Monthly Archives: Tháng Tám 2018

Martha C. Nussbaum – “Làm người nghĩa là gì?” – Xin ngừng hỏi câu ấy!

Bài viết của Martha C. Nussbaum (1947) là một ý kiến khác trong cuộc thảo luận xung quanh câu hỏi “Làm người nghĩa là gì” trên chuyên mục Stone của The New York Times mùa hé này. Nussbaum là giáo sư tại Đại học University of Chicago Law School. Bà là tác giả của nhiều công trình gây ảnh hưởng lớn về đạo đức và giáo dục, trong đó cuốn Not for profit: why democracy needs the humanities (2010) đã được Ban tu thư Đại học Hoa Sen dịch và xuất bản dưới nhan đề Vô vị lợi: Vì sao nên dân chủ cần các môn học nhân văn (Bùi Thanh Châu dịch)

68281246-portrait-of-a-big-beautiful-elephant-outdoors-wild-animal

*

Trải theo thời gian, ý niệm “làm người” chắc chắn đã – và sẽ còn tiếp tục – nói lên nhiều điều. Chưa bao giờ chỉ có một lời đáp cho nó. Nhưng chắc chắn có một điều mà giờ đây cần được hàm chứa trong câu trả lời cho câu hỏi “Làm người nghĩa là gì?” Làm người, tức là phải mang năng lực nhận ra câu hỏi này, bản thân nó, đã là có vấn đề.

Con người chúng ta rất chuyên chú vào chính bản thân mình. Ta có xu hướng nghĩ rằng làm người, theo cách nào đó, là rất đặc biệt và quan trọng, vì vậy, ta cứ băn khoăn về nó, thay vì hỏi rằng làm một con voi, con heo hay một con chim thì nghĩa là gì. Sự thiếu vắng nỗi tò mò này thuộc về một vấn đề đạo đức rộng lớn.

Câu hỏi, “Làm người nghĩa là gì?”, không chỉ phản ánh khuynh hướng ái kỷ mà còn thể hiện một nhận thức trì trệ đáng trách cứ. Nó cũng tương tự như khi hỏi “Làm người da trắng nghĩa là gì?” Nó hàm ẩn trong đó những đặc quyền không kiếm mà có, được sử dụng để áp đặt sự thống trị và bóc lột. Song chúng ta lại thường không nhận ra điều này vì chủ nghĩa ái kỷ của chúng ta quá toàn vẹn.

Chúng ta sống chung hành tinh với hàng tỉ sinh thể có cảm giác khác và chúng đều có những cách thức phức tạp của riêng mình để tồn tại, bất kể chúng là gì. Mọi động vật trong thế giới của chúng ta, như Aristotle quan sát và nhận định từ lâu, đều cố gắng để sống sót và sinh sôi nảy nở nhiều hơn. Tất cả các loài vật này đều có khả năng tri nhận, đều có ham muốn. Và hầu hết đều di chuyển từ nơi này đến nơi khác để kiếm những gì chúng muốn và cần. Aristotle đềnghị chúng ta hãy cố gắng để tìm được một kiến giải chung về cách các loài động vật, gồm cả loài người tri nhận, ham muốn và di chuyển.

Chúng ta biết Aristotle là triết gia, song ông đồng thời cũng là một nhà sinh vật học vĩ đại, người đã nghiên cứu các loài giáp xác và những sinh vật lớn nhỏ khác. Ông khuyên học trò của mình đừng quay lưng với những loài vật trông không có vẻ lấp lánh, vì luôn có điều kỳ diệu trong tất cả các loài ấy, nhất là khía cạnh thực tế, rằng chúng đều cố gắng để đời sống được tiếp nối.

Cảm quan ngạc nhiên này, điều sẽ dẫn ta đến một mối bận tâm đạo đức đầy đủ hơn, là một phần sâu xa của nhân tín chúng ta. Nhưng nỗi ngạc nhiên đang suy giảm, loài người chúng ta giờ đây thống trị địa cầu đến nỗi chúng ta hiếm khi cảm thấy mình cần sống với những loài vật khác trong quan hệ tương hỗ.

Các loài vật được thuần hóa chiếm một vị trí ưu tiên, nhưng kể cả như thế, chúng thường bị đối xử một cách tàn nhẫn (hãy nghĩ đến những con chó hoang hay mèo hoang bị ruồng bỏ). Những trang trại lợn, gà và các loài động vật khác là một hình thức tương đối mới của sự tàn nhẫn bị che giấu. Còn đối với những sinh vật “hoang”, chúng ta có thể thấy tội ác của loài người chúng ta đã dẫn đến những hệ quả lớn đối với chúng: những tổn hại đến từ các phòng thí nghiệm sử dụng các động vật; những tác hại nhiều mặt có tính chất đặc thù từ việc giam nhốt khỉ và voi trong các vườn bách thú; sự giảm sút số lượng cá voi do việc đánh bắt bằng lao móc;  việc săn trộm voi và tê giác để thu lợi nhuận từ thị trường chợ đen quốc tế; việc buôn lậu voi bất hợp phát từ châu Phi sang các vườn bách thú ở Mỹ; sự tàn phá  môi trường sống của nhiều loài động vật có vú cỡ lớn là hệ quả từ biến đổi khí hậu. Giờ đây ước tính hoạt động của loài người đã góp phần dẫn đến sự tuyệt chủng của hơn 80 loài động vật có vú.

Nhiều vấn đề mới liên tục nảy sinh. Thế giới cần đến một cuộc cách mạng về đạo đức, một phong trào khơi dậy ý thức trên quy mô toàn cầu đúng nghĩa. Nhưng cuộc cách mạng này lại bị cản trở bởi quán tính của con người vốn xem mình luôn là trung tâm mà điều này lại nằm trong chính câu hỏi, “Làm người nghĩa là gì?”

Thay cho nó, hãy kích hoạt lại và mở rộng cảm quan ngạc nhiên của chúng ta bằng cách đặt câu hỏi: “Thế làm một con cá heo nghĩa là gì?”. Rồi hãy quan sát loài cá heo một cách tốt nhất trong khả năng của chúng ta, đọc những nghiên cứu rất hấp dẫn của các nhà khoa học như Hal WhiteheadLuke Rendell. Hãy ngẫm nghĩ về loài voi (loài vật mà cá nhân tôi yêu mến nhất), và nếu chúng ta không thể có một chuyến tham quan, hãy xem những bộ phim nói về loài voi sống đời mình một cách giản dị, thể hiện sự tận tụy với cộng đồng, niềm cảm thông, nỗi đau buồn và nhiều trạng thái phức tạp khác mà loài người chúng ta cứ nghĩ rằng chỉ riêng mình mới sở hữu.

Và hãy làm nhiều hơn nữa công việc mang tính triết học và pháp lý đối với những cách tiếp cận lý thuyết liên quan đến việc bảo vệ các loài động vật khác và phát triển mối quan hệ tương hỗ mật thiết với chúng. Chúng ta đã tập hợp được nhiều thông tin khoa học về sự phức tạp của đời sống loài vật. Giờ đã là lúc sử dụng chúng với ý thức triết học. Will KymlickaSue Donaldson đã có những công trình tuyệt vời về sự tương hỗ và gắn kết cộng đồng với các loài động vật được thuần hóa, nhưng vẫn còn nhiều việc nữa phải làm.

Trong thế giới nơi các chính sách chịu ảnh hưởng từ triết học, cách tiếp cận quan trọng có ảnh hưởng nhất về quyền động vật cho đến giờ vẫn là từ Jeremy Bentham – triết gia người Anh theo thuyết vị lợi. Nó tiếp tục được Peter Singer phát triển một cách rất thông minh và táo bạo. Cách tiếp cận này tiếp tục có một tầm quan trọng lớn vì nó tập trung vào những sự đau khổ mà loài vật chịu đựng. Nếu chúng ta chỉ cần ngừng gây ra những đau đớn vô cớ đối với loài vật, đó đã là một bước tiến rất đáng kể rồi.

Giờ đây, chúng ta đã biết loài vật cần nhiều thứ mà không phải lúc nào những thứ này cũng gây ra đau đớn cho chúng khi không được đáp ứng: cơ hội gắn kết với những con vật khác trong loài để lập nhóm; cơ hội để được hát hay rống theo những cách đặc trưng của chúng; cơ hội để sinh sản; cơ hội được di chuyển tự do qua những không gian không bị cản trở; cơ hội thỏa mãn tính tò mò và được khám phá những thứ mới. Bởi vậy, tôi tin chúng ta cũng cần một cách tiếp cận tập trung vào sự đa dạng của “những năng lực” đặc trưng hay sự đa dạng của tự do mà mỗi loài đòi hỏi để sống một đời sống trọn vẹn.

Tôi đang viết một cuốn sách trong đó sẽ sử dụng nghiên cứu trước đó của mình về “cách tiếp cận các năng lực” để xây dựng một khung đạo đức mới nhằm định hướng luật lệ và chính sách trong lĩnh vực này. Song cách của tôi chỉ là một hướng tiếp cận, nó nên và cần được thách thức bởi những hướng tiếp cận khác theo những mô hình khác. Các luật sư làm việc vì quyền lợi của động vật theo luật lệ của địa phương hay quốc tế cũng cần đến những góc tiếp cận lý thuyết sắc sảo và các triết gia nên hỗ trợ họ trong công việc của mình. Còn nhiều việc phải làm.

Vì thế, hãy nên gạt ra một bên khuynh hướng ái kỷ khi chỉ đặt câu hỏi về chính chúng ta. Hãy nỗ lực cho một thời đại mới mà việc làm người cũng có nghĩa là liên đới với những giống loài khác cũng đang chung sống với ta trên thế giới này.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Martha C. Nussbaum, “What Does It Mean to be Human? Don’t Ask”, https://www.nytimes.com/2018/08/20/opinion/what-does-it-mean-to-be-human-dont-ask.html?rref=collection%2Fcolumn%2Fthe-stone&action=click&contentCollection=opinion&region=stream&module=stream_unit&version=latest&contentPlacement=6&pgtype=collection

Bernard-Henri Lévy – Khi được sinh ra, ta đâu đã là người!

Chuyên mục “The Stone” trên The New York Time vào mùa hè năm nay đã chạy một series các bài viết thảo luận xung quanh một câu hỏi rất cũ, nhưng chưa bao giờ thôi gây băn khoăn, chất vấn: “Làm người nghĩa là gì” (“What does it mean to be human”). Chủ đề thảo luận này đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà triết học, tâm lý học, xã hội, những chuyên gia về khoa học sự sống, trí tuệ nhân tạo và cả những người làm nghệ thuật. Bài viết dưới đây là một ý kiến ngắn tham gia vào cuộc thảo luận này. Bernard-Henri Lévy là nhà triết học, nhà làm phim và đồng thời cũng là một người hoạt động xã hội người Pháp.

Tôi sẽ thu xếp để có thể dịch thêm một số bài viết rất hay, rất thách thức trong chủ đề thảo luận này.

989c584e8bc16ad9d6b034cdb863f8cd

*

Là người – nghĩa là gì? Có thể trả lời ngắn gọn câu hỏi mênh mông này dựa vào một nguyên lý cũ từng được triết gia người Đức G.W.F Hegel đề nghị – nguyên lý mà ông gán cho triết gia Baruch Spinoza: “Mọi khẳng định đều là phủ định.”

Nhưng phủ định cái gì?

Trước hết, đó là sự phủ định Thượng đế. Đầu tiên là Thượng đế – khởi nguyên của hành động vô tận. Trong truyền thống phương Tây, con người không có mục đích nào nếu không có Thượng đế. Đối với những người Công giáo, con người được sáng tạo theo hình ảnh của Chúa; đối với người Do Thái, Chúa là người thợ đầy thiện chí, sẵn sàng chìa tay giúp đỡ ta. Đối với những người vô thần (đừng quên rằng họ là những người Judeo-Christian [Do Thái-Công giáo] theo cách của họ), một phần mục đích của con người là lật đổ Thượng đế khỏi ngai vị của mình. Nếu đây chưa phải là sự phủ định hoàn toàn Thượng đế, thì ít nhất điều này cũng giới hạn quyền năng của Người, vì con người đã đi đến chỗ chiếm lĩnh không gian trước đó chỉ dành cho Thượng đế.

Khẳng định cũng là một sự phủ định đối với tự nhiên. Không ai – mà trước hết là Spinoza – sẽ phủ nhận con người là “natura naturata”, một vật giữa các vật, một thực thể tự nhiên giữa các thực thể tự nhiên, một tạo vật của thế gian được cấu tạo bởi các mô giống như những tạo vật bình thường khác. Song làm người cũng có nghĩa khao khát sự siêu vượt, muốn hướng đến cái gì đó hơn chỉ là một mảnh nhỏ của tự nhiên đơn thuần.

Sinh thời, triết gia René Descartes đã cân nhắc về sự khác biệt giữa con người và máy móc. Ngày nay, trên làn sóng của cuộc cách mạng trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, chúng ta cũng đang suy tư một câu hỏi tương tự: Làm sao phân biệt được một người thực chất với một người nhân tạo?

Một con người thực chất là một “res cogitans”, một thực thể suy tư, nói như Descartes. Là một cội nguồn của “ý hướng tính”, như triết gia Edmund Husserl từng viết. Làm người, tức là thực hiện một bước nhảy khỏi trật tự tự nhiên. Làm người đòi hỏi một sự vượt thoát, theo cách này hay cách khác, khỏi khối mênh mông của những nguyên tử, tế bào, phân từ, mà từ đó, tôi, bạn, cùng mọi thứ khác được tạo nên. Nó được phú cho một tâm hồn, thứ đóng vai trò như một tấm hộ chiếu để xuất cảnh khỏi thế giới tự nhiên để du nhập vào bản chất người, dù nó có thể là một thứ phi vật chất, không có bề mặt hay tỉ trọng, dù có thể nó là thứ vô hình tuyệt đối, không tiếp xúc được, không nhất quán.

Quá trình giải tự nhiên hóa một cách hệ thống này, niềm tin rằng một mảnh bản ngã của chúng ta có thể thoát khỏi trật tự tự nhiên của thế giới, cũng khá giống với sự sinh ra thứ hai. Tự nhiên là chặng đầu tiên của nhân tính nhưng dù thế nào đi nữa, nó không thể là chân trời của con người.

Nhưng cũng có sự sinh ra thứ ba. Làm người, dĩ nhiên, là trở thành một bộ phận của một toàn thể khác mà chúng ta gọi là xã hội. Với tất cả sự tôn trọng đối với những người theo chủ nghĩa Rousseau mà chưa thực sự đọc Jean-Jacques Rousseau, con người chưa bao giờ hoàn toàn tồn tại một mình, không có sự ràng buộc nào với một cộng đồng gồm những kẻ khác.

Song ở đây, chúng ta rất nên thận trọng. Việc sùng bái không gian xã hội, chấp nhận những câu thúc là hệ quả từ việc áp đặt những luật tắc và chuẩn mực xã hội, có thể giết chết những nỗ lực đấu tranh của con người. Đây chính là không gian trống rỗng của cái “chúng ta” mà Heidegger đã gọi tên. Đây chính là những đám đông vô danh vô diện mà Edgar Allan Poe đã tiên tri và giờ đây được tháo cũi xổ lồng tung hoành trên truyền thông xã hội.

Làm người, có nghĩa là bảo toàn bên trong mình một nơi chốn riêng tư, bí mật mà cái toàn thế lớn hơn không thể đặt chân vào, chống lại mọi hình thức của áp lực xã hội. Khi chốn trú ẩn này bị phá vỡ, máy móc, xác sống hay những kẻ mộng du chắc chắn sẽ bám theo.

Quyền năng riêng tư này, thoạt đầu, có vẻ không dễ hiểu với chúng ta. Sinh ra, ta đâu đã là người; chúng ta trở thành người. Nhân tính không phải là một hình thức của tồn tại: nó là một định mệnh. Nó không phải là một trạng thái ổn định, được cấp cho một lần và mãi mãi, mà là một tiến trình.

Làm người, cũng có nghĩa là hiểu rằng, người ta có thể giành chiến thắng trong các trận đánh, nhưng không bao giờ thắng được cả cuộc chiến. Cái chết sẽ là kẻ nói lời cuối cùng. Nếu điều này nghe có vẻ bi kịch, nếu ta có thấy phiền muộn bởi ý nghĩ cái phi nhân (inhuman) là luật lệ và con người là ngoại lệ, thì chúng ta phải đi đến chỗ hiểu ra nó chính là một nguồn cội của sự cứu rỗi.

Cuối cùng, tôi không chắc chắn được gì. Triết học quan tâm sâu sắc đến lĩnh vực của cái khả nhiên (possible), chứ không phải cái khả thụ (knowable), vì thế tôi chỉ có thể phỏng đoán những gì sẽ xảy ra.

Nhưng tôi biết một điều. Lịch sử của thế kỷ vừa qua đã dạy chúng ta rằng: khi ta đặt cược vào sự hoài cựu – khi chúng ta cố gắng đến cùng để tìm kiếm một quê hương đã mất nào hay một cái gì thuần khiết tuyệt đối – chúng ta chỉ dọn đường cho chủ nghĩa toàn trị. Chúng ta khởi động những cỗ máy để rũ sạch, thanh lọc và lột bỏ chính mình.

Thay vào đó, khi lựa chọn dấn về phía trước, lặn ngụp vào cõi không biết và ôm lấy nhân tính của mình trong tất cả tính bất định của nó, chúng ta đang bước vào một cuộc phiêu lưu thật sự đẹp đẽ và cao quý – đó chính là cuộc phiêu lưu trên con đường tới tự do.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Bernard-Henri Lévy, “We Are Not Born Human”, (bản dịch tiếng Anh của Emily Hamilton), https://www.nytimes.com/2018/08/22/opinion/we-are-not-born-human.html