Rada Ivekovic/Boris Buden – Nơi sinh: Babel (trích dịch – phần 1)

Nghiên cứu dịch thuật (Translation studies) trở thành một lĩnh vực năng động nhất hiện nay của ngành nhân văn. Điều này gắn liền với việc tư duy lại, mở rộng, phát triển, phức tạp hóa nội hàm của khái niệm dịch, từ đó, đưa dịch can dự vào dự phóng văn hóa, chính trị, gắn nó với cuộc đấu tranh cho các quyền bình đẳng, dân chủ, công bằng trong thế giới đương đại. Bản thân khái niệm dịch lại được hình dung, được móc nối với những ẩn dụ, những khái niệm khác như thân thể, đàn bà, lãnh thổ… Bài trao đổi dưới đây của hai học giả châu Âu cung cấp cho chúng ta một góc nhìn khác để hiểu tính chất phức tạp và ý nghĩa chính trị của khái niệm dịch hiện nay.

Boris Buden: Tôi muốn nói chuyện với bà về dịch thuật như một khái niệm bị giới tính hóa. Hãy bắt đầu từ thực tế rằng phần lớn dịch giả là phụ nữ. Thực tế này, tôi tin, nhất định có liên hệ với ý niệm truyền thống về dịch thuật chỉ như là sự mô phỏng lại một nguyên tác, do đó, thiếu đi tính chân thực và tính tự trị của chính nó. Dịch giả vẫn nằm trong cái bóng của tác giả, cũng tương tự, theo một nghĩa nào đó, việc phụ nữ trong các xã hội (truyền thống) bị tỏa chiết trong cái bóng của đàn ông – chủ thể “tự nhiên” của hoạt động sáng tạo xã hội và văn hóa. Tuy nhiên, ở đây, tôi không định nhấn mạnh dịch thuật như là một trường hợp đặc biệt của thứ lao dộng được phân cấp theo giới tính – đây có lẽ là cách hiểu của nữ quyền luận truyền thống – mà thay vào đó, tôi muốn tập trung vào vấn đề phụ nữ như là ẩn dụ về một dạng thức đặc biệt của sự tái sản xuất xã hội, quyền lực chính trị và sản xuất văn hóa: nói tóm lại, phụ nữ như là ẩn dụ về dịch thuật. Dường như phụ nữ vẫn sẽ hiện diện như là dịch thuật chừng nào xã hội vẫn còn tìm cách khẳng định tính chất căn nguyên của nó. Nhưng ngày nay, ta không thể còn tin được vào tính chất nhị nguyên của mối quan hệ giữa nguyên tác và bản dịch, cũng như không thể nghĩ về các tác nhân xã hội chủ yếu như là những bản sắc cội nguồn. Vậy thì giờ đây phải hiểu như thế nào về mối quan hệ giữa giới tính và dịch thuật này?

 

Rada Ivekovic: Chúng ta cũng có thể đảo ngược lại tình hình này, đúng không? Nó tùy thuộc vào việc bạn định vị mình như thế nào khi đặt câu hỏi ấy. Bao giờ phụ nữ cũng ở trong bóng của đàn ông, hay dịch giả ở trong bóng của tác giả; thế nhưng dường như tác giả thực sự cũng có thể ở trong bóng của dịch giả, theo ngữ cảnh của một cách hiểu khác về dịch thuật. Tôi được biết rằng đấy chính là trường hợp của Nhật Bản khi nước này lần đầu tiên mở ra quan hệ bang giao, tiếp xúc và buôn bán với nước ngoài trong thời kỳ Minh trị (kể từ 1868 trở đi), nhưng điều đó cũng đúng với Trung Hoa thời gian gần đây, nơi đang diễn ra “cơn nghiện” dịch và theo nghĩa đen, mọi thứ đều đang được dịch từ các ngôn ngữ phương Tây (cũng có thể có những thứ tiếng khác nữa). Họ đều nhận thức được rằng sẽ không thể hiểu được một bản dịch chỉ đơn thuần tuân theo nguyên tắc dịch từng từ một và chính ngữ cảnh cũng là cái cần phải dịch.

Dịch ngữ cảnh (context) lại là một thứ khác, khá tách biệt với việc bất kỳ động thái dịch nào cũng mang tính cá nhân và theo đó, bao giờ nó cũng không trọn vẹn, hay không đầy đủ một phần nào đó, dù cần thiết. Vì thế dịch giả đã can dự vào việc thể hiện một ngữ cảnh văn hóa tất yếu vốn đang thiếu – hay khác biệt về bản chất – trong nền văn hóa-ngôn ngữ mà họ đang dịch sang, đang tìm cách để đưa bản dịch vào. Song ngữ cảnh, thậm chí còn hơn một văn bản hay một bản dịch, là một sự phỏng đoán dựa trên rất nhiều yếu tố: cá nhân, văn hóa, lịch sử… Một câu văn, hay một từ, có thể quy chiếu về vô số những ngữ cảnh và ý nghĩa hay “các thiết chế của câu văn”, để dùng lại chữ của J-F Lyotard. Bản thân cái thiết chế này đã khó định nghĩa, nó dường như bất định mặc dù sự tồn tại của một thiết chế nào đó là không thể tránh được. Luôn có một sự khớp nối nhất định nhưng ta không thể nói trước đó là gì. Một câu đơn giản như “mở cửa sổ ra” đã có vô số những kết hợp. Ngữ cảnh cho câu đó có thể là: “đang nóng”, “đang lạnh”, “tôi không chịu được điều hòa”, “để cho chim bay ra”, “cô ấy không nghe thấy”, “có đám cháy”, “tôi muốn mua rau” (với cái giỏ buộc dây thả từ tầng ba xuống, đây là ở Istanbul), “chúng tôi đang thay cửa kính”, “bây giờ là nửa đêm” (ở Rome vào ngày 31-12 và tôi sắp ném thức ăn ra phố”, “Romeo đang đến” (Juliet nói với bảo mẫu của mình), “mẹ cần lau cửa sổ từ bên ngoài) (Rajasthani, người phụ nữ đang làm việc lau dọn phòng, nói với cô con gái đang ở bên cạnh mình). Như thế, ở những ví dụ mà chúng ta vừa đưa ra, các dịch giả thường có sự tùy tiện trong việc giải thích ngữ cảnh cho độc giả- những người có thể không biết rõ về nó. Và khi làm như thế, họ đã phải phỏng đoán rất nhiều. Họ đã đưa thêm nhiều thứ của họ vào “bản dịch” và thường xuyên làm công việc diễn giải hơn là dịch. Đâu là ranh giới phân định giữa dịch, diễn giải hay đọc? Nó không bao giờ có thể xác định được và không ai có thể nói. Nó là vấn đề “cảm nhận”, giống như “cảm nhận” trong nghệ thuật hay trong việc nấu nướng… Mặc dù có những mức độ khác nhau về chất lượng của dịch thuật cả về mặt văn bản lẫn ngữ cảnh nhưng không có một tiêu chí tuyệt đối cho nó, cũng như không thể có một sự dịch tuyệt đối. Dịch giả đâu chỉ dịch có văn bản và ngữ cảnh, anh/chị ta còn dịch tác giả, và nhiều khi làm cho tác giả khó chịu. Cuối cùng, anh/chị ta dịch cả chính bản thân mình, cũng như thức ăn bày trên đĩa và họa sĩ ở trong bức tranh, và nhiều khi điều này cũng không thật thoái mái gì lắm với ngay chính họ.

Vì thế có khi dịch giả đã đi chệch khỏi “nguyên tác” rất nhiều, đặc biệt ở châu Á (và cũng có thể ở những nơi khác nữa), và trở thành những đồng tác giả trong bản dịch của mình, dù dưới dạng công khai hay che đậy. Tại những nơi và vào những thời xem điều này là bình thường, sự liên đới của dịch giả trong việc làm thay đổi nội dung của nguyên tác theo tầm đón nhận và hiểu biết của độc giả, hay theo chính năng lực của họ, trở nên nổi bật hơn cả nguyên tác. Ý niệm về một sự trung thành nào đó của bản dịch thậm chí không phải ở đâu và lúc nào cũng được xem như một yêu cầu được đặt ra trong dịch thuật. Nó chắc chắn có liên quan đến việc nắm giữ quyền lực. Và thậm chí ngay cả khi đó là một lý tưởng có thể đạt được, vậy thì ai là người có thể đưa ra phán xét cuối cùng về sự trung thành của một bản dịch, khi mà ngữ cảnh, ngôn ngữ, văn hóa, thời đại thay đổi? Ý niệm về một bản dịch trung thành không thể là một bản dịch sát từng chữ đơn nghĩa. Ở một số nền văn hóa, nơi người ta thậm chí còn không thể phát âm đúng hay nhớ một cái tên ngoại quốc, dịch giả sẽ tỏa một cái bóng lớn lên tác giả và “ám” tác giả theo một cách nào đó. Ta biết tác giả này tác giả kia qua công việc của dịch giả/ đồng tác giả này-kia. Với những trường hợp như vậy, dịch giả có thể có sự bất đồng đáng kể với tác giả hay thậm chí còn đối chọi với ông/bà ta.

Vì không phải là một nhà Hán học, tôi không thật rõ liệu ở Đông Á, có phải dịch thuật cũng (đã từng) được thực hiện chủ yếu bởi phụ nữ hay không và liệu phụ nữ trong phần thế giới ấy cũng có cùng mối quan hệ với văn hóa dịch thuật hay không. Điều này không có nghĩa là tôi cho rằng các xã hội ở châu Á (đã từng) mang tính gia trưởng ít hơn: chắc chắn chúng có tính chất gia trưởng theo một kiểu khác và có thể sử dụng những ẩn dụ khác. Ấn Độ hiện nay rất giống với phương Tây ở điểm này với việc có nhiều phụ nữ tham gia hoạt động dịch. Nhưng có phải ở đó phụ nữ cũng là một ẩn dụ về dịch thuật? Tôi không rõ. Có thể đây không phải là trường hợp như thế nhưng hãy để cho người khác nói. Dịch thuật vốn là một hoạt động có từ rất lâu đời giữa các ngôn ngữ châu Á, với những hình tượng như Huyền Trang, người đã dịch kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Hán. Đương nhiên, ông đã nói trúng vấn đề, “xã hội khẳng định tính chất gốc của văn bản” và có thể – tôi muốn bổ sung – tính chất gốc của chính nó nữa. Đây là điều kiện để phụ nữ bị biến thành một ẩn dụ. Trong những trường hợp như thế, “gốc” được xem là cái trực tiếp, cái có trước, cái chiếm ưu thế, tri thức ở bậc cao hơn, xét về mặt thời gian cũng như về chất lượng hay tầm quan trọng. Ở đây, xu hướng lịch sử hóa chính là một kỹ nghệ để làm chủ và thống trị, đồng thời là sự khẳng định một thứ “bản địa” (autochthony) mà sau đó, điều này sẽ cho phép các quá trình chủng tộc hóa (ethnicization), sắc tộc hóa (racialization), chủ nghĩa độc tôn bản sắc (identitarianism) và xu hướng tính dục hóa (sexuation) diễn ra dễ dàng.

Những vấn đề mà những cách hiểu như vậy về dịch thuật khơi dậy rất dễ bị tính dục hóa bởi mối quan tâm vật chất, mang tính chất duy vật chủ nghĩa (material, materialistic stake) mà phụ nữ thường là sự thể hiện tượng trưng. Song tôi chỉ có thể nói dè dặt rằng, ở Trung Hoa và những nền văn hóa gắn liền với nó, đàn ông, như một tất yếu lịch sử, đã tìm được cách để tự kiến tạo mình như những biểu tượng còn mang tính bản địa hơn (theo nghĩa tượng trưng) cả phụ nữ, giống như đàn ông Hy Lạp cổ đại đã làm điều này thông qua người phụ nữ theo tưởng tưởng của người phương Tây. Cho dù chắc chắn văn hóa Trung Hoa có một hình thái gia trưởng mang tính lịch sử nhưng có thể các khía cạnh xã hội (chính trị) của Trung Hoa đã vận hành thông qua một yếu tố khác có khả năng nắm bắt xã hội trực tiếp hơn, không nhất thiết phải cần đến một hệ thống tượng trưng nơi mà đàn ông được xem là bình diện thứ nhất. Tôi đoán như thế.

Đây thực sự là một vấn đề rắc rối và nó xứng đáng để nghiên cứu, nhất là so sánh cả Ấn Độ, Trung Hoa và phương Tây: ngay trong những sắp đặt và ngữ cảnh tượng trưng khác, ngoài phương Tây, thậm chí ngay cả khi ta có một khả thể lý tưởng, mang tính tượng trưng, tưởng tượng mà ở đó phái nữ được xem là bình diện thứ nhất thì ta vẫn tìm thấy sự hiện diện của chế độ gia trưởng rất hiệu lực. Ở đây, ẩn dụ phụ nữ như là mối quan tâm vật chất trong dịch thuật sẽ có thể không phát huy tác dụng: các bản dịch có thể được thực hiện bởi cả đàn ông và phụ nữ ở mức độ tương đương nhau về số lượng (phụ thuộc nhiều hơn vào lịch sử các xã hội, chẳng hạn như mức độ đàn ông/phụ nữ được tiếp cận hệ thống giáo dục công cộng như thế nào) – thực tình tôi không rõ – hay cũng có thể dịch thuật chủ yếu được giao cho phụ nữ (vì đó là một loại công việc nhỏ), thế nhưng ngay cả như thế, ẩn dụ mà chúng ta dùng cũng không có hiệu lực, mặc dù điều kiện xã hội của các dịch giả, đàn ông hay phụ nữ, là cái chúng ta hoàn toàn có thể (hoặc không thể ) làm phép so sánh được.

Câu hỏi về mối quan hệ giữa dịch thuật và giới tính có thể được ra như là câu hỏi về thể loại của dịch thuật. Dịch có phải là một thể loại (văn học, v.v…) hay không? Trong nhiều nền văn hóa, nó đã từng được coi là như thế, đặc biệt ở Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản. Và tại sao chúng ta lại không nghĩ về nó như một thể loại? Rốt cục thì các thể loại cũng bị giới tính hóa, chứ không riêng gì dịch thuật. Hơn nữa, cội nguồn của hai khái niệm này lại giống nhau, vì thế mà trong tiếng Pháp, chúng ta sử dụng cùng một từ để biểu thị chúng. Như thế thì trong lịch sử, phụ nữ tỏ ra xuất sắc trong những thể loại như văn học thiếu nhi, thơ ca, tiểu thuyết gothic (trong văn học Anh), tiểu thuyết hoa hồng (roman roses), tiểu thuyết Nhật Bản, tiểu thuyết ngắn, truyện ngắn, truyện khoa học viễn tưởng, dịch thuật, v.v… Những thể loại khác nhau được nhắm đến những quan hệ với độc giả khác nhau.

“Giới tính” (gender) cũng là một thuật ngữ mơ hồ. Nó có vai trò trong Anh ngữ, nó tô đậm sự thật rằng “đàn ông” và “đàn bà” là những khái niệm có quan hệ với nhau. Và nhấn mạnh tính chất kiến tạo, xã hội và lịch sử của mỗi khái niệm. Nó đem đến nhận thức về bản chất phi tự nhiên của sự kiến tạo. Song nó cũng những hạn chết, cho dù có thể hữu ích đối với những mục đích chính trị. Giống như giới (sex), nó rất dễ để bị bản chất hóa và  thường bị sử dụng, cái này thì cực kỳ giống với giới để chỉ đàn bà chứ không phải là quan hệ. Sự phân chia giới (sex)/giới tính (gender) tương ứng với sự phân biệt giữa tự nhiên/văn hóa theo kiểu Levi-Strauss vốn bị xem là không thể biện hộ được về lý thuyết. Nhưng khái niệm tự nhiên chúng ta chỉ có thể có được thông qua khái niệm văn hóa, và tương tự chúng ta chỉ có khái niệm về giới thông qua khái niệm giới tính. Do đó, mối quan hệ ở đây là một sự đối xứng sai. Đó là một trong những hình thức của cái mà tôi gọi là tỉ lệ của lý trí… Chúng ta sẽ không cần khái niệm giới tính nếu quả như có một sự đối xứng và bình đẳng. Khi đó, khái niệm này sẽ trở nên không tương thích.

[Còn tiếp]

Hải Ngọc dịch

Nguồn: http://translate.eipcp.net/transversal/0908/ivekovic-buden/en

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s