Adonis – Sự mơ hồ trong thơ

Adonis1

Adonis tên thật là Ali Ahmad Said Esber, sinh năm 1930. Ông được xem là một trong những thi sĩ xuất sắc nhất của thế giới Ả- rập. Từ nhiều năm nay, ông là một cái tên thường được nhắc đến như ứng cử viên sáng giá nhất cho giải Nobel Văn học. Với độc giả Việt Nam, thơ Adonis cũng đã được giới thiệu qua các bản dịch qua các bản dịch của Hoàng Ngọc Biên, Phan Quỳnh Trâm, Hoàng Ngọc-Tuấn trên trang Tiền Vệ:

http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=554

Tiểu luận “Sự mơ hồ trong thơ” dưới đây không chỉ thể hiện những suy tưởng sâu sắc của Adonis về đặc trưng thơ ca. Nó còn cho thấy một ý thức sáng tạo mạnh mẽ, vượt lên những áp chế của một xã hội mà tính truyền thống là áp lực lớn, đồng thời hướng đến tinh thần dung hòa văn hóa, phá vỡ sự khép kín của ý niệm bản sắc trong sáng tạo thơ ca.

*

the-infinite-recognition-1963(1)

1.

“Thơ hiện đại, nhất là thơ của ông, sao thật mông lung”! Một độc giả, người có thể đại diện cho nhiều người đọc khác, trong đó có cả một số người cũng viết thơ nữa, đã kêu ca như thế. Đấy là lời than phiền thường nghe thấy, thậm chí đã trở nên mòn sáo. Nhưng như thế hẳn phải là phải có cái gì đó cho phép sự mông lung, mờ tối này được quyền tồn tại. Làm thế nào chúng ta giải thích được nó? Nó biểu thị điều gì?

2.

Đầu tiên, nhận định trên hàm ẩn một sự kết án đối với cái mơ hồ. Nghĩa là nó đề cao sự sáng rõ. Song bất cứ ai xem thơ ca như một mối quan tâm lớn của mình đều biết điều này: trong thơ ca, cái mơ hồ tự thân nó không phải là một khiếm khuyết, cũng như bản thân sự sáng rõ cũng chưa phải là một đức hạnh. Ngược lại, mơ hồ là một cái biểu đạt phong phú và sâu sắc. Một nhà phê bình cổ đại người Ả-rập đã từng lưu ý về điều này khi nói: “Thứ thơ hay nhất bao giờ cũng mông lung”. Nếu mơ hồ, mông lung là một khiếm khuyết thì loài người quả thực đã mất mát đáng kể những bài thơ hay nhất mà họ từng sáng tạo nên.

Thứ hai, cách nói này đã kết gắn tác phẩm cụ thể của một nhà thơ với thơ hiện đại như một sự hiển nhiên. Nếu muốn đưa ra một nhận định hay phê phán chính xác, chúng ta không nên nói một cách cẩu thả, hời hợt như vậy về thơ hiện đại. Đúng hơn, ta nên nói về những hiện tượng cụ thể, những nhà thơ và tác phẩm cụ thể. Thuật ngữ “thơ hiện đại” bao hàm các cấp độ, các thể nghiệm, các phương thức sáng tạo rất khác nhau, thậm chí đôi khi còn tương phản, mâu thuẫn với nhau. Nói cách khác, sẽ là sai lầm nếu ta cố nhét tất cả nền thơ hiện đại vào chung một rọ.

Thứ ba, cách nói này nhắm đến một điều gì đó mà người nói hiếm khi ý thức được. Khi ta mô tả tác phẩm của một nhà thơ là hiện đại, điều ta muốn nói là có một sự phân cách giữa nó và những tác phẩm thơ ca ra đời trước đấy. Bất cứ sự đánh giá nào về cái hiện đại mà không đi từ việc thực hiện sự phân định này đều là nhầm lẫn. Điều lâm nguy ở đây, trước tất cả những điều khác, là hiểu được sự phân biệt này. Nó là gì?

3.

Nhà thơ cổ điển sống trong một thế giới sáng sủa, gọn ghẽ. Mọi thứ ở trong thế giới ấy đều tường minh, đều được giải thích rõ ràng – từ cách rửa tay, rửa chân như thế nào đến điều gì sẽ xảy ra ở hậu kiếp của một con người. Nó được đặt trên nền những chân lý tuyệt đối, xác định và niềm tin vào những chân lý này. Cốt tủy thi tính của thế giới đó mang tính chất của một phạm trù trí tuệ- tinh thần hơn là tâm lý – cảm xúc. Thế giới cảm xúc sâu kín, thay vào đó, lại bị dồn nén, trấn áp. Vì lý do này, nhà thơ, nói chung, xuất phát từ những tư tưởng và khái niệm đã có sẵn. Nói cách khác, ông ta làm công việc liên kết những khái niệm đã sẵn có ở đó trước mình, trau chuốt chúng, mài dũa chúng. Theo đó, độc giả sẽ nhìn thấy trong tác phẩm điều mà anh ta đã biết, điều đã trở nên quen thuộc. Nhà phê bình của nhà thơ sẽ bắt đầu bằng câu hỏi: “Cái khái niệm của nhà thơ tương ứng đến mức độ nào với những khái niệm và sự vật mà tôi biết?” Tùy theo mức độ tương ứng có mạnh, có hiệu lực hay không, bài thơ sẽ nhận được những nhận định tích cực và ngược lại.

Theo cách đó, các nhà phê bình cổ điển Ả-rập tìm thấy hứng thú ở việc soạn tác, lao động thơ ca. Những khái niệm và ý tưởng, nói như al-Jahiz[1], có sẵn ở chợ, đợi nhà thơ mang về. Công việc của nhà thơ, theo logic này, không phải là đánh vật với ý tưởng. Thay vào đó, nó bị ràng buộc bởi việc tạo hình cho ý tưởng, hay chính xác hơn, là tái tạo và nhào nặn lại các ý tưởng.

Do vậy, thế giới của thi sĩ cổ điển Ả-rập là một thế giới được thêu dệt từ trước và mang tính chắc chắn, xác định. Về cơ bản, tác phẩm của ông ta hướng đến sự trật tự và xác định, là hình ảnh của sự trật tự và xác định.

4.

Nhưng những bước phát triển kể từ đó đã làm lung lay hình ảnh về thế giới cũ trong ý thức của thi sĩ Ả-rập hiện đại. Chúng cũng làm lung lay những ý niệm và phương thức biểu hiện của anh ta. Không còn bất kỳ một sự thật tuyệt đối hay những hình thức cố định nào nữa. Theo đó, thi sĩ hiện đại không còn có thể xuất phát từ những ý tưởng đã được chấp nhận, những khái niệm đã có sẵn. Thay vào đó, anh ta phải bắt đầu tra vấn, kiếm tìm, cố gắng tạo nên một khái niệm mới cho thế giới mới của anh ta. Theo cách này, bài thơ mới không còn đem đến cho độc giả những ý tưởng và khái niệm – chất liệu của bài thơ cổ điển – mà đúng hơn, anh ta mở ra trước độc giả một tình thế hoặc một không gian của trí tưởng tượng và hình ảnh, của xúc cảm và những kết hợp của chúng. Thơ không còn khởi phát từ một quan điểm tri thức sáng rõ và được chuẩn bị sẵn nữa mà bắt đầu từ những đặc thù về cảm xúc mà chúng ta có thể gọi là trải nghiệm cá nhân hay nhãn quan.

Bởi tất cả những điều trên mà ta nói thi sĩ Ả-rập hiện đại đã bắt đầu từ một quan điểm thơ ca và những lối viết đoạn tuyệt dứt khoát với truyền thống cổ điển.

Từ đây, những thể nghiệm thơ ca hiện đại đã tạo nên một sự đột phá khỏi dòng mạch cổ điển. Nghĩa là, nó tạo nên những khả năng, tiềm năng cho việc xây dựng một hình ảnh mới, một lý thuyết mới để hiểu con người và thế giới, cũng như những lối viết mới để biểu đạt tất cả những điều ấy. Đối với xã hội Ả-rập, cú đột phá đó bắt đầu với Abu Tammam[2]. Thơ của ông đã gây nên một cuộc cách mạng làm biến đổi trật tự của ký hiệu và khái niệm, rồi từ điều này dẫn đến sự biến đổi của hệ thống các cách biểu đạt và lĩnh hội. Các nhà phê bình cổ điển gọi cuộc cách mạng tạo ra biến đổi mạnh mẽ này là “sự tàn phá thơ ca”. Hơn thế, họ còn nói về thơ của Abu Tammam: “Nếu đây là thơ thì lời nói của người Ả-rập đã đi đến chỗ vô nghĩa hoàn toàn.” Các nhà phê bình thậm chí còn đi đến chỗ mô tả thơ của ông như “một phản đề đối với cách nói của người Ả-rập”. Theo những lời phê bình này, thứ mà Abu Tammam viết không phải là thơ vì nó không rõ ràng như thơ truyền thống.

Abu Tammam không cố tình gây ra một cuộc cách mạng triệt để như các thí nghiệm thi pháp hiện đại tạo ra. Song nếu kết án ông như là kẻ đã tàn phá ngôn ngữ Ả-rập bởi những cách tân của mình thì những gì dùng để nói về ông cũng đồng thời có thể dùng để nói về thơ ca Ả-rập hiện đại của thế kỷ này: nó đã đi đến chỗ làm ngôn ngữ rối loạn. Nhưng những người giờ đây đang than phiền rằng sự mô hồ đã làm tha hóa thơ ca nên nhớ rằng Abu Tammam – kẻ hủy hoại, kẻ ngôn ngữ tối tăm ấy – là một trong số rất ít những tên tuổi làm nên tầm vóc của thơ ca Ả-rập, là người tạo nên hào quang của nền thi ca này.

Ở đây, chúng ta cần lưu ý đến thực tế rằng sự đột phá như thế này đã diễn ra, và sẽ diễn ra, ở mọi cộng đồng văn học, ở mọi thời đại hễ khi nào có một sự quá độ từ phương thức biểu đạt chủ âm này sang những phương thức khác, lệch hướng. Đối mặt với sự đột phá này, bao giờ độc giả cũng kết án nhà thơ và văn bản mơ hồ mà anh ta viết.

Mọi thiên tài sáng tạo dường như đều tối tăm, mơ hồ, mông lung đối với những người đương thời của mình. Điều đó đúng, không chỉ bây giờ, mà ở mọi thời, ở mọi cộng đồng. Và cũng không phải chỉ đúng trong lĩnh vực nghệ thuật mà còn trong cả triết học nữa. Theo đó, chúng ta có thể gọi sự tối tăm, mơ hồ đồng hiện ở mọi thời này như một tấm khăn choàng ngăn cách thiên tài và độc giả. Nhưng tấm khăn choàng này lại bị rách trước mắt những độc giả ở thời đại sau này. Chừng nào văn bản của nhà thơ vẫn bảo toàn, không thay đổi, những công kích đối với sự mơ hồ trong thơ ca sẽ là lời cao buộc vô căn cứ, tấm mặt nạ mà độc giả náu mình đằng sau nó cùng với nền văn hóa của mình – đúng hơn, những cung điện văn hóa của anh ta – trở nên mỏng mảnh hơn bao giờ. Đằng sau tấm mặt nạ ấy, anh ta che giấu sự thủ cựu của mình khi cứ khăng khăng tìm cách hiểu những thứ đã thay đổi bằng quán tính không đổi của mình.

5.

Mơ hồ – đấy là cách độc giả nói về một văn bản mà anh ta không nắm được, hay nói khác đi, anh ta không chiếm lĩnh được nó theo cách biến nó thành một phần của những gì anh ta biết. Tính hiện đại, ở đây, là không gian của sự mơ hồ. Tính hiện đại là sự đứt đoạn trong cả một chuỗi những giả định có sẵn, đòi hỏi phải bảo toàn hình thức và các bộ phận của chúng mà những kẻ thừa kế chúng luôn khăng khăng bấu víu vào. Sự đứt đoạn này làm độc giả vốn không có thứ vốn gì ngoài những gì mình đã ghi nhớ bằng cách bắt chước mù quáng và theo thói quen học vẹt trở thành kẻ thua cuộc.

Định kiến về sự mơ hồ là một thất bại, là sản phẩm từ sự thua cuộc của người đọc. Nó nảy sinh từ chỗ anh ta không có khả năng nắm được sự khác biệt giữa phương thức biểu đạt hiện đại và cổ điển. Nó bắt nguồn từ việc anh ta không hiểu được tính thời gian của thơ ca. Và nó cũng có căn nguyên từ chỗ anh ta phán xét cái hiện tại bằng một thời khắc khác trong quá khứ cách đó gần hai thế kỷ.  Nó cũng hình thành từ sự thay đổi góc nhìn, từ ý thức về sự chuyển hóa năng động của đời sống.

6.

Thí dụ, khi ta nói về những buổi hoàng hôn, sẽ luôn có những người phê bình ta là kẻ chống lại ban mai. Vì thế, tôi muốn nói rõ ở đây tôi không chủ định truyền bá ý niệm về sự mơ hồ. Về điều này, tôi chỉ muốn lưu ý: trong đời sống thơ ca của chúng ta, có những kẻ lòe bịp sử dụng sự mơ hồ như lớp vỏ bọc che đậy sự thật rằng họ không có khả năng sáng tạo nên điều gì cả. Vì lẽ ấy, tôi không phải là kẻ công kích sự sáng rõ trong văn chương. Và ở đây, sẽ là cần thiết khi lưu ý rằng cũng có những kẻ vụ lợi dùng sự sáng rõ để che đậy việc họ thật sự không có khả năng sáng tạo nên điều gì. Tôi không bận tâm đến bản thân sự mơ hồ hay sự sáng rõ. Đúng hơn, phẩm chất sáng tạo mới là điều tôi quan tâm nhất.

Đồng thời, tôi muốn nhắc lại ý này: thứ được gọi, mà không có lập luận mang tinh thần phê phán gì, là mỹ học về cái mơ hồ của thơ hiện đại, ngược lại, về mặt lịch sử, lại là một hiện tượng tự nhiên. Điều này cần ta phải truy nguyên từ sự tương phản giữa cấu trúc của xã hội Ả-rập và sự tiến bộ không ngừng của thơ ca: chính sự tương phản này đã sinh ra sự chia cắt giữa ký ức, thói quen và công chúng.

Ở đây, tôi ủng hộ quan điểm cho rằng vấn đề về sự mơ hồ hay sự sáng rõ không phải bắt nguồn chỗ đấy là một bài thơ khó, một tác phẩm nghệ thuật khó. Đúng hơn, nó bắt nguồn từ chỗ người ta tiếp cận tác phẩm đó bằng thái độ thi ca hay một lập trường tư tưởng hệ.

7.

Vấn đề này có cội rễ sâu xa trong xã hội Ả-rập, vì ở đó, sự sáng rõ là một nguyên tắc tư tưởng hệ quan trọng. Tôi sẽ tóm tắt nguyên tắc này thành mấy luận điểm sau đây:

Thứ nhất, ở thời cổ điển, không có một chân lý bản thể nào mà truyền thống tôn giáo chưa hề hé mở, phát lộ. Tương ứng với phương diện tôn giáo này, trong văn chương cũng tồn tại một nguyên lý: không có chân lý nghệ thuật nào mà truyền thống thơ ca lại chưa từng phát hiện.

Nếu như tôn giáo truyền thống tự xem có thể thấu hiểu mọi sự thì thơ ca truyền thống cũng tự xem nó đã bao hàm tất cả. Nhưng như thế làm sao để một người Ả-rập sinh sau có thể hiểu đúng được điều mà trước đó chưa được biết tới? Viết một bài thơ mơ hồ là đột phá khỏi những cách thức làm thơ đã trở thành thói thường. Khi nhà thơ thực hiện điều ấy, có nghĩa là từ quan điểm truyền thống, anh ta bị xem là một tên dị giáo. Anh ta sẽ bị chệch đường, lạc lối vì tham vọng muốn khám phá một cái gì đó chưa được biết đến. Đó sẽ là một thứ làm chấn động ý thức thống trị vì nó đối chọi với truyền thống. Làm sao một nhà thơ hậu sinh của Imru’al-Qays[3] dám khẳng định với thứ nghệ thuật của hắn, hắn có thể biết nhiều hơn tác phẩm của người được xem là khởi điểm của toàn bộ nền thơ ca. Hàm chứa trong sự khẳng định của hắn là niềm hoài nghi liệu thơ ca tiền Hồi giáo có thực sự như một cội nguồn nhất thiết phải mô phỏng? Nó cũng hồ nghi liệu thứ thơ ca ấy có phải là chuẩn mực cho tất cả?

Sự mơ hồ, bởi vậy, cho thấy có những thứ mà những nhà thơ đầu tiên đã không biết đến. Và cũng bởi vậy, nhất thiết phải chối bỏ sự mơ hồ ấy. Việc một nhà thơ Ả-rập hậu sinh thấy những điều, những thứ mà tiền bối của mình không nhận thức được là một vấn đề nguy hiểm; nó có thể dẫn đến việc dung nhập những cội nguồn khác vào thơ ca, những cội nguồn ngoài những gì đã được thừa nhận. Nói cách khác, nó có thể dẫn đến một nhận định chống lại thơ ca cổ điển, một phát quyết rằng thơ cổ điển đã đến ngày tàn.

Thứ hai, do theo đạo Hồi, xã hội Ả-rập sống trong một thế giới hoàn toàn xác định. Và tính xác định trên bình diện tư tưởng dẫn đến tính xác định được xem như một chuẩn mực trong đời sống thực tiễn. Do đó, cần thiết phải biến mọi thứ thành công cụ. Vì lý do này, sự sáng rõ trở thành nguyên tắc đầu tiên để công cụ hóa mọi diễn ngôn tư tưởng và lời nói.

Mục đích của một công cụ là để phục vụ hay đem lại lợi ích. Về mặt thực tiễn, công cụ là thứ gần gũi nhất với con người. Theo đó, thơ – vũ khí ngôn từ của người Bedouins, biến thành một công cụ phục vụ cho tư tưởng, không khác gì một chiếc thìa phục vụ cái miệng của con người. Giá trị của một công cụ phụ thuộc vào sự tin tưởng của chúng ta vào nó và tính tiện dụng của nó. Nó phụ thuộc vào niềm tin chúng ta đặt vào nó: chúng ta nhấc cái thìa đưa vào miệng mình mà chẳng cần phải nghĩ ngợi hay cố gắng gì. Chúng ta đánh giày mỗi ngày mà đâu cần nghĩ suy hay nỗ lực gì. Và vì thế chúng ta cũng mong đọc và hiểu một bài thơ mà không phải nghiền ngẫm hay cố gắng.

Thứ ba, việc nhấn mạnh tính công cụ biến nhà thơ trở thành một học giả, một người biên soạn các tư tưởng và một nhà hùng biện. Hùng biện là một hình thức diễn đạt đòi hỏi người nói phải nói có nhịp, trực tiếp, ngôn từ đơn giản, ý tưởng rõ ràng. Muốn người nghe chăm chú thì phải lưu ý đến những điều ấy. Để thuyết phục người nghe, thể loại hùng biện, về mặt phong cách ngôn ngữ và tư tưởng, được hình thành trên cơ sở sự sáng rõ. Hùng biện có thể mang tính tuyên truyền trong bản chất (các hình thức tán tụng, phô trương, đả kích, v.v…) hoặc mang tính lễ nghi (các hình thức khích lệ, tuyên dương, v.v…). Tuy nhiên, dù mang nội dung gì đi nữa, hùng biện phải rõ ràng. Bởi mục đích của hùng biện là tác động, lãnh đạo, thuyết phục, sự sáng rõ sẽ giúp hiện thực hóa ảo ảnh về khả năng chỉ huy hoặc làm say lòng khán giả.

Về tính chính xác khoa học của thơ ca, điều này liên quan đến việc nền thơ ca Ả-rập đã bắt đầu, như mọi khoa học, tìm cách miêu tả hiện thực một cách chi tiết, đầy đủ và giá trị quan trọng nhất của thơ ca, như thế, bị ràng buộc với tính công lợi, hữu dụng của nó. Theo cách này, thơ ca bắt đầu vận động bên trong khung tri thức-lý tính, nghĩa là, nó trở thành một kiểu nhắc lại, một khuôn đúc, một chủ đề để nghiên cứu và ứng dụng, một thứ gì đó liên quan đến “chân lý” hơn là liên quan đến sự cách tân, phát kiến. Thậm chí, thi học Ả-rập cũng mang màu sắc khoa học – làm thế nào để đạt đến kết quả tốt nhất bằng phương tiện ít ỏi nhất. Đấy là thứ mà văn xuôi -thể loại đối trọng với thơ – nâng lên thành phép tu từ: sự vắn tắt.

8.

Sự mơ hồ, do đó, là vấn đề tư tưởng hệ chứ không phải một đặc trưng của văn bản thơ ca. Một mặt, nó đặt vấn đề về khả năng nhận thức và cảm thụ các sáng tạo, mặt khác, nó thể hiện một lập trường đối diện với truyền thống được kế thừa. Nhà thơ hiện đại chỉ hiện đại với điều kiện cơ bản: anh ta phải vượt qua lập trường mỹ học-tư tưởng hệ cổ điển và tất cả những gì hàm chứa trong đó – lý thuyết về thơ ca, lý thuyết về sáng tạo, những tiêu chí phê bình nảy sinh từ đó.

Và thêm nữa, nhà thơ chỉ là nhà thơ với một điều kiện duy nhất: khi anh ta nhìn thấy cái mà những kẻ khác không thấy, anh ta phát hiện và biểu đạt những điều đó. Về nhạc tính bên trong bài thơ và cấu trúc diễn đạt, có một sự tương phản tự nhiên giữa nhà thơ và độc giả. Song khác biệt đó không có nghĩa rằng nhà thơ và độc giả mỗi bên tự cô lập chính mình, không có quan hệ gì với nhau. Điều đó cũng không có nghĩa việc họ có thể hiểu nhau là điều bất khả. Đúng hơn, mỗi người có một vai trò khác nhau. Sự khác biệt giữa họ là một hình thức khích lệ, động viên người đọc trở thành một kẻ sáng tạo khác, một thi sĩ khác.

Vì lẽ đó, chúng ta có thể hình dung người đọc, kẻ đi từ ký ức, thói quen và truyền thống đã được thừa nhận – tức từ những gì khác rất xa với sự tiến bộ và khám phá không ngừng nghỉ của đời sống – đã phải loay hoay như thế nào khi đối diện với một bài thơ, cũng giống như thân thể của anh ta phải loay hoay để biết cách sử dụng một vật gì đó khác lạ: anh ta sẽ không thể tự coi mình đã làm chủ được vật đó cho đến khi nào sử dụng được nó. Kiểu độc giả ấy tốt cho mọi thứ, trừ thơ ca.

Từ góc độ này, không có gì có thể biện hộ cho những than phiền, trách cứ, phê phán về sự mơ hồ của thơ ca – ở đây tôi muốn nói đến thơ ca đích thực. Kẻ tấn công thơ ca bằng cách kết tội nó vì sự mơ hồ là kẻ chống lại cái bề sâu chỉ để giữ lấy cái bề mặt. Đó là kẻ công kích biển cả để yên vị trên bánh xe nước. Là kẻ công kích rừng, sấm và mưa để đứng yên giữa sa mạc.

Hãy vẽ nhân loại này, thế giới này một cách thật rõ ràng. Và vào khoảnh khắc ấy, bạn sẽ chẳng thấy gì khác hơn ngoài một sự nông cạn đáng sợ. Ở đó, bạn sẽ chẳng tìm được nơi chốn nào cho thi ca.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Adonis, “Ambiguity”, Eliott Colla dịch từ tiếng Ả-rập, http://www.asymptotejournal.com/article.php?cat=Criticism&id=20&curr_index=4


[1]Al-Jahiz (781-869), tên đầy đủ là Abū ʿUthman ʿAmr ibn Baḥr al-Kinānī al-Baṣrī, tác giả văn xuôi, nổi tiếng với các cuốn sách Kitab al-Hayawan (Book of Animals –Sách về các con vật), Kitab al-Bukhala (Book of Misers – Sách bàn về lòng tham), Kitab al-Bayan wa al-Tabyin (The Book of eloquence and demonstration – Sách bàn về nghệ thuật tu từ và diễn thuyết).

[2] Abu Tammam (788-845), thi sĩ Ả-rập, người sống vào thời đại Abbasid. Adonis đã từng viết về Abu Tammam như sau: “Thơ của Abu Tamman được khởi nguồn từ một quan niệm về thi ca như một hình thức sáng tạo thế giới thông qua ngôn ngữ; ông đã so sánh quan hệ giữa thi sĩ và thế giới như là một quan hệ tình nhân và hành động sáng tạo thơ ca cũng tương tự như hành vi luyến ái”.

[3] Thi sĩ Ả-rập sống vào khoảng thế kỷ VI sau Công nguyên, người được xem là cha đẻ của nền thơ ca Ả-rập.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s