Trò chuyện với Mario Vargas Llosa

Jorge Villanueva Chang – Jimena Pinilla Cisneros thực hiện

John J. Winters dịch sang tiếng Anh

Có lần ông đã kể một câu chuyện về Bill Gates, rằng khi rời một cuộc họp, ông ta đã hứa với các thành viên của Viện hàn lâm hoàng gia Tây Ban Nha sẽ không bỏ chữ ñ khỏi bàn phím máy tính của mình. Ông ta thú nhận muốn thực hiện một ý tưởng lớn hơn trước khi chết: làm cho tất cả các cuốn sách chỉ còn là cổ vật. Ông nghĩ thế nào về những điều mà người đàn ông giàu nhất thế giới hiện nay đã nói?

Ý tưởng của Bill Gates không phải là muốn kết liễu thứ văn học như ta hằng biết, song ông ta thật sự tin rằng máy tính có thể đảm nhiệm một cách hoàn hảo tất cả chức năng của một cuốn sách. Tôi tin điều đó đúng khi ta nói về thông tin, nhưng lại sai khi ta nói về văn học, vì việc đọc một tác phẩm văn học cần đến một góc riêng, một khoảng lặng thân thiết – điều đó sẽ không còn nữa khi chúng ta ngồi đối diện màn hình vi tính. Nếu sách biến mất, văn học sẽ được truyền qua màn hình máy tính, sự riêng tư, gần gũi, theo đó, sẽ bị mất mát ít nhiều. Thông tin sẽ nhiều hơn song sẽ tính sáng tạo lại ít hơn. Một thứ văn học như thế cũng sẽ phải chịu quá trình trở thành một cái gì đó chung chung, thiếu bản sắc – ở đây chưa nói đến sự xơ cứng, nghèo nàn – một căn bệnh đã lây nhiễm lên lĩnh vực truyền thông vốn dựa vào hình ảnh thị giác khi những hình ảnh này ngày càng được phổ biến. Nó sẽ không thể nào tạo ra được một César Vallejo, T.S Eliot hay André Breton bởi vì nó sẽ hoàn toàn thủ tiêu bất cứ những thể nghiệm sáng tạo nào đối với ngôn từ của văn bản. Tôi vẫn không tin rằng ý tưởng của Bill Gates đến một lúc nào đó có thể trở thành hiện thực được nhưng cuối cùng thì vẫn phải thấy sự thật này: những cuốn sách cứ dần dần trở nên ít thích đáng hơn cho đến khi thứ văn học được biểu đạt bằng những hình ảnh máy tính thấy ngán ngẩm trước tình trạng số đông công chúng của nó cứ tăng lên đều đặn. Trong một cảnh tượng tồi tệ nhất, công chúng của văn học có thể chỉ còn là bộ phận thiểu số mà bộ phận ấy cuối cùng sẽ giống như một thứ hội kín quan trọng của những “thầy hướng đạo văn chương” (literary catechists), những người sẽ duy trì đời sống văn học gần như một hoạt động dưới ngầm.

Borges đã từng có một thái độ xem thường tiểu thuyết đến mức ông có lần phát ngôn rằng cuốn Trăm năm cô đơn của Garcia Marquez đáng ra chỉ nên nói là năm mươi năm thôi. Ông nghĩ Borges sẽ cảm thấy thế nào khi giờ đây, các biên tập viên tỏ ra không mấy mặn mà với thể loại truyện ngắn? Ông có thấy truyện ngắn, một thể loại của thế kỷ XIX, nay đang đứng trên bờ tuyệt chủng trong thế kỷ XXI không?

Không, tôi nghĩ truyện ngắn vẫn đang sống, sống khoẻ nữa là đằng khác. Một số nhà văn viết truyện ngắn vẫn được đánh giá thuộc vào hàng những tác giả có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX và thực tế thì Borges chính là ví dụ tốt nhất về điều này xét trong văn chương Mỹ Latinh. Nhưng chúng ta còn có Cortázar, Rulfo và Onetti nữa. Tôi  cho rằng thái độ của Borges đối với tiểu thuyết là một thái độ xem thường hơn là phủ nhận sạch trơn vì ông luôn coi tiểu thuyết chỉ như một thể loại hạng hai. Xét trong phạm vi sáng tác của Borges, điều này hoàn toàn có thể hiểu được. Ông là một tác giả chỉ chấp nhận sự hoàn thiện và ở tiểu thuyết, sự hoàn thiện là bất khả bởi lẽ bản chất của nó gắn chặt với việc biểu hiện thân phận con người giữa những đảo lộn xã hội. Nó cho chúng ta thấy rõ chúng ta cách xa như thế nào với ước muốn đạt đến những lý tưởng tuyệt đối về sự mạch lạc, duy lý và sự hoàn thiện của kỹ thuật, điều mà, ở một chừng mực nào đó, ta có thể thấy được trong thơ và truyện ngắn. Borges muốn vươn đến cấp độ hoàn thiện ấy trong các truyện ngắn của ông, một sự hoàn thiện gần như mang tính hình học, tựa một đường tròn liền mạch. Tham vọng về sự hoàn thiện đó cấu thành nên mục đích của nghệ thuật thuần túy, không chút tì vết trong cấu trúc cốt truyện hay cách sử dụng ngôn từ. Mối ác cảm theo bản năng của Borges đối với tiểu thuyết nên được hiểu sâu sắc như là thái độ phủ nhận sự bất toàn.

Theo ông, trong số những cuốn tiểu thuyết của thế kỷ này được giới phê bình hoan nghênh nhiều nhất, những cuốn nào có thể sẽ bị kết án là thứ văn chương tối tăm, không thể nào hiểu được?

Tôi nghĩ sẽ dễ hơn nếu ta nói đến những cuốn tiểu thuyết đã vượt qua thử thách của thời gian và sẽ còn tiếp tục song hành cũng chúng ta trong tương lai. Chẳng hạn, Ulysses của Joyce luôn là một ví dụ thích đáng: nó giới thiệu một ngôn ngữ tự sự mới cho phép độc giả thăm dò những chiều sâu của ý thức con người. Đi tìm thời gian đã mất của Proust sẽ còn tồn tại lâu dài như một nhà thờ. Cũng có những tiểu thuyết gia như Faulkner, giờ đây đã trở nên đại chúng hơn so với thời kỳ khi ông bắt đầu viết những tiểu thuyết của mình: để xây dựng những thế giới khác nhau, ông đã sáng tạo nên một công cụ vừa mô phỏng hiện thực vừa tiếp tục đem đến một không gian rộng rãi cho phép mở ra các chiều sâu, khơi gợi sự mơ hồ, bí ẩn và tạo nên những trạng thái căng thẳng, mãnh liệt trong một tác phẩm hư cấu. Chúng ta cũng có những nhà văn mà ngay nay không còn được đọc nhiều, như Malraux: cuốn Thân phận con người của ông phải được xem là một trong những tiểu thuyết lớn nhất của thế kỷ này nhưng giờ đây nó không có nhiều độc giả như nó xứng đáng được nhận. Ở một chừng mực nào đó, con người chính trị của Malraulx đã chống lại con người nhà văn ở ông và điều đó đã khiến ông mất đi độc giả. Sartre là một ví dụ khác về một nhà văn đã từng được đọc rộng rãi nhưng khi thời gian qua đi, lại trở nên nhạt nhòa: những tiểu thuyết của ông giờ đây trở nên rất khó đọc, và bất cứ ai đọc chúng một cách kỹ lưỡng sẽ nhận ra ở đó không có gì thật sự sáng tạo, chúng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những nhà văn đi trước như Dos Passos. Đối với các nhà văn hiện nay, quan điểm của Sartre về văn chương dường như là một thứ quan điểm duy tâm và tự mãn. Hầu như chẳng có mấy người viết bây giờ chấp nhận với ý tưởng cho rằng văn chương có thể làm thay đổi lịch sử hay có một vai trò nào đó trong việc cải hóa đời sống chính trị.

Cái thường được coi là cái chết của ý hệ có liên quan phần nào đến điều ông vừa nói chăng?

Đúng vậy, và trong trường hợp của Sartre, điều đó tạo ra một hệ quả lớn, nhưng ngay cả sự thiếu nhất quán trong tác phẩm của ông cũng liên quan đến điều đó nữa. Điều mà Joseph Plà nói về Marcuse cũng đúng với Sartre: “Ông ấy đã góp phần tạo nên sự rối loạn của thời đại chúng ta. Sự đóng góp đó dường như không có ai trước có thể sánh được.” Sartre có thể khiến chúng ta tin vào mọi điều ông viết, bởi cách mà ông duy lý hóa sự vật có thể thuyết phục ta chấp nhận những thứ nghịch lý và mâu thuẫn nhất như là chức năng hợp lý hóa những khuynh hướng ý hệ vốn luôn thay đổi bất thường, song chính điều này đã khiến tác phẩm của ông ngày càng trở nên ít ý nghĩa đối với thế giới hiện nay. Điều này không xuất hiện ở Camus, người giàu tư chất nghệ sĩ hơn và là một nhà văn viết tốt hơn. Ở cả phạm vi văn chương lẫn công chúng, những ý tưởng của Camus vẫn còn nguyên sự thích đáng. Giờ đây, yêu cầu của ông muốn đạo đức phải chi phối chính trị dường như trở nên chính đáng hơn bao giờ hết. Mặt khác, chủ nghĩa thực dụng mà Sartre bảo vệ ngay cả khi nó xung đột với các giá trị luân lý có lẽ đối với chúng ta lại là tín điều cần phải phê phán vì nó đã trao cho những thiết chế độc tài tồi tệ nhất  lớp vỏ ngụy trang hợp pháp.

Ở thế kỷ XX, tiểu thuyết đã cách mạng hóa ngôn ngữ văn xuôi. Chúng ta nghĩ ngay đến ngôn từ trong Ulysses của Joyce, Paradiso của Lezama Lima hay Gran Serião: Veredas của Guimaraes Rosa. Tuy vậy, khi thế kỷ này lắng lại, tiểu thuyết lại có vẻ như muốn chiều theo gu đại chúng bao gồm những độc giả không chuyên, ưa sự đơn giản và những du khách văn học. Phải chăng có hiện tượng ấy đơn giản là vì các nhà văn đã mỏi mệt trong nỗ lực vươn đến một tác phẩm mang tính toàn thể (novela total) có thể giải thích và nhào nặn lại toàn bộ cái thế giới trong đó chúng ta sống và mang một ý nghĩa bất diệt?

Trong một thời đại được đặc trưng bởi chủ nghĩa tiêu dùng và biến đổi liên tục thế này, đời sống hình như chỉ xoay quanh thời khắc hiện tại mà thôi, và ý niệm về một tác phẩm toàn thể (novela total), một thứ nghệ thuật bất tử, có lẽ khó được chấp nhận. Trong quá khứ, nhà văn viết để đạt đến sự bất tử, để khi ông ta qua đời, thì tác phẩm vẫn còn lại và nhà văn sẽ tiếp tục sống qua tác phẩm. Tham vọng của nhà văn là được bất tử hóa nhờ một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo. Bây giờ còn có ai tin vào sự bất tử nữa? Một ý niệm như thế đang bị thay thế ở khắp mọi nơi bằng nỗi ám ảnh về khoảnh khắc hiện tại. Điều này đã dẫn đến sự ra đời của một thuật ngữ văn học mới  “Văn học nhẹ” (Literature Lite), một thứ văn học mang tính giải trí hơn là tham vọng đưa đến một sự đánh giá lại có tính chất đột phá các giá trị đạo đức hay cách mà con người quan niệm về mọi thứ. Chúng ta cũng không quên văn học được viết từ quan điểm của trường phái, khuynh hướng chuyên sâu (sectarian or group –specific point of view); vì nó hàm chứa những yếu tố thú vị phản ánh một tài năng lớn. Song người ta không viết dạng hư cấu này với chủ ý đập vỡ những biên giới nhất thời để sống vĩnh viễn, như là trong trường hợp các kiệt tác văn chương. Các tác giả ngày nay nghĩ rằng một mục đích cao cả như thế là cái gì đó rất ngạo nghễ, tự mãn và không tưởng. Ngày nay nhà văn hy vọng rằng bằng việc viết về hiện tại, họ có thể thâu nhận một lượng độc giả lớn hơn để thỏa mãn một tham vọng được thu nhỏ đi rất nhiều: danh vọng, tiền tài và thành công. Để thu hút công chúng đọc và mua sách ngay trước mắt. Ai quan tâm ngày mai sẽ ra sao?

Có phải Kafka là nhà văn biểu hiện tốt nhất những khía cạnh đáng sợ của cái tình thế mà con người hiện đại đang phải trực diện?

Là một nhà văn, Kafka không thể tách khỏi khái niệm hiện đại về sự thống khổ hiện sinh. Khi chúng ta đọc ông, chúng ta cảm nhận được nỗi trống rỗng từ sự ý thức được chính bản thể hữu hạn của mình, sự ngắn ngủi của đời sống hiện sinh của chúng ta khi so với cái vô cùng, ý thức được chúng ta bất lực như thế nào khi đối diện với cỗ máy khổng lồ là xã hội và bản thân đời sống. Kafka, cố nhiên, là một trong những nhà văn nắm bắt tốt nhất tình thế này theo một phương thức độc đáo, dựa trên những dụ ngôn, truyện kể và tình huống giàu sức thuyết phục đến mức phi thường vì chúng hiện ra trước mắt chúng ta trong một hình thức ngôn ngữ và cấu trúc hư cấu đặc biệt phù hợp với một cảm quan như thế về cuộc sống. Hơn thế, tác phẩm của ông có một sự tương thích xuyên qua các tình huống cụ thể, các thời đại và các nền văn hóa tưởng như không có điểm chung nào trên bề mặt. Thế giới của Kafka hiện diện ở Trung Quốc, Cuba, Peru và ở bất kỳ xứ sở nào, nơi vì những lý do nào đó, con người trở thành công cụ cho một bộ phận đặc tuyển quyền lực mà con người không cách nào kiểm soát được và hoàn toàn không được bảo vệ để chống chọi lại thứ quyền lực đó. Con người buộc phải trở thành những con rối của những thế lực giấu mặt. Những thế lực ấy có thể là chính trị, ý hệ, hay tôn giáo. Cùng với Joyce và Proust, chúng ta phải nhắc đến Kafka như là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của thế kỷ XX.

Các nhà văn thế kỷ XIX dường như trở nên rất nhàm chán đối với chúng ta hiện nay có lẽ là vì vào thời của họ chưa có ti vi, do đó, nhà văn phải miêu tả mọi thứ trong cuốn sách của mình. Nay, chúng ta lại lựa chọn một cực khác: thị trường khiến cho một cuốn sách rất khó có cơ may thành công trừ phi nó được viết với mục đích xác định là để chuyển thể thành phim. Theo ông thì những phát minh như phim ảnh đã làm thay đổi văn học như thế nào?

Một hệ quả có thể thấy ngay được đó là ý niệm thời gian trở nên phức tạp hơn, tinh vi hơn. Khác biệt lớn giữa văn học cổ điển và các tác phẩm hiện đại nằm ở chỗ trong các tác phẩm hiện đại, thời gian đi rất nhanh, trôi chảy liên tục, do đó không có đất cho những khoảng tạm nghỉ vô ích. Ảnh hưởng của một nền văn hóa dựa trên hình ảnh có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cách cảm nhận và biểu hiện thời gian như vậy.  Phim dạy cho chúng ta cách nhìn thời gian, một cách nhìn mà trước khi phim ra đời, con người không thể nào tưởng tượng ra. Chúng ta sống với một nhịp độ nhanh hơn, do đó, chúng ta viết những cuốn tiểu thuyết mà ở đó thời gian bị nhòa đi và cốt truyện vận động như trong một không gian cụ thể: chạy xuôi-chạy ngược, đến rồi đi. Trong quá khứ, mọi sự không xảy ra như thế bởi lẽ bản thân đời sống cũng không diễn tiến theo cách đó. Cũng không có một cuộc cách mạng trong việc biểu hiện hình ảnh dẫn đến sự thay đổi trong cách xử lý thời gian của văn học. Song thật ngây thơ khi nghĩ rằng những bước tiến về kỹ thuật cũng như thẩm mỹ của văn học hiện đại hoàn toàn không có liên hệ gì với thời kỳ cổ điển. Không giống như trong công nghiệp, nơi một sản phẩm mới khi xuất hiện thì đồng thời xóa sạch ký ức về cái cũ, hay như trong khoa học, nơi hóa học báo hiện giờ khai tử ngành giả kim, sự hiện diện của Proust không loại trừ được Montaigne cũng như Joyce không làm cho Cervantes trở thành phế tích của một thời tàn. Đấy là điều tuyệt vời của văn học.

Dostoevsky là một trong những hình mẫu văn chương có vấn đề không ổn nhất nếu xét trên phương diện kỹ thuật ở thế kỷ XIX nhưng trớ trêu thay, ông lại là một trong những tác gia lớn nhất  của thời đại đồng thời cũng là tác giả có sức sống mãnh liệt nhất. Trong số những tác giả của thế kỷ XX, theo ông, ai là người mà tầm vóc vĩ đại sẽ không suy giảm bất chấp những nhược điểm về kỹ thuật trong lối viết?

Trong trường hợp này, Pio Baroja có lẽ là cái tên đáng kể nhất trong nền văn học tiếng Tây Ban Nha. Ông là tác giả của một số lượng đáng kể các tác phẩm mà ở đó ta có thể bắt gặp nhiều ví dụ rõ nét cho thấy sự thiếu hoàn thiện về kỹ thuật, sự lỏng lẻo ở bình diện hình thức của lối viết. Điều tương tự cũng xảy ra đối với Balzac, người thường bị chê trách là viết vội và không chú ý nhiều đến hình thức. Tuy nhiên, sức mạnh của Balzac chính là ở chỗ tác phẩm của ông có sức sống bền bỉ. Đương nhiên, nếu người ta hoàn toàn thờ ơ đối với phương diện hình thức thì điều đó sẽ hủy hoại tác phẩm. Nhưng có những tác phẩm mang tham vọng tự sự, đi sâu khám phá bình diện nhân tính ở nhân vật, bối cảnh và những chuyện kể, cho phép chúng mang tính chỉnh thể tự thân, và điều đó dường như bù đắp phần nào cho những nhược điểm về hình thức văn xuôi. Về điểm này, Thomas Wolfe là một trường hợp thú vị và ta cũng có thể nhắc đến một nhà văn có lực viết sung mãn như Balzac.

Ông có xếp Louis – Ferdinand Céline vào trong nhóm này không?

Céline là một ví dụ lý thú cho thấy một tài năng nghệ thuật có thể khiến chúng ta khoan dung đối với một số vấn đề nhất định như thế nào, nghĩa là, khi ta quan sát những nghệ sĩ đó từ một khoảng cách, có thể ta sẽ phát bệnh bởi những sự oái oăm của họ: sự cố chấp khó chịu, chủ nghĩa Nazism, tinh thần bài Do Thái. Song một ai có thể phủ nhận Céline là một nhà văn vĩ đại. Thế giới của ông (như chúng ta nhận thấy trong Journey to the End of the Night[Hành trình đến tận cùng đêm tối) là một thế giới man dã, thống khổ, ghê tởm được thể hiện bằng một thứ văn xuôi cũng thống khổ, gây nôn không kém. Bất cứ một dạng thức tự sự nào khác cũng sẽ khiến cái thế giới ấy trở nên không thể chịu đựng nổi chính bởi sự thống khổ, đê tiện của nó, và bởi những định kiến phái sinh theo những dạng thức tự sự đó.

Sự bùng nổ của văn học Mỹ Latinh đã bị một số người cho rằng không còn là vấn đề đáng quan tâm, theo đó, nó nên được xem như là sự tính toán của một thị trường do các nhà xuất bản thống trị thì đúng hơn. Vậy đâu là đóng góp thực sự của khuynh hướng tiểu thuyết này đối với văn học đương đại?

Tôi không nghĩ tầm quan trọng của nó là phương diện xã hội học, lịch sử hay địa lý. Những tác gia như Borges, García Márquez, hay Cortázar được biết đến là vì họ là những nhà văn xuất chúng, đã viết nên những tác phẩm vừa giàu sức thuyết phục vừa đầy sức sống đúng vào lúc văn chương châu Âu đang lánh mình vào chủ nghĩa hình thức và thể nghiệm. Vào thời điểm ấy, văn chương Mỹ Latinh nhìn chung là một thứ văn chương bóng bẩy, giàu hình ảnh và nó chưa bao giờ có được công chúng bên ngoài khu vực. Hơn nữa, nền văn chương Mỹ Latinh mới này đã làm mới lại những mối quan tâm của bản thân văn học Mỹ Latinh. Tuy nhiên, thứ văn chương hư cấu này được biết đến rộng rãi, vượt ra ngoài phạm vi khu vực là vì nó độc đáo, giàu tính sáng tạo. Tôi không cho rằng nhà văn là cái có thể sản xuất được. Ở thời chúng ta, có một sự rẽ nhánh giữa những tác phẩm chất lượng cao, chỉ có một lượng độc giả hạn chế với một thứ văn học gắn với chủ nghĩa tiêu dùng mà phần lớn là chất lượng nghèo nàn, được sản xuất theo những xu hướng thời thượng, tuân theo những nguyên mẫu nhất định, nhắm đến một lượng công chúng rộng lớn. Đấy chính là tấn bi kịch xảy ra đối với nghệ thuật hư cấu. Một trong những điều tuyệt vời nhất của văn chương thế kỷ XIX là không có sự lưỡng phân như thế và những nhà văn lớn nhất của thời đại ấy như Dickens chẳng hạn, cũng được đọc rộng rãi và là một tác giả đại chúng. Văn học đỉnh cao và văn học bình dân, hướng đến đại chúng đều cùng là một. Những người bây giờ đọc John Grisham, nếu đặt họ vào thế kỷ XIX, có lẽ họ cũng là những độc giả của Victor Hugo. Điều xảy ra sau đó là nghệ thuật hư cấu tiếp tục tự đào luyện, đi vào thể nghiệm hình thức, không ngừng tìm kiếm những cách thức ngày càng phức tạp hơn để biểu hiện chính mình. Điều đó đã tạo khoảng cách giữa nó với công chúng mua sách, những người trước đây đã mở rộng vòng tay để đón nhận nó.

Thực sự thì các nhà văn thuộc trào lưu bùng nổ có cố gắng để tiếp cận gần hơn công chúng hay không?

Không phải tất cả. Có lẽ Trăm năm cô đơn nằm trong số những thành công lớn nhất, đó vừa là điển hình của thứ văn chương cao cấp vừa được công chúng đón nhận rộng rãi. Nó vừa nói được một điều gì cốt yếu đối với độc giả phổ thông đồng thời vừa có sự thông minh về kỹ thuật tiểu thuyết mà những độc giả tinh tế nhất thường yêu cầu đối với nghệ thuật hư cấu. Song ta không thể nói như vậy với trường hợp Rayuela [Hopscotch – Nhảy lò cò] hay Paradiso, đó là những cuốn sách yêu cầu rất nhiều đối với độc giả đến mức một độc giả trung bình sẽ không bao giờ có thể cảm thụ nổi tác phẩm. Có những cuốn tiểu thuyết khác trong khi phô diễn sự tinh vi của hình thức nghệ thuật thì đồng thời cũng cố gắng tạo ra một hư cấu nằm trong tầm đón nhận của độc giả đại chúng. Chúng ta vẫn có thể đọc Rulfo, vốn cần đến rất nhiều sự tinh tế, tri thức và cả việc chấp nhận những thách thức mà tác phẩm của ông đặt ra, nhưng cũng có thể lựa chọn làm một độc giả phổ thông, không cần chú ý nhiều lắm đến những điều trên, chỉ quan tâm đến những giai thoại ông kể mà thôi.

Ông có thể dẫn chứng một số trường hợp ngộ nhận bẽ bàng nhất mà giới phê bình mắc phải hay không?

Trường hợp rõ ràng nhất liên quan đến Proust. Gide đã phê phán nặng nề tập đầu tiên trong bộ Đi tìm thời gian đã mất, cho dù ông là độc giả mẫn cảm, sâu sắc bậc nhất của văn chương Pháp. Sự phê phán của Gide hoàn toàn không dựa trên bất cứ thành kiến nào chống lại Proust; đó đơn thuần chỉ là bệnh cận thị trong văn chương mà thôi. Một trường hợp xấu hổ khác liên quan đến cuốn El Gatopardo [Con báo] của Tomasi de Lampedusa. Tất cả các nhà xuất bản Italia, không có ngoại lệ nào, đã từ chối bản thảo của kiệt tác tuyệt vời này, một trong những cuốn sách thuộc hàng vĩ đại nhất, sáng tạo nhất, có khả năng làm hài lòng nhất, xứng đáng nhất của thế kỷ XX. Và những người chối từ cuốn sách này không hề là những người đọc tầm thường, trong đó có cả những nhà văn lớn như Elio Vittorini, một Sartre của nước Ý vào thời của ông. Ông đánh giá thấp tiểu thuyết của Lampedusa vì theo ông, nó đã vi phạm những quy luật của lịch sử, vì nó không thể hiện được một hình ảnh trọn vẹn, đúng đắn, hợp lý về xã hội. Chỉ một người đã cứu vãn được danh dự cho nền văn học Italia đấy là Giorgio Bassani, người khẳng định Con báo là một tuyệt tác, nhưng sự khẳng định đó chỉ được tuyên bố sau khi Lampedusa đã qua đời. Tác giả chưa bao giờ nhìn thấy tác phẩm của mình được xuất bản, và ông đã chết trong niềm tin rằng mình đã thất bại trong tư cách một nhà văn.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: World Literature Today, Winter 2002, p. 65-69

Advertisements

One thought on “Trò chuyện với Mario Vargas Llosa

  1. hihi thank you for your list of web concerning to literature. I had 2 times listening to ur lecture! Excellent! I like the way u explain the complicated problems with familiar words
    Ur pen name, it means ” pearl in the sea”, doesn’t it?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s