cách thảm hại – và do đó, chúng có thể không tốt đi nữa, cái hại sẽ luôn ở mức độ ít hơn so với những sai lầm trong chính trị và kinh tế, vốn luôn được gắn kèm với chiến tranh, máy chém, thảm sát hàng loạt, các khu biệt cư, trại tập trung, gulag.

Vậy như thế nói lên điều gì? Tôi nghĩ rằng mình chọn sự viết từ một nỗi sợ khi phải xử lý nhiều hình thức cụ thể hơn và nguy hiểm hơn của quyền lực. Và cũng có lẽ từ một cảm giác mạnh mẽ về sự tha hóa từ những kỹ thuật thống trị, vì thế, đôi khi viết, với tôi, dường như là cách thích hợp hơn cả để phản ứng lại với những sự lạm dụng quyền lực.

Tuy nhiên, tôi chọn viết chủ yếu là vì, khi còn là một cô bé, tôi đã lầm tưởng văn chương là thứ đặc biệt cởi mở với phụ nữ. Cuốn Mười ngày của Giovanni Boccaccio (1313-1375) đã để lại ấn tượng lớn đối với cá nhân tôi. Trong tác phẩm này, vốn là khởi điểm của những truyền thống tự sự của văn chương Italia và châu Âu, mười người trẻ- bảy phụ nữ và ba đàn ông- lần lượt kể chuyện trong mười ngày. Ở tuổi 16, tôi gần như tin rằng Boccacio, khi hình dung về những người kể chuyện của mình, đã chủ định chọn hầu hết là vai nữ. Và đây là nhà văn vĩ đại, cha đẻ của chuyện kể hiện đại, người đã xây dựng đến bảy người kể chuyện nữ. Có điều gì đó rất đáng để hy vọng.

Chỉ đến sau này tôi mới phát hiện được, rằng dẫu trong thế giới hư cấu của Mười ngày, Boccaccio hào phóng với phụ nữ bao nhiêu thì trong thế giới thực, mọi chuyện rất khác – và điều này vẫn đang tiếp diễn. Chúng tôi, những người phụ nữ, bị gạt ra ngoại biên, mang địa vị phụ thuộc, kể cả trong tác phẩm văn chương. Đó là một thực tế: Các thư viện và văn khố thuộc mọi thể loại đều chỉ để bảo lưu tư tưởng và hành động của những người đàn ông nổi bật với số lượng rất thiếu cân đối. Trong khi đó, để kiến tạo một phả hệ có sức thuyết phục về chính chúng tôi, một phả hệ của phụ nữ, đó là một nhiệm vụ đòi hỏi sự tinh tế và nhọc nhằn.

Nếu mọi chuyện trở nên khác đi, liệu chúng tôi có thể làm được điều gì tốt hơn nam giới? Cuối cùng thì có phải chúng tôi tốt hơn họ? Khi còn trẻ, tôi nghĩ thế, nhưng nay tôi không biết nữa.

Tôi muốn tránh mọi sự lý tưởng hóa. Theo tôi, không hẳn là tốt cho mục đích của chúng ta nếu cứ cố tưởng tượng mọi phụ nữ đều đáng trọng, đều tốt từ trong bản chất, cực kỳ thông minh, can đảm, không có khiếm khuyết nào và trên hết, không còn là người đồng lõa với nam giới.

Sự đồng lõa lan rộng của chúng ta trên thực tế là vấn đề nghiêm trọng. Quyền lực vẫn nằm chắc trong tay nam giới và nếu trong những xã hội với truyền thống dân chủ chắc chắn, chúng ta thường xuyên hơn được đặt vào vị trí của người có quyền thì đó là vì chúng ta cho thấy mình đã nội tại hóa phương pháp của nam giới trong cách đối diện và giải quyết các vấn đề. Hệ quả là, chúng ta cũng thường xuyên đi đến chỗ chứng minh mình là những kẻ ngầm bằng lòng, vâng lời và đáp ứng đúng những mong đợi của đàn ông mà thôi.

Giả sử có một phụ nữ tìm được con đường để đi vào những cấu trúc quyền lực với một tư duy chính trị không theo quy phạm có thể bẻ gãy những luật lệ cả thành văn lẫn bất thành văn, ta có thể nói gì? Thực chất là người phụ nữ ấy chỉ có thể thành công nếu những cách thức bất quy phạm của mình vẫn thích nghi được với văn hóa quyền lực theo truyền thống nam giới. Thế thì tại sao phải giành phần thắng? Chỉ để thỏa mãn khoái cảm chiến thắng thôi sao?

Tôi chưa từng bao giờ cảm thấy tự mãn với công thức tu từ theo kiểu “Cuối cùng, cũng có một nữ tổng thống” – một thủ tướng, một người đoạt giải Nobel hay bất cứ một vị trí đứng đầu nào trong hệ thống thứ bậc chính trị hay văn hóa hiện thời. Câu hỏi cần được đặt ra đúng hơn là: Trong nền văn hóa nào, trong hệ thống quyền lực nào mà phụ nữ vươn lên vị trí đứng đầu như thế?

Những thay đổi cấp thiết vẫn đang diễn tiến. Mọi thứ rồi sẽ trở thành cái gì khác nữa. Một quan điểm hoàn toàn mới là điều cần phải hình thành. Thách thức đặt ra lúc này và cho tương lai có thể nhìn thấy trước ấy là làm sao để phụ nữ chúng ta có thể rút ra được từ những gì mà đàn ông đã sắp đặt, xây dựng và điều hành: một hành tinh đã từ lâu đứng trên vực thảm họa.

Nhưng bằng cách nào? Có lẽ giờ đây là lúc để chúng ta đặt cược vào một nhãn quan nữ giới về quyền lực – một nhãn quan đã được hình thành và có hiệu lực nhờ sức mạnh của những thành tựu của chúng ta ở mọi lĩnh vực. Tình trạng biệt lệ của chúng ta vốn là tình trạng biệt lệ của những bộ phận thiểu số. Đàn ông có thể đồng ý thừa nhận chúng ta một số phương diện nào đó với một thái độ bề trên pha chút khôi hài vì vẫn còn quá ít những phụ nữ độc lập thực sự không chịu khuôn mình vào địa vị phụ thuộc và chịu chấp nhận trước những lời đánh giá hời hợt kiểu như, “Em rất hay, cứ như thể em là đàn ông vậy!”

Song mọi thứ đang đổi thay rất nhanh. Những thành tựu của phụ nữ ngày một gia tăng và đa dạng hơn. Chúng ta không nhất thiết lúc nào cũng phải chứng tỏ mình mặc nhận và đồng lõa với đàn ông để tận hưởng những mẩu vụn mà hệ thống quyền lực của nam giới ban phát. Quyền lực chúng ta mong muốn phải là thứ quyền lực vững vàng và chủ động để có thể hành động mà không cần đến phê chuẩn của đàn ông nói chung.

Bảy người kể chuyện nữ của Mười ngày cũng không bao giờ nên dựa lại vào một Giovanni Boccacio vĩ đại để thể hiện mình nữa. Cùng với vô số độc giả nữ của mình (thậm chí Boccacio hồi đó cũng biết đàn ông có những thứ khác để làm và đọc rất ít), họ biết làm thế nào để mô tả thế giới bằng những cách thức bất ngờ. Câu chuyện của phụ nữ, được kể với một kỹ năng ngày một nhuần nhị, không ngừng được lan tỏa và chẳng cần phải tìm cách biện hộ, là thứ giờ đây đang nắm lấy quyền lực.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Elena Ferrante, “A Power of Our Own”, bản dịch tiếng Anh của Ann Goldstein, https://www.nytimes.com/2019/05/17/opinion/elena-ferrante-on-women-power.html

 

Huyền thoại và giải huyền thoại

Tôi sẽ cố gắng dành thời gian để dịch các thuật ngữ văn học và nghiên cứu văn hóa trên blog cá nhân của mình.

Hai mục từ dưới đây được dịch để hỗ trợ dự án “Những huyền thoại” mà tôi làm cùng với các bạn trẻ sinh hoạt trong nhóm đọc sách – “Nhóm thứ 6” – một hoạt động do Sakedemy tổ chức. Càng làm, càng thấy dự án liên quan đến nhiều thuật ngữ. Đây là hai thuật ngữ then chốt trong dự án này.

andy-warhol-monroe

*

HUYỀN THOẠI (MYTH)

Huyền thoại là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong phê bình văn học, đặc biệt trong những giải thích theo khuynh hướng phê bình lịch sử về những huyền thoại mà các nhà văn thường khai thác và trong những miêu tả của phê bình cổ mẫu về những cách thức qua đó những hình ảnh, kiểu nhân vật và mô hình tự sự phổ biến tái diễn xuyên suốt sự phát triển của văn học. Northrop Frye coi huyền thoại như là nền móng cấu trúc của văn học và phân tích phương thức tu từ của huyền thoại – một cách tiếp cận gần gũi với cách Tzvetan Todorov phân tích ngữ pháp của biểu đạt thi ca. Còn có nhiều cách sử dụng khái niệm huyền thoại theo lối phi văn chương, có lẽ nổi bật hơn cả là cách của Claude-Levi Strauss trong nghiên cứu của ông về hệ huyền thoại của thổ dân da đỏ châu Mỹ theo phương pháp cấu trúc luận.

Theo nghĩa thông thường nhất, một huyền thoại là một câu chuyện về một thần linh hay một thực thể siêu nhiên nào khác; đôi khi nó liên quan đến một con người được phong thánh hoặc một kẻ trị vì có dòng dõi thiêng liêng. Tập hợp những huyền thoại truyền thống trong một nền văn hóa cụ thể tạo nên một hệ huyền thoại minh họa hoặc giải thích nguồn cội của thế giới, tại sao thế giới từng như thế này hay thế khác, nó đã biến đổi làm sao và tại sao có những sự việc nào đó xảy ra. Mỗi huyền thoại đều đảm nhiệm chức năng mô tả hay giải thích bằng cách quy chiếu về những ý nghĩ, ham muốn và hành động của thần linh hay nhưng thực thể siêu nhiên khác. Từ những câu chuyện về tổ tiên hay huyền thoại, con người thuộc một nền văn hóa hay một xã hội cụ thể học được cách mình phải sống như thế nào và những ý nghĩa gì được gắn cho cuộc đời của họ.

Bởi vì nhiều nhà văn sử dụng những chuyện cũ hay những huyền thoại từ nền văn hóa của mình hay nền văn hóa khác, nên phê bình đã rất cố gắng để nhận diện những hiện tượng trở đi trở lại này và lý giải những phương thức mà chúng hoạt động trong tác phẩm văn học. Có khi huyền thoại xuất hiện trong văn học chỉ đơn thuần như một câu chuyện được dội về mạnh mẽ; lại có khi chúng chỉ cung cấp một âm bội có tính trang sức. Tuy nhiên, như trong nghĩa từ nguyên trong tiếng Hy Lạp, mythos (vốn có nghĩa là cốt truyện, chuyện kể, trần thuật), huyền thoại là bản thân cấu trúc tự sự của tác phẩm văn chương.

Từ góc độ phê bình cổ mẫu, các huyền thoại là nguyên tắc cấu trúc của văn học làm cho hoạt động giao tiếp bằng lời và ý nghĩa của tự sự/truyện kể trở thành khả thi và khả hữu. Dựa vào mối quan tâm của nhân học văn hóa về nghi lễ và mối quan tâm của tâm lý học phân tích đến những giấc mơ, phê bình văn học xem huyền thoại như là thể hợp nhất của nghi lễ và giấc mơ trong hình thức ngôn từ mà nếu không có nó, cả hai yếu tố này vẫn cứ ở trong tình trạng không thể diễn tả rõ ràng. Nghi lễ không thể giải thích cho chính nó còn giấc mơ chỉ là một tập hợp những quy chiếu được mã hóa về đời sống của kẻ nằm mơ. Việc ngôn từ hóa huyền thoại cấp ý nghĩa cho nghi lễ và hình thức tự sự cho giấc mơ, do đó làm cho giao tiếp xã hội trở thành khả thể.

Trong thế giới của huyền thoại, nhà văn tìm được một nhà kho trừu tượng hay mang tính văn chương thuần túy của những mô hình hư cấu và đề tài không chịu ảnh hưởng bởi những điển phạm về sự mô phỏng đáng tin những kinh nghiệm thông thường của con người. Huyền thoại cấp cho nhà văn một thế giới của ẩn dụ tổng thể trong đó mọi thứ đều có thể đồng thời là tất cả những thứ khác. Khi nhà văn rời khỏi việc sử dụng trực tiếp huyền thoại, những tác phẩm đậm hiện thực hơn sẽ xuất hiện.

Một khái niệm hoàn toàn khác về hiện thực được Roland Barthes đưa ra trong cuốn “Những huyền thoại” (1957), trong đó, ông xem xét các “huyền thoại” hay các tạo tác văn hóa của văn hóa đại chúng Pháp, bao gồm sự viết lách, thể thao, phim ảnh, quảng cáo, thức ăn. Coi ngôn ngữ không phải như một phương tiện giao tiếp trong suốt mà như một phương tiện tạo ra sự trấn áp bởi giai cấp tư sản, Barthes đã lập luận để thấy ngôn ngữ củng cố một ý thức hệ nhất định. Nghiên cứu một loạt những văn bản khác nhau, Barthes đã đề nghị một lối đọc “nghịch lý” (paradoxical), theo đó, người đọc phải đi tìm ý nghĩa “huyền thoại” hay mới mẻ xung đột với logic bề mặt của ngôn ngữ một văn bản. Người đọc phải phá bỏ những giá trị xã hội truyền thống có vẻ như là “tự nhiên” và phải lấy lại những quan điểm mang tính đa nguyên hơn.

ALVIN A. LEE

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Encyclopedia of Contemporary Literary Theory – Approaches, Scholars and Terms, do Irena M. Makaryk chủ biên, University of Toronto Press, 1995, trang 596-7

*

GIẢI HUYỀN THOẠI (DEMYTHOLOGIZING)

Được gợi ý từ những học giả theo đường lối cánh tả tại Pháp và trường phái Frankfurt, các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa duy vật văn hóa đã nêu lên luận điểm, theo đó, trong xã hội có một khuynh hướng cho rằng có những thứ mang bản chất cố hữu, tự nhiên, “theo cách chúng vốn vậy”, và được hiểu như những mặc định, mà không thừa nhận tính “tự nhiên” ấy thực tế là một tạo tác hoặc là một quá trình của ý thức hệ văn hóa, phụ thuộc vào tập quán xã hội. Dù với lý do đi nào đi nữa (và những nhà Marxist, những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thần bí hóa” [mystification], đã mặc định rằng những lý do này được gắn kết với chủ nghĩa tư bản), văn hóa vẫn cứ muốn hình dung một sự vật, hoạt động hay quá trình nào đó là cái gì đó mang tính tự nhiên hơn là mang tính văn hóa và thần bí hóa nó lên. Hơn thế, những gì được huyền thoại hóa lại thường chiếu theo những quan điểm nhân văn – duy lý về các giá trị tuyệt đối, các nền văn hóa bao trùm và những bản ngã thống nhất, ổn định – những thứ mà Jacques Derrida gọi là “cái được biểu đạt siêu nghiệm” và Paul de Man gọi là “những biểu tượng tự huyền thoại hóa” dựa trên những ý niệm mạch lạc về Thượng đế, bản ngã và ngôn từ. Trên thực tế, các huyền thoại trong Kinh Thánh nằm trong số những đối tượng đầu tiên bị xem xét dưới cái nhìn của một học giả người Đức, Rudolf Bultmann, người sử dụng thuật ngữ Entmythologisierung (giải huyền thoại) để chỉ quá trình thông diễn học mà qua đó, các diễn dịch quy phạm về Thiên Chúa giáo có thể được định giá lại theo những phạm trù hiện sinh. Do đó, một trong những nhiệm vụ của các nhà nhân học, ký hiệu học và chủ nghĩa duy vật văn hóa là khám phá những cách thức mà ý nghĩa được cấu trúc và thể hiện trong một nền văn hóa cụ thể, xem xét cách mà các ký hiệu lan khắp mọi bình diện của đời sống và chứng minh xem làm thế nào mà những ký hiệu này có thể được coi là những sáng chế văn hóa hay những huyền thoại và hệ quả là, chúng có thể được “giải huyền thoại”, “giải thần bí” như thế nào.

Những cặp khái niệm như văn hóa/tự nhiên, huyền thoại hóa/ giải huyền thoại hóa (thần bí hóa), vốn liên hệ với nhau ràng rịt, đã được một số học giả xem xét kỹ lưỡng, trong đó có Claude Lévi-Strauss, người coi các cặp đối lập này như là bộ phận của một cấu trúc quan hệ hay hệ thống những khác biệt và khám phá tầm quan trọng phổ biến của chúng, phân loại chúng và đánh giá những kết hợp tượng trưng của chúng bên trong hệ thống ấy.

Có lẽ nhà giải huyền thoại gây ảnh hưởng lớn nhất là Roland Barthes, người nhận thấy ngôn ngữ là một phương tiện xã hội mà giai cấp tư sản sử dụng để tạo ra sự trấn áp và tha hóa hơn là một công cụ để tự biểu đạt và giao tiếp. Cho rằng ngôn ngữ duy trì cấu trúc của quyền lực trong một khoảng thời gian không xác định và hệ quả là, nó giúp củng cố một ý thức hệ nhất định, ông nêu lên quan điểm: nhiệm vụ của nhà phân tích là phải đưa ra được một lối đọc đối lập với lịch sử và văn hóa, từ đó, phơi bày quá trình sản xuất ý nghĩa, phê phán những huyền thoại văn hóa, “phá bỏ” (unlearn) những giá trị văn hóa chính thống, thiết lập những quan điểm mang tính đa nguyên hơn. Mặc dù ở mức độ nào đó, tất cả các công trình của ông đều theo đuổi nhiệm vụ này nhưng hai tác phẩm sớm nhất của ông dành cho nó là “Độ không của lối viết” (1953) và “Những huyền thoại” (1957). Trong cuốn đầu, ông bàn về lối viết tư sản hay lối viết cổ điển của văn chương Pháp từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX. Tính khả đoán của lối viết này khiến nó trở nên dễ đọc hay, nói như Barthes, làm nó có vẻ “tự nhiên”. Việc giải tính tự nhiên của nó bằng việc nghiên cứu xem lối viết này được tạo ra thế nào sẽ làm suy giảm quyền năng vốn có và sự kiểm soát của nó. Ở cuốn sách thứ hai, ông quan sát những loại huyền thoại xã hội trong văn hóa đại chúng (mà lối viết là một huyền thoại trong đó) để giải mã phương thức mà chúng tác động lên con người. Huyền thoại này bao gồm thể thao, phim ảnh, thức ăn đồ uống, quảng cáo, xe ô tô, nhiếp ảnh và nhiều thứ khác – tất cả đều không phải là những sản phẩm phụ ngây thơ của nền văn hóa chúng ta mà là những cách thức nhờ đó ý thức hệ thống trị tự khẳng định nó.

Jacques Derrida đã khám phá hệ thống ngôn ngữ, cách lập luận và logic để giải huyền thoại hay giải cấu trúc các thực hành văn hóa và các niềm tin. Theo ông, nói chung, các niềm tin của văn hóa phương Tây thường chụm quanh những khái niệm siêu nghiệm nguyên thủy mà ông gọi là tinh thần trung tâm luận (logocentric), chẳng hạn một lời nói nào đó được xem là tối hậu, sự hiện diện (presence), trung tâm, cội nguồn cố định, chân lý hay hiện thực. Để giải huyền thoại chúng, ông xem xét một số văn bản quan trọng đã tạo nên siêu hình học phương Tây, gồm có “Phaedrus” của Plato, “Bài giảng ngôn ngữ học đại cương” của Ferdinand de Saussure, “Sống và Chín” của Lévi- Strauss. Bằng việc thẩm định lại nhưng giả định được xem là vững chắc của chúng, những cấu trúc mạch lạc và giá trị nền tảng của chúng, ông phát hiện ra những khoảnh khắc khó xử mà ở đó các văn bản lộ ra những khiếm khuyết, những điểm yếu của mình; ông nhận thấy chính những nứt rạn, đứt gãy của chúng và mở chúng ra cho những diễn giải mới. Ông cho rằng những văn bản và những quan niệm này thực ra không nhất quán mà đúng hơn, chúng bao hàm nhiều điểm tự mâu thuẫn, những đối chọi không được nhận thấy, những nhận định xung đột lẫn nhau. Derrida gợi ý: mọi thứ đều tự mâu thuẫn và tự bất đồng (différence), bởi thế sẽ không bao giờ chịu đầu hàng trước một kết luận đơn nhất và được xã hội chấp nhận.; cái ý nghĩa cuối cùng, giả sử nó có tồn tại, sẽ là thứ luôn bị trì hoãn vĩnh viễn (différance).

Giống như Barthes và Derrida, Michel Foucault cũng mạo hiểm đi vào địa hạt ngôn ngữ và các thực hành biểu nghĩa trong xã hội để khám phá những gì cấu thành nên tri thức, ai kiểm soát nó, nó được mã hóa thế nào, ý thức hệ cất giấu nó ở đâu trong các diễn ngôn và thực hành diễn ngôn. Vai trò của ông và những người khác khi khám phá quan hệ của ngôn ngữ và ý thức hệ văn hóa là phát hiện phả hệ (cội rễ) của những mục đích, những nguyên lý văn hóa được đóng vào ngôn ngữ và giải trung tâm chúng. Vì “ham muốn và quyền lực” lúc nào cũng dính chặt vào diễn ngôn nên giải huyền thoại luôn là việc khó khăn, song những khó khăn có thể vượt qua được một phần bằng việc chấp nhận tính võ đoán của ngôn ngữ và tất cả các quy phạm xã hội. Tất cả các phương thức diễn ngôn đều là kiến tạo văn hóa, đều được hệ thống hóa, đưa vào trật tự và trao chức năng cũng như giá trị trong một nền văn hóa và thời đại cụ thể.

Mặc dù Jacques Lacan được biết đến nhiều hơn về sự “trở lại” với Freud hơn là những phát biểu của ông về giải huyền thoại song phân tích của ông về sự phát triển nhân cách phụ thuộc vào một khái niệm về bản ngã được cấu trúc theo những hình ảnh về kẻ khác. Quan điểm của Lacan là khi những hình ảnh này cũng như văn hóa thay đổi thì bản ngã cũng sẽ thay đổi. Khi một đứa bé bước vào giai đoạn hậu-gương (post-mirror) lúc khoảng 18 tháng và gia nhập Luật của Người Cha [Law-of-the-Father] (những mã xã hội và ngôn ngữ cấu thành nên một xã hội cụ thể), nó nhận ra sự cần thiết của việc phải thích nghi với những điều kiện và hệ hình biến đổi. Bản ngã, bởi vậy, luôn liên tục lưu chuyển. Đối với Lacan, qquan điểm về một bản ngã nhất quán, siêu nghiệm là một huyền thoại; chủ thể bị tự phân chia, bị tách giữa một bên là ước muốn về cái toàn thể (cái Tưởng tượng [Imaginary]) và một bên là thực tại phân mảnh (cái Tượng trưng [Symbolic]); hệ quả là, nó cũng võ đoán, cũng tùy tiện như các chuẩn mực và thiết chế văn hóa khác. Tuy nhiên, bởi văn hóa gắn chặt với nhãn quan về một bản ngã siêu nghiệm, mạch lạc, thống nhất nên quan điểm ấy cũng cần bị giải huyền thoại.

Huyền thoại, như thế, bao trùm khía cạnh của hiện sinh, bao gồm ngôn ngữ, các quan niệm về bản ngã, các khuôn mẫu và thiết chế văn hóa. Theo các nhà cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận, tất cả đều cần được giải thần bí hóa và được xem là võ đoán và được cấu thành trong những điều kiện đặc thù của một xã hội cụ thể tại một thời điểm nhất định. Một số nhà phê bình, tuy vậy, lại thấy khái niệm võ đoán tự nó cũng võ đoán. Chủ nghĩa tương đối luận nằm dưới quá trình giải huyền thoại không hấp dẫn cũng không dễ chấp nhận đối với những ai tin vào những giá trị vĩnh viễn hay nhu cầu về những kiến tạo văn hóa có tính thống nhất.

GORDON E. SLETHAUG

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Encyclopedia of Contemporary Literary Theory – Approaches, Scholars and Terms, do Irena M. Makaryk chủ biên, University of Toronto Press, 1995, trang 529-530