Sự bền bỉ của truyện ngắn

girl-reading

Thông cáo của Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển về giải Nobel Văn học 2013 dành cho Alice Munro chỉ đúc lại trong một khẳng định duy nhất: “Alice Munro – bậc thầy của nghệ thuật truyện ngắn”. Với sự khẳng định ấy, giải thưởng văn chương danh giá nhất thế giới này không chỉ tuyên dương nhà văn nữ người Canada mà còn là sự tôn vinh dành cho thể loại truyện ngắn vốn thường bị coi là thể loại nhỏ, phụ, có một địa vị khiêm nhường trong đời sống văn học thế giới. Các nhà văn theo đuổi thể loại này không có nhiều cơ may để được vinh danh trong các giải thưởng văn học lớn. Bản thân giải Nobel Văn học cũng đã bỏ lỡ những bậc thầy của nghệ thuật truyện ngắn, có ảnh hưởng sâu rộng đến tư duy tự sự hiện đại như Anton Chekhov, Jorge Luis Borges, Raymond Carver… và sự bỏ lỡ đó được xem như một mất mát đáng tiếc cho uy tín của giải thưởng. Chính Alice Munro khi phát biểu cảm tưởng về giải thưởng Nobel được trao cho mình cũng thừa nhận: “Đó là một điều tuyệt vời đối với cá nhân tôi, nhưng đồng thời cũng là điều tuyệt vời đối thể loại truyện ngắn… Truyện ngắn vốn thường chỉ được coi như là những bài tập trước khi người ta viết một cuốn tiểu thuyết… Tôi muốn truyện ngắn khẳng định được địa vị độc lập, đặc biệt của nó mà không cần phải vướng víu vào bất cứ điều gì khác”[1].

Lý do Alice Munro gắn bó với thể loại truyện ngắn dường như rất giản dị: viết tiểu thuyết đòi hỏi một khoảng thời gian tập trung liên tục tương đối dài – một điều kiện mà một phụ nữ làm nội trợ như bà khó đáp ứng được – trong khi nếu viết truyện ngắn, bà chỉ cần tận dụng những khoảng nghỉ trong ngày. Song trên thực tế, truyện ngắn của Alice Munro lại rất đậm chất tiểu thuyết: chúng có thể được xem là trường hợp điển hình của hiện tượng tiểu thuyết hóa truyện ngắn. Điều này không chỉ thể hiện ở dung lượng truyện ngắn của Munro: hơi nghịch lý khi nhiều người gọi đó là những truyện ngắn…dài bởi dung lượng lên đến 20-30 trang in. Nhưng quan trọng hơn, chất tiểu thuyết thể hiện ở chỗ từ những khoảnh khắc, những lát cắt thực tại, Alice Munro làm nổi bật những ngổn ngang không hoàn kết, những tình thế tiến thoái lưỡng nan của con người, những ràng rịt vô hình nhưng có sức nặng thật sự của tâm trạng làm con người bị mắc kẹt trong nghịch lý đời sống. Đó là loại truyện ngắn tâm lý kiểu Chekhov – nhà văn mà Alice Munro không giấu giếm việc chịu ảnh hưởng. Nhìn trên bề mặt, dễ có cảm giác Munro đi theo một lối viết nghiêng về cổ điển nhưng như nhà phê bình Jason Farago nhận xét: “Những truyện ngắn này trên thực tế lại thể hiện sự cách tân hình thức ở chiều sâu, với sự đổi giọng đột ngột và các dàn cảnh được đan móc với nhau một cách bất thường, cọ xát với nhau như kim loại cọ xát với kim loại. Đấy chính là cảm giác khó chịu, thậm chí gây bức bối mà một truyện ngắn của Munro thường để lại. Đó không phải làm ám ảnh về một chuyện tình dở dang, một cuộc vật lộn của con người với bệnh ung thư… mà là một cảm giác rộng hơn về tình trạng mất cân bằng và bất định. Cảm giác đó xuất phát từ hình thức, chứ không phải từ cốt truyện, và rõ ràng đó là một thành tựu xứng đáng với giải Nobel”[2]. Chất tiểu thuyết tâm lý ở truyện ngắn Munro, trên thực tế, hoàn toàn đủ bề rộng lẫn bề sâu để làm chất liệu cho các kịch bản điện ảnh, tương tự như một số truyện ngắn của Chekhov.

Trên thực tê, mô hình truyện ngắn tâm lý kiểu Chekhov không chỉ ảnh hưởng đến riêng Alice Munro; nó được nhiều nhà văn phương Tây khác kế thừa, trong đó có thể nhắc đến những tên tuổi như Carson McCullers, Edna O’Brien, Tobias Wolf…và đặc biệt là John Updike. Đặc trưng của mô hình truyện ngắn này, nếu phải thâu tóm trên nét lớn nhất, là cái nhìn cận cảnh, soi rọi tâm lý của con người trong những biểu hiện nhỏ nhặt, vặt vãnh của đời sống thường nhật, từ đó, tóm bắt được một khoảnh khắc đột biến từ bên trong có thể đẩy con người vào một khúc ngoặt bất định nào đó. Tất cả được diễn tả lại bằng một phương thức trần thuật điềm tĩnh, tỉ mỉ, nhẩn nha, nhằm khắc họa cuộc sống ở những bình diện vi mô, những xao động mơ hồ nhưng lại trở thành những thúc đẩy quyết định tại một lát cắt đời người. Trên tạp chí The New Yorker – một tạp chí hàng tuần vẫn dành trang để giới thiệu những tác phẩm hư cấu mới nhất (Alice Munro cũng là một tác giả thường xuyên được giới thiệu ở đây), có thể thấy rõ chủ nghĩa hiện thực tâm lý kiểu Chekhov vẫn có một sức sống mãnh liệt trong văn chương đương đại.

Nhưng thực ra diện mạo của truyện ngắn đương đại không phải là một bức tranh đơn điệu với sự kế thừa một truyền thống duy nhất từ truyện ngắn tâm lý kiểu Chekhov. Ernest Hemingway là người tạo ra một khúc ngoặt khác của truyện ngắn đương đại: truyền thống của chủ nghĩa tối giản trong văn xuôi. Nghệ thuật của văn xuôi tối giản, nếu dùng một hình ảnh so sánh, có thể ví như nghệ thuật điêu khắc: toàn bộ nỗi đam mê của chủ nghĩa tối giản dồn vào kỹ thuật tỉnh lược để những gì được giữ lại phải là những gì sắc nhọn nhất. Không ham những mô tả tỉ mỉ với các chi tiết rậm rạp, văn xuôi tối giản lại chú trọng tạo ra các khoảng trống, tạo ra những ám thị trong im lặng về những rạn vỡ, những đứt đoạn, những khủng hoảng của đời sống đương đại. Lối viết tối giản điển hình của Ernest Hemingway hay Raymond Carver cho thấy một chủ đề ám ảnh của truyện ngắn là sự loay hoay của con người hiện đại để nói ra lời của mình, sự bất lực của các nhân vật khi không biết kể thế nào, không biết diễn đạt thế nào về tình thế, về câu chuyện của mình, dù nó đã hay đang diễn ra. Khuynh hướng tối giản trên thực tế không đối lập hoàn toàn với truyền thống của Chekhov. Bản thân Raymond Carver cũng thường được goi là Chekhov của nước Mỹ thời hậu công nghiệp. Có lẽ sự khác biệt trong cách tiếp thu truyền thống của Chekhov ở Munro và Carver: một bên theo dõi những đường vòng của cảm xúc con người, một bên xoáy cái nhìn của mình vào những gián đoạn, đứt gãy mà con người cố dùng ngôn từ giao tiếp để che lấp.

Một dòng mạch khác có thể xem là dòng mạch “ngoại vi” của bản thân thể loại vốn thường bị mặc định là nhỏ, phụ này: xu hướng trò chơi với chính tính chất “ngắn”, với sức nén của thể loại. Những người thể nghiệm trò chơi này có thể nhắc đến như Jorge Luis Borges, Julio Cortazar, Augusto Montserro, Thomas Bernhard, Yasunari Kawabata… và trước hết, người xứng đáng được xem như người bày trò đầu tiên phải là Franz Kafka. Truyện ngắn theo khuynh hướng này tự làm khó mình thêm một cấp độ nữa: nó thể nghiệm ở một câu chuyện ở mức tới hạn của độ ngắn. Một câu chuyện có thể chỉ gói trong một, hai câu. Với thể nghiệm này, truyện ngắn hiện đại dường như phục nguyên sức mạnh của những thể loại lời nói ngắn: những cách ngôn, câu đố, mật ngữ, thơ. Cái “ngắn” trong những truyện ngắn kiểu Kafka, kiểu Borges hàm chứa trong mình sức mạnh của những suy tưởng triết học, của những quan hệ liên văn bản được dồn nén, sự kinh ngạc của các hình ảnh lẫn sự gợi cảm, trọng lượng không thể thay thế được của từ, của nhịp văn. Đơn cử như truyện ngắn dưới đây của Thomas Bernhard:

“Tuần trước, tại Linz, 180 người bị cúm trong đợt dịch đang nổi lên ở đây đã chết, song họ không chết vì cúm, họ chết do đơn thuốc bị hiểu sai bởi một tay dược sĩ vừa mới được nhận việc. Tay dược sĩ đó chắc sẽ bị xử vì tội giết người không cố ý và vụ án có thể được xét xử, theo như lời báo chí, thậm chí ngay trước Lễ Giáng sinh.” (“Đơn thuốc”)[3].

Truyện cực ngắn này chồng chất các nghịch lý, tạo thành độ căng tự sự. Thủ pháp nhại phong cách tin tức báo chí khiến câu chuyện mang màu sắc hài hước đen rõ nét, vừa xoáy sâu vào sự vô trách nhiệm, ấu trĩ của cá nhân trong mối quan hệ với xã hội, vừa phơi bày cả sự tàn nhẫn của đám đông trong mối liên hệ với một cá nhân. Câu chuyện cô đọng những xung đột tiềm tàng của xã hội hiện đại chỉ trong hai câu văn.

Ba mô hình truyện ngắn: kiểu Chekhov, kiểu Hemingway, kiểu Kafka…chưa hẳn đã bao quát được diện mạo phong phú của thể loại này trong văn chương đương đại thế giới. Điều đáng nói là cả ba mô hình truyện ngắn này đều có thể tìm thấy trong văn xuôi đương đại Việt Nam. Người ta có thể thấy mô hình Chekhov trong các truyện ngắn của Dạ Ngân, sự tương ứng với lối viết tối giản trong truyện ngắn Phan Triều Hải, Ngô Phan Lưu, hay những truyện cực ngắn giàu tính thơ và tính dụ ngôn theo phong cách Kafka, Borges của Nhật Chiêu, Nguyễn Nguyên Phước, Hoàng Long, Lê Minh Phong…

Trở lại với bức tranh truyện ngắn đương đại thế giới, Aleksandar Hemon trong bài viết “The Short Story – A Surving Species” (Truyện ngắn – một chủng loại sống sót) đã cung cấp một gợi ý lý thú để suy ngẫm về địa vị cũng như triển vọng của hai thể loại vốn được xem là không cùng đẳng cấp với nhau: tiểu thuyết và truyện ngắn. Hemon trích lại nhận định của Benedict Anderson để thấy tiểu thuyết được đề cao vì nó gắn liền với sự tưởng tượng về quốc gia: “Ý niệm về một tổ chức xã hội vận động trên một khoảng thời gian đồng nhất, rỗng (giống như sự di chuyển của nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết) hoàn toàn tương đồng với ý niệm về quốc gia, vốn được hình dung như một cộng đồng vững chãi vận động đều đều theo hướng đi lên hoặc đi xuống trong lịch sử”[4]. Truyện ngắn thì khác, “nó được nuôi dưỡng bởi những phần dư thừa của tự sự về tinh dân tộc”. Ý thức hệ chìm dưới mỗi thể loại đã khiến tiểu thuyết và truyện ngắn, tuy cùng trỗi dậy ở thế kỷ XIX, nhưng được trao cho những danh phận khác nhau. Tuy nhiên, tình hình đã khác ở những năm cuối thế kỷ XX- đầu thế kỷ XXI này, khi xu hướng giải lãnh thổ diễn ra mạnh mẽ dưới ảnh hưởng của internet, truyện ngắn dường như đang bắt đầu một sinh lộ mới. Aleksandar Hemon viết: “Vì tiểu thuyết là thể loại được cưng chiều của các nền văn học quốc gia, nó có nguy cơ bị mất vị thế cùng với ý niệm về văn học quốc gia, hay ít nhất phải chịu đựng sự chuyển hóa đau đớn mà các nên văn hóa quốc gia đang trải qua. Truyện ngăn sẵn sàng hơn để thích ứng với một thế giới mới chính bởi địa vị được mặc định là nhỏ, phụ, thứ yếu của nó. Truyện ngắn ít lệ thuộc vào tính hiệu lực của các thiết chế của văn học quốc gia. Gắn bó một cách cố hữu với báo chí, hình thái xuất bản điều chỉnh nhanh hơn so với sách, truyện ngắn có thể đáp ứng độc giả và cái thế giới đang thay đổi chóng mặt theo một cách thức mau lẹ và gần gũi mà tiểu thuyết khó sánh được. Hơn nữa, khi điều kiện đọc cũng thay đổi theo sự mở rộng của công nghiệp máy tính và internet, truyện ngắn tương thích với phương tiện mới mà không cần phải cố gắng gì nhiều, trong khi tiểu thuyết sẽ phải tốn rất nhiều thời gian – tiến trình của một tổ chức xã hội giờ đã là một câu chuyện hoàn toàn khác trong không gian số phi biên giới, phi biên niên”[5]. Dẫn lại phân tích của Aleksandar Hemon để thấy khả năng hòa vào bức tranh chung của thể loại truyện ngắn trong thời đại mạng hóa, toàn cầu hóa là một cơ hội mở ra với các nhà văn Việt Nam hôm nay./.

Trần Ngọc Hiếu

(Bài đăng báo Văn nghệ trẻ số 2-1-2014.)


[1] Lisa Allardice: “Nobel Prize Winner Alice Munro: ‘It’s a wonderful thing for the short story”, http://www.theguardian.com/books/2013/dec/06/alice-munro-interview-nobel-prize-short-story-literature

[2] Jason Farago, “At last, a Genuine Popular Nobel Laureate”, http://www.newrepublic.com/article/115131/alice-munro-nobel-prize-modern-master

[3] Thomas Bernhard, “Prescription”, 104 Stories by Thomas Bernhard, bản dịch tiếng Anh của Kenneth J. Northcott, The University of Chicago Press, Chicago & London: 1997, trang 26.

[4] Dẫn theo Aleksandar Hemon, “The Short Story – A Surviving Species”, in trong Writers on Writing: The Art of the Short Story, Maurice A. Lee biên soạn, Greenwood Publish Group, 2005, trang 208.

[5] Aleksandar Hemon, sđd, trang 212.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s