John Kaag & Clancy Martin – Nhìn thẳng cái chết

Không ai là một hòn đảo, tự mình toàn vẹn trong chính mình (...) ; 

mỗi người là một mảnh của Đại lục (...). Cái chết của mỗi một 

người đều làm tôi bị mất mát đi, bởi lẽ tôi gắn liền với Nhân loại. 

Và, bởi thế, xin đừng bao giờ hỏi rằng chuông gọi hồn ai. 

Chuông gọi hồn anh đó. 

(John Donne - nhà thơ Anh [1572-1631])

Ramses II, còn được biết đến là Ramses Đại đế, sinh cách đây 3000 năm, và thường được coi là vị pharaoh quyền lực nhất của Đế chế Ai Cập. Người Hy Lạp đã gọi ông là Ozymandias. Khi qua đời vào năm 1213 trước Công nguyên, ông để lại một loạt những đền đài, cung điện trải dài từ Syria đến Libya, cùng vô số tượng và tượng đài để tưởng niệm thời trị vì đầy ấn tượng của ông. Đến cuối thế kỷ XIX, khi quá trình thuộc địa hóa của châu Âu chạm đến Ai Cập, hầu hết những bức tượng này đều đã không còn nữa và những gì còn lại thì đều chỉ là những tàn tích. Năm 1816, nhà khảo cổ người Italia, Giovanni Belzoni đã phát hiện một bức tượng Ramses  bán thân và đem nó về cho Bảo tàng Vương quốc Anh. Đó là khi đời sống của Ozymandias, theo một khía cạnh nào đó, thực sự bắt đầu.

“Ozymandias”, bài sonnet có lẽ nổi tiếng nhất của Percy Bysshe Shelley, được sáng tác vào năm 1817 – thời điểm mà phần còn lại của bức tượng nổi tiếng ấy được từ từ vận chuyển từ Trung Đông đến Anh. Shelley tưởng tượng một khách lữ hành hồi tưởng lại một hành trình giữa một sa mạc xa xôi. Tương tự Belzoni, nhân vật của Shelley phát hiện một bức tượng bán thân vĩ đại, gần như bị vùi sâu giữa trảng cát lộng gió. Bên cạnh phần thân tượng hư nát là bệ đỡ nơi pho tượng từng được dựng trên đó. Trên phiến đá là dòng chữ được khắc: “Tên của ta Ozymandias, vua của các vị vua: Hãy nhìn lên những công trình của ta, này con người cao quý, và hãy tuyệt vọng!” Tất nhiên, như bài thơ của Shelley nói cho ta biết,  hầu như những công trình được tạo dựng bởi vị vua của mọi vị vua này không để lại dấu tích nào. Chỉ cát là còn lại.

Thông điệp của bài thơ mang ý nghĩa vĩnh cửu: tất cả những thứ này sẽ sớm tàn lụi thôi, nhanh hơn ta nghĩ rất nhiều. Danh vọng luôn có điềm báo – sự suy tàn tất yếu của nó. Bản danh sách những nhân vật nổi tiếng qua đời năm 2016 – Prince, Nancy Reagan, David Bowie, Elie Wiesel, Bill Cunningham, Muhamad Ali, Gordie Howe, Merle Haggard, Patty Duke, John Glenn – như nhắc ta về sự tất yếu này. Cố nhiên, năm 2016 cũng là một năm đánh dấu một đế chế mới, và đồng thời là bóng ma tận thế. Dịp cuối năm cũng là lúc ta nghĩ đến những vương quốc được xây dựng, song cũng là lúc nhớ đến sự hủy hoại quá đỗi chóng vánh của chúng. Đó là cơ hội để ta quen dần với sự mong manh của hiện sinh, điều mà ta thường không để ý trong phần lớn thời gian sống của mình và đó cũng là điều mà ngay cả những kẻ vĩ đại nhất trong chúng ta phải đối mặt.

Chúng ta có xu hướng trì hoãn câu hỏi về sống hay chết cho đến khi quá muộn để trả lời nó. Đây có lẽ là điều đáng sợ nhất của cái chết: ta chết chỉ để nhận ra, nói như lời Thoreau, rằng mình chưa sống.

Tuy nhiên, đối mặt với cái chết hiếm khi nào là điều đơn giản. Chúng ta né tránh nó vì chúng ta có thể. Có lẽ sẽ dễ hơn nghĩ về “sự đang chết” như một tính từ hơn là một động từ, thí dụng như một bệnh nhân đang hấp hối hay những lời trăn trối của ai đó. Điều này cho phép ta giả vờ như thể chết là cái gì đó sẽ xảy ra trong một tương lai xa xôi nào đó, ở một thời điểm nào đó, với ai đó khác. Chứ không phải với ta. Ít nhất không phải bây giờ. Không phải hôm nay, không phải ngày mai, không phải tuần tới, thậm chí không phải thập niên tới. Cả một đời người tính từ bây giờ.

Chết, cố nhiên, tương ứng một cách chính xác với cái mà chúng ta thích hơn – “sống”. Đó là điều mà Samuel Beckett muốn nói khi ông nhận định rằng chúng ta “băng qua mộ huyệt mà tạo sự sinh” Đó là một nhận thức về hiện sinh mà có lẽ những người rất già hoặc rất ốm thấm thía hơn cả. Người già  nhìn thấy người trẻ, những người vô tâm lãng phí ngày tháng, thời gian – thứ mà giờ đây họ nhận ra vô cùng quý giá.

Khi quá trình chết đưa chúng ta đến một kết cục bất ngờ, không cưỡng lại được, chúng ta lại muốn nghĩ mình vừa trải qua một phiên tòa khắc nghiệt vì một lý do nào đó. Việc chết cho một điều gì đó khiến cho cái chết mang một vẻ anh hùng. Song thực sự đây là điều dễ dàng nhất trên thế giới và hầu như ít liên quan đến danh vọng và vận mệnh. Khi ta tỉnh dậy, ngồi ăn sáng, ta đang chết cho một điều gì đó. Khi ta lái xe đi làm, ta đang chết cho một điều gì đó. Khi ta chuyện trò tán nhảm vô nghĩa với đồng nghiệp, ta đang chết cho một điều gì đó. Mỗi khoảnh khắc thời gian trôi, ta đều đang chết cho một điều gì đó. Mẹo để chết cho cái gì đó là hãy chọn lấy một thứ thật đúng mà làm lý do để chết, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi năm quý giá. Và điều này đương nhiên rất khó và chắc chắn đây không phải là điều tất yếu.

Nếu chúng ta hiểu điều này đúng đắn thì sự khó khăn là chỗ này – từ khi chúng ta trở thành người trưởng thành về ý thức, mà có lẽ thậm chí trước cả khi đó, chúng ta phải lựa chọn việc mình sẽ chết như thế nào. Đó không phải là việc chúng ta chọn  việc bị ung thư hay bị xe tông (mặc dù có những lựa chọn như vậy khiến những kết cục này có thể xảy ra) mà là, nếu chúng ta đủ may mắn (nghĩa là, nếu chúng ta không bị rút lại sự tự do của chúng ta bởi một trường hợp, hay một sức mạnh tàn nhẫn nào đó mình không kiểm soát được), chúng ta có được mức độ lựa chọn đáng kể việc gì mình phải làm, phải nghĩ, phải trở thành trong lúc đợi cái chết, việc sẽ sống như thế nào, điều đó cũng có nghĩa chúng ta có một mức độ lựa chọn đáng kể về việc mình sẽ sống cái sự chết đi của mình như thế nào. Lựa chọn ấy, giống như chính cái kết cục, là  thứ chỉ riêng của ta, là cái cuối cùng của ta. Đó là điều Heidegger muốn nói khi ông viết cái chết là “khả thể của riêng ta tuyệt đối”: Giống như tự do, cái chết là của chúng ta, chỉ của chúng ta.

Nghĩ đến những người anh hùng của chúng ta, bạn bè của chúng ta, những người ta yêu quý qua đời, chúng ta có thể sẽ cố gắng để nhận thức chân thành rằng, cái chết đang đến, và cái chết đáng sợ. “Một người tự do nghĩ về cái chết ít nhất trong mọi điều, và sự hiền minh của anh ta không phải nảy sinh trên cơ sở sự suy tư về cái chết, mà là đời sống,” Spinoza đã nói thế. Nhưng chúng ta thậm chí còn chưa bắt đầu nghĩ về đời sống, chưa thật sự, cho đến khi ta đối mặt với thực tế rằng ta làm mọi thứ chúng ta có thể để không nghĩ về cái chết. Và có lẽ, chúng ta, rốt cục, không sợ sự chết bằng việc không sống và chết một cách dễ chịu, yên ổn.

Đời sống thường  nhật không thiếu những thứ làm chúng ta tiêu phí thời gian: tiền bạc, trí tuệ, nhan sắc, quyền lục, danh tiếng. Tất cả chúng ta đều cảm nhận được. Nhưng sự thật khó chịu, đáng sợ nằm ở chỗ chết cho một cái gì đó, như tiền bạc hay quyền lực, dường như lại không phải là một lựa chọn. David Foster Wallace từng tranh luận rằng phần lớn chúng ta chết vì mục đích giàu có hay danh dự chẳng qua là vì đó là “thiết lập mặc định” (default setting). Vấn đề không nằm ở chỗ chúng ta lựa chọn những thứ không đúng để chết cho chúng mà vì thực chất, chúng ta có lựa chọn đâu? Chúng ta chọn sống bằng sự ủy nhiệm. Chúng ta cho phép mình mắc kẹt trong một cái bẫy tâm lý ngăn chúng ta nhìn thấy cái gì mới có thể là thứ có ý nghĩa thật sự trong đời sống của mình. Làm thế, theo Wallace, chúng ta chấp nhận “trải qua đời sống trưởng thành dễ chịu, giàu có, đáng kính nể như một người trong trạng thái chết, vô thức, ta như một nô lệ với cái đầu của mình với các thiết lập mặc định tự nhiên của chúng ta, cái làm cho ta thấy mình độc đáo, tự đủ và uy quyền mỗi ngày.” Chúng ta có thể gọi đây là cái bẫy Ozymandias – Hãy nhìn lên những công trình của ta, này con người cao quý, và tuyệt vọng! – chúng ta phải cảnh giác để không tự mình rơi vào cái bẫy ấy.

Hầu như mọi ngày chúng ta đều phát hiện ra mình không hoàn toàn sẵn sàng với nhiệm vụ giải thoát mình khỏi cái bẫy Ozymandias. Những ngày khác, chúng ta sợ mình sẽ thất bại thảm hại. Thật không thực tế để yêu với nhận thức rằng mỗi ngày đều có thể ngày cuối của ta. Nhưng ít nhất thì chúng ta có thể ngừng giả vờ rằng mình sẽ tồn tại mãi.

Trong tác phẩm nổi tiếng của Tolstoy, “Cái chết của Ivan Ilyich”, nhân vật đang hấp hối đã chấp nhận một cách miễn cưỡng sự chết của mình, dẫu rằng đây là duy nhất ông không thể né tránh sự thật được nữa:

Đó không phải là vấn đề liên quan đến ruột thừa hay quả thận, mà là vấn đề đời sống… và cái chết. Phải, đời sống ở đó và giờ đây nó đang đi, đang đi và mình không thể dừng nó lại được. Phải. Tại sao tự lừa dối mình? Chẳng phải mọi người, trừ mình, đều thấy rõ là mình đang chết đó sao?… Nó có thể xảy ra ngay tại lúc này. Đã từng có ánh sáng và giờ là bóng tối… Khi mình không còn nữa thì cái gì sẽ còn đó? Sẽ chẳng có gì hết…

Ivan Ilyich không thể đánh lừa bản thân được nữa, thực sự ông đang chết. Ông đã nhận ra điều mà rõ ràng Ramses đã không nhận thức được: Với cái chết của mình, không có sự biện hộ nào cho đời sống của ông, không có dấu tích nào của ông để lại đằng sau, không có tượng đài nào mà ông đang đi đến. Ông đã tự đánh lừa mình cả đời để giấu đi sự thật rằng ông đang trên đường đến cái chết.

Cuối cùng thì Ivan đã giải phóng mình ra khỏi sự tự đánh lừa bản thân. Và cả chúng ta nữa, cũng có thể tự giải phóng mình khỏi sự dối lừa này. Ngay hôm nay, ngay lúc này, càng tốt.

Nếu thành công, chúng ta có thể nhận ra chính việc đối mặt với sự thực về sự tồn tại không vĩnh viễn của mình có thểm đem đến một điều gì đó bất ngờ và ấn tượng, làm biến đổi chính bản chất của cách mà ta sống.

———

John Kaag là giáo sư triết học tại University of Massachusetts, Lowell, là tác giả cuốn sách American Philosophy:  A Love Story. Clancy Martin là giáo sư triết học tại University of Missouri, Kansas City.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: “Looking Death in the Face”, http://www.nytimes.com/2016/12/26/opinion/looking-death-in-the-face.html

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s