Văn học nước ngoài -Tatyana Tolstoya – Ravenna

Đăng lại từ blog cũ. Nhân một ký ức trở về.

Tatyana Tolstoya

Ravenna

Một ngày tháng năm nóng nực ở Ravenna, một thành phố nhỏ của nước Ý, nơi Dante[1] nằm yên nghỉ. Xưa kia – vào đầu thế kỷ V theo Công lịch – Hoàng đế Honorius đã dời kinh đô của Đế chế La Mã Tây phương về thành phố này. Thuở đó, nơi đây có một bến cảng nhưng rồi biển dần dần rút đi, để đến giờ, thay vào đó là những đầm lầy, hoa hồng, bụi bặm và những vườn nho. Ravenna nổi tiếng bởi nghệ thuật tranh khảm đá; những đoàn khách du lịch đi hết nhà thờ này đến nhà thờ khác, nghển cổ lên để nhìn những tia lấp lánh lờ mờ hắt ra từ những viên đá khảm đầy màu sắc được chạm nổi trên những vòm trần sẫm màu cao vọi. Có thể nhận ra điều gì đó ở những bức khảm trên vòm trần này, nhưng không nhiều lắm. Những tấm bưu thiếp bóng nhoáng, dẫu có một vẻ sáng rõ, phẳng phiu và rẻ tiền khủng khiếp, sẽ cho bạn một hình dung tốt hơn.

Tôi cảm thấy ngột ngạt và nóng bức. Mệt. Cha tôi đã mất và tôi yêu cha vô cùng! Có một lần, cách đây đã lâu, lâu lắm, gần bốn mươi năm, cha tôi đã có lần ghé qua Ravenna; ông gửi cho tôi một tấm bưu thiếp chụp hình một trong những bức khảm nổi tiếng nhất ở đây. Ở mặt sau tấm thiếp, không rõ vì sao cha lại viết bằng bút chì, có lẽ chắc bởi đang vội: “Con gái yêu của cha! Cha chưa từng nhìn thấy một cái gì trác tuyệt như thế (xem mặt bên kia) trong đời mình! Khiến người ta muốn khóc! Ôi, giá như con ở đây! Cha của con!”

Câu nào cũng kết thúc bằng một dấu chấm than ngớ ngẩn – cha tôi hồi ấy thật trẻ trung, vui tươi, có lẽ lúc đó, cha có uống một cốc vang. Tôi có thể hình dung thấy cha mình với chiếc mũ ba góc bằng nỉ kiểu thịnh hành những năm cuối thập niên 50, một điếu thuốc lá giữa hàm răng trắng – khi đó vẫn là răng thật của cha – và mồ hôi lấm tấm trên vầng trán. Cao, thanh mảnh, đẹp trai: đôi mắt cha ánh lên một niềm hạnh phúc đằng sau cặp kính tròn… Tấm bưu thiếp ấy, ông đã thả vào một hòm thư, vô tư giao phó nó cho hai bưu cục không đáng tin cậy, một của Ý và một của Nga, mô tả hình ảnh Thiên Đường: Chúa trời ở giữa khu vườn mùa xuân vĩnh cửu xanh loang loáng, xung quanh là những con cừu trắng thong dong. Hai bưu cục không đáng tin cậy đó đã làm cong các góc của tấm bưu thiếp nhưng không có vấn đề gì – thông điệp của tấm thiếp vẫn đến được với người nhận và mọi thứ vẫn có thể nhìn rõ được.

Nếu như Thiên Đường thực sự tồn tại thì giờ đây, hẳn cha tôi đang ở đó. Ông còn có thể ở nơi nào nữa? Chỉ có điều, cha đã chết – cha đã chết và ông không còn viết cho tôi những tấm bưu thiếp với những dấu chấm than nữa; không còn nữa những tin nhắn mà cha gửi cho tôi từ khắp nơi trên địa cầu này: Cha đang ở đây, cha yêu con. Con có yêu cha không? Con có chia sẻ những niềm vui thú và hân hoan của cha? Con có nhìn thấy vẻ đẹp mà cha nhìn thấy không? Chào con gái yêu! Đây là một tấm bưu thiếp! Một tấm bưu thiếp rẻ tiền, bóng loáng – Cha đang ở nơi đây! Thật tuyệt diệu! Ôi, giá như con cũng có thể ở đây bên cha!

Cha tôi đã đi khắp nơi trên thế giới và ông yêu thế giới này. Giờ đây, bằng tất cả cố gắng, tôi đang theo chân cha mình, tôi đến những thành phố mà ông từng đến và cố gắng quan sát chúng bằng con mắt của ông, tôi cố tưởng tượng hình ảnh ông khi còn trẻ: ông rẽ vào góc phố đó, ông bước lên những bậc thềm đó, ông tựa mình vào rào chắn bên kè sông với điếu thuốc trên môi.

Lúc này đây, tôi đang ở Ravenna, một nơi ngột ngạt, khiến người ta mỏi mệt, như tất cả những địa điểm du lịch khác, nơi đám đông lúc nhúc trên những con phố hẹp. Đó là một thành phố chết, trống rỗng, nóng nực, không có một chỗ nào để người ta có thể ngồi xuống. Mộ của Dante, nhà thơ bị lưu đày khỏi xứ Florence quê nhà. Mộ của Theodorich[2]. Lăng Galla Placidia, em gái của Flavius Honorius, vị Hoàng đế đã lập Ravenna thành kinh đô của đế chế phương Tây. Mười lăm thế kỷ trôi qua. Mọi thứ đều đổi thay. Bụi bặm bám đầy; những bức khảm vụn vỡ. Những thứ một thời là quan trọng thì bây giờ chẳng còn là quan trọng nữa, những gì ngày xưa kích thích mãnh liệt con người nay đã tiêu tan trong cát. Ngay cả biển cũng đã rút đi, nơi thuở nào những con sóng xanh hồn nhiên trào vọt lên thì nay là bãi hoang, là vườn nho. Và là sự im lặng. Bốn mươi năm trước – cũng là cả một đời người – cha tôi đã lang thang và đã cười vui ở nơi này; đôi mắt cận của ông cứ hấp háy mãi; ông ngồi bên một chiếc bàn ở lề đường, uống một cốc vang đỏ và nhẩn nha cắn những mẩu pizza bằng hàm răng chắc khỏe của chính ông. Rồi màn đêm xanh thẫm rủ xuống. Và trên một tấm bưu thiếp để ngay ngắn trên mặt bàn, với cây bút chì, cha vội vã ngoáy vài dòng chữ gửi cho tôi, với những dấu chấm than rải rác thể hiện một niềm vui sướng và tình yêu của ông đối với thế giới này.

Bầu trời âm u như đang ngạt thở. Trời nóng nhưng không thấy mặt trời. Chỗ nào cũng thấy bụi. Dải đất xưa kia vốn nằm dưới đáy biển nay bao quanh thành phố với những cánh đồng rộng rãi, tốt tươi; nơi một thời là chỗ cho cua biển bò, nay để cho những con lừa rón rén bước đi; thay cho tảo biển giờ là những khóm hồng. Mọi thứ dường như đều rã rời. Đi dọc theo nơi ngày xưa từng là những con phố tráng lệ của thế giới phương Tây, những du khách người Mỹ mặc áo lạnh tay ngắn màu hồng tỏ ra thất vọng, họ không vui vì công ty du lịch một lần nữa lại lừa họ: cái gì ở châu Âu cũng xinh xinh, nho nhỏ và cũ kỹ như thế cả! Mười lăm thế kỷ. Mộ của Dante. Lăng Galla Placidia. Mộ của cha tôi. Một hình ảnh nào đó giống như một thiên đường xanh ngắt thật ngây thơ trên một tấm bưu thiếp đã nhàu nhò.

Điều gì ở nơi đây làm cha ngạc nhiên đến thế? Tôi tìm thấy đúng cái nhà thờ được chụp trong tấm bưu thiếp; tôi ngước lên – ừ, đúng, quả là có một cái gì đó xanh ngắt ở đó, dưới vòm trần cao vọi. Những con cừu trắng trên thảm cỏ xanh. Những tia lấp lánh mờ mờ vốn dĩ vẫn thế. Những tiếng lẩm bẩm nghe cứ nhộn nhạo của đám khách du lịch bên dưới. Ngón tay của họ chỉ trỏ. Họ tìm những lời giải thích trong sách hướng dẫn du lịch của mình: thế kỷ như thế- như thế; phong cách như thế-như thế. Ở đâu mọi thứ cũng đều vậy cả. Luôn luôn là vậy. Người ta khó lòng mà nhìn thấy được.

Ở mọi nhà thờ nước Ý đều có một chiếc hộp công đức gắn trên tường; và đối với những ai quan tâm, những chiếc hộp này còn cung cấp thêm một dịch vụ gia tăng. Nếu bạn bỏ vào đó ba trăm lira – tương đương 25 cent – thì trong giây lát ngắn ngủi, đèn chiếu điểm sẽ được bật lên gần trần, cọ rửa những viên đá trong bức khảm bằng một thứ ánh sáng trắng tươi mát. Các sắc màu bừng lên. Bạn có thể thấy rõ các chi tiết. Đám đông như được kích thích; những tiếng lao xao phát ra lớn hơn. Chỉ 25 cent. Đã mất công đến đây, đã bỏ tiền mua vé máy bay, vé tàu, tiền khách sạn, tiền pizza, tiền đồ uống lạnh rồi cả cà phê cà pháo. Thế thì giờ có gì mà bực dọc vì phải tốn thêm mấy cent? Nhưng có nhiều người cảm thấy thế. Họ khó chịu; họ không được báo trước về điều này. Họ muốn nhìn Thiên Đường miễn phí. Họ ngó xem xung quanh có ai hào phóng, thiếu kiên nhẫn, đành nhét một đồng xu vào khe rãnh của cái đạo cụ bịp bợm của dân Ý- dân Ý, tất thảy, đều là lũ bịp bợm, đúng không nhỉ? Rồi đèn chiếu lóe lên, và trong khoảnh khắc, chóng vánh đến độ mắt người khó điều chỉnh kịp, vườn địa đàng trở nên xanh hơn, bày cừu trông thơ ngộ hơn và Chúa hiện lên nhân từ hơn… Rồi đèn tắt phụt, đám du khách lại lao xao, từ chỗ chỉ xì xào phản đối chốc lát đến chỗ làu bàu, chất chứa trong đó cả nỗi thèm muốn được nhìn thêm nữa, khi thấy người ta cứ phải cố tỏ ra ý tứ, thầm thì biểu lộ sự thất vọng của mình. Một lần nữa, mọi thứ lại chìm trong âm u.

Tôi lang thang hết nhà thờ này đến nhà thờ khác theo đám đông. Tôi lắng nghe giọng nói nghèn nghẹt của họ, những lời thì thào bằng nhiều thứ tiếng, như tiếng biển dập dồn; một vòng xoáy chậm rãi do con người tạo nên cuốn lấy tôi, quây lấy tôi, và những gương mặt mỏi mệt, trống rỗng loang loáng lướt qua – trống rỗng như chính gương mặt tôi; những mắt kính lấp lánh; những trang sách hướng dẫn du lịch loạt xoạt lật qua lật lại. Tôi lách qua những cánh cửa hẹp của nhà thờ, chen lấn với những người bên cạnh, cố gắng – như tất cả những người khác – để có thể có góc quan sát tốt hơn, cố gắng để không phát cáu. Rút cuộc, tôi nghĩ, nếu Thiên đường quả có tồn tại, thì có lẽ tôi sẽ vào đó cùng với một bầy cừu như thế này đây, với một đám người già, không phải tất cả đều thông minh, hơi tham lam một chút. Bởi vì nếu Thiên đường không phải dành cho những kẻ như chúng tôi thì nó sẽ dành cho ai, tôi muốn biết? Thật sự có nhiều không những kẻ khác – những người đặc biệt, nổi bật hơn chúng tôi – những tâm hồn bình thường, lúc nào cũng bình bình như thế? Không, không có nhiều được, vì thế, nhiều khả năng, tôi sẽ lê gót trên những thảm cỏ xanh rờn kia với đám du khách Mỹ tầm thường, khó chịu vì mọi thứ sao lại cũ kỹ và nhỏ bé như thế. Mà nếu vậy, Thiên Đường hẳn là chốn kinh khủng và buồn tẻ vô cùng – điều đó, theo định nghĩa, lại không đúng. Mọi thứ trên Thiên Đường lẽ ra đều tột cùng trác tuyệt.

“Cha chưa từng nhìn thấy một cái gì trác tuyệt như thế (xem mặt bên kia) trong đời mình!” cha tôi đã viết thế. Xem mặt bên kia. Một thiên đường rất đỗi bình thường. Cha đã nhìn thấy gì mà tôi không thấy?

Tôi len vào một tòa nhà nhỏ, nơi mà nhà lữ hành người Nga hồi đầu thế kỷ XX, Pavel Muratov, đã viết trong cuốn sách nổi tiếng của mình: “Những hình ảnh nước Ý”:

Màu xanh trên trần của lăng Galla Placidia sẫm và sâu một cách bất thường – gần như là không thấy được vậy. Tùy thuộc vào ánh sáng lọt qua những của sổ nhỏ, nó sẽ trở nên lung linh một cách ảo diệu không ngờ, trần sẽ ngả sang màu lục nhạt, màu tử đinh hương hay màu đỏ tía. Hiện lên nổi bật trên cái nền này là nét khắc họa tuyệt vời hình ảnh Đức Chúa trẻ trung ngồi giữa những con cừu trắng như tuyết. Những hình bán nguyệt gần các ô cửa sổ được trang trí với những hoa văn lớn theo mô tip nai uống nước suối. Những vòng hoa trái uốn theo những khung tò vò bên dưới. Ngắm nhìn những hình ảnh mỹ lệ này, người ta không khỏi nghĩ rằng: loài người không bao giờ có tìm được một giải pháp nào ưu việt hơn cho việc trang trí một bức tường nhà thờ. Nhờ kích thước nhỏ của nhà nguyện trong lăng, những bức khảm không gây ấn tượng về một sự phô trương phù phiếm, lạnh lùng. Không khí quanh linh cữu, trước kia có quàn thi hài của nữ vương được ướp trong đó, ngời lên bởi tia lửa xanh hắt ra từ những bức khảm, như không khí của một giấc mơ, tương xứng với một trí tưởng tượng mãnh liệt mang màu sắc tôn giáo. Chẳng phải đây cũng là điều mà những nghệ sĩ lao động trên những cửa kính màu của nhà thờ Gothic cố gắng đạt được hay sao, chỉ có điều theo một phương thức khác?

Những lời lẽ thật tuyệt vời! Nhưng, khi chen chân vào trong nhà nguyện, tôi không thể nhìn thấy gì cả. Có lẽ người hướng dẫn của Muratov đã cầm một ngọn đuốc để soi rọi nhà thờ nhưng lúc này, ở đây chỉ tối om om, và bất cứ một thứ ánh sáng hiếm hoi lọt qua cửa sổ cũng bị cản lại bởi những tấm lưng của đám du khách. Đám đông bướng bỉnh ken nhau đứng, khuỷu tay hích vào nhau. Chúng tôi cần phải bỏ mấy đồng xu vào trong chiếc hộp ánh sáng nhưng không ai vội vã; ai cũng đợi một người khác làm cái việc đó. Cả tôi nữa, cũng chẳng vội gì. “Ta đã nhiều lần làm cái việc bỏ đồng xu này rồi”, giọng nói bên trong tôi cất tiếng, “Lần này để cho người nào đó làm việc ấy.” Một phút trôi qua trong bóng tối ngột ngạt. Một phút nữa. Ai trong chúng tôi cũng nghĩ, ta không nhượng bộ đâu. Bóng tối như o ép đầu chúng tôi. Như có mùi của chuột, mùi mốc meo và mùi của một cái gì khác nữa, rất cũ kỹ ở nơi đây – tựa hồ chính thời gian cũng có mùi vậy. Thế rồi mùi của con người bốc lên: da thịt tuổi già, nước hoa, hơi bạc hà, mồ hôi, thuốc lá. Là thế này đây – những gì sẽ đến ngay sau cái chết: sẽ vẫn nghe thấy tiếng người khác thở và tiếng khịt mũi trong bóng tối; hơi nóng, sự đề phòng, một thái độ thù địch tinh vi đối với một gã du khách đồng hành; một quyết định lịch thiệp để không lộ ra sự thù địch ấy; một ý thức vị kỷ chủ nghĩa, sự bướng bỉnh, hy vọng, nghi ngờ. Phòng chờ lên Thiên Đường là đây – nó còn có thể dẫn đến chỗ nào khác nữa? “Cha chưa từng thấy một cái gì trác tuyệt như thế (xem mặt bên kia) trong đời mình! Khiến người ta muốn khóc!” cha tôi đã viết cho tôi từ thiên đường như thế.

Cuối cùng thì tiếng rơi “cách” quen thuộc vang lên – ai đó đã quyết định làm cái việc này. Đèn được bật lên. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, ngắn ngủi nhất – mắt còn chưa kịp thâu nhận tất cả, còn đang ngơ ngác nghiêng ngó – cái bóng tối trì đọng, nóng nực trên đầu đã biến thành một bầu trời đầy sao, một vòm xanh thẫm với những ngôi sao lớn, linh lung dường như gần gụi đến lạ lùng. “A..”, có âm thanh phát ra từ bên dưới, rồi đèn tắt, bóng tối trở lại, thậm chí còn tối hơn cả trước đó. Thế rồi lại có một tiếng “cách”, những ngôi sao kỳ ảo, nhiều màu sắc lại hiện lên, như một vòng đu quay chuyển động, chính là cái “không khí…ngời lên với những tia lửa xanh” mà Muratov đã miêu tả – một hình ảnh thoáng chốc – và rồi tất cả lại trở lại âm u. Tiếp tục một đồng xu được thả xuống kèm theo một tiếng “cách” nữa – ảo ảnh huy hoàng kia, đừng tan biến, ở lại với chúng tôi! – rồi sau đó bóng tối lại bao trùm. Đám người tội lỗi đứng ngây ra như bị bỏ bùa mê, mặt cứ ngẩng lên mãi. Một lối đi đã được mở ra trong bóng tối; một lời hứa đã được thực hiện; bằng chứng đã được trình bày: tất cả sẽ được cứu rỗi, không cần một lời giải thích nào – cái hố thẳm xanh thẫm thần kỳ mà những nghệ sĩ vô danh nào đã treo lơ lửng trên đầu chúng tôi đã tự nói về chính nó, đã hát lên bằng một thứ ngôn ngữ không lời. Màu xanh rót xuống những hình hoa lá trang trí… Mọi thứ đều biến mất, nhưng liên tục đèn lóe lên, ngày hội như bất tận, từ giờ phút này, bất cứ lúc nào, các thiên thần cũng sẵn sàng cất tiếng hát. Phải có ánh sáng!

Tôi cẩn thận lách qua đám đông. Tôi muốn nhìn rõ cái người có ham muốn mãnh liệt đã châm ngòi cho màn pháo hoa ánh sáng này, người đã giải bỏ sự âm u huyền bí để hút khách của những bức tường trong khu lăng mộ này bằng ánh sáng. Người đó là ai?

Ông ta ngồi trên một chiếc xe lăn, mặt cúi xuống. Trên đùi của ông có một hộp đựng tiền xu. Ông mò mẫm nhặt lấy một đồng và thả nó qua khe rãnh của hộp công đức và trong khi màu xanh của vòm trần ngả sang màu tử đinh hương và màu đỏ tía, một người phụ nữ đảm nhiệm vai trò hướng dẫn vội vàng thì thầm bên tai ông ta những lời nào đó mà tôi không đoán được, mà kể cả có đoán được, tôi cũng không hiểu: tôi không biết thứ ngôn ngữ này.

Người đàn ông ấy mù. Ông ấy có nét mặt kín đáo và nhẫn nại như tất cả những người mù khác; mí mắt của ông cụp lại, đầu ông cúi xuống, tai ông chếch về phía người đồng hành với mình. Người phụ nữ kia là ai – con gái, vợ, hay đơn giản chỉ là một người được thuê để đi cùng ông trong chuyến du lịch? Ông lắng nghe người phụ nữ ấy thầm thì và thi thoảng gật gù: ờ, ờ. Ông ấy muốn nghe thêm nữa. Ông thả hết đồng xu này đến đồng xu khác. Ông ném những đồng xu vào bóng tối và từ bóng tối, vang lên một giọng nói kể với ông, bắng tất cả khả năng của mình, về sự an ủi lớn lao của cái đẹp.

Ông lắng nghe trong sự thỏa mãn, gật gù và mỉm cười. Rồi người phụ nữ lặng lẽ đẩy xe lăn đi qua đám đông và ra khỏi lăng. Mọi người nhìn theo họ; ông ta chả bận tâm và người phụ nữ kia, chị ta chắc cũng đã quen với điều đó. Chiếc ghế nảy xóc lên trên mặt sân rải đá cuội của quảng trường, khiến người đàn ông phải chịu thêm một chút đau đớn. Có mấy giọt mưa nhè nhẹ lác đác rơi xuống nhưng rồi cũng sớm tạnh.

“Xem mặt bên kia.” Nhưng ở mặt bên kia, chẳng có gì hết. Ở mặt bên kia, chỉ có bóng tối, cái nóng nực, sự im lặng, nỗi bực bội, lòng hoài nghi và tâm trạng ngao ngán. Ở mặt bên kia, có một hình tượng được khắc họa theo năm tháng đã hư mòn, hình tượng về một điều gì đó, cách đây lâu, lâu lắm, rất quan trọng, nhưng với tôi thì không. “Khiến người ta muốn khóc!” Cha tôi đã viết, cách đây bốn mươi năm, về vẻ đẹp làm ông choáng ngợp khi đó ( và có lẽ cả về một cái gì đó cũng lớn lao nữa). Tôi muốn khóc, vì cha không còn nữa, và tất cả những gì cha để lại chỉ là một núi giấy tờ và tấm bưu thiếp Thiên Đường xanh, mà tôi đã dùng như một cái kẹp sách cho hết quyển này đến quyển khác.

Nhưng có lẽ mọi chuyện không phải là thế; có lẽ mọi thứ đã được tính toán từ lâu, một kế hoạch được phác ra mà chỉ đến giờ mới tạo được hiệu quả? Một nghệ nhân Byzantinne vô danh, được gởi cảm hứng từ đức tin, đã tưởng tượng ra vẻ đẹp của vườn Địa Đàng. Ông ta đã cố gắng hết khả năng có thể để biểu đạt vẻ đẹp ấy bằng ngôn ngữ của mình; thậm chí có lẽ chính ông cũng nản lòng vì không có kỹ năng để làm được hơn thế. Hàng bao thế kỷ trôi qua. Cha tôi đã đến Ravenna, đã ngước mắt, đã nhìn thấy ảo ảnh về Thiên Đường, đã mua một tấm bưu thiếp rẻ tiền và gửi nó cho tôi với một tình yêu được nhấn mạnh bằng những dấu chấm than – mỗi người đều tự chọn ngôn ngữ của mình. Và, nếu cha không gửi cho tôi tấm bưu thiếp ấy, có lẽ tôi đã chẳng đến đây. Tôi đã không chui vào cái nhà nguyện tối tăm này. Tôi đã không gặp người đàn ông mù ấy. Tôi đã không thấy được cái ánh sáng xanh nơi ngưỡng cửa Thiên Đường có thể làm lóe rạng phía bên kia bóng tối như thế nào, cùng với cái vẫy tay của cha.

Bởi vì tất cả chúng ta đều mù – không, chúng ta còn mù hơn cả ngàn lần so với người đàn ông mù ngồi trên xe lăn kia. Chúng ta nghe thấy những tiếng thầm thì nhưng chúng ta đã bịt tai lại; chúng ta được chỉ cho thấy nhưng chúng ta đã ngoảnh mặt đi. Chúng ta không có đức tin: chúng ta ngại ngần đặt niềm tin vì chúng ta sợ sẽ bị đánh lừa. Chúng ta chắc chắn mình đang ở dưới mồ. Chúng ta chắc chắn không có gì trong bóng tối cả. Không thể có bất cứ điều gì trong bóng tối.

Người đàn ông mù cùng người hướng dẫn của mình đã đi xa dần; họ đi về phía những con phố hẹp của cái thành phố nhỏ bé, chẳng còn chút sinh khí gì này. Người phụ nữ đẩy xe và ghé sát vào tai người đàn ông mù thì thầm điều gì, chắc hẳn chị ta đang ngập ngừng lựa chọn từ ngữ, những từ ngữ mà tôi sẽ không bao giờ chọn. Người đàn ông cười lớn vì một điều gì đó, và người phụ nữ dựng lại cổ áo cho ông. Chị bỏ thêm tiền xu vào chiếc hộp trên đùi ông, rồi vào một quán rượu và mang ra một lát pizza. Ông ăn món bánh với một thái độ đầy biết ơn, miệng nhoe nhoét, bàn tay của ông chạm vào thứ thức ăn kỳ diệu vô hình trong bóng tối.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: “See the other side”, Jamey Gambrell dịch từ tiếng Nga, bản in trên tạp chí The New Yorker, 12-3-2007
Ghi chú: Ảnh minh họa chính là một mosaic của Lăng Galla Placidia (nguồn: wikipedia)

[1] Dante (1265- 1321), thi hào của nước Ý, nhà thơ được xem là người mở đầu nền văn học Phục Hưng phương Tây với thi phẩm “Thần khúc”.

[2] Tên hiệu của hoàng đế La Mã Flavius Theodoricus (454 -526)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s