Jeffrey Nealon- Susan Searls Giroux- Queer

Judith Butler

Cái được gọi là thuyết “queer” (thuyết đồng tính) có liên hệ mật thiết đến những phương pháp tiếp cận và những kiến giải của lý thuyết về phái tính: nếu lý thuyết về phái tính đã cho thấy có thể gỡ khái niệm “phái tính’ [gender] ra khỏi một quan điểm bản chất luận về “giống” [sex] (và ngược lại)  thì thuyết đồng tính chứng minh cũng có thể gỡ “hành vi tính dục” [sex acts] khỏi bản sắc phái tính [gender identity]. Nếu kiến giải quan trọng nhất của thuyết phái tính, nói theo chữ của Judith Butler, là “phái tính không phái sinh từ tính dục” [gender does not follow from sex, Gender Troubled], tức là, các phạm trù văn hóa không đơn giản chỉ đi theo những luật lệ được mặc định là tự nhiên thì kiến giải quan trọng nhất của thuyết đồng tính có thể là luận điểm có liên hệ mật thiết với kiến giải nói trên: “tính dục về bản chất không phải là một đặc điểm cá nhân mà là một phạm trù văn hóa có sẵn” (Queer theory). Nói cách khác, thuyết đồng tính sẽ không ngừng cho thấy không hề có mối liên hệ “tự nhiên” nào giữa công cụ giải phẫu với điều được xem là ý nghĩa hay chức năng của công cụ đó trong một ngữ cảnh nhất định – giữa một quan điểm sinh lý về tình dục và một hành vi tính dục cụ thể.

“Queer” đương nhiên ở một mức độ nhất định là từ dùng thay cho “gay” (đồng tính nam) hay “lesbian” (đồng tính nữ), bản thân những từ này lại thay thế cho từ “homosexual” (khuynh hướng tình dục đồng giới) ở thế kỷ XIX. Vấn đề thuật ngữ ở đây là quan trọng. Như Annamaria Jagose gợi nhắc:

Từ “homosexuality” (đồng tính) – vốn được một bác sĩ người Thụy Sĩ, Karoly Maria Benkert, đặt ra vào năm 1869 – vốn không được sử dụng rộng rãi trong tiếng Anh cho đến năm 1890, khi nó được nhà nghiên cứu về tình dục, Havelock Ellis, sử dụng. Từ này vẫn còn được dùng ở một mức độ phổ biến nhất định song vì sự liên đới khá chặt chẽ của nó với những diễn ngôn bệnh lý trong y học nên ngày nay nó hiếm khi được sử dụng như một thuật ngữ của sự tự xác định căn cước [self-identification]… Vào thập niên 1960, các nhà đấu tranh cho chủ nghĩa tự do đã dứt điểm không dùng từ “homosexuality” nữa, mà thay vào đó, bổ sung vào kho từ vựng từ “gay” và do đó, đã cấp một địa vị mới cho một từ lóng mà ở thế kỷ XIX vốn được dùng để chỉ những người phụ nữ có đạo đức đáng ngờ.” (Queer Theory, 72).

Bước chuyển từ “homosexual” sang “gay” như một ký hiệu tự xác định căn cước hoàn toàn nằm trong quá trình giải tự nhiên hóa tính dục. Jagose nói tiếp, “sự thông dụng của từ ‘gay’ cho thấy tiềm năng của nó trở thành một khái niệm phi bệnh lý, trút bỏ gánh nặng của một thứ lịch sử tình dục được chủ yếu nhìn nhận từ khía cạnh bệnh học”. (Queer Theory, 73).

Trên thực tế, nếu như dưới con mắt của các lý thuyết gia về phái tính, sự phân cực đàn ông/đàn bà theo tinh thần bản chất luận là điều đáng ngờ thì đối với một nhà nghiên cứu lý thuyết đồng tính, sự khác biệt giữa dị giới/đồng giới cũng là điều cần phải tra vấn. Làm sao ta có thể từ một phạm vi rất rộng và đa dạng các hành vi tình dục mà con người thực hiện để đi đến ý niệm là chỉ có “hai” bản năng giới tính, “hai” hình thái tình dục? Như Eve Kosofy Sedgwick chỉ ra, có vô số những thứ mà con người ta xem là trải nghiệm về tình dục; cùng một hành vi tình dục dưới những con mắt khác nhau có thể bộc lộ những ý nghĩa khác nhau. Đối với một số người, tình dục là tất cả những gì liên quan đến bộ phận sinh dục, trong khi với kẻ khác, nó không khác một trò chơi của tinh thần; một số người rất quan tâm đến tình dục như thể đó là một phần bản sắc của mình, dành nhiều thời gian để nghĩ về tình dục; người khác lại thấy nó không có liên hệ nhân quả nào đối với sự tự xác định mình và hầu như chẳng mất thời gian để suy tư nó; một số người không thể có quan hệ tình dục bên ngoài những ngữ cảnh đầy ý nghĩa của tình yêu, hồn nhân, niềm đam mê, v.v…; với kẻ khác, tình dục là thứ phải mang tính chất bộc phát nhưng lại có người xem tình dục phải là hành động được lên kịch bản rất rõ, thậm chí đến mức làm sao tạo ra cảm giác đó là sự hưng phấn bộc phát. Và thực tế, chúng ta đã có câu chuyện về cựu tổng thống Bill Clinton và cô nhân viên Monica Lewinsky để minh họa cho một luận điểm hóa ra lại rất quan trọng đối với thuyết đồng tính: Nói đơn giản là, chúng ta bất đồng trong việc xem cái gì cấu thành nên “tình dục”. Tóm lại, đó là một con dốc rất trơn.

Rõ ràng sự phân loại  cái mà Gilles Deleuze gọi là “cả ngàn biểu hiện tình dục nhỏ li ti” [a thousand tiny sexualities] có thể sẽ vẫn còn tiếp diễn trong cả một thời gian dài nữa, nhưng mục đích của việc liệt kê như vậy chỉ là để phức tạp hóa cái mà Sedgwick gọi là một nhận thức mang tính chất tiên đề [axiomatic] về tình dục, sự quy giản vô số những hình thức, kiểu biểu hiện của tình dục và hành vi tình dục thành hai (có thể là ba) loại: đống tính hay dị tính (hoặc lưỡng tính). Sedgwick đặt câu hỏi, “Làm thế nào mà giới tính (bản thân khái niệm này vốn dĩ đã phức tạp, như ta đã thấy) của đối tượng khơi dậy ham muốn tình dục của bạn lại dấu hiệu xác định sự thật về bản năng giới tính của bạn? Tại sao sự khác biệt ấy lại là sự khác biệt tạo nên tất cả những khác biệt khác? Làm thế nào mà tình dục từ chỗ bao gồm vô số những hành vi cuối cùng chỉ quy lại thành hai trạng thái?

Mượn một thuật ngữ từ ngôn ngữ học, cả Sedgwick và Butler đều lập luận rằng phái tính và tình dục là những diễn ngôn biểu hành (performative): chúng đều chỉ nói về các hành vi (acts) và sau đó mới là trạng thái tồn tại. Người ta không sinh ra là đàn bà, đàn ông hay đồng tính: người ta trở thành đàn bà, đàn ông hay đồng tính chỉ trong ngữ cảnh ngữ cảnh sự trình diễn, biểu hành hay không trình diễn, biểu hành những hành vi nhất định nào đó. Đồng tính không gọi tên một trạng thái tồn tại: nó biểu thị một hữu thể (being) thực hiện một số hành vi nhất định nào đó, kẻ được nhận diện và được phân loại bằng những phạm trù xã hội hơn là những thuộc tính bản chất. Hay, nói cách khác, những thuộc tính bản chất của căn cước một con người bị “trì hoãn” (backloaded) từ những hành động chủ quan; ý nghĩa của tính dục, phái tính, chủng tộc bao giờ cũng phụ thuộc vào việc tính dục, phái tính, chủng tộc hoạt động như thế nào. Bản sắc chủ thể, như ta đã quan sát từ đầu đến giờ, hoạt động từ ngoài vào trong hơn là ngược lại.

Trong các thuật ngữ ngôn ngữ học mà ta nhắc đến ở trên, bất cứ một câu  nhận định nào (constative utterance), tức một hành động lời nói chỉ đơn thuần muốn mô tả một dữ kiện hay phát biểu một sự hiển nhiên đã tồn tại trước đó, trên thực tế, đã hoàn toàn là một câu ngôn hành (performative utterance), tức một phát ngôn mà nhận định “biểu diễn/thực hiện” hành động mà nó quy chiếu. Ví dụ, câu “Hoboken ở New Jersey” là câu mà người ta có thể gọi là câu nhận định: nó dường như chỉ thông báo lại một dữ kiện hay mô tả một sự tình đã được chứng minh là đúng. Ngược lại, câu “Tôi hứa ngày mai sẽ trả nợ anh” hay lời của quan tòa “Giờ tôi xin tuyên bố hai anh chị là vợ chồng ” lại là những câu ngôn hành rõ ràng, chúng đòi hỏi phải có một hành động được thực hiện trước khi chúng được phán là “đúng” hay “sai”. Chúng thực sự làm xuất hiện một tình thế mà chúng muốn quy chiếu – hôn nhân hay lời hứa không phải là thứ đã tồn tại sẵn rồi; đó là những chuyện được hiện hữu nhờ hành động cụ thể: kết hôn hay trả nợ. Nói gọn lại, những câu ngôn hành nói về các hành động (acts) trong khi đó những câu nhận định nói về các dữ kiện (facts).

Song như ta đã thấy nhiều lần trong cuốn sách này, dữ kiện thực ra đã và mãi bị lệ thuộc vào những hành động nhất định, hơn là theo chiều ngược lại. Thí dụ, một nhận định đơn giản hay một dữ kiện đơn giản: “Hoboken ở New Jersey” đã bị quy định bởi một số những “hành động” trước đó. “New Jersey”, chẳng hạn, khó có thể nói là một thực thể tự nhiên hay mang tính bản chất; nó được xác định bởi các nhà lập pháp, các chính trị gia, những người làm bản đồ. Đã phải có một số hành động xảy ra để bất cứ một nhận định đơn giản nào có thể được xác nhận là đúng và ngay cả một nhận định đơn giản về sự thật tự thân nó cũng đã là hành động. Trái với niềm tin phổ biến, hóa ra nói một điều gì đó tức là làm một điều gì đó (từ đây ta mới thấy được tầm quan trọng của việc “coming out” [thú nhận về giới tính] trong cộng đồng queer). Sự thật, thậm chí ngay cả sự thật về giới tính, phụ thuộc vào các hành động, hành vi hơn là ngược lại. Bạn là ai là hệ quả của việc bạn làm gì.

Đây là kiến giải quan trọng nhất của lý thuyết đồng tính và nó có nhiều điểm chung với những chương trước của cuốn sách này. Trên thực tế, toàn bộ cuốn sách này gợi ý cho ta thấy các phạm trù của xã hội và cá nhận trước hết và quan trọng hơn hết là những phạm trù biểu hành (performative), được kiến tạo để phán ứng lại những ngữ cảnh cụ thể.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: “Queer” in trong The Theory Toolbox – Critical Concepts for the Humanities, Arts & Social Sciences, p.170-5., Rowman & Littlefield Publishers, Inc., 2003.

(Bản dịch nháp làm tài liệu cá nhân, tôi post lên đây mong nhận được những góp ý về cách dịch, cách hiểu vì quả thật có rất nhiều chỗ tôi thấy mình dịch không thoát. Rất cảm ơn mọi đóng góp).

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s