tư liệu tham khảo – amos goldberg- chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết (p2)

Amos Goldberg
Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết (Phần II)

The Invention of Monsters

Phản ứng của nạn nhân

Từ cuộc điều tra nhỏ trên đây, ta hoàn toàn có thể thấy được các thực hành biểu nghĩa người Do Thái của Đức quốc xã đã diễn ra theo một tiến trình rất sáng rõ mặc dù không được định hướng trước: đó là sự quá độ từ cái biểu đạt ngữ âm hoặc tượng hình trừu tượng võ đoán biểu thị khái niệm người Do Thái đến một hình thức biểu nghĩa cụ thể đem cái biểu đạt đến gần hơn chính thân thể thực sự của người Do Thái. Ban đầu cái biểu đạt còn giữ được một độ gián cách có tính chất hoán dụ đối với thân thể – nó được đánh dấu trên tài sản của người Do Thái, rồi gần hơn nữa, trong những hồ sơ chính thức của người Do Thái. Song dần dần, khoảng cách bị khép lại và chính con người bị đóng dấu – đầu tiên là tấm phù hiệu được đính trên quần áo của người Do Thái, rồi sau đó là con số được xăm trên da.

Quá trình khép lại khoảng cách giữa cái biểu đạt và thân thể được diễn tả trong văn học qua những trang viết của Yehiel Dinur với bút danh “Ka-Tzetnik” (từ dùng để chỉ tù nhân trong trại tập trung), một trong những nhà văn Israel trải qua thời kỳ Holocaust gây nhiều tranh cãi nhất. Dinur là người đã sống sót trong trại tập trung Auschwitz, là nhà văn vừa được ngợi ca đồng thời cũng vừa bị chỉ trích bởi văn phong trực diện, thô tục, chi tiết, thậm chí đôi khi mang màu sắc khiêu dâm phơi bày những khía cạnh tàn bạo nhất của các sự kiện mà ông viết.

Trong tác phẩm hư cấu “Ngôi nhà của những con búp bê” (The House of Dolls), người kể chuyện, ngay khi đến Auschwitz, đã đối diện với những hiện tượng không thể hiểu nổi mà anh ta phải cố gắng tìm ra ý nghĩa và lời giải thích. Ví dụ, anh đi tìm sự lý giải cho dòng chữ “FELD-HURE” (field whore – con điếm của trại) được xăm trên ngực của những tù nhân nữ làm điếm bằng việc so sánh nó với “tấm phù hiệu hổ nhục” mà ý nghĩa của nó anh đã biết từ khi còn ở khu tập trung Do Thái: “Cái ký hiệu này thuộc loại gì vậy?… Trên thực tế, tất cả phụ nữ đều đã quen với việc bị đánh dấu khi còn ở trong khu tập trung Do Thái. Ban đầu, khi người Đức ra sắc lệnh bắt tất cả người Do Thái phải đeo cái phù hiệu hổ nhục trên cánh tay phải, có cảm giác rất đau đớn. Nỗi hổ nhục như thiêu đốt gương mặt của tất cả… Rồi dần dần, mọi người đều quen với việc bị đánh dấu. Rồi một sắc lệnh nữa được ban bố: “Phù hiệu Do Thái phải được đính giữa ngực.”[1]

Cái quá trình mà Dinur miêu tả ở đây rất sáng rõ: cái băng tay có thể tháo ra được giờ đã trở thành một ký hiệu được ghim chặt trên ngực. Nhưng sau đó người kể chuyện còn tiếp tục miêu tả một hình tượng nữa trong câu chuyện, người bị xăm trên chữ “Jude” trên trán đến bật máu. Đến đây, tấm phù hiệu đã khắc hằn vào thịt da, thậm chí trước cả khi những số hiệu tù nhân được xăm trên tay người Do Thái ở Auschwitz.

Tính chính xác lịch sử của câu chuyện này có thể còn gây hồ nghi; phụ nữ Do Thái không phải là điếm trong các trại tập trung của Đức quốc xã vì các sắc luật về chủng tộc nghiêm cấm bất cứ quan hệ tình dục nào giữa người Do Thái và người Aryan. Liệu chữ “Jude” đã từng được khắc lên trán của ai đó không cũng là điều đáng ngờ. Tuy nhiên, đối với tôi, sự miệt thị của Đức quốc xã được miêu tả trong câu chuyện là chính xác và “cái phù hiệu hổ nhục” đã chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo của quá trình biểu nghĩa – xăm cái biểu đạt lên da thịt.

Ta có thể cảm nhận được sự biểu nghĩa này tạo nên chấn thương như thế nào khi theo dõi những phản ứng của các nạn nhân, những phản ứng vượt rất xa khỏi hiệu lực cụ thể của sắc lệnh bắt người Do Thái phải đeo phù hiệu. Có thể lấy ví dụ từ hồi ký chứng nhân (testimony) của Victor Klemperer được ông viết ở Dresden ngay sau cuộc chiến (Klemperer đã sống sót qua cuộc chiến ở Dresden và không bị trục xuất về phía “Đông”.): “Hôm nay tôi đã tự hỏi mình câu hỏi mà tôi đã hỏi bản thân và nhiều người khác cả nghìn lần: ngày nào là ngày khó khăn nhất đối với người Do Thái trong suốt mười hai năm đọa đày? Và chưa bao giờ tôi nhận được câu trả lời khác hơn từ chính tôi và những người khác ngoài câu trả lời: ngày 19-9 -1941. Đó là cái ngày mà tất cả chúng tôi bị bắt phải đeo phù hiệu Do Thái.”[2]

Klemperer đã không nói đến ngày đầu tiên những người Do Thái bị trục xuất, cũng không nhắc đến ngày mà ông nhận được tin tất cả những người bị trục xuất đều bị giết hết ở Riga. Ông cũng không ngụ ý nói đến cái ngày ông bị đuổi việc hay cái ngày ông bị trục xuất ra khỏi nhà mình, thậm chí cả cái ngày mà ông bị bắt giữ và phải nằm trong tù suốt tám ngày, cái khoảng thời gian mà ông rơi vào tình trạng mất trí[3]. Tất cả những ngày này đối với ông đều chưa phải là ngày tồi tệ nhất – đó phải là ngày mà tất cả những người Do Thái bắt buộc phải gắn ngôi sao Do Thái lên mình.

Có thể hiểu được phần nào hiểu được nhận định cực đoan trên của Klemperer nếu chúng ta biết rằng căn cước của ông tưởng như đã được đồng hóa hoàn toàn: khi còn trẻ, ông đã cải đạo, đi theo phái Tin Lành và cảm thấy mình như là một người Đức thực thụ. Ngôi sao Do Thái mà ông buộc phải gắn trên quần áo mình đem đến một đoạn kết hết sức cụ thể, hữu hình đối với sự hình dung về bản thân này của ông; ông đã bị đánh dấu bởi những người Đức như là một kẻ khác, một kẻ – không phải – là – người Đức (non – German). Song điều này mới chỉ cho ta thấy được một phần câu trả lời lý giải phản ứng rõ ràng thái quá của ông mà thôi. Còn có những biểu hiện tương tự, thậm chí còn cực đoan hơn, trong những văn bản khác, đặc biệt là những trang viết của những người có căn cước Do Thái chắc chắn hay mang tinh thần phục quốc Do Thái mạnh mẽ.

Eliyahu Rozinski là một ví dụ. Ông là thành viên của phong trào phục quốc Do Thái Ha-Shomer Hatzair, và đã chết như một chiến sĩ trong cuộc nổi dậy tại khu tập trung Do Thái ở Vac-sa-va. Trong tập “Ngược dòng” – một tờ tin tức lưu hành chui tại khu tập trung Do Thái Vac-sa-va, số tháng 2-3 năm 1942, ông đã viết: “Một tấm phù hiệu! Làm sao người ta có thể mang nó được? Tấm phù hiệu đó đốt cháy cánh tay tôi. Tôi có cảm giác như thể có một sợi thòng lọng quấn thít lấy cổ mình. Tôi hãi hùng. Cả đêm tôi không thể nào chợp mắt… Tôi muốn, một ước muốn tột cùng, rằng mình có thể đứng vững trên mặt đất này và cảm thấy mặt đất này thuộc về mình.”[4]

Rozinski đã sử dụng nhiều thủ pháp tu từ và hình tượng để giải thích trạng thái sốc cực điểm và xáo trộn ghê gớm mà tấm phù hiệu gây ra. Có thể thấy khá rõ ông đã nếm trải những hậu quả chính của tấm phù hiệu trên nhiều cấp độ của tinh thần và thể xác, đến nỗi ông có cảm giác như cánh tay mình bị đốt cháy bởi nó. Ý nghĩa của điều này, theo tôi, thể hiện ở chỗ: cái phù hiệu đó nhắm vào chính thân thể và chặng tiếp theo khi người Do Thái bị xăm số lên cánh tay thực ra đã tiềm ẩn từ tấm phù hiệu này – chính xác như đã thấy trong tác phẩm hư cấu của Dinur.

Cái chết bởi cái biểu đạt của kẻ hủy diệt

Rõ ràng từ phía các nạn nhân, sắc lệnh buộc người Do Thái phải đeo phù hiệu là một trong những sắc lệnh kinh khủng nhất của Đức quốc xã. Trong những trang viết của các nạn nhân, nó luôn được nghĩ đến như một trong số những sự tấn công quyết liệt nhất nhằm vào họ của những kẻ huỷ diệt. Nhưng điều gì khiến nó có thể tạo ra những chấn động dữ dội và xáo trộn ghê gớm? Tại sao nó có thể gây ra những phản ứng cực đoan như thế trong các trang viết của các nạn nhân thời kỳ đó cũng như thời hậu chiến? Nghịch lý thay, người ta cứ nghĩ đó là một trong những sắc lệnh nhẹ nhàng nhất vì nó không lấy đi bất cứ cái gì của người Do Thái –không phải cuộc sống, cũng không phải của cải cũng như tự do. Ngược lại, nó còn trao cho nạn nhân một điều gì đó rất rõ ràng – một biểu tượng[5]. Thế nhưng chúng ta lại tìm thấy những phản ứng cực đoan như trên.

Nỗi ám ảnh của Đức quốc xã với việc đánh dấu các nạn nhân của mình, khoảng cách dần dần bị khép lại giữa cái biểu đạt của nạn nhân và thân thể của mình cùng với những phản ứng của nạn nhân trước điều này – tất cả những thực tế ấy đều không thể phủ nhận. Song khi ta cố để hiểu được những ý nghĩa hàm ẩn lớn hơn của những sự kiện này, ta phải tiếp tục suy biện xa hơn.

Cái phù hiệu có thể gây chấn thương vì những lý do thực tế: việc đánh dấu này đã cô lập người Do Thái khiến họ trở nên dễ nhận diện hơn rất nhiều và do đó, cũng dễ bị thương tổn hơn rất nhiều trước những sự tấn công tàn bạo, vân vân[6]. Song tôi cho rằng những phản ứng thái quá của các nạn nhân vượt quá bất cứ sự giải thích nào chỉ nhằm đến cấp độ dụng học cụ thể. Theo tôi, vấn đề sâu xa hơn thế và quá trình biểu nghĩa của Đức quốc xã đã đánh trúng vào một cấp độ hết sức quan trọng ở chủ thể.

Cuốn tiểu thuyết “Không số phận” (Fateless) của Imre Kertesz- nhà văn Hungary gốc Do Thái đạt giải Nobel văn chương năm 2002 – có thể là một văn bản tốt để khảo sát vì tôi nghĩ cuốn tiểu thuyết chính xác xoay quanh vấn đề này.

“Không số phận” là câu chuyện về một chàng thanh niên Hungary gốc Do Thái, tuổi mới đôi mươi, đã bị đồng hoá, người bị kéo ra cuộc sống thường nhật và bị đưa tới Auschwitz và các trại tập trung khác. Cậu trở thành một musalmann – một tù nhân mất hết ý chí để sống, trở thành một cái xác sống và thường xuyên rơi vào trạng thái chết trong một khoảng thời gian ngắn. Nhưng Kertesz cuối cùng đã sống sót và câu chuyện kết lại bằng cuộc trở về Budapest của nhân vật. Phần nào dựa trên cuộc đời của tác giả, “Không số phận”, theo tôi, là một trong những tác phẩm xuất sắc viết về thế giới của trại tập trung. Câu chuyện được trần thuật từ ngôi thứ nhất, theo điểm nhìn của một cậu thiếu niên và Kertesz đã sử dụng một phong cách trẻ thơ để biểu đạt nỗi kinh ngạc và sự tò mò của ông khi liên tiếp phải đối diện với những sự kiện lạ lùng, đáng sợ, kỳ dị. Tác phẩm được viết theo một hình thức mỉa mai gợi nhớ đến tác phẩm nổi tiếng của Scholom Aleichem, nhà văn Do Thái vĩ đại – “Những cuộc phiêu lưu của Mottel, con trai người trưởng ca đoàn”[7].

Câu chuyện nghiền ngẫm vấn đề số phận trong thời kỳ Holocaust từ một quan điểm mang màu sắc hiện sinh, được cấu trúc theo các chương liên quan đến sự kiện phát xít Đức thực hiện việc đánh dấu nạn nhân. Ở phần đầu câu chuyện, bối cảnh vẫn lấy ở Budapest, người kể chuyện tranh luận với một cô gái cùng tuổi về việc những người Do Thái bắt buộc phải tự đánh dấu bản thân bằng dải băng phù hiệu. Cô gái nói “cô muốn được tranh luận về một điều gì đó đang trĩu nặng trong đầu mình, một điều mà gần đây đã choán hết tâm trí của cô: ngôi sao màu vàng.[8]” Cô có cảm giác kể từ khi đeo cái phù hiệu đó, người ta bắt đầu nhìn cô săm soi và giao tiếp với cô theo một cách khác. Người kể chuyện cố giải thích với cô rằng “người ta không ghét cô như là một con người cá nhân cụ thể – vì xét cho cùng, bọn họ thậm chí đâu đã gặp cô – đúng hơn họ căm ghét cô (theo nghĩa rộng hơn) trong tư cách là một người ‘Do Thái’” (27)

Thoạt tiên, cô gái cảm thấy luận điểm của chàng trai có sức thuyết phục, nhưng sau đó, cô quả quyết rằng mình đã phát hiện ra “chính nó, chỉ riêng điều đó thôi khiến người ta căm ghét cô. Vì cô giữ quan điểm “chúng ta, dân Do Thái, khác biệt với những người khác. Chính cái khu biệt, khác biệt này là cơ sở, là lý do thực chất khiến người ta căm ghét chúng ta.” (27) Và cô nói tiếp rằng cô luôn dao động giữa sự kiêu hãnh và nỗi hổ nhục về điều này.

Ngược lại, chàng trai cho rằng “cho đến giờ hầu như chả có lý do nào cho thứ cảm xúc đó. Thêm nữa, người ta chẳng thể thật sự tự xác định được một sự khác biệt đặc thù nào; sau hết, em cho rằng, đấy chính là chức năng của ngôi sao vàng.” (27) Cô gái bảo vệ ý kiến của mình, “Chúng ta mang sự khác biệt đó ngay chính trong bản thân mình’ song ngược lại, cô cho rằng “cái chúng ta khoác bên ngoài có tính bản chất hơn”. (27-8)

Người kể chuyện cố gắng giữ quan điểm của mình bằng cách dẫn câu chuyện ngụ ngôn “Hoàng tử và kẻ ăn mày” để từ đó, đi đến kết luận: bất kỳ ai cũng có thể tự biến đổi mình thành một kẻ khác, hay chí ít là biến đổi căn cước của mình. Và nếu, chẳng hạn, khi cô sinh ra, chẳng may bị tráo đổi nhầm với một bé gái khác cho một gia đình khác “mà giấy tờ xác định chủng tộc của họ hoàn toàn được chấp nhận”, trong trường hợp đó, cô gái kia sẽ nhận thực đuợc sự khác biệt của mình và như thế, sẽ phải gắn ngôi sao vàng lên mình, trong khi đó bản thân cô, bởi giấy tờ được xác nhận của mình, sẽ tự thấy mình giống như những người khác – và những người khác cũng sẽ nhìn cô như là kẻ giống hệt với họ.” (28)

Trước lập luận này, cô gái bật khóc vì “nếu sự đặc thù của chúng ta là cái chẳng quan trọng thế thì mọi thứ đều chỉ là ngẫu nhiên, và nếu như tồn tại một khả năng cô có thể trở thành một ai đó khác chứ không phải là kẻ mà số phận gán cho cô, bắt cô phải là kẻ đó, vậy thì tất cả đều tuyệt đối không có lý do nào cả và với cô, ý niệm đó thật sự không thể chịu đựng nổi.” (29) Người kể chuyện lại cảm nhận rất khác nhưng cậu không biết nói sao để thuyết phục và an ủi cô. Cậu chỉ có thể nói rằng “đó là cảm giác rất thật ở em… em nhìn thấy sự việc như vậy…” (29)

Người kể chuyện hiểu tấm phù hiệu kia là cái hoàn toàn tuỳ tiện, rằng không có mối liên hệ cố hữu nào giữa thân thể phải nhận lấy dấu hiệu đó với bản thân dấu hiệu. Cậu nhận ra con người ta có thể trở thành một kẻ khác, chứ không phải chỉ là kẻ mà số phận bắt người ta phải là. Ý nghĩa của nhận thức này được bộc lộ ở chính trang cuối cùng của cuốn tiểu thuyết, miêu tả cuộc trở về thành phố từ trại tập trung của cậu. Sự trở về nhà này, đối với nhân vật, đầy xúc động vì những ai không bị trục xuất sẽ không thể hiểu nổi những trải nghiệm của cậu. Không phải do họ không có khả năng cảm nhận được sự tận cùng của những nỗi khủng khiếp. Trên thực tế thì chính người kể chuyện đã từ chối dùng từ “khủng khiếp” (180) vì nó không vừa khuôn với những trải nghiệm của cậu, và khi một phóng viên phỏng vấn cậu về “cái địa ngục” mà cậu đã từng ở đó, cậu đã giận dữ đáp lại cậu không thể miêu tả địa ngục vì cậu chưa bao giờ ở đó. Cậu chỉ có thể cố miêu tả được cái trại tập trung mà thôi.

Điều làm cho người kể chuyện thấy khó chịu là những người đang lắng nghe anh nghĩ (điều này đồng vọng với những suy nghĩ của cô gái) chuyện gì thật sự xảy ra thì đã xảy ra. Song anh lại quả quyết rằng “mỗi một phút thực ra đều có thể làm cho các sự việc nảy sinh một tình trạng mới… một điều gì đó đã có thể xảy ra trong một phút giây nào đó, một cái gì đó khác, không chỉ là cái đã thật sự xảy ra ở Auschwitz.” (187-188) Chỉ trong sự hồi tưởng các sự kiện dường như mới được gắn chặt lại bởi số phận.

Khi những người lắng nghe trở nên bực mình, anh đã giải thích với thái độ thiếu kiên nhẫn: “Ai cũng dấn bước lên phía trước chừng nào còn có thể; tôi cũng vậy thôi, phải nhích bàn chân của mình – không phải chỉ khi đứng xếp hàng ở trại tập trung Auschwitz mà cả khi trước đó, lúc còn ở nhà. Tôi đã phải dấn lên phía trước cùng với cha tôi, mẹ tôi, với Anne Marie – và có lẽ bước đi khó hơn tất cả – là với người chị của mình.” Người chị ở đây chính là cô gái mà anh đã cùng tranh luận ở phần đầu cuốn tiểu thuyết về ý nghĩa, hay chính xác hơn là về sự thiếu ý nghĩa của tấm phù hiệu Do Thái. Trong hai trang cuối cùng của cuốn sách, sau tất cả những gì đã trải qua, anh rút ra kết luận:

“Bây giờ tôi đã có thể nói với chị rằng là một người “Do Thái” mang ý nghĩa gì: nó chẳng mang ý nghĩa nào cả đối với tôi cho đến khi bắt đầu phải nhích bước. Bây giờ không còn dòng máu nào khác… Cả tôi nữa cũng đã phải sống với một số phận đã có sẵn. Đó không phải là số phận của tôi nhưng tôi lại là người phải sống với số phận ấy đến tận cùng. Thực tình tôi không tài nào hiểu được tại sao tôi không thể đưa ý nghĩ này vào đầu họ được, để họ thấy rằng giờ đây tôi muốn làm một điều gì đó với cái số phận ấy, muốn nối kết nó với một nơi nào đó, một thứ gì đó; sau hết, tôi không thể nào thấy thoả mãn với quan niệm cho rằng tất cả đều là một nhầm lẫn, một rủi ro, một sai lầm.[9]”

Việc đánh dấu người Do Thái, do đó, có thể xem như là đề tài trung tâm của cuốn tiểu thuyết, có ý nghĩa then chốt đối với sự căng thẳng giữa số phận của người kể chuyện và sự tự do của anh ta. Người kể chuyện đã lấy được một chút tự do từ sự nắm giữ của số phận ngay khi anh có thể dấn được “bước đi khó khăn nhất” trong cuộc tranh luận với người chị của mình, cuộc tranh luận mà từ đó, anh đã hiểu ra việc đánh dấu các nạn nhân là hành động hoàn toàn võ đoán. Sự đánh dấu này không nói lên điều gì về thân thể bị đánh dấu hay tư cách của con người; nó là cái ngẫu nhiên. Ý nghĩa bao giờ cũng là cái đến sau đó, khi các sự việc đã diễn ra rồi. Chỉ đến lúc đó nó mới thực sự trở nên cần thiết để tổ chức các sự kiện thành một câu chuyện hay một cấu trúc có ý nghĩa.

Song theo tôi, dường như Kertesz đã đưa chúng ta đến gần hơn với câu trả lời về ý nghĩa của việc đánh dấu. Sự tự do cơ bản và sự tự trị tương đối của chủ thể (sự hiện sinh như một ‘bản ngã’ – ‘his being as a ‘self’ – để trở lại với một thuật ngữ của Adorno) phụ thuộc vào sự phân biệt giữa ký hiệu và thân thể thực sự, giữa khái niệm người Do Thái và người Do Thái bằng xương bằng thịt, hay lại dùng chữ của Adorno, nó phụ thuộc vào khả năng làm gián đoạn “sự đồng nhất đơn thuần bản sắc của tất cả mọi người” với “khái niệm về họ”[10].

Một điểm quan trọng cũng cần nhấn mạnh là: theo Kertesz, khả năng nói trên có liên đới với sự vận động (movement) liên tục trong thời gian của chủ thế – điều này cho phép chủ thể giữ được một cảm giác nhất định nào đó về tính chủ thể, thậm chí ngay trong và sau thời kỳ Auschwitz, và có thể vượt qua số phận để đến hoàn cảnh “không số phận”.

Tôi cho rằng những thực hành biểu nghĩa của Đức quốc xã là những cố gắng nhằm xoá bỏ theo nghĩa đen khoảng cách giữa cái biểu đạt, cái được biểu đạt và cái quy chiếu trên thực tế: người Do Thái như là cái biểu đạt = người Do Thái như một khái niệm = người Do Thái bằng xương bằng thịt. Trong khuôn khổ của một thực hành như thế, không còn khoảng cách giữa chủ thể và cái biểu đạt, giữa cái biểu đạt này với cái biểu đạt khác vì người Do Thái chỉ có một cái biểu đạt mà thôi. Người ta đã đi đạt đến sự đồng nhất hoàn toàn. Tôi sẽ sử dụng khái niệm hoán dụ của Lacan để lý giải những hậu quả khắc nghiệt của sự đồng nhất hoàn toàn này.

Lacan hiểu hoán dụ trong đời sống tâm lý của chủ thể là một quá trình mà chủ thể không ngừng dấn vào cuộc kiếm tìm một cái biểu đạt thích hợp với mình – một cuộc kiếm tìm không bao giờ có thể đạt được. Đó là cuộc tìm kiếm vô tận bởi không có một cái biểu đạt hay một đối tượng nào có thể vắt kiệt bản sắc của ai đó hay thoả mãn trọn vẹn ham muốn của hắn, sẽ luôn còn một cái gì đó bị chừa ra. Bản sắc trọn vẹn hay sự thoả mãn trọn vẹn là điều bất khả – sẽ luôn có một cái gì đó thiếu khuyết hay bỏ trống cần được lấp vào. Vì thế, chủ thể sẽ tiếp tục tìm kiếm những cái biểu đạt khác và những đối tượng khác thoả mãn hoặc vẽ ra chính xác hơn bản sắc của mình. Sự dịch chuyển và biến đổi không ngừng này là diễn trình của ham muốn; và cấu trúc của ham muốn, theo Lacan, là hoán dụ, vì như Dylan Evans kiến giải, “Hoán dụ là sự dịch chuyển trên trục thời gian từ cái biểu đạt này sang cái biểu đạt khác trong chuỗi biểu nghĩa (signifying chain)[11], vì một cái biểu đạt luôn quy chiếu đến một cái biểu đạt khác trong sự trì hoãn liên tục của ý nghĩa. Ham muốn được xác định cũng chính bởi cái quá trình không bao giờ chấm dứt của sự trì hoãn liên tục này; bởi ham muốn bao giờ cũng là “muốn một cái gì/điều gì khác nữa” và ngay khi đối tượng của ham muốn được chiếm lĩnh thì nó không còn là cái khơi gợi ham muốn nữa, ham muốn của chủ thể lại nhắm vào một đối tượng khác.”[12] Vì thế chính sự dịch chuyển của ham muốn từ cái biểu đạt này sang cái biểu đạt khác là nguyên nhân và hệ quả của ham muốn, như Lacan đã kết luận: “Ham muốn là một hoán dụ cho dù người ta có thể thấy ý niệm này hài hước thế nào đi nữa.”[13]

Bằng việc gắn chỉ một cái biểu đạt cho một cá nhân và áp đặt cái biểu đạt này lên thân thể, khoảng cách giữa chủ thể và cái biểu đạt hoàn toàn bị khép lại hiểu theo nghĩa đen. Giờ đây chủ thể chỉ còn có một cái biểu đạt và sự trượt nghĩa hoán dụ từ cái biểu đạt này sang cái biểu đạt kia bị ngăn cấm. Nói khác đi, cuộc tìm kiếm liên tục và bất tận cái biểu đạt hay bản sắc của chủ thể bị chặn lại. Chủ thể tiếp nhận cái biểu đạt bị ấn định theo cách để nó lấp đầy tất cả những sự bỏ trống, thiếu khuyết trong sự tồn tại của anh ta/chị ta; cuộc kiếm tìm một bản sắc có khả năng biến đổi và những đối tượng mới của ham muốn bị bắt phải dừng lại và chủ thể của ham muốn bị giết chết[14].

Vậy thì cái thiếu khuyết trong các thực hành biểu nghĩa người Do Thái của Đức quốc xã chính là bản thân sự thiếu khuyết, hay như Slavoj Zizek đã viết trong một văn cảnh hơi khác một chút: “Sự thiếu khuyết lớn nhất, không thể chịu đựng nổi xuất hiện vào chính lúc bản thân sự thiếu khuyết bị thiếu khuyết.”[15]

Đây chính là điều mà tôi gọi là sự triệt huỷ bản ngã bởi cái biểu đạt của Đức quốc xã và tôi tin rằng chính sự triệt huỷ này còn diễn ra trước cả sự triệt huỷ thân xác hình hài. Chính nó đã liên tục đe doạ người Do Thái dưới chế độ Đức quốc xã và thậm chí còn uy hiếp ghê gớm hơn theo thời gian, khi những khoảng cách mà tôi đã bàn đến ở trên bị tiêu biến. Khi một cái chết như thế xảy ra, ngôn ngữ và ham muốn không còn tồn tại nữa. Tôi sẽ trình bày cụ thể hơn vấn đề này song trước hết, tôi muốn trở lại một chút với một hình thức khác của cái chết đã được đề cập đến ngay mở đầu bài luận này, cái chết mà theo Lacan, tôi gọi là “cái chết thứ hai” hay “cái chết tượng trưng.”[16]

Chú thích

[1] Ka-Tzetnik, “Ngôi nhà của những con búp bê”, (House of Dolls), 131. Dinur nổi tiếng với lời chừng của ông tại phiên toà xét xử Eichmann (Adolf Eichmann [sinh 19-3-1906– tử hình ngày 31 -5-1962] là trung tá lực lượng vũ trang SS Đức quốc xã. Vì ông có đầu óc tổ chức và có lý trưởng quốc xã sâu đậm, Eichmann được cấp trên là Reinhard Heydrich trao trách nhiệm chính trong kế hoạch thủ tiêu người Do Thái ở Châu Âu. Sau khi Đệ nhị thế chiến chấm dứt, ông bị Đồng Minh truy lùng gắt gao, phải giả giấy thông hành hội Chữ thập đỏ chạy trốn sang sinh sống tại Argentina với cái tên giả là Ricardo Clemento. Đến năm 1960, nhân viên cục tình báo Mossad của Israel bắt được Adolf Eichmann, đưa về Israel xét xử. Năm 1962 Eichmann bị tòa án Israel kết án và xử tử hình – ND). Khi đó, Dinur đã ngất vì kiệt sức. Cũng trong phiên toàn này, ông đã dùng cụm từ “một hành tinh khác biệt” để nói về Auschwitz.

[2] Klemperer, LIT, 213.

[3] Xem Klemperer, “Tôi xin làm chứng” (I Will Bear Witness), 391-416.

[4] Dẫn theo Kermish, “Báo chí lưu hành chui của người Do Thái ở Vac-sa-va” (The Jewish Underground Press in Warsaw), 87.

[5] Một số nhà văn đã cố gắng liên hệ “tấm phù hiệu” với niềm kiêu hãnh Do Thái song cuối cùng thì cố gắng này cũng thất bại vì như như tôi sẽ kiến giải, đây không phải là cái thực sự bị lâm nguy. Những phản ứng như vậy có thể tìm đọc trong “Nhật ký Vac-sa-va” của Chaim A. Kaplan, 78-80 (nhật ký ngày 30-11-1939). Cũng có thể đọc nhật ký ghi các ngày 27.11.1940; 17.11.1940; 14.4.40; 27.6.1940 và 13.5.1940.

[6] Chẳng hạn có thể tìm thấy trong “Người Do Thái ở Vác-sa-va” của Gutman

[7] Sholom Aleichem (Yakov Rabinowitz, 1859 -1916) là nhà văn trào phúng người Nga gốc Do Thái nổi tiếng của nền văn học Yiddish. Ông sáng tác nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch. Trong tiểu thuyết nói trên, nhân vật chính, chàng thanh niên, đã trải qua một cuộc phiêu lưu trong cuộc hành trình từ Đông Âu đến London và rồi tới Mỹ. Tác phẩm của Kertesz có nhiều nét giống với cuốn tiểu thuyết bợm nghịch (picaresque) ở cấu trúc và phương thức trào lộng. Phương thức trào lộng này thay đổi đáng kể trong những sáng tác về sau của Kertesz. Chẳng hạn, cuốn “Kinh cầu cho một đứa trẻ chưa ra đời” bao trùm bởi một lối viết u ám, đầy thống cảm.

[8] Kertesz, “Không số phận”, trang 26. Những dẫn chứng tiếp theo được trích từ bản dịch này sẽ được đưa vào trong ngoặc đơn.

[9] Trong trường hợp này, bản dịch sau có lẽ chính xác hơn. Xem Kertesz, “Không số phận”, trang 259.

[10] Adorno, “Sự hoá lỏng của bản ngã”, 433. Đây là một trong những vấn đề được Heinrich Himmler đề cập đến trong bài diễn thuyết nổi tiếng của y ở Posen. Trong bài diễn thuyết đó, y nhấn mạnh không có trường hợp người Do Thái ngoại lệ nào có thể được xét riêng bỏ qua. Xem thêm Arad. và những người khác – “Những tài liệu về Holocaust” (Documents on the Holocaust), Tài liệu số 152.

[11] Cũng theo kiến giải của Dylan Evans thì “chuỗi biểu nghĩa” là “một loạt những cái biểu đạt được nối kết với nhau. Một chuỗi biểu nghĩa không bao giờ có thể hoàn tất, vì luôn có khả năng bổ sung cái biểu đạt khác nữa vào chuỗi, theo một cách thức nào đó, để biểu đạt bản chất vĩnh cửu của ham muốn; chính vì lý do này, ham muốn là hoán dụ. Chuỗi biểu nghĩa này còn mang tính hoán dụ trong sự tạo ra ý nghĩa; sự biểu nghĩa không phải hiện hữu ở một thời điểm bất kỳ trên chuỗi; đúng hơn ý nghĩa nằm trong sự vận động từ cái biểu đạt này đến cái biểu đạt khác.” ( Xem Dylan Evans- 190)

[12] Evans, “Từ điển dẫn nhập về phân tâm học của Lacan” (An Introductory Dictionary of Lacanian Psychoanalysis,” 114.

[13] Lacan, “Những bài viết” (Ecrits), 175 (chữ in nghiêng là của Lacan). Trong bài diễn giảng về tính chất trung giới của con chữ và vô thức, Lacan nhấn mạnh, “Cấu trúc hoán dụ chỉ mối liên hệ giữa cái biểu đạt và cái biểu đạt, cho phép một sự đọc nuốt âm mà trong sự nuốt âm đó, cái biểu đạt dựng lên một sự thiếu vắng hiện hữu (lack-of-being) trong mối quan hệ khách thể (object relation), sử dụng giá trị của sự quy chiếu ngược (reference back) vốn có trong sự biểu nghĩa nhằm cấp cho cái biểu đạt một ham muốn chính sự thiếu vắng mà nó ủng hộ” (trang 164)

[14] Có thể thấy một công thức tương tự được thiết lập bởi Julia Kristeva: “ Ngôn ngữ không phải là một hệ thống, nó là một hệ thống của các ký hiệu mở ra theo trục dọc khoảng cách trứ danh giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, từ đó một mặt cho phép ngôn ngữ học xác lập nên một kiểu công thức theo logic toán học, song mặt khác nó dứt khoát ngăn việc quy giảm một ngôn ngữ hay một văn bản thành một thứ luật lệ hay một ý nghĩa… chủ thể của sự phát ngôn định hình trong khoảng cách mở ra giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt” (Kristeva, Ham muốn trong ngôn ngữ – ‘Desire in Language’).

[15] Zizek, “Tôi nghe anh bằng con mắt của tôi” ( I Hear You With My Eyes”, 108.

[16] Xem Lacan, “Luân lý của phân tâm học” (The Ethics of Psychoanalysis), 270-83.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Amos Goldberg, “Trauma, Narrative and Two Forms of Death”, Literature and Medicine 25, No. 1 (Spring 2006), 122-141.

Phần 1

Advertisements

One thought on “tư liệu tham khảo – amos goldberg- chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết (p2)

  1. Pingback: tư liệu tham khảo – amos golberg – chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết (p3) « hải ngọc’s Weblog

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s