Kenzaburo Oe – Viết như là cách để hủy giọng của mình

Kenzaburo-Oe-00

Kenzaburo Oe (1935) là nhà văn Nhật Bản thứ hai được trao tặng giải thưởng Nobel Văn học (năm 1994), sau Yasunari Kawabata (1968). Độc giả Việt Nam ngay từ trước 1975 đã biết đến tác phẩm Nuôi thù của Kenzaburo Oe – tác phẩm đem lại cho ông giải thưởng Akutagawa danh giá của văn học Nhật Bản khi mới 23 tuổi – qua bản dịch của Diễm Châu. Sau này, cuốn tiểu thuyết A Personal Matter (Một nỗi đau riêng) của ông cũng đã được dịch giả Lê Ký Thương chuyển ngữ sang tiếng Việt. Ngoài ra, một số truyện ngắn khác của ông như “Aghwee – Quái vật trên trời”, “Người đàn bà lắng nghe cây mưa”… cũng đã có bản dịch tiếng Việt.

Kenzaburo Oe nằm trong số không nhiều những nhà văn sau khi được vinh danh với giải Nobel Văn học vẫn tiếp tục chứng minh năng lượng sáng tạo dồi dào của mình với những tác phẩm đầy tính thách thức mà tiêu biểu là cuốn tiểu thuyết gần đây nhất của ông Death by Water (Nước tử). Bài phỏng vấn do Sarah Fray thực hiện đăng trên The Paris Review dưới đây không chỉ giúp độc giả hình dung được phương pháp lao động giống như một phu chữ của Oe mà còn cho thấy một nhà văn lớn còn là một độc giả lớn: tác giả mà nhà văn ấy chọn đọc, cách đọc mà nhà văn ấy thể hiện cũng đặc biệt, độc đáo, sâu sắc không kém những trang văn hư cấu của ông ta.

*

Sarah Fray (S.F):  Ông có kinh nghiệm nào về nghệ thuật viết muốn truyền đạt hay không?

Kenzaburo Oe (K.O): Tôi là kiểu nhà văn viết đi viết lại bản thảo nhiều lần. Tôi rất hào hứng sửa chữa mọi thứ. Nếu bạn nhìn những bản thảo của tôi, bạn có thể thấy có rất nhiều chỗ tôi đã sửa đổi. Vì thế, một trong những phương pháp sáng tác chính của tôi là “lặp lại với sự khác biệt”. Tôi bắt đầu một tác phẩm mới trước hết bằng việc tìm một cách tiếp cận mới đối với tác phẩm mà mình vừa hoàn thành – tôi cố gắng chiến đấu với cùng một đối thủ thêm một lần nữa. Trên bản thảo là kết quả của quá trình chiến đấu này, tôi lại tiếp tục làm việc tỉ mỉ. Quá trình lao động giống như một phu chữ này – cứ viết rồi xóa, rồi thay đổi – khiến những dấu vết của bản thảo cũ biến mất. Tôi coi tác phẩm của mình là một chỉnh thể của những khác biệt bên trong sự lặp lại.

Tôi vẫn thường nói sự công phu này là điều quan trọng nhất mà một người viết tiểu thuyết phải học. Edward Said[1] đã viết một cuốn sách rất hay có nhan đề Musical Elaborations (Công phu trong âm nhạc), trong đó ông đã phân tích ý nghĩa của sự công phu trong quá trình sáng tác của những nhà soạn nhạc vĩ đại như Bach, Beethoven và Brahms. Nhờ sự công phu này, những nhà soạn nhạc ấy đã tạo nên những cảm quan mới.

S.F: Làm sao ông nhận ra khi nào mình đã dụng công sửa chữa, thay đổi quá nhiều?

O.E: Đấy là một vấn đề. Tôi cứ sửa chữa, thay đổi và rồi độc giả của tôi theo thời gian cũng ngày một ít hơn. Lối viết của tôi trở nên khó đọc. Đó là một lối viết bện xoắn và phức tạp. Đấy là điều cần thiết để tôi hoàn thiện tác phẩm của mình, tạo ra một cảm quan mới nhưng cách đây 15 năm, tôi có một mối hoài nghi sâu sắc, rằng sự công phu này có phải là phương pháp hợp lý đối với một người viết tiểu thuyết hay không?

Về cơ bản, một nhà văn giỏi luôn có cảm nhận của riêng mình về lối viết. Có một thứ giọng điệu tự nhiên, từ chiều sâu, giọng nói ấy hiện hữu này từ bản nháp đầu tiên của bản thảo. Khi anh ta sửa chữa, hoàn thiện bản thảo đầu tiên, nó tiếp tục củng cố và đơn giản hóa cái giọng điệu tự nhiên, từ chiều sâu ấy. Khi tôi giảng dạy tại Đại học Princeton của Mỹ vào năm 1996-1997, tôi có cơ may được đọc cuốn Huckleberry Finn, in theo bản thảo đầu tiên của Mark Twain. Tôi đọc khoảng 100 trang và dần dần nhận ra ngay từ đầu, Twain đã có một lối viết chính xác. Kể cả khi ông viết một thứ tiếng Anh phi chuẩn thì lôí viết ấy vẫn có một thứ nhạc tính. Lao động của Mark Twain trên bản thảo khiến nhạc tính ấy rõ nét hơn. Đối với một nhà văn giỏi, phương pháp làm việc với bản thảo này là một điều gì đó rất tự nhiên. Một nhà văn giỏi thông thường không cố gắng phá hủy giọng của mình nhưng tôi thì lại luôn tìm cách làm điều ấy.

S.F: Tại sao ông lại muốn phá hủy giọng của mình?

K.O: Tôi muốn tạo ra một lối viết văn chương mới trong ngôn ngữ Nhật Bản. Trong lịch sử văn học Nhật Bản hiện đại, bắt đầu cách đây 120 năm, lối viết không có xu hướng phức tạp hóa. Nếu bạn quan sát những nhà văn Nhật Bản như Tanizaki hay Kawabata, bạn sẽ thấy họ đi theo truyền thống của văn học cổ điển Nhật Bản. Lối viết của họ là những ví dụ tinh tế về văn xuôi Nhật Bản ở thời kỳ vàng của nền văn học này; nó đi theo truyền thống của những thể thơ ngắn – tanka và haiku. Tôi tôn trọng truyền thống ấy nhưng tôi muốn viết một cái gì khác.

Tôi viết tiểu thuyết đầu tay năm tôi 22 tuổi, khi đang là sinh viên chuyên ngành Văn học Pháp. Mặc dù viết bằng tiếng Nhật nhưng tôi say mê tiểu thuyết và thơ ca Pháp, Anh: Gascar và Sartre, Auden và Eliot. Tôi không ngừng so sánh văn học Nhật với văn học Pháp, Anh. Tôi có thể đọc tiếng Pháp hay tiếng Anh suốt tám tiếng đồng hồ và sau đó viết tiếng Nhật trong khoảng hai tiếng. Tôi cứ nghĩ, một nhà văn Pháp sẽ diễn đạt điều này như thế nào? Một nhà văn Anh sẽ diễn đạt điều như thế nào? Bằng việc đọc ngoại ngữ và viết tiếng Nhật, tôi muốn bắc một nhịp cầu. Nhưng văn chương của tôi ngày càng trở nên khó.

Ở tuổi 60, tôi bắt đầu nghĩ phương pháp của mình có thể sai, hình ảnh mà tôi nghĩ về cách thức sáng tạo có thể sai. Tôi vẫn lao động như một phu chữ cho đến khi không tìm được bất cứ một khoảng trống nào còn chừa trên trang giấy nhưng giờ là giai đoạn thứ hai. Tôi viết lại một phiên bản rất đơn giản, sáng rõ của những gì mình vừa viết xong. Tôi kính nể những nhà văn có thể viết cả hai phong cách – như Céline, người vừa có thể viết phức tạp, vừa có thể viết rõ ràng.

Tôi đã khám phá lối viết mới này trong bộ ba về “cặp đôi giả” của mình: Changeling (Đứa trẻ thay thế), The Child of the Sorrowful Countenance (Đứa con với sắc mặt u hoài)Goodbye, My Book (Tạm biệt nhé, cuốn sách của tôi). Tôi cũng viết với phong cách sáng sủa như thế trong cuốn Rouse Up O Young Men of the New Age (Dậy đi, những chàng trai của thời đại mới), nhưng đó là tuyển tập truyện ngắn đã rất cũ của tôi. Trong cuốn sách ấy, tôi muốn nghe giọng của bản ngã thật sự của mình. Song các nhà phê bình vẫn chỉ trích tôi vì những câu văn khó đọc và những cấu trúc phức tạp.

S.F: Thật thú vị khi biết ông đọc cả các sách học thuật và lý thuyết văn chương. Ở Mỹ, phê bình văn học và sáng tác hầu như loại trừ lẫn nhau.

K.O: Các học giả là những người mà tôi trân trọng nhất. Mặc dù họ phải lao động trong một không gian hẹp, nhưng họ đã tìm được những cách đọc thực sự rất sáng tạo về một số tác giả. Đối với một tác giả tiểu thuyết có suy nghĩ cởi mở, những cách đọc ấy có thể gợi mở cho anh ta một sự cảm nhận sắc sảo hơn về tác phẩm của một nhà văn nào đó.

Khi tôi đọc nghiên cứu về Blake, Yeats hay Dante, tôi luôn cố gắng đọc trọn vẹn và chú ý tìm ra những phát hiện khác nhau giữa các học giả. Đấy là chỗ mà tôi có thể học được nhiều nhất. Cứ mấy năm lại có một nhà nghiên cứu công bố một cuốn sách về Dante và mỗi học giả đều có cách tiếp cận hay phương pháp riêng của mình. Tôi đọc một học giả và nghiên cứu của ông ấy trong một năm. Rồi đến năm sau thì lại đọc một học giả khác, cứ như vậy.

S.F: Ông lựa chọn tác giả để đọc như thế nào?

K.O:  Đôi khi đó là một sự tiếp nối tự nhiên những gì mà tôi đã đọc. Chẳng hạn, việc đọc Blake dẫn tôi đến với Yeats, rồi từ Yeats, tôi đọc Dante. Cũng có khi khác, đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên thuần túy. Trong một chuyến đi quảng bá sách tại Vương quốc Anh, tôi dừng chân ở Wales. Tôi ở đó ba ngày và hết sách để đọc. Vậy là tôi tìm đến một hiệu sách địa phương, hỏi người bán sách ở đó giới thiệu một vài cuốn sách tiếng Anh. Ông ta giới thiệu một tập thơ của một nhà thơ xứ này nhưng lưu ý với tôi cuốn sách không bán chạy lắm. Tên của nhà thơ ấy là R.S. Thomas và tôi mua tất cả những sách của ông ấy mà hiệu sách có. Khi đọc Thomas, tôi nhận thấy ông là thi sĩ quan trọng nhất mà tôi được đọc ở thời điểm ấy trong đời mình. Tôi cảm nhận ông có nhiều điểm chung với Walter Benjamin, dù tưởng như họ rất khác nhau. Cả hai đều quan tâm đến ngưỡng giữa cái thế tục và cái thần bí. Và rồi tôi đã bắt đầu nghĩ mình đã thiết lập một mối quan hệ tay ba với Thomas và Benjamin.

S.F: Bây giờ ông đang tìm hiểu tác giả nào?

K.O: Ngay lúc này, tôi đang đọc những bài thơ sáng tác ở giai đoạn cuối đời, từ 1929 đến 1939, của Yeats. Yeats qua đời ở tuổi 73 và tôi muốn tìm hiểu ông như thế nào khi ở tuổi tôi bây giờ, 72. Tôi thích một bài thơ của ông viết khi 71 tuổi: “An Acre of Grass” (Đồng cỏ). Tôi đã đọc đi đọc lại bài thơ này, cố gắng triển khai ý tưởng từ đó. Tiểu thuyết sắp tới của tôi sẽ kể về một nhóm những ông già điên khùng, trong đó có cả một tiểu thuyết gia và một chính trị gia, những kẻ nghĩ những thứ điên rồ.

Đặc biệt có một câu thơ của Yeats gây ấn tượng mạnh với tôi: “My temptation is quiet” (Sự cám dỗ của tôi thật yên tĩnh). Tôi không trải nghiệm nhiều cám dỗ hoang dã trong đời mình nhưng tôi có cái mà Yeats gọi là “sự điên cuồng của một ông già”. Yeats không phải là người làm những chuyện lập dị song những năm cuối đời, ông ấy đã đọc lại Nietzsche. Nietzsche đã trích lại lời của Plato, rằng tất cả những gì thú vị ở Hy Lạp cổ đại đều bắt nguồn từ sự điên rồ hay cuồng dại.

Vì thế, ngày mai, tôi sẽ dành hai tiếng để đọc Nietzsche, nhưng để tìm ra một góc tiếp cận ý niệm về sự điên rồ của một ông già theo kiểu khác. Song tôi sẽ đọc Nietzsche trong khi nghĩ về Yeats. Điều này cho phép tôi đọc Nietzsche khác đi, trải nghiệm việc đọc Nietzsche cùng với Yeats.

S.F: Ông có thấy phải cạnh tranh với những nhà văn như Haruki Murakami hay Banana Yoshimoto?

K.O:  Murakami viết một thứ tiếng Nhật trong sáng, đơn giản. Tác phẩm của ông ấy được dịch sang nhiều thứ tiếng và được đọc rộng rãi, nhất là ở Mỹ, Anh và Trung Hoa. Murakami đã tạo được một vị trí cho mình trên văn đàn quốc tế theo một cách mà Yukio Mishima và cả chính tôi không thể đạt được. Đây thực sự là hiện tượng quốc tế đầu tiên của văn học Nhật Bản. Tác phẩm của tôi có độc giả nhưng khi nhìn lại, tôi không chắc mình bảo đảm được một lượng độc giả bền vững, ngay ở Nhật Bản. Dù đây không phải là sự cạnh tranh song tôi cũng muốn nhìn thấy nhiều tác phẩm của mình được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Đức hơn và có một lượng độc giả trung thành của mình ở những đất nước ấy. Tôi không cố để viết cho đại chúng, nhưng tôi muốn chạm đến con người. Tôi muốn kể với mọi người về những tác phẩm văn chương và những tư tưởng đã ảnh hưởng sâu sắc đến bản thân mình. Là người đã đọc sách cả đời, tôi hy vọng được kết nối với những nhà văn mà tôi cho là quan trọng. Lựa chọn đầu tiên của tôi là Edward Said, đặc biệt những cuốn sách được viết về sau của ông tác động rất nhiều đến tôi. Thật khó hình dung tôi sẽ viết ra sao nếu như không được nghe Said hay nghĩ về những điều Said viết. Những ý tưởng của ông có ý nghĩa rất lớn trong tác phẩm của tôi. Chúng giúp tôi tạo nên những hình thức biểu đạt mới trong tiếng Nhật, hình thành những tư tưởng bằng tiếng Nhật. Tôi cũng thích con người ngoài đời của ông ấy.

S.F: Phần lớn tiểu thuyết của ông đều được xây dựng trên chất liệu là đời tư của người viết. Ông có cho rằng tiểu thuyết của ông thuộc về truyền thống tiểu thuyết trần thuật từ ngôi thứ nhất, mang tính tự thuật (I- novel) của văn chương Nhật Bản hay không?

K.O: Có một số tác phẩm lớn của truyền thống tiểu thuyết này. Homei Iwano, nhà văn Nhật Bản cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX, là một trong số những tác giả mà tôi yêu thích. Có một cụm từ mà ông sử dụng – “sự can đảm trong vô vọng và tàn bạo”. Nhưng loại tiểu thuyết tự thuật này xoay quanh những gì xảy ra khi đời sống hàng ngày của tác giả bị gián đoạn bởi một biến cô bất thường, đặc biệt – một trận sóng thần, một cơn động đất, cái chết của một người mẹ, người chồng. Nó chưa bao giờ mở ra vấn đề về vai trò của cá nhân trong xã hội. Tác phẩm của tôi bắt đầu từ chuyện đời tư nhưng tôi cố gắng mở ra những vấn đề xã hội.

Dickens và Balzac viết về thế giới một cách khách quan. Họ viết được như thế với một tinh thần hướng ngoại rộng mở. Nhưng vì tôi viết về thế giới thông qua chính bản thân mình nên vấn đề quan trọng nhất đối với tôi là làm thế nào kể được một câu chuyện, tìm được một giọng điệu. Rồi sau đó nhân vật của mình xuất hiện.

S.F:  Vậy tất cả tiểu thuyết của ông đều khúc xạ qua những kinh nghiệm cá nhân?

K.O: Tôi không bắt đầu viết một tiểu thuyết bằng một ý niệm được xác định trước về việc sẽ đưa nhân vật đi theo hướng nào hoặc sẽ tạo một nhân vật nào đó như thế nào. Đối với tôi, đấy là việc của công đoạn sửa chữa, viết lại, phức tạp hóa bản thảo. Thông qua quá trình viết lại và phức tạp hóa bản thảo này, các nhân vật mới và tình huống mới nảy sinh. Trang bản thảo là một mặt phẳng rất khác với đời thực. Trên mặt phẳng này, các nhân vật và câu chuyện tự phát triển.

Tuy nhiên, tất cả tiểu thuyết của tôi, theo một cách nào đó, đều là về chính tôi, về những gì tôi nghĩ khi mình còn trẻ, khi mình ở độ tuổi trung niên với một đứa con tật nguyền, một ông già. Tôi đào sâu lối kể chuyện ở ngôi thứ nhất như là đối lập với lối kể chuyện ở ngôi thứ ba. Đấy là một vấn đề. Thực sự, một người viết tiểu thuyết tốt phải là người có khả năng viết ở ngôi thứ ba, nhưng tôi chưa bao giờ viết tốt khi kể chuyện từ ngôi thứ ba cả. Theo nghĩa đó, tôi là một tiểu thuyết gia nghiệp dư thôi. Dẫu rằng trong quá khứ, tôi đã từng viết ở ngôi thứ ba, nhưng nhân vật của tôi, không hiểu sao, bao giờ cũng giống chính tôi. Lý do nằm ở chỗ: chỉ từ ngôi thứ nhất tôi mới có thể định vị được chính xác hiện thực nội giới của mình.

Thí dụ, trong truyện “Aghwee The Sky Monster” (Aghwee – Quái vật trên trời), tôi viết về một người ở tình huống tương tự như mình khi Hikari[2], con trai tôi, được sinh ra nhưng nhân vật ấy lại có một quyết định khác với tôi. Cha của Aghwee quyết định không để đứa con quái thai của mình tiếp tục sống. Trong A Personal Matter (Một nỗi đau riêng), tôi cũng viết một nhân vật chính khác – Điểu – người lựa chọn sẽ sống cùng với đứa con của mình. Cả hai tác phẩm được viết cùng thời điểm. Song trong trường hợp này, đó thật sự là điều làm tôi lúng túng. Cùng viết về lựa chọn và hành động của người cha của Aghwee và Điểu, nhưng dường như tôi cứ nhập đời mình vào Điểu. Tôi không chủ định làm điều ấy nhưng sau đó tôi nhận ra đấy là điều mình đã làm.

S.F: Ông có nghĩ mang một đức tin đối với nhà văn là mang một gánh nặng?

K.O: Tôi không nghĩ đức tin theo kiểu tôn giáo là một gánh nặng nhưng những nhà văn, nhà tư tưởng mà tôi cảm thấy có sự gần gũi với mình về tinh thần dường như đều cùng chia sẻ những suy nghĩ, cảm xúc của tôi liên quan đến vấn đề đức tin. Tôi đã hình thành thói quen học hỏi từ họ. Có những nhà văn tôi không cảm thấy gần gũi vì tôi không chia sẻ được những cảm xúc và suy nghĩ của họ về đức tin. Tolstoy, chẳng hạn, là người mà tôi không thật sự thấy đồng điệu với mình.

Tôi không có đức tin, cũng không nghĩ trong tương lai mình sẽ có, nhưng tôi không phải là một kẻ vô thần. Đức tin của tôi là đức tin của một con người thế tục. Bạn có thể gọi đó là “đạo đức”. Trong đời mình, tôi có hình thành một vài châm ngôn sống nhưng những châm ngôn ấy đều do lý trí, tư duy, kinh nghiệm của tôi đúc kết nên. Đời sống của tôi là đời sống của một con người thế tục và tôi đã học, đã hiểu về con người theo cách đó. Nếu có một vùng nào đó, nơi tôi có thể chạm đến cái siêu nghiệm thì đó là phần đời của tôi bên cạnh Hikari suốt 44 năm qua. Từ mối quan hệ giữa tôi và Hikari và từ sự cảm nhận của tôi về âm nhạc của con trai mình, tôi đã thoáng nhìn thấy cái siêu nghiệm.

Hải Ngọc trích dịch.

Nguồn: Kenzaburo Oe, “The Art of Fiction”, phỏng vấn do Sarah Fray thực hiện, The Paris Review No.183, số Mùa Đông, năm 2007.


[1] Edward Said (1935-2003), giáo sư  văn học Anh và văn học so sánh tại Đại học Columbia Hoa Kỳ. Nhà nghiên cứu gốc Palestine này được xem là người đặt nền móng cho thuyết hậu thực dân (post-colonialism).

[2] Hikari Oe là con trai cả trong ba người con của Kenzaburo Oe. Ngay khi ra đời, Hikari đã bị thương tổn về não và ngay cả các bác sĩ cũng khuyên gia đình không nên giữ lại đứa con này. Nhưng Kenzaburo Oe đã quyết định ngược lại. Đến nay, mặc dù là một người tự kỷ, gặp rất nhiều khó khăn về ngôn ngữ nhưng Hikari đã trở thành một trong những nhà soạn nhạc đáng chú ý với CD đầu tay bán được  hơn một triệu bản.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s