TRIẾT HỌC NHƯ MỘT PHƯƠNG THỨC HIỆN THỰC HÓA BẢN NGÃ

(Trao đổi với Giáo sư Costica Bradatan)

Costica Bradatan là người gốc Romania, hiện ông là Giáo sư ngành Nhân văn tại Honors College thuộc Đại học Texas Tech, đồng thời là Giáo sư nghiên cứu Triết học danh dự tại Đại học Queensland. Ông đồng thời cũng là thời là biên tập viên của chuyên mục Nghiên cứu Tôn giáo/So sánh của tạp chí Los Angeles Review of Books. Cuốn sách của ông “Chết cho tư tưởng: Cuộc đời nguy hiểm của các triết gia” (Trần Ngọc Hiếu dịch, Nhã Nam & NXB Tri thức, 2017) vừa được ra mắt đầu tháng 4. Nhân dịp này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông về cuốn sách, và xa hơn là lĩnh vực triết học. Cuộc trao đổi này được thực hiện qua e-mail và qua những trò chuyện cá nhân của tôi với tác giả cuốn sách. Một phần bài phỏng vấn này đã được đăng trên tạp chí Tia Sáng, số ra ngày 5.5.2017.

 

Anh 1

*

Ông lựa chọn theo đuổi triết học ở độ tuổi 20, vào thời điểm đất nước Romania của ông ở giai đoạn quá độ (cuối thập niên 1980 – đầu thập niên 1990). Khi đó, ông có trải qua một cuộc khủng hoảng về tri thức hay tinh thần nào không? Bối cảnh lịch sử ấy có ảnh hưởng đến lựa chọn của ông?

Sự lựa chọn ấy chủ yếu liên quan đến sự vận động trong đời sống nội tâm của tôi; đến một thời điểm nào đó, tôi có cảm giác mình cần phải đưa ra một lựa chọn như vậy, đơn giản thế thôi. Song giờ khi anh đặt câu hỏi này, tôi nhận ra rằng quyết định của tôi hẳn phải có mối liên hệ nào đó với những gì diễn ra trong thế giới xung quanh mình. Gần như cứ qua một đêm, tôi lại có cảm giác mình đang ở trong một thế giới mới, lại có những đổi thay quan trọng diễn ra, mọi thứ biến thiên không ngừng, chẳng có cái gì vẫn vẹn nguyên là nó từ ngày này sang ngày khác. Kể cả tiền ta có trong túi, nếu lạm phát cao, thì giá trị của nó cũng thay đổi trong chốc lát. Trong một thế giới đảo điên như vậy, đối với tôi, triết học mang hình ảnh của một hòn đảo bền vững, một điểm quy chiếu chắc chắn. Hơn nữa, triết học đã trao cho tôi những công cụ nhất định để có thể hiểu tốt hơn về một thế giới như thế. Nó đem đến cho tôi một góc nhìn tốt hơn. Và còn quan trọng hơn cả, nó giúp tôi nhận ra, bất kể những thay đổi kia có vẻ lớn lao thế nào đi nữa, thì cũng chẳng sao, đó không thật sự là vấn đề lớn.

 Theo ông, đâu là điểm đặc biệt nhất ở công việc của một triết gia? Ông có tìm thấy nó ở cuộc đời hay tác phẩm của những triết gia mà ông bàn đến trong cuốn sách “Chết cho tư tưởng: Cuộc đời nguy hiểm của các triết gia” hay không?

Đây là một câu hỏi không dễ. Mỗi người khác nhau sẽ đưa cho anh những câu trả lời khác nhau vì triết học có quá nhiều “điều đặc biệt”. Điều mà cá nhân tôi thấy hấp dẫn ở triết học chính là đóng góp rất lớn của nó đối với quá trình sáng tạo bản ngã ở mỗi người – nếu người ta xem bản ngã là thứ được tạo nên, chứ không phải một cái gì sẵn có hay được ban cho ngay từ đầu. Tôi thật sự không biết mình sẽ như thế nào nếu thiếu vắng triết học – hẳn sẽ là một kẻ rất khác, tôi hình dung vậy. Còn những triết gia trong cuốn sách của tôi có nghĩ tương tự không thì tôi không dám chắc. Họ hẳn đã sử dụng triết học để thay đổi cuộc đời và hiện thực hóa bản ngã của mình. Song họ cũng làm hơn thế rất nhiều: họ làm thay đổi triệt để cách hiểu thông thường về triết học và đẩy sự xác lập tư tưởng đi đến những hậu quả cuối cùng của nó. Trong tay họ, triết học không chỉ là một thứ công cụ để làm thay đổi cuộc đời của ai đó; nó còn là công cụ để tạo hình cho cái chết của người đó nữa.

Vì ông nói đến triết học như một công cụ để tạo hình cho cái chết, tôi muốn ông nói thêm về cuốn sách của ông viết về các triết gia tử đạo. Động cơ nào thôi thúc ông tìm đến đề tài về cái chết – một đề tài vừa quen thuộc của triết học nhưng cũng vừa mới lạ, vì nó luôn bí ẩn? Quan trọng hơn, tại sao ông lại hứng thú ở những triết gia tìm đến những cái chết ngoạn mục như vậy?

“Chết cho tư tưởng” là cuốn sách nằm trong một dự phóng triết học lớn hơn mà tôi muốn theo đuổi. Tôi xuất phát từ nhận thức về một tình trạng khủng hoảng của triết học phương Tây. Đã một thời kỳ, triết học chủ yếu được nhìn nhận như một dạng bài tập trí tuệ, vì thế nó trở nên kinh viện, trừu tượng, đúng như định kiến phổ biến về nó. Trong khi đó, triết học, theo tôi nghĩ, thiết thân với sự sống của con người hơn thế, với cơ thể, với xúc cảm, với trạng thái đời sống thường nhật và tôi muốn khôi phục lại sự gắn kết ấy. Cuốn sách của tôi, có thể nói, là một tự sự về các triết gia, trong một tình huống hạn chế (limit-situation) mà họ bị đặt vào, đã sử dụng cơ thể đang đi đến cái chết của mình như một cách để thực hành triết học. Thứ thân thể cận kề với cái chết hơn bao giờ, mà lại là cái chết khốc liệt, dữ dội nhất người ta có thể hình dung, đã trở thành phương tiện để triết gia biểu đạt tư tưởng của mình, những điều tưởng như đã không thể có cách nào để lên tiếng, thậm chí, cái chết ấy hoàn toàn có thể được xem như kiệt tác lớn nhất trong sự nghiệp triết học của họ. Triết học, trong trường hợp này, không chỉ là ngôn từ, mà còn là da thịt, nói đúng hơn, triết học là ngôn từ hóa thành da thịt; nó không chỉ được biểu hiện dưới dạng lời nói hay chữ viết mà còn được hiện thân qua toàn bộ con người triết gia, qua hành động của y, thậm chí, phải nói rằng, nó đã trở thành một màn trình diễn. Một màn trình diễn ngoạn mục xảy ra vào thời điểm một xã hội đang trải qua khủng hoảng. Triết gia tử đạo ở đây mang hình ảnh của một kẻ bị hiến tế mà cái xã hội đang khủng hoảng ấy cần đến.

Câu hỏi mà bất cứ ai dù chỉ đọc nhan đề cuốn sách này sẽ băn khoăn: Sự nguy hiểm của các triết gia là gì, để đến mức có những nhân vật trong số họ trở thành kẻ bị hiến tế xã hội?

Trong cuốn sách này, tôi đã phát triển từ luận điểm của Michel Foucault để nêu một định nghĩa về công việc của triết gia: nói sự thật (parrēsía), nói hết những gì mình nghĩ trước người khác, không sợ hãi hay thỏa hiệp. Tuy đây là một ý niệm triết học hấp dẫn nhưng về mặt xã hội, điều này lại tiềm tàng nguy cơ biến triết gia trở thành nạn nhân bị hiến tế. Bởi luôn có điều gì đó mà chúng ta không muốn nghe, muốn phơi bày. Đời sống xã hội sở dĩ khả hữu được là vì có những thứ không được gọi tên và không được nói ra này. Chính bởi sự không nói hết mọi thứ mà chúng ta mới có thể sống bên cạnh nhau. Triết gia, như thế, là kẻ có khả năng phá vỡ mối liên kết xã hội, phá vỡ sự im lặng trước những sự thật không nên nói, không được nói ra như một điều khoản trong khế ước xã hội của một cộng đồng. Trên phương diện này, triết gia hoàn toàn tương phản với chính trị gia – chuyên gia của việc không nói mọi thứ.

Đã thế, để thực hiện một công việc nguy hiểm như thế, triết gia còn phải biến mình còn phải tự biến thành kẻ xa lạ trong chính cộng đồng của mình, một thân phận ngoại biên điển hình, vì chỉ ở vị thế bên lề ấy, y mới có thể xé toạc những tấm màn mà cộng đồng dùng để che đậy những sự thật không cần hay không được phép nói. Song cũng chính vì thế, triết gia lại trở thành đối tượng phù hợp với cơ chế tuyển lựa nạn nhân theo lý thuyết về cơ chế hiến sinh mà học giả người Pháp René Girard từng nêu lên. Một xã hội muốn sống sót qua một đợt khủng hoảng cần phải thực hiện một hành vi hiến tế – lọc ra một thành viên của nó và vứt bỏ kẻ đó vì sự sống còn của những kẻ khác. Nạn nhân bị hiến tế trở thành phương tiện để cộng đồng rũ bỏ được những vấn đề khiến nó tê liệt và có thể hoạt động trở lại. Theo Girard, những đối tượng có khả năng bị hiến tế thường là những kẻ thuộc bộ phận bên lề xã hội như nô lệ, trẻ em, phù thủy, gái điếm… – những bộ phận dễ bị thương tổn. Triết gia, ở góc độ này, đồng đẳng với những thành phần ngoại biên xã hội nói trên.

Việc “bị chọn” làm vật hiến tế này có lẽ điều quan trọng nhất để phân biệt cái chết cho tư tưởng của các triết gia mà cuốn sách đề cập với cái chết cho những lý tưởng hay mục tiêu khác vốn có thể mang tính chủ động nhiều hơn. Sự hiến tế thường dẫn đến một trạng thái thanh tẩy trong cộng đồng, bao hàm những cảm xúc như tội lỗi, biết ơn và hối hận. Từ đó, mà triết gia tử đạo được huyền thoại hóa: nếu khi còn sống, họ có thể là những nhân vật không được đọc rộng rãi, không chiếm được thiện cảm của quần chúng, bị nghi kỵ, ngờ vực, thì giờ đây không những người ta đọc mà còn rao giảng về họ, không chỉ yêu quý mà còn sùng kính họ. Triết gia tử đạo đã đi vào huyền thoại bởi chính cái xã hội đã cần đến ông như một vật hiến tế.

Nhưng cuốn sách của ông không chỉ viết về các triết gia được huyền thoại hóa này bằng một giọng điệu trang trọng. Tôi đọc được ý vị châm biếm pha lẫn mỉa mai trong giọng điệu của cuốn sách. Tôi có cảm nhận sai về điều này không?

Không. Anh hoàn toàn đúng khi nói đến ý vị châm biếm pha lẫn mỉa mai ấy. Cuốn sách của tôi tiếp cận cái chết cho tư tưởng các triết gia theo nhiều điểm nhìn. Đối với câu hỏi “Tại sao họ lại bị giết?”, tôi đứng từ điểm nhìn của cộng đồng mà triết gia từng sống trong đó để xây dựng giả thuyết. Nhưng đứng từ phía triết gia tử đạo,  hoàn toàn có thể hình dung một nhãn quan đầy mỉa mai về đời sống hiện sinh khi cận kề với cái chết hơn bao giờ. Triết gia nhận ra y được chọn để chết, một cách ngẫu nhiên, và với việc được chọn ấy, thân phận của y chỉ như một cô gái điếm, một tên ăn mày. Trong một xã hội đang lên cơn khủng hoảng, cái người ta cần ở y là cái xác của y, không phải tư tưởng của y. Rồi chính cộng đồng đã giết y sẽ biến y thành huyền thoại để che đậy những sự thật không nên, không cần hay không được phép nói ra.

Nhìn rộng hơn, sự châm biếm nên được xem như một phẩm chất cần có của triết học. Công việc của triết gia luôn bắt đầu từ hành động giải kiến tạo thế giới này, trí tuệ của y có thể phá vỡ toàn bộ thiết kế của thế giới đã có trước mình, và sau đó, y cần đề xuất một mô hình, một thiết kế khác mà y tin rằng nó bền vững, hoàn hảo hơn. Nhưng những mô hình này chỉ được tạo dựng bằng những phép tu từ, những ẩn dụ. Triết gia bị mắc kẹt giữa một thế giới trước đó được xem là “thực” mà trí tuệ của y đã đập vỡ nó, không chấp nhận nó và một thế giới “lý tưởng” mà y tin nhưng lại rất khó để thành hiện thực. Sự loay hoay đó của triết gia có thể được xem như một sự chế nhạo cay đắng nhất của Thượng đế dành cho con người, nếu ta tin Thượng đế tạo ra chúng ta, nhưng chỉ như một thứ đồ chơi của Người.

Sự nguy hiểm nhất của triết gia có lẽ lại là nằm ở đó, khi y phát lộ bản chất thực sự của đời sống hiện sinh, một tấn hề kịch, nơi mọi thứ được dàn cảnh để con người trở thành một thực thể đáng cười – một sự thật mà tất cả chúng ta đều muốn né tránh, để đời sống trở nên quan trọng. Vậy còn làm được gì? Chỉ có sự châm biếm và tự châm biếm mới có thể bảo vệ ta được, chỉ có tiếng cười – cười vào chính ta, cười vào Thượng đế kẻ đã lừa ta. Tiếng cười ấy, ít nhất, là điều ta có thể tự chủ được, ngay cả lúc cận kề với cái chết.

Nếu một bạn trẻ ở Việt Nam muốn theo đuổi triết học – một lựa chọn có thể được xem là lập dị, thậm chí mạo hiểm trong bối cảnh Việt Nam, nơi mà nền giáo dục chưa quan tâm đến triết học như một môn học cần thiết, do đó, người học thiếu một nền tảng vững để có thể đi sâu vào lĩnh vực này, ông có thể đưa ra lời khuyên nào không?

Nếu một bạn trẻ Việt Nam nghĩ rằng họ đang có những vấn đề hiện sinh nghiêm túc mà họ chỉ có thể giải quyết được bằng việc theo đuổi triết học, tôi sẽ khuyên họ nên thử một số liệu pháp khác trước. Họ có thể yêu đương, tập chạy bộ, viết thơ, kiếm tiền, du lịch, tham gia chính trị, hay thậm chí thử say rượu một lần – có rất nhiều thứ khác thú vị họ có thể làm trước khi dấn thân vào triết học. Song nếu không có cái gì đem lại hiệu quả, nếu họ không thấy thỏa mãn trong bất cứ giải pháp nào trong số đó, triết học, khi ấy, thực sự là niềm an ủi đối với họ. Nhưng nếu điều đó xảy ra, nếu cuối cùng họ quyết định theo đuổi triết học, họ sẽ phải đặt toàn bộ cuộc sống mình vào cuộc truy cầu này. Họ sẽ phải làm công việc ấy với tất cả sự tận hiến, không chút do dự, ngần ngại nào trong tinh thần. Ở đây không có chỗ cho sự thỏa hiệp. Nếu ai đó trong số họ quyết định vẫn cứ đi đến cùng, tôi sẽ không ngạc nhiên. Tôi cũng sẽ nói với họ, những bạn trẻ dũng cảm ấy, cuộc đời của bạn sẽ không dễ dàng đâu, song có lẽ khi đó, họ cũng đã hiểu rõ. Cuộc đời ấy không dễ dàng, nhưng đáng giá – đó có thể là cuộc đời tốt nhất mà họ có thể tạo nên cho mình.

HẢI NGỌC thực hiện

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s