Caroline Levine – Ủng hộ Văn học Thế giới

Bài viết dưới đây thực chất là bài điểm ba cuốn chuyên luận về văn học thế giới xuất bản gần như cùng một thời điểm: Against World Literature: On the Politics of the Unstranslatability của Emily Apter, Distant Reading của Franco Moretti và On Literary Worlds của Eric Hayot – cả ba đều là những học giả hàng đầu của ngành văn học thế giới.

Tôi biết đến khái niệm “văn học thế giới” cách đây cũng mấy năm. Khi đó, trong đợt các giáo sư từ ĐH Harvard đến Viện Văn học làm việc, tôi đã được nghe GS David Damrosch thuyết trình về lĩnh vực này. Nhưng khi ấy tôi thực sự không hiểu ý nghĩa của lĩnh vực nghiên cứu này. Năm ngoái khi được tặng cuốn sách của Emily Apter, tôi cũng đã không thể đọc quá được chục trang vì không hiểu ngữ cảnh nghiên cứu, thậm chí, lúc đó, tôi đã nghĩ cuốn sách của Apter là cuốn sách chỉ gắn liền với những vấn đề của nước Mỹ và rất khó có thể tìm được sự móc nối nào với thực tế văn học Việt Nam.

Bài điểm sách này không dễ dịch, nhưng không quá khó hiểu. Chỉ đến bài điểm sách này thực sự tôi mới hiểu vì sao ngành văn học thế giới lại được khuyến khích. Nó đưa ra một đề nghị táo bạo: giải phóng nghiên cứu văn học ra khỏi thứ chủ nghĩa dân tộc chính trị, ra khỏi khung dân tộc, quốc gia như là cái khung tốt nhất, thậm chí duy nhất đồng thời giải phóng văn học ra khỏi những mưu toan của chủ nghĩa bá quyền văn hóa toàn cầu. Nghiên cứu văn học ở đây mang tính chính trị bởi nó chất vấn chính những mưu toan chính trị đang ràng buộc nó một cách tinh vi.

Caroline Levine không chỉ tổng thuật nội dung những tác phẩm trên. Bà đưa ra cả những suy tư đầy gợi mở của mình. Tôi thu hoạch ngay được một số điều: 1- ngay cả 1 văn bản đơn lẻ cũng luôn rộng hơn mọi hiểu biết, mọi tri thức mà một học giả đơn lẻ có được, nó luôn luôn có thể được đặt vào một mạng lưới liên văn bản mang tính thế giới. Ý nghĩa sâu xa của mọi văn bản là chúng góp phần kiến tạo nên những “thế giới” như những ý niệm tinh thần chi phối nhận thức và hành động của chúng ta; 2- chúng ta luôn sống trong hơn một thế giới, hơn một lịch sử, văn chương cũng có thể có hơn một lịch sử của mình. Lịch sử văn học dường như lộ ra câu chuyện thú vị của nó ở những đường vòng, ở những nối kết, những đụng độ, những va chạm bất ngờ. Vì thế nghiên cứu văn học không thể chỉ dừng lại ở đơn vị văn bản và xem đó là đơn vị tĩnh, ta cần nghiên cứu văn bản văn học như một thực thể du hành trên những không gian rất vật chất; 3- Đọc văn học thế giới để làm gì? Câu hỏi này làm tôi nhớ lại một tranh luận trên facebook của một người bạn, khi người bạn ấy than phiền một cách rất có lý về chương trình ngữ văn hiện nay. Khi đó, tôi đã hỏi bạn: nếu được viết sách, bạn sẽ chọn những tác phẩm như thế nào. Bạn nói, sẽ gia tăng phần văn học nước ngoài. Tôi không đồng ý khi đó vì vẫn nghĩ tìm hiểu văn học dân tộc luôn quan trọng hơn. Nhưng bài này Caroline Levine đưa ra một quan niệm khác: rất nên đọc những nền văn học, những tác phẩm có vẻ không thân thuộc, xa lạ vì chính chúng sẽ khiến ta phải nghĩ lại, tưởng tượng lại cái thế giới quen thuộc mà ta thừa nhận nó cứ như thể một điều tất nhiên.

Tôi nghĩ đó là những gợi mở hữu ích. Trước hết cho chính bản thân tôi. Chẳng hạn, qua bài này, tôi đã nghĩ đến việc thử nghiên cứu Truyện Kiều như chính những gợi ý của tác giả Eric Hayot. Vì thế, tôi dịch bài này.

*

World map attributed to Chinese Admiral Zheng He (1418; copy, 1763)Bản đồ thế giới được cho là của đô đốc Trung Hoa Zheng He công bố năm 1418

Có thể nói câu chuyện về ngành nghiên cứu văn học ở Hoa Kỳ là một quá trình mở rộng kéo dài. Trong suốt hàng trăm năm, người ta xem chỉ có Văn học cổ điển mới là đối tượng xứng đáng để giới hàn lâm chú ý nghiêm túc, kéo theo đó là những phản đối quyết liệt việc giới thiệu các khóa học về văn học hiện đại ở thế kỷ XIX. Trong khi văn chương Latin và Hy Lạp “xác lập rõ ràng một thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn và giàu chất nam tính, thì văn chương hiện đại… lại chỉ phá vỡ và làm nữ tính hóa tâm hồn”[1], Alexander Kinmont đã viết như thế vào năm 1834. Tuy nhiên, những người tìm cách giới hạn danh mục sách đọc ở trường đại học đã thua trong trận chiến đó, và họ vẫn tiếp tục thua. Chaucer, Spenser, Shakespeare, Milton, Dryden và Pope trở thành những đối tượng được nghiên cứu thường xuyên từ sau 1850; các chuyên đề về tiểu thuyết bắt đầu được mở vào khoảng năm 1900. Văn học Mỹ đấu tranh để đòi sự công nhận của giới hàn lâm từ sau Thế chiến thứ nhất và đến những năm 1960, xuất hiện những tiếng gọi đòi mở rộng các điển phạm sang văn chương của phụ nữ, văn chương cộng đồng người Mỹ gốc Phi, các nhà văn hậu thuộc địa, v.v…[2]

Trong câu chuyện về sự mở rộng không ngừng các điển phạm này, việc nghiên cứu văn học thế giới mới bắt đầu có ý nghĩa thực sự. Nó đơn giản là chương mới nhất trong một câu chuyện lớn hơn về sự mở rộng những chân trời của nghiên cứu văn học. Song văn học thế giới cũng dẫn đến nhiều lời kêu ca. Chẳng phải phi lý hay sao khi cố gắng nghiên cứu văn học của toàn thế giới này? Làm sao người ta có thể có hiểu biết về một đối tượng mênh mông, đồ sộ như thế? “Một ý tưởng điên rồ,” Claudio Guillén đã viết như thế, “một việc bất khả thi. Những biên tập viên liều lĩnh nhất cũng chưa bao giờ có tham vọng làm một việc như vậy.”[3] Thậm chí đáng lo hơn nữa, chính tham vọng nghiên cứu văn học thế giới, đối với một số nhà phê bình, chứng tỏ một thứ ý chí đoạt quyền lực mang bản chất đế quốc. Các học giả Hoa Kỳ, những người đang làm công việc tập hợp văn chương thế giới vào một chỉnh thể duy nhất, dễ nắm bắt được, dường như chính là những công cụ sẵn sàng cho một mưu toan bá quyền toàn cầu tham lam.

“Trong cuộc chạy đua của các trường đại học trên khắp thế giới để được cấp thương hiệu ‘toàn cầu’, người ta đã chộp lấy ngành Văn học Thế giới như một cái nhãn gây chú ý vì tính chất bao quát của nó để đặt cho những chương trình rất nông cạn ở các khoa nhân văn. Các chương trình này đều phớt lờ thay vì đào sâu tri thức địa phương.” Emily Apter đã viết như thế khi bà tổng thuật quan điểm của những nhà phê bình công kích mạnh mẽ nhất ý niệm về văn học thế giới. Quá bao la để đọc và để phân tích một cách không hời hợt, những nhà phê bình này nhận định, văn học thế giới sẽ nuốt chửng tất cả những sắc thái và khác biệt: hoặc là nó “củng cố lại những liên minh các thiết chế văn chương cũ mang tính chất quốc gia, khu vực, dân tộc”; hoặc là nó phóng chiếu một hình ảnh có kích thước của hành tinh, phi quốc gia, hoàn toàn không chú ý gì đến những cấu trúc bề sâu của những mối liên đới mang tính chất quốc gia, dân tộc và những lợi ích kinh tế bao quanh ngành công nghiệp văn hóa quốc tế.”

Theo mô tả của Apter, người ta không thể nào “tập hợp và xây dựng khung chương trình trên cơ sở những nguồn tài nguyên văn học thế giới” một cách hợp lý; bất cứ những nỗ lực muốn làm việc trên “chiếc cân Gargantua” sẽ buộc phải trở lại với những chiến lược quen thuộc và mang tính hình thức vốn chỉ củng cố thêm chủ nghĩa vị chủng (ethnocentrism), thí dụ như đọc qua bản dịch, phụ thuộc vào những phạm trù quen thuộc như quốc gia, vùng miền, dân tộc,  hoặc vượt qua sự đa dạng bằng cách phớt lờ hay khỏa lấp những khác biệt. Emily Apter không phải không có lý khi bận tâm về chủ nghĩa bá quyền của Mỹ, nhưng phải chăng chính bà cũng đang bào chữa cho điều này khi nêu ra cán cân văn học thế giới như một vấn đề đặc biệt? Đối tượng nghiên cứu của chúng ta giờ đây lần đầu tiên bị nghi ngờ: phải chăng nó quá lớn để có thể hiểu về nó?

Hai lý thuyết gia khác về văn học thế giới là Eric Hayot và Franco Moretti lại nhìn thấy một chiều sâu và sự phong phú mang tính phê phán đầy hứa hẹn hơn là một sự phẳng dẹt trong chiếc cân khổng lồ của văn học thế giới. Hai cuốn sách mới của họ, On Literary Worlds (Về những thế giới văn chương) và Distant Reading (Đọc xa), xuất hiện gần như đồng thời với công trình của Apter. Cả ba nhà phê bình này đã tham gia vào một cuộc tranh luận về văn học thế giới vốn đã và vẫn diễn ra sôi nổi từ hơn chục năm qua. Một bên là những học giả như David Damrosch, người xem văn học thế giới như một cách để giải phóng nghiên cứu văn học ra khỏi tính chất tỉnh lẻ, địa phương (de-provincializing) của nó. Damrosch đề nghị ta chú ý đến nhiều con đường mà các văn bản vượt qua các biên giới để tiếp cận những công chúng mới[4]. Phía bên kia là những nhà phê bình như Gayatri Spivak, người đã tích cực tranh cãi để phản đối ngành văn học thế giới vì cho rằng việc đọc qua bản dịch sẽ làm mất đi tính đặc thù trong các thành ngữ và phong cách, do đó, sẽ gộp văn chương thế giới vào trong một thứ tiếng Anh dễ hiểu nhưng cũng dễ đánh lừa[5].

Tên cuốn sách của Apter, Against World Literature (Chống lại văn học thế giới), cho thấy bà chủ định mở một vòng tranh luận mới về đề tài này, nhưng trên thực tế, không nhiều trang trong cuốn sách mới của bà quan tâm đến văn học thế giới. Bà tập trung chủ yếu vào những trường hợp đặc biệt về sự dịch nhầm, sự bất khả của dịch thuật và những con đường lạ lùng mà văn học đi qua. Moretti, về phần mình, lại nhiệt tình chào đón việc mở ra ngành văn học thế giới kể từ năm 2000 và một số tiểu luận quan trọng của ông về đề tài này như “Conjectures on World Literature” (Những ước đoán về văn học thế giới), “More Conjectures” (Thêm những ước đoán) và “Evolution, World Systems, Weltliteratur” (Sự tiến hóa, Những hệ thống thế giới, Văn học thế giới) đã được tập hợp lại trong cuốn sách mới của ông, Distant Reading. Hayot, một tiếng nói đáng chú ý của ngành văn học so sánh, lĩnh vực vốn thường được xem như là đối thủ của văn học thế giới, lại mang đến một sự đóng góp mới, thú vị cho cuộc tranh luận này.

Hayot và Moretti rất khác nhau song đối với cả hai ông, sự mênh mông của văn học thế giới mang đến một cơ hội hơn là sự mất mát. Đó chính là điều kích thích một cách đặt vấn đề lại, một sự nghĩ lại về những hoạt động cơ bản của nghiên cứu văn chương: làm thế nào chúng ta đọc các văn bản ở một lĩnh vực rộng hơn bất cứ tri thức của một học giả đơn lẻ? Làm thế nào một bàn cân mới có thể giúp tổ chức lại những đối tượng nghiên cứu của chúng ta? Những gì cấu thành một tri thức đầy đủ về văn học? Cái gì mất đi trong trật tự cũ của lĩnh vực, những loại tri thức nào chỉ có thể có được khi chúng ta chuyển sang bàn cân thế giới?

Hayot cho rằng tất cả những nỗ lực mở rộng lĩnh vực này trước đó đều cho phép chúng ta cứ kể mãi câu chuyện của văn chương như thể Châu Âu luôn là khởi điểm và phần còn lại của thế giới luôn xuất hiện sau và chỉ mô phỏng lại châu Âu mà thôi. Đó là vì các phạm trù phân kỳ truyền thống luôn được tổ chức xung quanh những cách tân của châu Âu, như sự “phát hiện Tân Thế giới” hay sự trỗi dậy của tiểu thuyết. Cái khung của văn học thế giới có thể xem là sự dịch chuyển trọng điểm đầu tiên để có thể làm lung lay thói quen này, làm chúng ta thôi nhét một cách dễ dãi các văn bản vào trong bảng niên đại lấy châu Âu làm trung tâm. Hayot đề xuất những khoảng thời gian không thật sự quen thuộc – chẳng hạn, độ dài của tính hiện đại, một thế kỷ từ 1850 đến 1950 – để xem điều gì xảy ra với tri thức về văn chương của chúng ta nếu ta phân kỳ thời gian theo những cách thức mới.

Lời đề nghị của Moretti, giờ trở nên nổi tiếng, về một lối “đọc xa”, còn muốn làm lung lay học thuật truyền thống theo một cách còn kịch tính hơn. Trước thực tế mênh mông của văn học thế giới, ông kêu gọi một hình thức hợp tác mới giữa các học giả làm việc trong lĩnh vực văn học quốc gia. Ông bắt đầu sử dụng những phương pháp định lượng – gắn thẻ văn bản (text tagging), khai thác dữ liệu (data mining), thiết lập bản đồ – để nắm bắt một trường đối tượng quá rộng đối với bất cứ những học giả đơn lẻ nào làm việc với những thủ pháp, kỹ thuật truyền thống của lối đọc gần. Ông trình bày những phương pháp hữu hình hóa thông tin thay thế cho những luận điểm diễn dịch đã thành quy phạm: phác ra bản đồ sự phân phối toàn cầu các bộ phim hành động và hài kịch, xây dựng sơ đồ hình cây để theo dõi sự phát triển của các thể loại. Khi phân tích sự thay đổi của văn chương thông qua thuyết tiến hóa và rút ra lịch sử kinh tế từ việc nghiên cứu những hệ thống thế giới, Moretti đã giới thiệu một loạt những cách tiếp cận còn xa lạ để tìm hiểu văn học trên bàn cân mới rất khổng lồ này.

Những mô hình của Moretti đã không thuyết phục được nhiều nhà phê bình văn chương theo xu hướng ứng dụng lý thuyết. Chúng có vẻ quá trừu tượng đối với Joe Cleary và Natalie Melas, chúng quá loay hoay trong kho dữ liệu lớn đối với James English và Kathleen Fitzpatrick, chúng quá lệ thuộc vào một mô hình sinh học để miêu tả lịch sử văn hóa đối với Christopher Prendergast[6]. Những một điều có ý nghĩa lớn hơn cả những mô hình khoa học mà Moretti đề cao: đó là câu hỏi về cái gì có thể biết. Chúng ta thường nghĩ rằng các thời kỳ và các quốc gia đã chia cắt trường văn học thành những đơn vị tri thức dễ sử dụng, dễ thao túng, giúp cho các chuyên gia có thể đi sâu vào từng mảnh nhỏ. Apter rõ ràng mong mỏi đến một lúc nào đó, chúng ta có thể đắm mình vào cái mang bản sắc, lịch sử địa phương với sự am hiểu sâu sắc. Nhưng sự chú ý của Moretti đến bàn cân đồ sộ của văn học thế giới cho phép chúng ta hiểu rằng đây thực sự là một sự tưởng tượng kỳ vĩ. Các học giả truyền thống chưa bao giờ chú ý đầy đủ đến thực tế rằng các văn bản của chúng ta luôn luôn quá rộng lớn để một độc giả đơn lẻ có thể hiểu về chúng đầy đủ: “có ba vạn tiểu thuyết ở thế kỷ XIX hiện còn đó, nhưng cũng có đến bốn mươi, năm mươi, sáu mươi vạn tiểu thuyết không ai thật sự biết đến, không ai từng đọc chúng và sẽ đọc chúng.” Những kỹ thuật truyền thống của lối đọc gần chỉ đem đến cho chúng ta tri thức về một mẩu vụn bạc của lịch sử văn học – chưa đến 1% tiểu thuyết được viết ra ở một đất nước trong một thế kỷ. Nói tóm lại, chúng ta đã và vẫn cứ là những độc giả “hời hợt”, để dùng lại chữ của Apter, chỉ lướt qua bề mặt của hoạt động sản xuất văn chương – chúng ta chỉ có một nhúm văn bản đại diện cho toàn bộ những nền văn hóa của chúng ta.

Nếu chúng ta sẵn sàng thừa nhận rằng luôn một sự không biết, không nhận thức đầy đủ luôn quấy nhiễu những đối tượng của chúng ta thì ý niệm văn học thế giới, ít nhất, có ưu điểm ở chỗ nó có thể giải phóng chúng ta, cho phép ta nghĩ đến những sự sắp đặt mới.. Theo những cách rất riêng nào đó, những sự sắp đặt cũ làm méo mó hiểu biết của chúng ta về văn học. Gầ như suốt thế kỷ XX, cái khung quen thuộc nhất của nghiên cứu văn học là quốc gia, nó thường xuyên làm mờ đi những cách mà các văn bản du hành qua các biên giới  vào nhào nặn lại các nền văn hóa mà chúng gặp gỡ. Thí dụ, nhà viết kịch người Nauy, Henrik Ibsen, gây hấn đồng thời thu hút khán giả trên toàn thế giới, dẫn đến sự hình thành một lối viết kịch hoàn toàn mới ở Trung Hoa[7]. Hồi đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Du, trong Truyện Kiều, đã  biến đổi truyện thơ Việt Nam bằng việc gắn nó với triết học và thi ca Trung Hoa. Và Toni Morrison đã viết cuốn tiểu thuyết Song of Solomon (1977) từ truyền thống nghệ thuật kể chuyện của châu Phi.[8] Như một quy ước, ta đọc Herman Meville và Emily Dickinson như là những nhà văn Mỹ quan trọng của thế kỷ XIX dù hầu như họ ít được biết đến đương thời, trong khi tác phẩm của Charles Dickens lại có được một lượng công chúng ở Mỹ nhiều hơn bất cứ tác giả Mỹ nào cùng thời[9]. Bertolt Brecht và Sergei Eisentein chắc sẽ đội mồ sống dậy nếu họ biết những kỹ thuật lạ hóa và montage của họ – vốn chủ ý được dùng để khích động cách mạng của giai cấp công nhân –  đã trở thành chiêu trò thường ngay trên sân khấu nhạc kịch Broadway và quảng cáo truyền hình một cách thành công như thế nào[10].

Những ví dụ đó khiến ta phải nghĩ lại về những truyền thống quốc gia, dân tộc. Chúng ta thường học văn học Pháp theo kiểu người ta có thể vạch một đường thẳng ngược từ Proust về Flaubert và Stendhal. Chúng ta học văn học Nga với quan niệm cho rằng sáng tác của Chekhov khởi nguồn từ Tolstoy và Pushkin. Chúng ta quên mất sự thực Proust đã đọc ngấu nghiến Dostovesky và Ruskin, Chekhov đã ngay lập tức say mê sân khấu khi ông xem trình diễn vở La Belle Hélène – vở operetta về Hy Lạp cổ đại được viết bằng tiếng Pháp của tác giả vốn sinh ra tại nước Đức, Jacques Offenbach[11].

Lối đọc và viết xuyên quốc gia xuất hiện như một quy tắc hơn là một ngoại lệ. Điều này không chỉ đúng đối với ý niệm tính hiện đại phương Tây. Các thi sĩ Ba Tư và Bengali tiếp nhận hình thức thơ ghazal của Arab thế kỷ XVI. Thể thơ này cuối cùng lại lan đến tận châu Âu và Bắc Mỹ, được Federico Garcia Lorca và Adrienne Rich, bên cạnh nhiều nhà thơ khác, tiếp thu[12]. Wai Chee Dimock đã biện luận cho một tập hợp những phương pháp mới trong nghiên cứu văn học mà theo bà, đó là những phương pháp hợp lý, công bằng đối với những hành trình xuyên quốc gia của văn chương. Bà đọc văn chương Mỹ “qua trục thời gian bề sâu” (across deep time), theo cách đọc ấy, nền văn học này mọc lên từ những lịch sử của sự viết đã có trước sự ra đời của quốc gia này từ rất lâu. Thí dụ,  bà đã theo dõi con đường mà tác phẩm viết bằng ngôn ngữ Sanskrit cổ đại – Bhagavad Gita – đã định hình nên Henry David Thoreau, để rồi những tiểu luận viết sau này của ông lại thôi thúc Mohandas Gandhi thời trẻ đọc lại Bhagavad Gita[13]. Ghandi sau này lại lập nên nhà xuất bản có thên Internation Printing Press, như Isabel Hofmeyr vừa cho ta biết thông tin, một nhà xuất bản đóng tại Nam Phi, khi đó, muốn vươn đến cộng đồng người đọc Ấn Độ trải khắp châu Phi, Ấn Độ, và vương quốc Anh. Nhà xuất bản này in những bản dịch và các sách in lại từ khắp nơi trên thế giới, trong đó gồm có các trích đoạn của Ruskin, Tolstoy và Thoreau; cuối cùng Ghandi lại có ảnh hưởng rất lớn đến Martin Luther King[14]. Sự ảnh hưởng, theo mô tả này, đã du hành từ Ấn Độ đến Hoa Kỳ, trở lại Ấn Độ, vòng quanh thế giới, rồi lại quay trở về Hoa Kỳ, để lại không chỉ một dấu ấn văn chương mà còn là một dấu ấn quan trọng về mặt địa chính trị trên đường đi.

Hãy nhớ rằng không một đối tượng nào của chúng ta – các nền văn hóa, các độc giả, các nhà văn – chỉ vừa vặn bên trong khung quốc gia, vậy thì tại sao chúng ta lại cứ luôn hình dung các quốc gia mới là những nguyên tắc tổ chức tốt nhất cho việc nghiên cứu văn học? Câu trả lời nhiều khả năng là bởi chủ nghĩa dân tộc về chính trị. Việc nghiên cứu văn học Anh, như Gauri Viswanathan đã đưa ra căn cứ, thực sự bắt đầu ở Ấn Độ như một cách nhằm đào tạo những người Ấn dưới thời thuộc địa của Anh trở thành những kẻ chấp nhận văn hóa Anh như là văn hóa thượng đẳng[15]. Tương tự, truyền thống văn chương Đức được thiết chế hóa ở thế kỷ XIX như là một cách giúp nước Đức cố kết lại trong một sự thống nhất về chính trị[16]. Đáp lại những luận điệu của Liên Xô những năm 1940-1950 khi cho rằng Hoa Kỳ là một quốc gia nông cạn và tôn thờ chủ nghĩa vật chất mà không có nền văn hóa nào thực sự là của mình, các nhà hoạch định chiến lược thời Chiến tranh lạnh đã tìm cách thiết lập nền văn hóa Mỹ như một vũ khí trong cuộc đấu tranh vì lương tâm và trí tuệ trên toàn thế giới[17].

Trước những nguy hiểm của chủ nghĩa dân tộc – mà sống động nhất chính là trường hợp nước Đức, hoàn toàn có lý khi ta nên chấm dứt sự ràng buộc của nghiên cứu văn chương vào những chương trình chính trị mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa. Song liệu chúng ta có thể tổ chức lại những đối tượng nghiên cứu của chúng ta để tránh nguy cơ rơi vào cơn ác mộng mà Apter lo ngại: chúng bị đồng hóa bởi chủ nghĩa bá quyền toàn cầu của Hoa Kỳ? Tôi nghĩ chúng ta có thể. Cuộc tranh luận giờ đây đang nổi lên giữa các học giả ngành văn học thế giới được bắt đầu với những câu hỏi về quyền lực chính trị toàn cầu, sự giàu có và bất bình đẳng; cuộc tranh luận ấy cứ liên tục phải trở lại vấn đề về những mối quan hệ của văn học với những điều kiện lịch sử vật chất – cách mà văn hóa được nhào nặn, định hình bởi các điều kiện chính trị, kinh tế như thế nào. Những học giả hào hứng đối với một ý niệm văn chương thế giới mở rộng, trương nở đã không ngừng đặt văn học trong mối liên hệ với hoạt động thương mại toàn cầu, họ chất vấn các cuốn sách thực chất đã dịch chuyển qua các biên giới như thế nào: chúng có lưu thông như những xe hàng chở kèm theo các loại gia vị, những nhà truyền giáo, những người nô lệ, hay thuốc phiện? Chúng được người ta mua, tái bản, mượn hay đánh cắp? Moretti đã lấy cái khung lịch sử kinh tế thế giới như là điểm xuất phát của mình và sử dụng các bản đồ kinh tế và địa chính trị để tổ chức công trình nghiên cứu văn học của mình. Những học giả khác quan tâm đến văn học thế giới, như B.Vekat Mani, tuy tránh xa lý thuyết về những hệ thống thế giới nhưng vẫn cố hướng sự chú ý của chúng ta đến những con đường vật chất mà văn học đi theo – những lối đi được hình thành bởi in ấn, buôn bán, lưu vong và xâm chiếm[18].

Hầu hết các học giả trong ngành văn học thế giới đều bắt đầu bằng việc từ chối tình toàn diện được mặc định là đúng đắn của quốc gia – một niềm tin dai dẳng rằng một nền văn hóa biểu đạt một dân tộc. Thay vào đó, họ đặt câu hỏi một văn bản cụ thể bắt đầu ở đâu, nó dịch chuyển thế nào, ai là người đã đọc nó. Họ đặt những câu hỏi về  những giá trị nào, những chương trình nghị sự nào đã thúc đẩy những quyết định dịch thuật những văn bản, đem chúng đến những công chúng mới. Và họ băn khoăn về việc những vận động văn hóa như thế bằng cách nào lại tạo ra hoặc củng cố sự bất bình đẳng toàn cầu đang ngày càng gia tăng. Không có động thái nào “củng cố lại những liên minh các thiết chế văn chương cũ mang tính chất quốc gia, khu vực, dân tộc” như Apter e sợ hay “không chú ý gì đến những cấu trúc bề sâu của những mối liên đới mang tính chất quốc gia, dân tộc và những lợi ích kinh tế bao quanh ngành công nghiệp văn hóa quốc tế”.

Một ngoại lệ thú vị trong cách đặt trọng điểm khi nghiên cứu các hành trình văn học là Hayot, người ít quan tâm đến việc theo dõi những sự dịch chuyển của các cuốn sách trên phạm vi toàn cầu hơn là những cách thức khác nhau, theo đó, văn học tưởng tượng, xác lập và lý thuyết hóa các thế giới. Điều này có vẻ như là sự rút đi tính chính trị nhưng thực ra Hayot đã đặt một câu hỏi có tính chất nền tảng, có khả năng làm thay đổi chính những thuật ngữ của bản thân cuộc tranh luận này. Ông nêu vấn đề, làm sao bất cứ ai trong chúng ta cũng nghĩ ngay đến “ý niệm thế giới”? On Literary Worlds mời gọi chúng ta đi vào tìm hiểu nhiều chiến lược đa dạng mà qua đó các văn bản văn chương tạo nên các thế giới: một số mang đến những thế giới xã hội dày đặc những chi tiết hiện thực, những quan hệ giữa các nhân vật, các hoạt động; một số khác lại những lãnh địa dư thừa và tách biệt một cách chủ ý, những lựa chọn khác thay cho bất kỳ thế giới quen thuộc nào.

Luận điểm của Hayot thú vị, giàu sức gợi mở và tôi muốn đẩy vấn đề đi xa hơn một bước, không bó hẹp trong phạm vi chặt chẽ của văn chương, để chú ý đến một loạt những cách mà các lý thuyết gia về văn học thế giới đã hình dung, tưởng tượng về “thế giới”. Đối với Apter, nghĩ đến một thế giới mênh mông, được liên kết lại thành một thực thể đơn nhất đồng nghĩa với việc muốn nuốt chửng sự đa nguyên vào một “nền văn hóa độc canh (monoculture) du hành khắp thế giới và thấm hút mọi sự khác biệt”, đối với Moretti, “thế giới” là một hệ thống kinh tế hành tinh, “vừa là duy nhất, vừa không bình đẳng”, được tổ chức xung quanh một hạt nhân, vùng ngoại biên và bán ngoại biên; đối với Dimock, quan sát những nẻo đường toàn cầu được tạo ra qua nhiều thế kỷ cho phép ta thấy được sự hẹp hòi và tư tưởng tỉnh lẻ trong cách hiểu thông thường của chúng ta về truyền thống văn hóa. Có nhiều cách khác nhau để tưởng tượng về cách thế giới và Hayot là lý thuyết gia có thể giúp chúng ta một cách tốt nhất để thấy được cách lý thuyết hàn lâm về thế giới cạnh tranh nhau thực sự đã vận hành như thế nào.

Phương pháp của Hayot cũng có thể dẫn chúng ta ngược trở lại với những con đường vật chất. Theo ví dụ của ông, chúng ta có thể so sánh “thế giới” của Truyện Kiều, được sáng tác ở Việt Nam vào khoảng năm 1815 với những thế giới được hình dung bởi tác phẩm cùng thời với nó, như Emma của Jane Austen, tiểu thuyết Kính hoa duyên của nhà văn Trung Hoa Lý Nhữ Trân, những bài thơ theo thể ghazal viết bằng ngôn ngữ Urdu của thi sĩ Ấn Độ Ghalib, tác phẩm “Thư Jamaica” (lời kêu gọi thống nhất các quốc gia châu Mỹ Latin) của Simón Bolívar, những chuyện kể về thần Anansi[19] được những người nô lệ mang từ Tây Phi sang Đại Tây Dương. Tất cả những văn bản này đều trình bày ảnh hưởng của biến động lịch sử, tất cả đều hàm chứa những suy tư về những môi quan hệ giữa quyền lực và sự bất bình đẳng; tất cả đều thể hiện mối quan tâm đến những chuẩn mực về giới tính, tất cả đều xác lập những giá trị luân lý; và tất cả đều du hành qua các biên giới. Chúng cùng cho ta thấy “thế giới” đang được tưởng tượng như thế nào trên khắp thế giới tại cùng thời điểm. Và chúng ta hoàn toàn có thể so sánh những văn bản này một cách hiệu quả, theo mô hình của Hayot, bằng cách khảo sát, nghiên cứu những phương pháp hình thức khác nhau nhằm trình hiện các thế giới cho chúng ta.

Những cách tiếp cận văn chương thế giới, do đó, có ưu điểm ở chỗ chúng cho phép chúng ta bỏ qua chủ nghĩa dân tộc mà vẫn không lấy đi sự chú ý đến chính những mối quan hệ quyền lực thực sự đã định hình việc tạo lập và phát tán văn hóa. Song Apter lo ngại những điều này vẫn khuyến khích chúng ta dành thời gian để đọc qua bản dịch mà việc này, như bà lập luận, có thể dẫn đến việc đồng nhất hóa các nền văn học qua thời gian và không gian,  khiến người ta không tích cực học ngoại ngữ và làm cho khối độc giả Anh ngữ tự cô lập mình trong vỏ kén độc ngữ (monolingual). Theo Apter, ngành văn học thế giới đã thành công khi ủi phẳng đi tất cả những khác biệt ngôn ngữ trên thế giới thành một thứ tiếng Anh dễ tiếp cận, điều này khiến chúng ta không bao giờ “phải nghi ngờ ý niệm về hiệu quả của dịch thuật, về sự chiến thắng của bản thế, về việc có một cái gì đó giờ đây có thể vừa khít ở vị trí của một cái gì khác.”

Thế nhưng, nếu chỉ đọc tác phẩm bằng ngôn ngữ nguyên tác cũng sẽ giới hạn chính con đường của văn học, sẽ chặn cửa phần lớn sáng tác của thế giới đến với mình. Tôi có thể đọc một cuốn sách bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Italia hay tiếng Đức, những ngôn ngữ được đưa vào khung chương trình mà tôi được đào tạo, nhưng nếu tôi từ chối đọc bản dịch, tôi sẽ hoàn toàn vô tri trước những nền văn học khác – văn học Arab, Trung Hoa, Tây Ban Nha, Việt Nam, Sanskrit, Hy Lạp cổ đại và hàng ngàn nền văn học bằng những ngôn ngữ khác. Và thậm chí ngay cả kẻ biết nhiều thứ tiếng nhất cũng chẳng bao giờ học được nhiều hơn một phân số cực nhỏ so với số lượng ngôn ngữ có trên thế giới.

Và cũng không thể quả quyết những tác phẩm đến những thời gian, không gian xa xôi sẽ dễ dàng đem đến cảm giác về sự thân quen qua bản dịch. Những văn bản không giống nhau điểm nào như Gilgamesh Vụ án (Franz Kafka), ít nhất, đối với tôi và các sinh viên của tôi,  giống như những mời mọc đến những thế giới xa xôi hấp dẫn, với những quy tắc, những mối quan hệ quyền lực và địa lý lạ lẫm. Phần lớn những sự tưởng tượng thế giới này, để dùng lại thuật ngữ của Hayot, hoàn toàn có thể sống khỏe qua bản dịch. Và những thế giới văn chương không quen thuộc chính là một trong số những cách thức hiệu quả nhất để va chạm, tiếp xúc với những giá trị và những mong đợi lạ lẫm, bất ngờ. Văn chương qua dịch thuật, do đó, có thể thôi thúc chúng ta nghĩ lại, tưởng tượng lại những thế giới quen thuộc mà ta cứ chấp nhận nó như thể tất nhiên.

Trở lại năm 1834, Alexander Kinmont muốn nâng cao gu thẩm mỹ của độc giả bằng việc giới hạn danh sách sách đọc của họ. Tôi muốn làm điều ngược lại. Tôi muốn mở rộng gu của mình và của sinh viên mình dạy, thông qua việc tạo ra những tiếp xúc, gặp gỡ, va chạm với những tác phẩm gây ngạc nhiên, phức tạp và ấn tượng. Vì chỉ có 3% sách bán ở Hoa Kỳ là sách dịch từ những ngôn ngữ khác, nên khó có thể nói chúng ta đang có một nền văn hóa muốn nhấn chìm những thế giới khác. Xét về ý nghĩa chính trị, chẳng phải sẽ tốt hơn nếu ta bắt đầu thèm khát sự đa bội văn hóa? Học những ngôn ngữ mới là việc tốn thời gian và tiền bạc, một dự án trên thực tế giời chỉ giới hạn cho một nhóm đặc tuyển ít ỏi. Phải mất nhiều năm học dài học hành mới có thể đọc được trôi chảy những văn bản văn chương phức tạp bằng nguyên bản và đa phần sinh viên Mỹ đã bỏ cuộc từ lâu trước khi họ cảm thấy có bất cứ hứng thú gì trong việc này. Đọc văn học thế giới qua bản dịch trở thành một sự khởi đầu thực tế hơn và hứa hẹn hơn. Apter gọi ngành “văn học thế giới” là ngành mắc chứng cuồng ăn. Tôi thì lại muốn liên tưởng nó như một món khai vị: nó không thay thế cho món ăn chính ngon miệng, nhưng nó kích thích những nụ vị giác và làm chúng ta sẵn sàng trước những món chính hấp dẫn sắp được dọn ra. Trước hết, hãy xem liệu ta có thể nào khiến độc giả yêu cả The Popol Vuh[20] lẫn The Pillow Book[21] được không. Rồi sau đó có lẽ độc giả sẽ tự tìm cách hình thành cho mình một nhu cầu muốn nềm thử tiếp những thứ khác.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Caroline Levine, “For World Literature”, http://www.publicbooks.org/fiction/for-world-literature


[1] Alexander Kinmont, “The Classics: Report on the Question, ‘Ought the Classics to Constitute a Part of Education,’” in Transactions of the Fourth Annual Meeting of the Western Literary Institute and College of Professional Teachers (Josiah Drake, 1835), p. 170.

[2] Gerald Graff, Professing Literature: An Institutional History (1987; University of Chicago Press, 2007), pp. 124, 211

[3] Claudio Guillén, The Challenge of Comparative Literature, translated by Cola Franzen (Harvard University Press, 1993), p. 38.

[4] David Damrosch, What is World Literature? (Princeton University Press, 2003).

[5] Gayatri Chakravorty Spivak, Death of a Discipline (Columbia University Press, 2003).

[6] Joe Cleary, “The World-Literary System: Atlas and Epitaph,” Field Day Review, vol. 2 (2006); Natalie Melas, All the Difference in the World: Postcoloniality and the Ends of Comparison (Stanford University Press, 2007), pp. 33–34; James F. English, “Morettian Picaresque,” and Kathleen Fitzpatrick, “The Ends of Big Data,” Los Angeles Review of Books, June 27, 2013; Christopher Prendergast, “Evolution and Literary History: A Response to Franco Moretti,” New Left Review, no. 34 (July–August 2005).

[7] Chengzhou He, Henrik Ibsen and Modern Chinese Drama (Trondheim: Akademika Publishing, 2004).

[8] Nguyen Du, The Tale of Kieu, translated by Huynh Sanh Thong (Yale University Press, 1983), p. xxii. Gay Wilentz, “Civilizations Underneath: African Heritage as Cultural Discourse in Toni Morrison’s Song of Solomon,” in Toni Morrison’s Fiction: Contemporary Criticism (Garland, 2000), p. 112–14.

[9] Robert F. Selcer, Civil War America, 1850 to 1875 (Facts on File, 2006), p. 327.

[10] Jeremy G. Butler, Television: Critical Methods and Applications (Lawrence Erlbaum, 2007), p. 414; Stephen Banfield, Sondheim’s Broadway Musicals (University of Michigan Press, 1993), p. 39.

[11] William C. Carter, Proust: A Life (Yale University Press, 2000), pp. 79, 281, 285, 294, 746; James N. Loehlin, The Cambridge Introduction to Chekhov (Cambridge University Press, 2010), p. 4.

[12] Shahid Ali Agha, ed., Ravishing DisUnities: Real Ghazals in English (Wesleyan University Press, 2000), pp. 1, 11; Erik Martiny, “The Ghazal in North America,” in A Companion to Poetic Genre, edited by Erik Martiny (Wiley-Blackwell, 2012).

[13] Wai Chee Dimock, Through Other Continents: American Literature across Deep Time (Princeton University Press, 2006), p. 21.

[14] Isabel Hofmeyr, Gandhi’s Printing Press (Harvard University Press, 2013), pp. 5, 94; Thomas Weber, Gandhi as Disciple and Mentor (Cambridge University Press, 2004), p. 169.

[15] Gauri Viswanathan, Masks of Conquest: Literary Study and British Rule in India (Columbia University Press, 1989).

[16] Lee M. Roberts, Literary Nationalism and Japanese Germanistik (Peter Lang, 2010), p. 2.

[17] Frances Stonor Saunders, The Cultural Cold War (New Press, 2001); Joel Whitney, “Exclusive: The Paris Review, the Cold War and the CIA,” Salon, May 27, 2012; Michael Berube, Rhetorical Occasions (University of North Carolina Press, 2006), p. 130.

[18] See, for example, B. Venkat Mani, “Borrowing Privileges,” MLQ, vol. 74, no. 2 (2013).

[19] Anansi là vị thần trong văn học dân gian Tây Phi. Ông thường mang hình hài của một con nhện và được xem là vị thần của tất cả tri thức vè các câu chuyện.

[20] The Popol Vuh là tập hợp những chuyện kể lịch sử-huyền thoại của vương quốc K’iche’ thời hậu Cổ đại. Dấu tích của vương quốc này nay còn ở miên cao nguyên Guatemala.

[21] The Pillow Book (Chẩm thảo tử) là tác phẩm của Sei Shonagon (Nhật Bản), một thị nữ đã hầu hạ Hoàng hậu Teishi / Hoàng hậu Sadako vào khoảng năm 1000 giữa thời Heian. Tác phẩm này là một tuyển tập những danh mục, những chuyện ngồi lê đôi mách, các bài thơ, những lời bình phẩm, những thở than và bất kỳ thứ gì khác mà bà thấy hứng thú trong những năm tháng của bà ở trong cung.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s