Adam Thírlwell – Sự phóng túng là một giá trị đạo đức

(Phỏng vấn Adam Thírlwell do Toby Lichtig thực hiện)

Adam Thírlwell, nhà văn Anh, sinh năm 1978, là tác giả đã từng 2 lần được tạp chí GRANTA bình chọn là một trong số những tiểu thuyết gia nhiều triển vọng nhất của văn chương Anh ngữ. Tôi chưa đọc cái gì của Thírwell ngoài những bài đọc sách cực kỳ thú vị của anh. Thírwell viết về Victor Hugo, Charles Baudelaire với nhiều phát hiện gây kinh ngạc. Ngoài ra, khi phát hiện anh còn là một dịch giả, tôi đã tìm đọc những trao đổi, những mẩu viết của anh dịch thuật và đó là những suy ngẫm rất giàu sức gợi mở.

Adam_Thirlwell-2

Tôi muốn bắt đầu bằng câu hỏi về ý niệm phóng túng. Từ đâu ý niệm ấy thẩm thấu vào cả tiểu thuyết lẫn phê bình của anh? Dường như anh rất say sưa với quan điểm phóng túng  trong tình dục và trong chính trị. Điều làm tôi băn khoăn là cội nguồn của tư tưởng ấy. Thêm nữa, nó bổ sung cho văn chương như thế nào? Có hay không cái gọi là chủ nghĩa phóng túng trong văn chương?

Tôi cho rằng tư tưởng phóng túng ấy phát xuất từ thế kỷ XVIII. Tôi luôn yêu thế kỷ ấy bởi sự nhẹ nhõm đặc trưng cho tinh thần thời đại. Lúc nào tôi cũng thích Pope và Swift, đặc biệt là thể loại sử thi châm biến của hai ông, một hình thức cho phép ta có thể dùng một giọng lệch tông cho một nội dung lệch chuẩn. Điều tôi thực sự thích ở Pope là ta không bao giờ có thể xác quyết ông đang châm biếm điều gì, dù đó là đời sống hiện đại, thể loại văn học hay đời sống cổ điển. Văn chương của ông là một thứ trò chơi nghiêm túc, đem đến một cảm giác chông chênh. Một nhà văn nữa tôi thật sự thấy thú vị là Crébillon [con]. Ông từng viết một truyện ngắn có nhan đề “Chiếc sofa”, trong đó kể câu chuyện từ điểm nhìn của chiếc sofa mà tất cả các nhân vật đều đã từng làm tình trên đó. Đó là một thủ pháp nhỏ, rất tinh quái, cho phép châm biếm mọi thứ nhưng đồng thời lại rất tinh tế. Ở đó ta hoàn toàn cảm nhận được độ chín muồi của câu chuyện. Và tôi cũng đã từng rất quan tâm đến cái cảm thương. Đối với tôi, ý niệm này giống như một phát minh của thế kỷ XIX- một thứ kitsch kiểu Trung Âu. Ở đâu cũng tràn ngập âm nhạc Wagner, những thứ phô trương và dễ gây mủi lòng.

Và rồi nó dễ dàng được chủ nghĩa phát xít dung nạp sau này. Thứ chủ nghĩa cảm thương ấy. Thứ chủ nghĩa phổ trương ấy.

Đúng vậy, rồi nó trở thành chủ nghĩa phát xít – ý tôi muốn nói đến thứ tư tưởng cho rằng cảm xúc tự nó là thứ tốt đẹp. Cứ nhớ lại những phim của Leni Riefenstahl mà xem… Thế nên kẻ tự do là kẻ văn minh hơn trong quan niệm của họ về bản chất của cảm xúc. Họ không quá đặt nặng vấn đề cảm xúc.

Và ở thái độ đó có cả một sự thành thật?

Đó là một thái độ hoàn toàn thành thật. Điều đó có nghĩa thái độ đó thể khiến người ta rất khó chịu – một phần vì nó nhìn cảm xúc như một phương tiện chiếm lĩnh quyền lực để áp chế người khác, do đó, nó là một thái độ đặc biệt lạnh lùng. Đó là một sự thành thật với chính mình trước tiên, hơn là với người khác. Crébillon có một luận đề về khoảnh khắc mà tôi luôn muốn viết một tiểu thuyết về chủ đề này. Luận đề của ông là: luôn có một khoảnh khắc trong mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà mà đến thời điểm đó, người ta có thể làm tình được với nhau, mà cũng có thể ta sẽ không bao giờ đến được thời điểm đó, hoặc ta bỏ lỡ, hoặc là quá trễ. Vì thế đối với Crébillon, một kẻ tình nhân phóng túng, tự do là kẻ biết kiến tạo khoảnh khắc đó. Bởi vậy, ý niệm về điểm rơi thời gian và nhịp độ là điều làm tôi hứng thú. Và cả ý niệm về mọi thứ đều có một cấu trúc tự sự nhất định. Đời sống có một cấu trúc tự sự nhất định. Đối với tôi, đó là một ý niệm rất văn minh. Nhưng đồng thời thái độ đó còn hàm ẩn cả sự lảng tránh nữa. Kẻ tự do phóng túng là kẻ, theo cách nào đó, luôn tìm cách gián cách với chính cảm xúc của hắn.

Đấy phải chăng cũng chính là ý tưởng về “sự trốn thoát” như nhan đề cuốn tiểu thuyết mới nhất của anh?

Đúng thế. Ở chừng mực nào đó, Trốn thoát là cuốn sách đặt câu hỏi: làm sao để có thể không viết về chính mình? Trò chơi mà tôi bày ra ở đây là: cố không viết câu chuyện của một gã 25 tuổi sống ở London và trên thực tế, tất cả những gì tôi làm là hoán vị hành vi kể này cho một chiếc chìa khóa lâu năm hơn! Nhưng điều tôi luôn thấy thú vị ở thể loại hư cấu là nó như một phương tiện để tra vấn liệu nhân vật có thể thoát khỏi nhà văn hay không. Tôi nghĩ đó là sự trốn thoát thực sự. Cố gắng hình thành một thứ giọng điệu tự sự không phải là giọng của mình, với tôi, chưa hẳn đã khó khăn bằng việc nghĩ cách nào để nhân vật thoát khỏi cái kẻ xưng “Tôi” đang nói trong câu chuyện. Và đến điểm nào thì một nhân vật trở nên lớn hơn một tập hợp những chuyện kể?

Trong sự lảng tránh này, phải chăng có một sự tầm thường chủ ý? Tôi biết anh luôn nhấn mạnh Raphael Haffner – nhân vật phóng đãng của anh là một người rất bình thường. Thậm chí chuyện chinh phục đàn bà đối với gã chỉ là chuyện thường ngày, một sự lặp lại như thói quen.

Vấn đề là ở thế kỷ XVIII, đối với giới quý tộc, chủ nghĩa phóng túng lại là phép thử nhân cách hiệu nghiệm. Vì thế, một trong những điều làm tôi quan tâm là làm sao nhập cái ý tưởng trứ danh này vào một gã Do Thái tử tế sống ở Barnet và đặt câu hỏi: “Mi dùng bộ luật đạo đức trứ danh chỉ để biện minh cho việc ngủ với ả thư ký lẳng lơ của mi sao?” Nhưng tôi cũng quan tâm đến chủ nghĩa phóng túng vì nhận thấy dường như ở nó có một khía cạnh rất đạo đức đối với văn hóa của chúng ta. Đặc biệt là văn hóa văn chương.

Trong cách nói về tình dục chăng?

Đúng, trong cách nói về tình dục. Và cũng trong cả cách nói về văn chương. Có một nỗi ám ảnh từ phía người đọc lẫn người viết là làm thế nào để thích – hay chí ít nảy sinh niềm thông cảm – với một nhân vật nào đó. Và có những lý do chính đáng để ám ảnh như thế nhưng như thế lại có thêm một thứ khiến tôi sự hãi. Tôi không cho rằng tìm kiếm một nhân vật để mình được vuốt ve là lý do để người ta thích văn chương.

Anh có nghĩ độc giả được khích lệ để phán xét quá nhiều trong văn hóa văn chương  của chúng ta hay không?

Tôi thì nghĩ họ được khích lệ để thích quá nhiều. Có rất ít những nhân vật bẩn thỉu trong văn chương đương đại.

Còn những nhân vật tỏ ra bẩn thỉu, ghê tởm thì dường như lại “thùng rỗng kêu to”?

Chính xác, ở họ có chất quỷ quái và vì thế khiến họ trở nên hài hước. Song tôi thấy không cần phải tìm kiếm thêm những con quỷ đạo đức nữa. Giờ thật hiếm gặp một nhân vật nào đó rỗng, lạnh, dửng dưng, gây khó chịu trong văn chương. Các tiểu thuyết trung bình bây giờ tương đối hiền lành. Đấy không hẳn là một điều tệ. Nhưng như thế, lúc nào người đọc cũng chỉ kiếm tìm những thứ không phải là đương đại và sự phóng túng, phóng đãng, với tôi, thể hiện một thứ giá trị mà nhìn chung tôi không bắt gặp ở văn chương hiện thời.

Vậy có tác giả nào không “hiền” mà ở thời điểm này anh thấy quan tâm?

Philip Roth từng là một nhà văn rất tàn nhẫn. Nhưng rồi ông ấy trở nên hiền lành hơn, ít gây khó chịu hơn. Martin Amis cũng thế. Gary Shteyngart đang làm công việc này rất tốt – đó là một nhà văn châm biếm công khai. Tôi thích thứ năng lượng bắt nguồn từ nỗi khoái trá không giấu giếm của Gary trước sự thất bại của con người mà đã ông thể hiện trong các tiểu thuyết. Nhà văn Pháp Marie Ndiaye là một tác giả khác, viết với một giọng điệu hoang dã. Với tôi, đó là một tác giả xuất sắc. Và thật sự không được biết đến nhiều.

Ý niệm về đạo đức trong tác phẩm của anh là gì?

Buồn thay, tôi là nhà văn rất đạo đức. Nhưng tôi muốn thoát khỏi sự hiền lành. Tôi thấy sự hiện diện của một người với tư cách một nhà văn hiện nay đang phải đối mặt với khó khăn lớn. Những chuyến quảng cáo sách, những buổi ra mắt sách. Cùng với việc tác phẩm có cơ hội tiếp cận với công chúng rộng là một nỗi lo lắng và sự tính toán. Công chúng hôm nay không những vừa ham phán xét đạo đức hơn mà đồng thời còn lớn hơn cách đây một thế hệ. Và tôi nghĩ nhiều người viết giờ hiện đang cố gắng xây dựng những nhân vật hiền hơn, đẹp hơn, tử tế hơn, cùng với những đề tài cũng hiền hơn, tử tế hơn để không làm công chúng bực bội.

Anh đối diện như thế nào với việc trở thành tâm điểm chú ý sau tiểu thuyết đầu tay của mình?

Đột nhiên ta nhận ra mình đã tự làm cho mình trở thành kẻ rất dễ bị tổn thương khi xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình. Nhưng người ta không cần phải viết với ý niệm về công chúng trong đầu. Để ý đến công chúng là việc rất khó chịu, không phải chỉ vì ta phải nghe thấy những lời phán xét của họ về tác phẩm của mình mà còn vì ta nhận ra mọi người luôn hiểu sai về mình. Đến mức bao giờ tác phẩm của mình cũng bị diễn dịch sai. Đột nhiên ta nhận ra điều đó. Kể cả khi họ thích những gì anh viết nhưng cũng có thể đó không phải là những lý do mà bạn chủ định. Và khi họ không thích thì sự viết của bạn trở thành cái gì đó rất cá nhân.

Đó phải chăng là một phần lý do để anh viết một cuốn sách phê bình sau đó?

Phải, tôi không muốn viết ngay cuốn tiểu thuyết thứ hai. Đó là một hình thức tự vệ mà thôi. Nhưng có thứ vẫn không ngừng thôi thúc tôi- đấy chữ “tôi” trong thể tiểu luận, lúc nào nó cũng ở đó, trên trang viết của tôi, giục giã tôi. Thực ra nó không xuất hiện ngay từ đầu. Bản thảo đầu tiên của cuốn Politics (Chính trị) được viết từ ngôi kể thứ ba. Nhưng rồi tôi không chịu được – tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ tinh quái: thử xem mình có thể đưa được bao nhiêu bản thân mình vào trong chữ “tôi” này, cho dù, về mặt kỹ thuật, đó vẫn không phải là mình mà chỉ là một thủ pháp tự sự: người kể chuyện ở ngôi thứ nhất. Với cách sử dụng chữ “Tôi” theo phong cách tiểu luận trong cuốn tiểu thuyết này, tôi nghĩ viết phê bình cũng không khác lắm. Thêm nữa, sau khi cuốn sách được xuất bản, việc của tôi chỉ là đọc. Tôi di chuyển khá nhiều và do đó, khoảng thời gian nghỉ trong và giữa các chuyến đi, tôi chỉ dành thời gian đọc sách. Và rồi tôi bận tâm đến vấn đề dịch thuật. Nhất là khi cuốn sách của chính mình cũng đang được chuyển ngữ. Tất cả những điều đó lý giải vì sao tôi lại muốn viết một cuốn sách phê bình.

Trong cuốn sách phê bình của mình, Miss Herbert, anh nói nhiều đến vấn đề phong cách. Phải chăng qua đó cũng có thể thấy được những suy tư của chính anh về phong cách tiểu thuyết của mình?

Phong cách là thứ ám ảnh tôi. Tôi luôn bị ám ảnh bởi ý tưởng rằng phong cách nên là thứ phải có trước và trên hết mọi thứ.

Kể cả ngôn từ?

Đúng, phong cách cần có trước cả ngôn từ. Phong cách cần được xem như một giá trị nội tại của văn chương. Trên cả nội dung, trên cả chính trị, trên mọi thứ. Tôi muốn phong cách sẽ được chú ý hơn trong văn hóa phê bình của chúng ta hiện nay. Cái tôi thật sự thấy thích trong những bài điểm sách và phê bình là người ta dùng 600 từ để phân tích phong cách, bút pháp hơn là chỉ để tóm tắt cốt truyện. Mặc dù điều này sẽ làm mọi người khó chịu. Tuy nhiên, vì phong cách là điều quan trọng đối với tôi nên trong sáu tháng qua, tôi đã nghĩ mình cần phải thay đổi. Giờ đây, tôi thích phá vỡ mọi thứ một chút trong khi vẫn cố gắng bảo lưu phong cách như một chỉnh thể. Ba cuốn sách tôi đã viết dường như đã phong kín một thứ gì đó trong đầu tôi. Và tôi không chắc cuốn sách tôi viết tiếp theo sẽ giống như ba cuốn trước.

Về mặt phong cách?

Phải. Người ta không dễ thay đổi phong cách của mình được. Nhưng tôi vẫn muốn đẩy những gì trong đầu mình ra nhiều hơn, muốn trở nên trúc trắc hơn, xô lệch hơn. Hiện giờ tôi đang dịch sách. Tất cả những nhà văn tôi yêu thích đều là những người bị ám ảnh bởi phong cách. Nhưng tôi đều từng đọc họ qua các bản dịch hoặc đọc bằng vốn tiếng Pháp, tiếng Nga không quá nhuần nhuyễn của mình, và rồi tôi phát hiện ra một nghịch lý: Nếu mình bị ám ảnh bởi phong cách, vậy thì mình nhận được gì khi chỉ đọc họ qua bản dịch? Và với Miss Herbert, tôi muốn chứng minh rằng điều này hoàn toàn là có thể. Rằng lịch sử của tiểu thuyết hoàn toàn có thể được đọc qua các ngôn ngữ khác. Thậm chí ngay cả qua các bản dịch tệ hại. Theo một cách nào đó, tôi muốn biện hộ cho dịch thuật nghiệp dư. Như một thể nghiệm phụ cho điều này, hiện giờ tôi đang thử dịch một tiểu thuyết gia nổi bật trong văn học hiện đại chủ nghĩa Italia – Carlo Emilio Gadda – cùng với một người bạn Italia của mình. Carlo Emilio Gadda được xem là một bậc thầy, một thiên tài trong văn chương Italia và người ta thương xem văn chương của ông là thứ bất khả dịch. Tôi và người bạn của mình đang tìm cách kiến tạo một dị bản của Gadda. Tôi không nói tiếng Italia đúng chuẩn – và chắc chắn là không biết gì về phương ngữ Lombard – nhưng tôi đang cố gắng chứng minh vẫn có một điều gì đó được phát lộ từ việc dịch ông, ngay cả khi công việc này được thực hiện bởi một gã a-ma-tơ không đủ tư cách để dịch thuật. Vì tôi hiểu phong cách của Gadda là gì, tôi nắm được nó, tôi có thể nhìn ra nó – vậy thì vấn đề sẽ là làm thế nào để tái tạo được phong cách ấy?

Ở thời điểm này, anh còn đang làm việc gì khác nữa không?

Có, tôi đã muốn làm một bộ phim về ông của mình. Bộ phim sẽ có tên là Phim câm. Nó sẽ nói về những gì mà ông tôi đã im lặng trong suốt đời mình. Trong cuốn Trốn thoát, tôi đã hư cấu một phần cuộc đời ông (có thể thấy qua nhân vật trung tâm, Haffner).Sau đó, tôi có ý định khai thác con người thật của ông mình. Nhưng ông tôi lại đổ bệnh, không thể nói nên giờ tôi phải viết một thứ để bù cho việc không thực hiện được phép thử này. Nhưng rồi việc này trở nên hết sức kỳ quặc, một phần những gì đang viết là lịch sử của phim câm và một phần xoay quanh chủ đề bản sắc Do Thái và bán Do Thái.

Anh là người có một nửa dòng máu Do Thái trong mình, từ bên ngoại của mình. Dòng máu bán Do Thái ấy đã ảnh hưởng đến con người cũng như văn chương của anh đến mức độ nào?

Một mặt, tôi thực sự thích chất Do Thái mà mình kế thừa từ bên ngoại song mặt khác, tôi lại có mặc cảm như thể mình phản bội tinh thần phương Bắc, tinh thần dòng Methodist [Giám lý] của gia đình bên nội. Như thể đó là phần rất chán. Tuy nhiên, trong văn chương, tôi thực sự thấy mình có những sự gần gũi với nhiều nhà văn Do Thái.

Trước đây, anh đã nói về sự khác nhau giữa người Do Thái ở Anh và người Do Thái ở Mỹ, những truyền thống văn chương khác nhau. Làm thế nào anh có thể hòa hợp với cộng đồng này và sự khác biệt nằm ở đâu?

Có lẽ phải nói thế này: vì tôi mang dòng máu Do Thái của bên ngoại nên tôi chỉ là dân Do Thái về mặt “kỹ thuật” mà thôi, và đấy là một khẳng định tôi không thích.

Nhưng đó cũng là khẳng định của hầu hết những người Do Thái khác!

Đúng rồi. Và có một phản ứng bướng bỉnh theo kiểu hễ có ai vừa nói tôi là thế này thì mình phải lên tiếng ngay tôi là thế khác. Có một sự kỳ cục khi là một kẻ bán Do Thái: lúc nào ta cũng có thể bước sang một bên và trở thành một kẻ khác. Và như thế, gia đình Do Thái của tôi lại rất phi Do Thái; ông ngoại tôi thuộc tầng lớp thị dân, một người đã bị đồng hóa, là thành viên của câu lạc bộ cricket – rất giống với chất Do Thái ở nhân vật Haffner. Nó rất điển hình cho khí chất của bộ phận dân Do Thái không nhập cư sống ở Anh. Tôi đã bắt đầu từ truyền thống đó. Và rồi bạn sang Mỹ, dân Do Thái đã được Mỹ hóa dường như lại dị ứng với kiểu tự ghét mình rất thống cảm của dân Do Thái Anh. Trên thực tế, Cynthia Ozick đã có bài phản bác một bài viết của tôi trên Jewish Quarterly. Đó là một bài viết ngắn nửa đùa, nửa thật, trong đó tôi có nói một ý: mọi thứ văn chương vĩ đại đều mang tính chất bán Do Thái. Nhưng sự thật mà tôi muốn nói đến là: mọi thứ văn chương vĩ đại đều không thuộc về nơi chốn nào. Mẫu hình cho thứ văn chương này, với tôi, đó là Italo Svevo và Franz Kafka. Cynthia Ozick đã viết một bài “đánh” lại trong số kế tiếp của tạp chí Jewish Quarterly, cho rằng tôi là kẻ lãnh đạm, đúng kiểu người Anh đối với vấn đề Do Thái. Hài hước thật, vì khi viết, tôi khước từ mọi sự ấn định, áp đặt bản sắc và tôi nghĩ Cynthia cho rằng đấy là biểu hiện của sự tự ghét mình đầy thống cảm và là lý do tại sao dân Do Thái Anh lại chẳng có tí day dứt nào đối với vấn đề Holocaust. Vì vấn đề Holocaust, tất cả chúng ta phải đứng lên và trở thành người Do Thái.

Anh có nghĩ rằng thái độ đó đã khuôn định nhiều tác phẩm văn chương Do Thái Mỹ?

Đúng thế, và tôi thấy một số tác phẩm văn chương Do Thái Mỹ có một thứ kitsch mà tôi không chịu nổi. Một vài nhà văn cố gắng đeo bám một thứ không thực ra không ở đó. Thế hệ văn chương Do Thái ở Mỹ hiện thời dường như rất sến. Có cả một xu hướng học theo hướng nhã hóa lối viết của Isaac Bashevis Singer, một nhà văn có thể xem như không có phong cách nhất quán đồng thời là một nhà văn mà ở những sáng tác hay nhất của mình lại là một nhà văn không hề “hiền lành” chút nào. Một nhà văn kiểu như Gary Shteyngart lại khác. Trước tiên, ông ta về cơ bản là người Nga. Và ông ấy đang tạo ra một thứ Do Thái giả; ông làm điều này một cách hoàn toàn ý thức. Đó là một dị bản theo kiểu hài kịch của Groucho Marx về chất Do Thái. Shalom Auslander cũng là một tên tuổi khác biệt. Ông ấy đã bỏ đạo Judaism chính thống, vì thế, tôi thấy ông có thẩm quyền để nói về nó. Không hề vướng víu tí tình cảm chủ nghĩa nào ở đây.

Thế còn văn chương Do Thái Anh?

Tôi nghĩ đến Howard Jacobson. Nhưng thực sự tôi nghĩ ở văn chương Anh, có nhiều tác giả Do Thái hơn người ta nghĩ. Tôi không chắc có bao nhiêu người nghĩ Will Self là một nhà văn Do Thái. Người ta thường chỉ căn cứ theo những cái tên. Tôi cũng không chắc có bao nhiêu người xem tôi là một nhà văn Do Thái. Tình hình có thể khác nếu tôi mang họ của mẹ mình; giả sử tôi mang một cái họ như Goldman chẳng hạn. Có nhiều nhà văn bán Do Thái trong cộng đồng văn hóa Do Thái ở Anh. Không hẳn là họ chủ ý giảm thiểu chất Do Thái trong văn chương nhưng không phải lúc nào đó cũng là vấn đề trung tâm trong sáng tác của họ. Nhưng cộng đồng Do Thái ở Mỹ thì ám ảnh nhiều hơn về vấn đề bản sắc và đó là điều tôi không thích. Ý niệm điên rồ cho rằng bản sắc thì phải thế này thế nọ trên thực tế lại là thứ ít là con người của bạn nhất, đó là thứ mà bạn chia sẻ với cả ngàn người. Ý thức bản sắc là một thứ ý thức rất mãnh liệt, dữ dội ở cộng đồng Do Thái Mỹ. Mối nguy hiểm của điều này, theo tôi, là ở một số nhà văn, nó trở thành một thứ gì đó rất giả. Đây là một sự hồ nghi cả về phương diện đạo đức lẫn mỹ học. Vì lặp lại người khác là một thứ tội khó tha thứ. Lấy phong cách của kẻ khác mà không thêm được cái gì mới vào trong đó cũng là một thứ tội không bỏ qua được… Và tất nhiên có một khoảng khuyết ở cộng đồng Do Thái Anh, đối lập với cộng đồng Do Thái ở châu Âu lục địa và cả cộng đồng Do Thái Mỹ trong chừng mực nào đó, là vấn đề Holocaust.

Tôi nghĩ không hoàn toàn như vậy.

Đúng, không hoàn toàn như vậy. Nhưng ngay cả những người tị nạn từ châu Âu đến Anh đều có xu hướng đồng hóa nhanh. Điều này khiến tôi chú ý: nó vừa như một thái độ khuất phục lại vừa là biểu hiện của chủ nghĩa phóng túng. Có nghĩa là, nếu là người Anh công khai, bạn có thể làm điều gì mình thích cũng được trong đời sống riêng. Tôi cho rằng người Hồi giáo cũng đang nhận được điều này. Nhưng cũng có điểm tương phản nhỏ giữa tôi và cộng đồng. Giữa cộng đồng Do Thái châu Âu nói chung và ở Anh cũng có những điểm gần gũi. Không xem nó như là phần duy nhất của bản sắc của mình, như thế, ta có thể có hai bản sắc cùng lúc. Đấy là điểm mà tôi thích quy về bản thân mình. Về mặt cảm xúc, tôi muốn né tránh, muốn nhân bội, chẳng có gì sau khi người ta muốn mình còn hơn một thứ duy nhất nào đó. Hay, nói khác đi, điều tôi thực sự muốn viết bây giờ là tình trạng một nửa.

Anh có cho rằng hình dung về Israel ở Mỹ có sự liên đới với ám ảnh về sự sở hữu bản sắc Do Thái mà ở vương quốc Anh chúng ta ít vướng phải hơn không? Vì ở Mỹ, Israel là vấn đề nhạy cảm hơn rất nhiều so với các nơi khác, thậm chí hơn cả chính ở Israel.

Tôi nghĩ điều này có liên quan đến việc thánh hóa các nạn nhân. Và cũng do bản sắc là câu chuyện quan trọng ở Mỹ. Thêm nữa, điều này đơn giản hơn, có nhiều mối liên hệ gia đình hiểu theo nghĩa đen ở Mỹ hơn. Bạn bè Do Thái của tôi ở Mỹ có người nhà ở Israel hơn bạn bè Do Thái ở Anh của tôi. Vì thế Israel có một giá trị đặc biệt đối với dân Do Thái Mỹ. Nhưng đó cũng chỉ là một bản sắc Do Thái tưởng tượng mà thôi. Một tưởng tượng về vai nạn nhân của mình. Primo Levi thực sự thích thú điều này. Tôi muốn nói rằng, ông đã ở đó, đã trải qua Holocaust và ông đã nói: “Tôi không thể khẳng định được, tôi không thể là một nạn nhân vì tôi đã sống sót và do đó theo định nghĩa, tôi đã không ở đó.” Và đó chính là điều mà tôi gọi là “cái ác” của nhà văn. Trở lại với câu hỏi ở đầu bài phỏng vấn này, khi tôi nói đến sự ác, sự tàn nhẫn, sự gây khó chịu như là phẩm chất cần có của văn chương thì đó không chỉ nhằm nói đến việc nhà văn xây dựng những nhân vật ác, tàn nhẫn,  lạnh lùng, khó chịu mà ở chỗ nhà văn sẵn sàng chơi giỡn với những ý tưởng đại loại như giờ đây không ai có thẩm quyền để kể về bi kịch của dân Do Thái. Người ta cần phải chịu chơi hơn nữa. Đối với tôi, đây thật sự là điểm thú vị và nó cần một độ lạnh lùng nhất định để có thể mô tả chính xác. Sự lạnh lùng như thể hẳn sẽ không dễ làm người ta thích. Nó sẽ không làm hài lòng những người không phải Do Thái, những người vốn thích hơn hình ảnh dân Do Thái u buồn và nó chắc chắn cũng không làm thỏa mãn kỳ vọng ở những Tuần lễ sách Do Thái.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Toby Lichtig, “An Interview with Adam Thirlwell”, Wasafiri, Vol.26, No.3, September 2011, p.34-37.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s