Huyền thoại và giải huyền thoại

Tôi sẽ cố gắng dành thời gian để dịch các thuật ngữ văn học và nghiên cứu văn hóa trên blog cá nhân của mình.

Hai mục từ dưới đây được dịch để hỗ trợ dự án “Những huyền thoại” mà tôi làm cùng với các bạn trẻ sinh hoạt trong nhóm đọc sách – “Nhóm thứ 6” – một hoạt động do Sakedemy tổ chức. Càng làm, càng thấy dự án liên quan đến nhiều thuật ngữ. Đây là hai thuật ngữ then chốt trong dự án này.

andy-warhol-monroe

*

HUYỀN THOẠI (MYTH)

Huyền thoại là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong phê bình văn học, đặc biệt trong những giải thích theo khuynh hướng phê bình lịch sử về những huyền thoại mà các nhà văn thường khai thác và trong những miêu tả của phê bình cổ mẫu về những cách thức qua đó những hình ảnh, kiểu nhân vật và mô hình tự sự phổ biến tái diễn xuyên suốt sự phát triển của văn học. Northrop Frye coi huyền thoại như là nền móng cấu trúc của văn học và phân tích phương thức tu từ của huyền thoại – một cách tiếp cận gần gũi với cách Tzvetan Todorov phân tích ngữ pháp của biểu đạt thi ca. Còn có nhiều cách sử dụng khái niệm huyền thoại theo lối phi văn chương, có lẽ nổi bật hơn cả là cách của Claude-Levi Strauss trong nghiên cứu của ông về hệ huyền thoại của thổ dân da đỏ châu Mỹ theo phương pháp cấu trúc luận.

Theo nghĩa thông thường nhất, một huyền thoại là một câu chuyện về một thần linh hay một thực thể siêu nhiên nào khác; đôi khi nó liên quan đến một con người được phong thánh hoặc một kẻ trị vì có dòng dõi thiêng liêng. Tập hợp những huyền thoại truyền thống trong một nền văn hóa cụ thể tạo nên một hệ huyền thoại minh họa hoặc giải thích nguồn cội của thế giới, tại sao thế giới từng như thế này hay thế khác, nó đã biến đổi làm sao và tại sao có những sự việc nào đó xảy ra. Mỗi huyền thoại đều đảm nhiệm chức năng mô tả hay giải thích bằng cách quy chiếu về những ý nghĩ, ham muốn và hành động của thần linh hay nhưng thực thể siêu nhiên khác. Từ những câu chuyện về tổ tiên hay huyền thoại, con người thuộc một nền văn hóa hay một xã hội cụ thể học được cách mình phải sống như thế nào và những ý nghĩa gì được gắn cho cuộc đời của họ.

Bởi vì nhiều nhà văn sử dụng những chuyện cũ hay những huyền thoại từ nền văn hóa của mình hay nền văn hóa khác, nên phê bình đã rất cố gắng để nhận diện những hiện tượng trở đi trở lại này và lý giải những phương thức mà chúng hoạt động trong tác phẩm văn học. Có khi huyền thoại xuất hiện trong văn học chỉ đơn thuần như một câu chuyện được dội về mạnh mẽ; lại có khi chúng chỉ cung cấp một âm bội có tính trang sức. Tuy nhiên, như trong nghĩa từ nguyên trong tiếng Hy Lạp, mythos (vốn có nghĩa là cốt truyện, chuyện kể, trần thuật), huyền thoại là bản thân cấu trúc tự sự của tác phẩm văn chương.

Từ góc độ phê bình cổ mẫu, các huyền thoại là nguyên tắc cấu trúc của văn học làm cho hoạt động giao tiếp bằng lời và ý nghĩa của tự sự/truyện kể trở thành khả thi và khả hữu. Dựa vào mối quan tâm của nhân học văn hóa về nghi lễ và mối quan tâm của tâm lý học phân tích đến những giấc mơ, phê bình văn học xem huyền thoại như là thể hợp nhất của nghi lễ và giấc mơ trong hình thức ngôn từ mà nếu không có nó, cả hai yếu tố này vẫn cứ ở trong tình trạng không thể diễn tả rõ ràng. Nghi lễ không thể giải thích cho chính nó còn giấc mơ chỉ là một tập hợp những quy chiếu được mã hóa về đời sống của kẻ nằm mơ. Việc ngôn từ hóa huyền thoại cấp ý nghĩa cho nghi lễ và hình thức tự sự cho giấc mơ, do đó làm cho giao tiếp xã hội trở thành khả thể.

Trong thế giới của huyền thoại, nhà văn tìm được một nhà kho trừu tượng hay mang tính văn chương thuần túy của những mô hình hư cấu và đề tài không chịu ảnh hưởng bởi những điển phạm về sự mô phỏng đáng tin những kinh nghiệm thông thường của con người. Huyền thoại cấp cho nhà văn một thế giới của ẩn dụ tổng thể trong đó mọi thứ đều có thể đồng thời là tất cả những thứ khác. Khi nhà văn rời khỏi việc sử dụng trực tiếp huyền thoại, những tác phẩm đậm hiện thực hơn sẽ xuất hiện.

Một khái niệm hoàn toàn khác về hiện thực được Roland Barthes đưa ra trong cuốn “Những huyền thoại” (1957), trong đó, ông xem xét các “huyền thoại” hay các tạo tác văn hóa của văn hóa đại chúng Pháp, bao gồm sự viết lách, thể thao, phim ảnh, quảng cáo, thức ăn. Coi ngôn ngữ không phải như một phương tiện giao tiếp trong suốt mà như một phương tiện tạo ra sự trấn áp bởi giai cấp tư sản, Barthes đã lập luận để thấy ngôn ngữ củng cố một ý thức hệ nhất định. Nghiên cứu một loạt những văn bản khác nhau, Barthes đã đề nghị một lối đọc “nghịch lý” (paradoxical), theo đó, người đọc phải đi tìm ý nghĩa “huyền thoại” hay mới mẻ xung đột với logic bề mặt của ngôn ngữ một văn bản. Người đọc phải phá bỏ những giá trị xã hội truyền thống có vẻ như là “tự nhiên” và phải lấy lại những quan điểm mang tính đa nguyên hơn.

ALVIN A. LEE

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Encyclopedia of Contemporary Literary Theory – Approaches, Scholars and Terms, do Irena M. Makaryk chủ biên, University of Toronto Press, 1995, trang 596-7

*

GIẢI HUYỀN THOẠI (DEMYTHOLOGIZING)

Được gợi ý từ những học giả theo đường lối cánh tả tại Pháp và trường phái Frankfurt, các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa duy vật văn hóa đã nêu lên luận điểm, theo đó, trong xã hội có một khuynh hướng cho rằng có những thứ mang bản chất cố hữu, tự nhiên, “theo cách chúng vốn vậy”, và được hiểu như những mặc định, mà không thừa nhận tính “tự nhiên” ấy thực tế là một tạo tác hoặc là một quá trình của ý thức hệ văn hóa, phụ thuộc vào tập quán xã hội. Dù với lý do đi nào đi nữa (và những nhà Marxist, những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thần bí hóa” [mystification], đã mặc định rằng những lý do này được gắn kết với chủ nghĩa tư bản), văn hóa vẫn cứ muốn hình dung một sự vật, hoạt động hay quá trình nào đó là cái gì đó mang tính tự nhiên hơn là mang tính văn hóa và thần bí hóa nó lên. Hơn thế, những gì được huyền thoại hóa lại thường chiếu theo những quan điểm nhân văn – duy lý về các giá trị tuyệt đối, các nền văn hóa bao trùm và những bản ngã thống nhất, ổn định – những thứ mà Jacques Derrida gọi là “cái được biểu đạt siêu nghiệm” và Paul de Man gọi là “những biểu tượng tự huyền thoại hóa” dựa trên những ý niệm mạch lạc về Thượng đế, bản ngã và ngôn từ. Trên thực tế, các huyền thoại trong Kinh Thánh nằm trong số những đối tượng đầu tiên bị xem xét dưới cái nhìn của một học giả người Đức, Rudolf Bultmann, người sử dụng thuật ngữ Entmythologisierung (giải huyền thoại) để chỉ quá trình thông diễn học mà qua đó, các diễn dịch quy phạm về Thiên Chúa giáo có thể được định giá lại theo những phạm trù hiện sinh. Do đó, một trong những nhiệm vụ của các nhà nhân học, ký hiệu học và chủ nghĩa duy vật văn hóa là khám phá những cách thức mà ý nghĩa được cấu trúc và thể hiện trong một nền văn hóa cụ thể, xem xét cách mà các ký hiệu lan khắp mọi bình diện của đời sống và chứng minh xem làm thế nào mà những ký hiệu này có thể được coi là những sáng chế văn hóa hay những huyền thoại và hệ quả là, chúng có thể được “giải huyền thoại”, “giải thần bí” như thế nào.

Những cặp khái niệm như văn hóa/tự nhiên, huyền thoại hóa/ giải huyền thoại hóa (thần bí hóa), vốn liên hệ với nhau ràng rịt, đã được một số học giả xem xét kỹ lưỡng, trong đó có Claude Lévi-Strauss, người coi các cặp đối lập này như là bộ phận của một cấu trúc quan hệ hay hệ thống những khác biệt và khám phá tầm quan trọng phổ biến của chúng, phân loại chúng và đánh giá những kết hợp tượng trưng của chúng bên trong hệ thống ấy.

Có lẽ nhà giải huyền thoại gây ảnh hưởng lớn nhất là Roland Barthes, người nhận thấy ngôn ngữ là một phương tiện xã hội mà giai cấp tư sản sử dụng để tạo ra sự trấn áp và tha hóa hơn là một công cụ để tự biểu đạt và giao tiếp. Cho rằng ngôn ngữ duy trì cấu trúc của quyền lực trong một khoảng thời gian không xác định và hệ quả là, nó giúp củng cố một ý thức hệ nhất định, ông nêu lên quan điểm: nhiệm vụ của nhà phân tích là phải đưa ra được một lối đọc đối lập với lịch sử và văn hóa, từ đó, phơi bày quá trình sản xuất ý nghĩa, phê phán những huyền thoại văn hóa, “phá bỏ” (unlearn) những giá trị văn hóa chính thống, thiết lập những quan điểm mang tính đa nguyên hơn. Mặc dù ở mức độ nào đó, tất cả các công trình của ông đều theo đuổi nhiệm vụ này nhưng hai tác phẩm sớm nhất của ông dành cho nó là “Độ không của lối viết” (1953) và “Những huyền thoại” (1957). Trong cuốn đầu, ông bàn về lối viết tư sản hay lối viết cổ điển của văn chương Pháp từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX. Tính khả đoán của lối viết này khiến nó trở nên dễ đọc hay, nói như Barthes, làm nó có vẻ “tự nhiên”. Việc giải tính tự nhiên của nó bằng việc nghiên cứu xem lối viết này được tạo ra thế nào sẽ làm suy giảm quyền năng vốn có và sự kiểm soát của nó. Ở cuốn sách thứ hai, ông quan sát những loại huyền thoại xã hội trong văn hóa đại chúng (mà lối viết là một huyền thoại trong đó) để giải mã phương thức mà chúng tác động lên con người. Huyền thoại này bao gồm thể thao, phim ảnh, thức ăn đồ uống, quảng cáo, xe ô tô, nhiếp ảnh và nhiều thứ khác – tất cả đều không phải là những sản phẩm phụ ngây thơ của nền văn hóa chúng ta mà là những cách thức nhờ đó ý thức hệ thống trị tự khẳng định nó.

Jacques Derrida đã khám phá hệ thống ngôn ngữ, cách lập luận và logic để giải huyền thoại hay giải cấu trúc các thực hành văn hóa và các niềm tin. Theo ông, nói chung, các niềm tin của văn hóa phương Tây thường chụm quanh những khái niệm siêu nghiệm nguyên thủy mà ông gọi là tinh thần trung tâm luận (logocentric), chẳng hạn một lời nói nào đó được xem là tối hậu, sự hiện diện (presence), trung tâm, cội nguồn cố định, chân lý hay hiện thực. Để giải huyền thoại chúng, ông xem xét một số văn bản quan trọng đã tạo nên siêu hình học phương Tây, gồm có “Phaedrus” của Plato, “Bài giảng ngôn ngữ học đại cương” của Ferdinand de Saussure, “Sống và Chín” của Lévi- Strauss. Bằng việc thẩm định lại nhưng giả định được xem là vững chắc của chúng, những cấu trúc mạch lạc và giá trị nền tảng của chúng, ông phát hiện ra những khoảnh khắc khó xử mà ở đó các văn bản lộ ra những khiếm khuyết, những điểm yếu của mình; ông nhận thấy chính những nứt rạn, đứt gãy của chúng và mở chúng ra cho những diễn giải mới. Ông cho rằng những văn bản và những quan niệm này thực ra không nhất quán mà đúng hơn, chúng bao hàm nhiều điểm tự mâu thuẫn, những đối chọi không được nhận thấy, những nhận định xung đột lẫn nhau. Derrida gợi ý: mọi thứ đều tự mâu thuẫn và tự bất đồng (différence), bởi thế sẽ không bao giờ chịu đầu hàng trước một kết luận đơn nhất và được xã hội chấp nhận.; cái ý nghĩa cuối cùng, giả sử nó có tồn tại, sẽ là thứ luôn bị trì hoãn vĩnh viễn (différance).

Giống như Barthes và Derrida, Michel Foucault cũng mạo hiểm đi vào địa hạt ngôn ngữ và các thực hành biểu nghĩa trong xã hội để khám phá những gì cấu thành nên tri thức, ai kiểm soát nó, nó được mã hóa thế nào, ý thức hệ cất giấu nó ở đâu trong các diễn ngôn và thực hành diễn ngôn. Vai trò của ông và những người khác khi khám phá quan hệ của ngôn ngữ và ý thức hệ văn hóa là phát hiện phả hệ (cội rễ) của những mục đích, những nguyên lý văn hóa được đóng vào ngôn ngữ và giải trung tâm chúng. Vì “ham muốn và quyền lực” lúc nào cũng dính chặt vào diễn ngôn nên giải huyền thoại luôn là việc khó khăn, song những khó khăn có thể vượt qua được một phần bằng việc chấp nhận tính võ đoán của ngôn ngữ và tất cả các quy phạm xã hội. Tất cả các phương thức diễn ngôn đều là kiến tạo văn hóa, đều được hệ thống hóa, đưa vào trật tự và trao chức năng cũng như giá trị trong một nền văn hóa và thời đại cụ thể.

Mặc dù Jacques Lacan được biết đến nhiều hơn về sự “trở lại” với Freud hơn là những phát biểu của ông về giải huyền thoại song phân tích của ông về sự phát triển nhân cách phụ thuộc vào một khái niệm về bản ngã được cấu trúc theo những hình ảnh về kẻ khác. Quan điểm của Lacan là khi những hình ảnh này cũng như văn hóa thay đổi thì bản ngã cũng sẽ thay đổi. Khi một đứa bé bước vào giai đoạn hậu-gương (post-mirror) lúc khoảng 18 tháng và gia nhập Luật của Người Cha [Law-of-the-Father] (những mã xã hội và ngôn ngữ cấu thành nên một xã hội cụ thể), nó nhận ra sự cần thiết của việc phải thích nghi với những điều kiện và hệ hình biến đổi. Bản ngã, bởi vậy, luôn liên tục lưu chuyển. Đối với Lacan, qquan điểm về một bản ngã nhất quán, siêu nghiệm là một huyền thoại; chủ thể bị tự phân chia, bị tách giữa một bên là ước muốn về cái toàn thể (cái Tưởng tượng [Imaginary]) và một bên là thực tại phân mảnh (cái Tượng trưng [Symbolic]); hệ quả là, nó cũng võ đoán, cũng tùy tiện như các chuẩn mực và thiết chế văn hóa khác. Tuy nhiên, bởi văn hóa gắn chặt với nhãn quan về một bản ngã siêu nghiệm, mạch lạc, thống nhất nên quan điểm ấy cũng cần bị giải huyền thoại.

Huyền thoại, như thế, bao trùm khía cạnh của hiện sinh, bao gồm ngôn ngữ, các quan niệm về bản ngã, các khuôn mẫu và thiết chế văn hóa. Theo các nhà cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận, tất cả đều cần được giải thần bí hóa và được xem là võ đoán và được cấu thành trong những điều kiện đặc thù của một xã hội cụ thể tại một thời điểm nhất định. Một số nhà phê bình, tuy vậy, lại thấy khái niệm võ đoán tự nó cũng võ đoán. Chủ nghĩa tương đối luận nằm dưới quá trình giải huyền thoại không hấp dẫn cũng không dễ chấp nhận đối với những ai tin vào những giá trị vĩnh viễn hay nhu cầu về những kiến tạo văn hóa có tính thống nhất.

GORDON E. SLETHAUG

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Encyclopedia of Contemporary Literary Theory – Approaches, Scholars and Terms, do Irena M. Makaryk chủ biên, University of Toronto Press, 1995, trang 529-530

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s