Charles Simic – Chùm thơ văn xuôi

Những văn bản của Charles Simic dưới đây là sự giao thoa giữa thơ và truyện, giữa tự sự và phi tự sự, giữa tượng trưng và siêu thực, bi kịch và hài hước. Những liên tưởng được đẩy đến mức tự do nhất, những gián đoạn chủ ý được tạo ra, phá vỡ mọi logic khả đoán… trong những bài thơ văn xuôi của Charles Simic, trên thực tế, lại có thể biểu đạt, thông qua phương thức ám thị, trạng thái phi nhân của xã hội hiện đại.
Bài dịch khai bút cho một năm mới. Cũng là khởi động lại blog sau một thời gian dài. Từ nay, blog này sẽ như là nơi để tôi thực hiện các bài tập của mình.

*

Con chuột nhắt nuôi những con vẹt xanh. Cửa lồng mở toang. Những con chim trụi lông. Chúng run rẩy trước ánh nắng rạng rỡ đến nỗi ngã nhào trong lồng.

“Bản chất của giống chim này là vậy”, chuột nói, “chỉ thích yêu và được yêu!”

Ngài Jesus bị đóng đanh trên cây thập ác gật gù. Trông ông ta thật tâm trạng bất chấp đôi mắt bị gạch chéo và bộ ria tướng cướp Mexico mà kẻ nào đó đã vẽ lên ông.

*

Người đàn ông bị xử chém đó bước xuống từ đoạn đầu đài. Y nâng cái đầu đẫm máu của mình trên tay.

Những cây táo đang trổ hoa. Y tìm đường đến quán rượu của làng, nơi mọi người đang nhìn cảnh tượng này. Đến đó, y ngồi xuống bên một cái bàn và gọi hai vại bia, một cho y và một cho cái đầu của y. Mẹ tôi chùi tay vào tạp dề và phục vụ y.

Thế giới khi đó thật yên tĩnh. Người ta có thể nghe thấy dòng sông xưa; trong sự bối rối của mình, thỉnh thoảng nó lại lơ đễnh và chảy ngược về.

*

Mọi thứ đều có thể thấy trước. Mọi thứ đều đã được thấy trước. Cái gì đã thành định mệnh thì không thể nào tránh được. Ngay cả củ khoai luộc này. Chiếc dĩa này. Mẩu bánh mì đen này. Ý nghĩ này nữa….

Bà tôi, người đang sụt sùi bên vỉa hè biết điều ấy. Bà bảo, chẳng có thượng đế nào đây, chỉ có một con mắt ở đó ở đây là nhìn thấy rõ. Hàng xóm vì mải mê xem ti vi nên đã thiêu bà như một phù thủy.

*

Nơi sự vô tri là nỗi hân hoan, nơi hàng đêm người ta nằm trên chiếc giường của sự ngu xuẩn, nơi người ta quỳ gối khẩn cầu một thiên thần ngờ nghệch… Nơi người ta đi theo một thằng đần độn để tham chiến trong một đạo quân gồm toàn những tên ngu si hưởng thái bình… Nơi gà trống gay cả ngày không chán….

Cái đầu rỗng dễ thương đang hát đi hát lại một đoạn của bài tình ca nó vẫn hát. Chúng tôi ăn sáng trên sân thượng với những chùm nho vẽ đánh lừa thị giác mà ngay cả lũ chim cũng mổ vào. Và bây giờ là những nụ hôn… vì chúng mà chúng tôi quên cả việc phải tháo bỏ những tấm mặt nạ Halloween của mình.

Hải Ngọc dịch
Nguồn: Charles Simic, The World Doesn’t End, A Harvest Book, Harcourt Brace & Company 1990.

Tiếp cận bản chất trò chơi của văn học (Những gợi mở từ công trình Homo Ludens của Johan Huizinga)

“This is Play” [Chơi] – đó là chủ đề của tạp chí New Literary History số 1 -2009. Một lần nữa, sự chơi/trò chơi (play/game) lại khơi dậy những tranh luận trong giới học thuật, cho thấy đây là một chủ đề được quan tâm bậc nhất trong nghiên cứu văn hóa-văn học từ thế kỷ XX. Quan sát diễn ngôn khoa học nhân văn trong thế kỷ XX, có thể nhận thấy trò chơi đã trở thành một từ khóa, một khái niệm công cụ để tư duy lại hàng loạt những vấn đề hiện sinh cốt lõi: thế giới, con người, bản sắc, ngôn ngữ, ý nghĩa… Trò chơi hiện diện như một phạm trù then chốt trong thông diễn học của Hans Georg- Gadamer, thuyết giải cấu trúc của Jacques Derrida, hệ thống triết học của Ludwig Wittgenstein và Jean –Francois Lyotard. Nó liên đới với hàng loạt khái niệm quan trọng của nhiều học giả hàng đầu như phạm trù “carnival” của Mikhail Bakhtin, khái niệm “readerly/writerly text” [văn bản khả độc/khả tác] và “myth” [huyền thoại] của Roland Barthes, khái niệm “performative” [tính biểu hành] trong lý thuyết về phái tính của Judith Butler, khái niệm “simulacra” [bản thế vì] của Jean Baudrillard… Trò chơi không chỉ có giá trị như một ẩn dụ hiệu nghiệm để con người nhận thức được nhiều mặt của đời sống, nó còn là phương thức để con người kiến tạo nên những giá trị của đời sống và chính bản thân mình.

Trong số các công trình nghiên cứu về trò chơi, Homo Ludens [Người chơi] của Johan Huizinga (1872-1945), nhà sử học/nghiên cứu văn hóa người Hà Lan, được coi là tác phẩm đặt nền tảng. Kể từ khi công bố lần đầu tiên (1938), cuốn sách đã nhận được nhiều sự đối thoại, phản biện cũng như gợi mở những hướng phát triển vấn đề mới. Nó hầu như luôn được nhắc đến trong các tranh luận, công trình nghiên cứu về trò chơi. Bản thân việc được nhắc lại rất nhiều này đã cho thấy khả năng kích thích tư duy rất lớn bởi cách đặt vấn đề của Johan Huizinga trong công trình.

Homo Ludens không phải là một chuyên luận văn học, đúng hơn, nó là một công trình nhân học-sử học nghiên cứu tầm quan trọng của sự chơi, trò chơi trong nền văn minh của nhân loại song những phát hiện, nhận định, kiến giải của Johan Huizinga đã gợi mở nhiều suy nghĩ về bản chất trò chơi của văn học – một phương diện vẫn còn ít được chú ý tìm hiểu. Bài viết này của chúng tôi không hẳn là một sự tổng thuật cuốn sách của Huizinga – một công việc thực ra đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện. Chúng tôi xác định một mục tiêu khác: trên cơ sở tóm lược một số nhận định của Huizinga mà thiết nghĩ, chúng soi rọi rõ nét hơn cả những đặc trưng của văn học, chúng tôi muốn phát triển những vấn đề mà tác giả Homo Ludens đã đặt ra gắn với những chủ điểm được các lý thuyết đương đại quan tâm.

Quan niệm về trò chơi của Huizinga – Một cái nhìn hệ thống

Luận điểm có tính chất nền móng cho công trình Homo Ludens là: “nền văn minh nhân loại đã hình thành trong sự chơi, như là sự chơi và chưa bao giờ rời bỏ nó.” (Johan Huizinga: 173). Với luận điểm này, Johan Huizinga không phải là người đầu tiên đưa ra quan niệm cõi nhân gian là một thế giới trò chơi, cũng không phải là người đầu tiên phát hiện tầm quan trọng của trò chơi đối với đời sống con người. Đằng sau ông là cả một truyền thống triết học phong phú, khởi đi từ Heraclitus, Plato cho đến Kant, Schiller, Hegel, Nietzsche, Heidegger… Nhưng điểm đột phá của Huizinga, theo Robert Anchor, là ở chỗ: “ông là người đầu tiên cố gắng đưa ra một định nghĩa chính xác về sự chơi và sự thẩm thấu cũng như biểu hiện chúng trong văn hóa, ở mọi lĩnh vực…” (Robert Anchor:63).

Sự chơi, theo quan niệm của Johan Huizinga, được hiểu là “… một hoạt động tự do, tách ra một cách tương đối khỏi cuộc đời ‘thường nhật’ như là một sự ‘không nghiêm trọng’ song đồng thời lại có khả năng cuốn hút người chơi mãnh liệt và tuyệt đối. Nó là một hoạt động không gắn với một quan tâm vật chất nào và vụ lợi nào. Nó triển diễn bên trong những giới hạn không gian và thời gian của riêng mình, tuân theo những luật lệ cố định và theo một cách thức mang tính mệnh lệnh” (Huizinga:13).

Từ diễn giải về sự chơi như thế, có thể thấy chơi được định nghĩa như là sự đối lập với thực tại, với cái nghiêm trọng, nghiêm túc. Sự chơi tạm thời đưa con người bước ra khỏi quỹ đạo của cuộc đời thường nhật với những giới hạn không-thời gian, những quy luật, tất yếu của nó, để thâm nhập vào một thế giới khác vừa ở trong mà cũng vừa ở ngoài thực tại, mang tính tự trị tương đối (có không gian-thời gian riêng, có những luật lệ riêng). Thế giới chơi (play-sphere/play world) này thực chất là một ảo ảnh (Huizinga lưu ý nghĩa từ nguyên của “ảo ảnh” [illusion] – illusion, ilusere – vốn có nghĩa là “đang chơi/trong sự chơi” [in-play]), không hướng đến một mục đích thực dụng nào song lại có sức mê hoặc, lôi cuốn con người bởi lẽ chơi là “một chức năng biểu nghĩa” (significant function) (Huizinga:1). Nó gắn với nỗi thôi thúc mang màu sắc hiện sinh: Con người chơi để được là mình, để không bị quy giản thành một thực thể duy lý vì “chơi là phi duy lý” (Huizinga:4). Con người chơi như một cách để tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình, như một cách để tạo nghĩa cho chính thế giới mà y tồn tại trong đó. Con người chơi để khai phá sự tự do khi vượt qua những tất yếu của thực tại, để phát hiện những khả thể của bản thân và của chính thế giới. Chơi, vì thế, vừa mang tính chất xây dựng, kiến tạo, vừa hàm chứa năng lượng của sự lật đổ, phá vỡ. Chức năng biểu nghĩa, vị thế kép vừa ở trong vừa ở ngoài thực tại, tính chất hai mặt – kiến tạo và phủ định – những phát hiện nói trên về đặc trưng của sự chơi trong công trình Homo Ludens, theo chúng tôi, có nhiều điểm tiệm cận với hướng tư duy của các nhà giải cấu trúc sau này.

Ở đây, cần lưu ý: đối tượng mà Johan Huizinga khảo sát trong cuốn sách của mình là “play” – dịch sát nghĩa sang tiếng Việt là “sự chơi” – chứ không phải là “game” – “trò chơi”, dịch đúng nghĩa. Ông quan tâm nhiều đến mặt tinh thần, triết lý của hoạt động chơi hơn là phương diện cấu trúc của hoạt động này, cái tạo thành “trò chơi”. Khái niệm trò chơi sẽ được định nghĩa chặt chẽ hơn bởi những công trình nghiên cứu sau này, tiêu biểu là Roger Caillois với cuốn sách Man, Play and Games và Bernard Suits với luận văn triết học The Grasshopper: Games, Life and Utopia.

Toàn bộ hoạt động chơi phong phú và đa dạng của nhân loại từ cổ chí kim, ở phương Đông lẫn phương Tây, theo Huizinga, có thể quy thành hai dạng thức cơ bản: các trò chơi mang tính chất tính chất thách đố, ganh đua, cạnh tranh vì một cái gì đó (contest) và các trò chơi nhằm mục đích thể hiện, phổ diễn, biểu hành về một cái gì đó (representation). Hai dạng thức này có thể tồn tại ngay trong cùng một trò chơi: khi ganh đua để đạt được một cái gì đó thì đồng thời người ta cũng bộc lộ, biểu hiện một điều gì đó. Theo quan sát của Huizinga, sự chơi phóng chiếu lên hầu hết các hoạt động cơ bản của con người, các hình thái ý thức chủ yếu của xã hội loài người. Mô hình văn hóa mà loài người kiến tạo, ngay từ thoạt kỳ thủy, đã được hình thành trên nền tảng của sự chơi, như là sự chơi. Thực sự, điều này đã khiêu khích một quan niệm khá phổ biến xem văn hóa là một cái gì đó hết sức nghiêm trọng, nghiêm túc, chỉ có thể bắt nguồn từ những tác nhân nghiêm túc.

Johan Huizinga đã đưa ra một quan niệm rất rộng về trò chơi, đến nỗi, mọi hình thái nhận thức của con người, theo đó, đều mang tính chất của trò chơi. Nhận định của ông không phải quá cực đoan. Nếu ngôn ngữ là công cụ của tư duy thì ngay ở đây, Huizinga đã lưu ý chúng ta việc dùng ngôn ngữ để gọi tên sự vật, đưa sự vật vào địa hạt của cái tinh thần, về bản chất, là một sự chơi. Lúc này, vật đã bị “bứng khỏi” thực tại vật lý, được dịch chuyển vào địa hạt của thực tại tinh thần, một thực tại “ảo”. “Đằng sau mỗi hình thức diễn đạt trừu tượng là những ẩn dụ rõ nét, và mỗi ẩn dụ lại là một trò chơi trên ngôn từ” (Huizinga:4). Phát hiện gây ngạc nhiên nhất của Huizinga trong công trình Homo Ludens là dấu ấn của trò chơi thể hiện ngay trong những hoạt động tưởng chừng không có chỗ cho sự chơi như luật pháp và chiến tranh. Ở hoạt động luật pháp, tính chất trò chơi thể hiện ngay ở hình thức trình diễn (performance) của phiên tòa nơi mà theo truyền thống phương Tây, quan tòa buộc phải mặc một thức trang phục riêng và nhất thiết phải đội tóc giả – thứ mà theo Huizinga, có “mối liên hệ gần gũi với những tấm mặt nạ nhảy múa của người nguyên thủy” và “bằng việc phục trang như thế, người ta trở thành một ‘thực thể’ khác” (Huizinga:77). Các màn tranh tụng trong phiên tòa, ở những thời kỳ đầu tiên của xã hội văn minh, có thể xem như các cuộc thi đấu (contest/competition) bằng lời lẽ mà điều quan trọng nhất chưa phải là ý chí muốn đánh bại, khuất phục đối phương mà để nhằm chứng tỏ sự hơn người, khẳng định danh dự. Cũng như vậy, không phủ nhận khía cạnh tranh giành lợi ích, xung đột quyền lực, tính chất bạo lực của chiến tranh song Huizinga đồng thời cũng chứng mình cho ta thấy, những cuộc chiến thời cổ đại còn là cơ hội để con người bộc lộ tài năng, chứng tỏ danh dự, nhất là thể hiện tinh thần hiệp sĩ, thượng võ – điều mà theo ông sẽ trở thành nền tảng của luật pháp quốc tế hiện đại. Ở những hình thái ý thức xã hội khác như triết học, nghệ thuật, tôn giáo, tính chất trò chơi còn dễ quan sát hơn với nhiều biểu hiện sống động mà một sự lược thuật khá đầy đủ những phân tích của Johan Huizinga có thể tìm thấy trong tiểu luận “History and Play: Johan Huizinga and His Critics” của Robert Anchor (1978).

Xem xét hình thái của sự chơi trong nền văn minh nhân loại trên trục lịch đại, Johan Huizinga nhận định: nếu như ở những thời kỳ cổ sơ, sự chơi hiện diện rất đậm nét trong tất cả những hoạt động cơ bản của xã hội, thì sang đến thời hiện đại, từ thế kỷ XIX, “nhiều thành tố của sự chơi vốn đặc trưng cho những thời đại trước đó đã bị mất mát” (Huizinga:195). Tính chất trò chơi trong các hoạt động và hình thái ý thức của nền văn minh hiện đại trở nên suy thoái bởi quá trình công nghiệp hóa, thương mại hóa, chuyên nghiệp hóa, chính trị hóa diễn ra mạnh mẽ. Quá trình này, qua sự tóm tắt ý tưởng của Huizinga bởi Robert Anchor, “khiến cho sự phân biệt giữa sự chơi và cái nghiêm túc bị phá bỏ, nhờ đó, những việc nghiêm túc của cuộc đời – chính trị, chiến tranh, kinh tế và luân lý-tha hóa thành những sự chơi giả (pseudo-play) trong khi sự chơi lại mất đi những phẩm chất vốn không thể thiếu được của mình như sự tự nhiên, bộc phát (sponaeity), sự vô tư (detachment), tính phi nghệ thuật (artlessness), niềm hoan lạc, và do đó, mất đi quyền năng của một hoạt động tạo tác văn hóa” (Robert Anchor:83). Huizinga đưa ra nhận định này như một cảnh báo, mà theo Anchor, đó là một cảnh báo “u ám” đối với nền văn minh đương thời, bởi theo tác giả Homo Ludens, “một nền văn minh thực sự không thể tồn tại nếu thiếu vắng thành tố của sự chơi, vì văn minh luôn tiền giả định giới hạn và sự làm chủ bản ngã, không được đánh đồng những khuynh hướng của nó với cái mục tiêu tối hậu và cao nhất mà phải hiểu rằng bao giờ nó cũng tồn tại trong những ranh giới được chấp nhận tự nguyện. Theo nghĩa nào đó, nền văn mình sẽ luôn được chơi theo những luật lệ nhất định, và nền văn minh đích thực sẽ luôn đòi hỏi sự chơi đẹp” (Huizinga:211).

Homo Ludens ra đời vào năm 1938, vào thời điểm nền văn minh châu Âu đang ở đêm trước của Thế chiến II, cũng là giai đoạn mà chủ nghĩa hiện đại trong văn hóa nghệ thuật phát triển đến đỉnh cao. Cuốn sách của Huizinga, theo chúng tôi, cũng là một tác phẩm mang đậm cảm quan hiện đại chủ nghĩa, thể hiện phản ứng của tác giả trước sự khủng hoảng của nền văn minh kỹ trị, duy lý của phương Tây lúc bấy giờ và việc nghiên cứu hình thái, vai trò và giá trị của sự chơi trong đời sống nhân loại của Huizinga có lẽ cũng ngầm gợi ý một giải pháp cho thực trạng của nền văn minh đương thời.

Những gợi mở về bản chất trò chơi của văn học

Chức năng trò chơi của văn học

Tất nhiên, khi khảo sát những thành tố của sự chơi trong các hình thái ý thức xã hội cơ bản, Johan Huizinga không quên văn học. Mở đầu chương “Play and Poetry” [Sự chơi và thi ca”], Huizinga đã nhận xét: “…trong khi ở những hình thái xã hội được tổ chức cao hơn, tôn giáo, khoa học, luật pháp, chiến tranh và chính trị dần dần mất đi liên hệ với sự chơi – mối liên hệ vốn rất đậm nét ở những giai đoạn trước đó, thì chức năng của thi sĩ vẫn định vị vững chắc trong thế giới của sự chơi (play-sphere), nơi thi ca được khai sinh. Thi ca (Poiesis), trên thực tế, mang chức năng trò chơi” (Huizinga:119). Ông nói tiếp: “Thực sự, định nghĩa mà chúng ta trao cho sự chơi hoàn toàn có thể xem như định nghĩa về thơ ca… Gọi thơ ca là một trò chơi ngôn từ, nói như Paul Valéry, không hề là một ẩn dụ: đó là một sự thật chính xác, hiển nhiên” (Huizinga: 132).

Thế nhưng, dẫu phương trình “thơ ca (văn học) = trò chơi” có thể được chấp nhận hoàn toàn thì vẫn rất cần những nỗ lực nhận thức thấu đáo cái thực tế được coi là hiển nhiên này, ít nhất là trong ngữ cảnh nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay, khi ý niệm “văn học như là trò chơi” vẫn có nguy cơ bị hiểu như là một sự hạ giá văn học, xem văn học như thứ phù phiếm. Hầu hết các giáo trình lý luận văn học hiện nay, khi viết về chức năng văn học, đều chỉ tập trung đến các chức năng thẩm mỹ, nhận thức, giáo dục, và phần nào có nhắc đến chức năng giải trí. Song chức năng giải trí không đồng nhất với chức năng trò chơi bởi nếu theo quan niệm của Huizinga, trò chơi rộng hơn khái niệm giải trí, tiêu khiển. Theo chúng tôi, không nên tách chức năng trò chơi thành một chức năng độc lập mà nên nhìn nhận nó một mặt vừa nằm bên ngoài hệ thống, một mặt vừa nằm bên trong hệ thống chức năng văn học. Nó tác động, hòa lẫn, thẩm thấu vào các chức năng khác, tạo nên tính đặc thù của các chức năng này.

Theo đó, giá trị nhận thức của văn học không phải nằm ở nằm việc phản ánh thực tại, phát hiện những quy luật, những cái phổ quát mà nằm ở việc gợi ra những khả thể khác của thực tại, giải bỏ cái phổ quát, cho phép đa nguyên hóa nhận thức ở con người. Cũng theo đó, cái gọi là chức năng nhân đạo hóa của văn học không nên chỉ đơn giản hiểu ở khía cạnh giáo hóa, hướng thiện con người. Nó cần phải được chú ý ở khả năng đem đến cho con người sự vui tươi (fun) – thành tố được xem là hạt nhân của sự chơi theo quan niệm của Huizinga, thứ kháng cự mọi phân tích, diễn giải logic, giúp con người thả lỏng, cân bằng trước những áp lực của thực tại, của những quy luật duy lý, giúp con người luôn là một thực thể “đang trở thành”, “sẽ trở thành” (becoming) chứ không phải một khái niệm đã hoàn kết, rắn lại, trừu tượng. Chức năng nhân đạo hóa của văn học không chỉ quan sát được ở phía hiệu ứng tác động mà còn nằm ngay ở thế giới nghệ thuật của tác phẩm – một thế giới chơi đúng nghĩa, hội tụ đầy đủ những phẩm chất của sự chơi – nơi cho phép con người hóa thân vào “cõi ảo” nơi những khả thể được phát hiện, được khai phóng, thay vì bị hãm lại, nén lại dưới áp lực của thực tại. Thực tại càng khắc nghiệt, nhu cầu giải thoát thực tại, tìm một khả thể thực tại khác lại càng mãnh liệt. Điều này gợi ý chúng ta quan tâm đến tính chất trò chơi của những hiện tượng văn học ra đời trong những điều kiện ngặt nghèo như thơ tù hay nhật ký chiến tranh vốn hầu như chưa được xem xét nhưng thiết nghĩ, quan sát từ chính giác độ này, nhiều khía cạnh lý thú của hiện tượng sẽ được phơi mở. Ngay cả ở khía cạnh tác động của văn học, ta cũng cần lưu ý: văn học giáo hóa con người trong hình thức của sự chơi, bằng phương thức của sự chơi mà sự chơi, nói như đại ý của Hegel, “chính bởi bản chất phi vụ lợi và cực kỳ vô tư, lại là cái cao cả nhất và là hình thức đích thực duy nhất của cái nghiêm túc” (Eugen Fink:25). Và Friedrich Nietzche, trong Ecce Homo, đã khẳng định rằng: “Tôi không biết phương cách nào khác để đối trị với những sứ mệnh vĩ đại ngoài sự đùa chơi”.

Sự hòa kết giữa chức năng trò chơi và chức năng thẩm mỹ của văn học lại càng sâu sắc. Trên thực tế, chức năng trò chơi của văn học còn có trước chức năng thẩm mỹ và đã từng có địa vị quan trọng hơn cả chức năng thẩm mỹ. Huizinga viết: “Nếu để tìm mẫu số cho sự đồng dạng đáng kinh ngạc và sự giới hạn của phương thức thi ca ở tất cả các thời kỳ của xã hội loài người thì có lẽ nó nằm trong thực tế rằng cái chức năng sáng tạo mà ta gán cho thơ bắt nguồn từ một chức năng thậm chí còn cố sơ hơn bản thân văn hóa, cái mà ta gọi là sự chơi” (Huizinga:132). Trong mối quan hệ giữa sự chơi nói chung và thẩm mỹ, Huizinga nhận xét: “Sự chơi muốn trở nên đẹp… Những từ vựng mà chúng ta huy động để nói về những thành tố của sự chơi phần lớn bắt nguồn từ mỹ học, phái sinh từ những thuật ngữ mà chúng ta muốn dùng để miêu tả những hiệu ứng của cái đẹp: độ căng, sự cân đối, thăng bằng, tương phản, biến tấu, hòa tan, hóa giải, v.v… Sự chơi mê hoặc chúng ta; nó ‘bỏ bùa’ ta, ‘hút hồn’ ta. Nó được phú cho những phẩm chất quý hiếm nhất mà chúng ta có thể hình dung được ở các sự vật hiện tượng, ấy là nhịp điệu và sự hài hòa” (Huizinga:10). Khoái cảm trò chơi tương hợp với khoái cảm thẩm mỹ không chỉ ở tính chất phi vụ lợi, phi thực dụng, không phải chỉ ở chỗ chúng đều bắt nguồn từ “thế giới chơi”/”thế giới nghệ thuật” vốn mang cùng những đặc tính mà còn ở chỗ cả hai thế giới này đều được hình thành trên nguyên tắc lặp lại, trật tự và chỉnh thể, nói theo chữ của Huizinga, đó là thế giới “hoàn thiện bị giới hạn” (limited perfection), đều kiến tạo và duy trì sự bí mật (secrecy) – nhân tố gây hấp dẫn ở cả trò chơi lẫn văn học. Nếu khoái cảm thẩm mỹ ở trò chơi biểu hiện ngay ở những thành tố cấu trúc nên chính nó thì khoái cảm thẩm mỹ ở văn học, trước hết và hơn hết, nằm ngay ở phương diện hình thức, kết cấu tác phẩm.

Chức năng trò chơi của văn học, bất chấp tầm quan trọng của nó, trên thực tế, lại bị xem nhẹ, không được nhận thức thỏa đáng trong suốt một thời kỳ khá dài, khi văn học còn đứng ở vị trí trung tâm trong các hình thái ý thức xã hội, được đối xử như là đại diện cho những giá trị phổ quát, như một thứ diễn ngôn đại tự sự. Bởi vậy văn học bị nghiêm túc hóa, nghiêm trọng hóa, và phần “chơi” của văn học bị hạn chế, kìm hãm, bị phớt lờ cố ý nhưng ngay cả khi đó, vẫn không thể triệt tiêu sự chơi. Trong nền văn minh hiện đại, văn học không còn chiếm giữ vị trí trung tâm nữa mà bị dạt ra ngoại vi và chính ở tình thế này, chức năng trò chơi của văn học mới thực sự được hiểu lại, nhận thức lại. Chỉ có thể bằng sự chơi, văn học mới có thể phát huy được quyền năng của cái ngoại vi.

Từ mối quan hệ trò chơi – thực tại đến mối quan hệ trò chơi – diễn ngôn

Ở trên chúng tôi đã lưu ý, trong quan niệm của Huizinga, sự chơi được xác định như một phản đề với thực tại. Hơn một lần trong cuốn sách, tác giả láy lại luận điểm: tham gia một cuộc chơi tức là bước ra khỏi đời thực, để nhập vào một thế giới khác mang tính tự trị nhất thời, với những ước lệ riêng về không – thời gian. Tuy nhiên, đối với nhiều nhà nghiên cứu về trò chơi sau này, luận điểm trên của Huizinga cần phải được phản biện.

Tiêu biểu cho sự phản biện này phải kể đến Jacques Ehrmann. Trong luận văn “Homo Ludens Revisited” [Nhìn nhận lại vấn đề người chơi] (1968), Jacques Ehrmann cho rằng việc tạo ra phản đề giữa trò chơi-thực tại là một giả thuyết sai. Theo ông, “sự chơi không triển diễn trên nền của một thứ thực tại cố định, bền vững, được xem như là chuẩn để đối chiếu với nó. Mọi thực tại đều được nắm bắt trong trò chơi của những khái niệm xác định nó. Thực tại, vì thế, không thể khách quan hóa, cũng không thể chủ quan hóa. Thế nhưng nó không bao giờ là thứ trung lập. Cũng như không thể trung lập hóa nó.” (Ehrmann:56). Không có một thứ thực tại chung chung, phổ quát tồn tại trước văn hóa theo như xác tín của Huizinga, và cũng không có thực tại nào tồn tại trước sự chơi. Trò chơi và thực tại không thể tách rời khỏi nhau: “Nói cách khác, đặc trưng của thực tại là ở chỗ nó bị chơi (it is played). Sự chơi, thực tại, văn hóa đồng nghĩa với nhau và có thể hoán đổi cho nhau” (Ehrmann:56, chữ in nghiêng do chúng tôi muốn nhấn mạnh).

Quan niệm trên của Jacques Ehrmann, theo chúng tôi, có nhiều điểm đến rất gần với tinh thần giải cấu trúc luận sau này. Erhmann đã khước từ chủ nghĩa bản chất (essentialism) trong quan niệm về hiện thực. Nếu thực tại, trò chơi, văn hóa đồng nghĩa với nhau và đồng hiện trong sự chơi, nếu bản thân thực tại cũng là cái “bị chơi”, từ sự chơi mà hình thành, vậy thì thực tại chỉ là một kiến tạo, một ước lệ, một hư cấu như chính sự chơi mà thôi. Và khi Erhmann mở rộng suy luận, cho rằng “sự chơi [được] cấu thành, mở ra và khép lại [nhờ] ngôn ngữ” (Erhmann:56) thì thực tại, về bản chất, cũng là một kiến tạo bởi/của ngôn ngữ. Ở đây, xin được giải thích hình thức diễn đạt mà chúng tôi lựa chọn để dịch luận điểm trên của Jacques Erhmann sang tiếng Việt. Theo bản dịch Anh ngữ của Cathy Lewis & Phil Lewis, câu văn của Ehrmann là: “Play is articulation, opening and closing of and through language”. Theo chúng tôi hiểu, ngôn ngữ không chỉ là nhân tố cấu trúc sự chơi mà còn là đối tượng tạo tác của chính sự chơi nữa. Vì thế, chúng tôi có sử dụng dấu ngoặc vuông để có thể chuyển tải nghĩa kép câu văn trong nguyên bản một cách hàm súc nhất. Đến đây mối quan hệ giữa trò chơi và thực tại trở thành vấn đề diễn ngôn. Mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực” của phản ánh luận rất có thể cần được hiểu lại, rằng “văn học chơi hiện thực”, “văn học sinh thành/phá hủy hiện thực”.

Phản biện quan điểm của Johan Huizinga, Jacques Ehrmann đã dừng lại khi đẩy vấn đề trò chơi sang địa hạt của ngôn ngữ, diễn ngôn. Chỗ dừng lại của Ehrmann lại là xuất phát điểm của giải cấu trúc luận. Một trong những nhà nghiên cứu tiếp cận bản chất trò chơi của văn học từ quan điểm giải cấu trúc luận là Susan Stewart. Rất tiếc, chúng tôi chưa có điều kiện đọc toàn văn công trình bàn về lý thuyết trò chơi của bà, cuốn Nonsense: Aspects of Intertextuality in Folklore and Literature [Cái vô nghĩa: Những bình diện của tính liên văn bản trong folklore và văn chương] nhưng thông qua những giới thiệu tổng thuật về cuốn sách, có thể hiểu Stewart quan niệm: “động thái chơi luôn hàm ẩn sự vi phạm quá trình diễn dịch ý nghĩa chung, phổ biến [common sense], nó là một quá trình tái phân định ranh giới, tái định khung” [dẫn theo Enrique A. Giordano:218]. Theo Stewart, ý nghĩa chung là một mô hình được tạo tác, một trật tự có một sự mạch lạc chặt chẽ, “một quy ước được tạo lập không mang tính tự nhiên hay rạch ròi và cũng không nhất thiết mang tính chất duy lý” [Lydia H. Rodríguez:86]. Đối tượng nghiên cứu của Stewart là cái vô nghĩa. Theo bà, xã hội rất cần cái vô nghĩa vì “một cấu trúc thì không thể nào tĩnh tại được trong khi xã hội lại luôn sống động” và “nhờ cái vô nghĩa, ý nghĩa chung tự tổ chức lại song đồng thời cũng tự giải thể chính nó” [cf:86]. “Đó là một quá trình liên tục tái tổ chức sau khi giải thể và ngược lại” [cf:86]. Cái vô nghĩa ở đây chính là sự chơi, là sự vượt khuôn khỏi những hạn định của ý nghĩa chung. Bởi sự chơi này diễn ra không ngừng nên ý nghĩa bao giờ cũng ở tình trạng bất ổn. Tuy nhiên, sự bất ổn này lại là điều kiện để ý nghĩa được sinh thành. Cách tiếp cận của Susan Stewart, trên thực tế, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Jacques Derrida. Và thật sự, nếu nói đến sự phát triển lý thuyết trò chơi theo quan điểm giải cấu trúc thì không thể bỏ qua được tư tưởng của Derrida. Song chính bởi sự sâu sắc và cực kỳ phức tạp trong tư tưởng của ông, chúng tôi muốn dành một nghiên cứu riêng, sẽ trình bày trong một tương lai gần, thay vì diễn giải sơ lược trong phạm vi bài viết này. Ở đây, chỉ xin nói rằng những luận điểm về sự chơi của Susan Stewart đã gợi ra cho chúng tôi nhiều điều phải suy nghĩ về bản chất trò chơi của văn học, nhất là đặc trưng của thơ ca.

Trước hết, chúng ta có thể thiết lập những mô hình tam đoạn luận, bắc cầu nối tư tưởng của Huizinga với luận điểm của Stewart. Nếu chơi luôn là động thái vi phạm những ranh giới và quy luật của thực tại thường nhật, mang tính kinh nghiệm, để tạo nên thế giới của sự chơi (theo Huizinga) và nếu cái thực tại đó cũng chỉ là kiến tạo bởi ngôn ngữ, là “diễn ngôn được chấp nhận bởi những mã của một thứ thực tại đã được nói”, nói khác đi, thực tại chẳng qua là một kiến tạo bởi ý nghĩa chung (theo Stewart) [dẫn theo Giordano:218] vậy thì, sự chơi bao giờ cũng giải bỏ thứ văn cảnh xác định ý nghĩa chung, tạo nên những ý nghĩa mới, những mã mới. Nếu văn học là trò chơi ngôn từ được chấp nhận như một thực tế hiển nhiên, và nếu ngôn từ tự bản thân nó đã là một hệ thống chơi, vậy thì văn học là sự chơi với chính sự chơi, sự chơi diễn ra bên trong sự chơi. Và như vậy, trò chơi ngôn từ của văn học không chỉ đơn giản là câu chuyện tu từ, chơi chữ mà bản chất của động thái chơi ở đây chính là sự kiến tạo ngôn ngữ, khai phóng ngôn ngữ. Đó là một cuộc chơi với mức độ thách thức rất cao, bởi lẽ nhà thơ vừa phải sử dụng ngôn ngữ lại vừa phải vi phạm nó để tạo ra một diễn ngôn mới. Đúng như tình thế mà Octavio Paz mô tả: “Anh ta phải sử dụng từ ngữ, thông qua các ký hiệu mà mọi người đều hiểu, để tạo nên một thứ ngôn ngữ mới. Từ ngữ của nhà thơ vẫn là ngôn ngữ, tức là phương tiện giao tiếp, nhưng đã đóng một vai trò khác. Thơ phải là thứ gì đó chưa từng được nói hoặc nghe” [Paz:8]. Thứ hai, luận điểm của Stewart còn đặt ra vấn đề xem cái vô nghĩa như một phạm trù triết mỹ. Nó giúp ta hiểu được sự ám ảnh của cái vô nghĩa trong văn học từ những sáng tác sơ khai của nhân loại cho đến sự nổi dậy của cái vô nghĩa, cái bị coi là nhảm nhí trong nghệ thuật thời kỳ hiện đại, thời kỳ con người trở nên ngờ vực ngôn ngữ, một nỗi ngờ vực bản thể luận.

Trò chơi, luật chơi và tiến trình văn học

Tính luật lệ được Johan Huizinga nhắc đến như một đặc trưng quan trọng nhất của sự chơi nhưng ông không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về luật chơi. Thay vào đó, Huizinga lại nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc phải giữ luật. Luật cần phải được tuân thủ để trò chơi được khả hữu, để duy trì cộng đồng chơi. Đi sâu vào vấn đề luật chơi là đóng góp của những nhà nghiên cứu đi sau, trong đó phải kể đến Bernard Suits, người mà theo chúng tôi, đã đưa ra một quan niệm về luật chơi hàm súc nhưng có khả năng báo quát cao các hiện tượng chơi đa dạng và phong phú trong đời sống. Suits định nghĩa: : “Chơi một trò chơi nghĩa là cố gắng nhằm đạt đến một trạng thái đặc thù , chỉ sử dụng những phương tiện được luật cho phép mà luật ở đây lại cấm sử dụng những phương tiện hiệu quả hơn trong khi ủng hộ những phương tiện kém hiệu quả [luật cấu thành] và một thứ luật như thế được chấp nhận chỉ vì nó khiến cho một hoạt động như thế [chơi] trở thành khả hữu…Chơi một trò chơi nghĩa là một nỗ lực tự giác để vượt qua những chướng ngại vật không tất yếu” [Suits: 41]. Qua đó, có thể thấy luật chơi bao giờ cũng có tính chất oái ăm, trớ trêu, nghịch lý và chính bởi những tính chất này, mà trò chơi được kiến tạo như một thế giới đặc thù, phân biệt với thực tại, một thực tại được quan niệm theo tinh thần của Huizinga. Luật chơi bao giờ cũng tạo ra độ khó khăn, tính thử thách, khống chế phương tiện được mang vào cuộc chơi nhưng chính sự ngặt nghèo này cũng là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của trò chơi, nó thỏa mãn một ham mê thường trực ở con người: chinh phục độ khó. Chính trong sự chinh phục độ khó này, con người mới thăm dò được các khả thể, mới trở thành chính mình một cách toàn vẹn như lời khẳng định của Schiller. Nhưng theo chúng tôi, định nghĩa của Bernard Suits, trong khi nhấn mạnh đến việc luật chơi nào cũng quy định nghiêm ngặt về phương tiện chơi, thì lại chưa chú ý đến thực tế rằng, luật chơi còn điều kiện hóa người chơi. Không phải ai cũng được, cũng có thể, tham gia vào trò chơi. Một số trò chơi đòi hỏi người chơi phải đến một độ tuổi nào đó, phải tích lũy những kinh nghiệm nhất định nào đó, phải được sự chấp thuận của một cộng đồng chơi, v.v. Đứng đằng sau luật chơi là cả một hệ thống uy quyền cho phép hoặc loại trừ người nào đó bước vào thế giới trò chơi.

Tính luật lệ cũng là một điểm tương hợp giữa trò chơi và văn học. Nếu hiểu luật chơi là những quy ước, nguyên tắc, điều kiện mà con người phải tuân theo để duy trì trò chơi thì điều này có thể quan sát ngay ở các thể loại văn học. Thể loại văn học tự nó đã là hiện tượng mang tính quy ước; hệ thống thể loại văn học hoàn toàn có thể ví như hệ thống trò chơi, từng thể loại có những luật lệ riêng thách đố người viết. Sáng tác văn học, do đó, thực chất, là sự chơi thể loại, là cuộc đấu giữa một bên là tính chất bó buộc, nguyên tắc của luật chơi, tính chất siêu cá tính của thể loại và một bên là cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Trong tiến trình văn học, ở mỗi thời kỳ, sự chơi thể loại lại có tính chất riêng, xu hướng riêng. Về cơ bản, ở thời kỳ trung đại, cuộc chơi của người viết là chấp nhận những thách đố cực kỳ nghiêm ngặt của thể loại trên cả cấp độ nội dung đến cấp độ hình thức, thậm chí thắt chặt đến tận cấp độ vi mô (như trong thơ) để chứng tỏ sự tinh vi, thiện nghệ của mình như một người thợ thủ công tinh xảo. Chơi trong văn học trung đại là chơi với, chơi trong những luật lệ đã hình thành, sẵn có, đã rắn lại. Thời hiện đại, trò chơi thể loại diễn ra theo một xu thế khác. Nói như Jean- Francois Lyotard thì người nghệ sĩ hiện nay “ở vị thế của một triết gia: văn bản anh ta viết, tác phẩm anh ta tạo ra, về nguyên tắc, không chịu chi phối bởi những luật lệ đã được thiết lập trước đó, không thể phán xét chúng rạch ròi bằng việc ứng chiếu văn bản, tác phẩm đó theo những phạm trù quen thuộc. Những luật lệ, phạm trù đó là cái mà bản thân tác phẩm đang kiếm tìm. Người nghệ sĩ, nhà văn đã làm việc mà không theo một luật lệ nào để thiết lập nên những luật lệ cho cái chắc chắn sẽ được thực hiện” [Patricia Waugh (ed): 337, in nghiêng trong nguyên bản]. Nhận định của Lyotard cho thấy luật lệ không còn là những yếu tố siêu cá tính, được đúc kết, khái quát từ thực tiễn và muốn trở thành cái phổ quát áp đặt lên tất cả. Luật lệ, quy ước giờ đây bản thân chúng đã là những sáng tạo, in đậm cá tính của nghệ sĩ, chối bỏ tham vọng trở thành cái phổ quát mà trở thành cái mang tính chất độc sáng. Hơn nữa, luật lệ, quy ước không nhằm tạo lập một mô hình mô phỏng cái đã có trước, mà để cấu trúc một mô hình chưa từng hiện hữu. Từ đó, suy ra, trò chơi trong văn học hiện đại/hậu hiện đại bắt đầu bằng việc đặt ra những quy ước, những phép luật, những thỏa thuận ngầm mới giữa nhà thơ – văn bản – người đọc. Điều này lý giải vì sao mô hình thể loại trong văn học hiện đại/hậu hiện đại biến dạng một cách ghê gớm khiến cho bảng phân loại thể loại truyền thống trở nên chật chội. Thực tiễn thơ ca đương đại có thể là một minh họa sinh động. Dường như mọi định nghĩa về thơ, mọi quy ước về thơ đều có thể được chấp nhận. Thơ có thể chối bỏ nghĩa để trở thành những chuỗi vô nghĩa như những sáng tác của các nhà thơ Dada. Thơ có thể chối từ sự tồn tại như một văn bản in như những thể nghiệm thơ âm thanh, thơ trình diễn. Thơ có thể chối bỏ cả chính từ ngữ, cú pháp, tu từ, thậm chí lấy chính chất liệu ngoài ngôn ngữ để kiến tạo tác phẩm như thơ cụ thể (concrete poetry)… Chính sự cá nhân hóa các quy ước thể loại khiến cho không chỉ đặc trưng thể loại trở thành nhập nhòa mà ranh giới giữa thơ ca và các loại hình nghệ thuật khác hóa mơ hồ.

Khi bàn đến tầm quan trọng của việc giữ luật chơi, Johan Huizinga có lưu ý chúng ta đến một thực tế: “Rất đáng lưu tâm khi chúng ta để ý rằng so với những kẻ phá luật chơi thì xã hội khoan dung hơn rất nhiều đối với những tên lường gạt. Đó là vì kẻ phá luật chơi kia đã đập vỡ bản thế thế giới chơi (play-world). Với việc rút khỏi trò chơi, y đã cho thấy tính tương đối và mong manh của cái thế giới chơi mà trước đó y đã khóa chặt mình trong đó với những người khác. Y đã lấy đi ảo ảnh (illusion) của nó – một từ nhiều ý vị mà nghĩa đen có nghĩa là ‘trong sự chơi’ (in-play) (xuất phát từ inlusio, illudere hay inludere). Thế nên nhất thiết phải tống khứ y, vì chính y đã đe dọa sự tồn tại của cộng đồng chơi.” (Johan Huizinga: 11). Những biến thể của kẻ phá luật chơi trong những hình thức xã hội tổ chức cao, theo Huizinga, gồm có những kẻ bỏ đạo, dị giáo, tiên tri, những nhà cách mạng, những kẻ ngoài vòng pháp luật, thành viên hội kín…Ở những nhân vật này, “tính chất trò chơi hiện diện rất rõ trong những việc họ làm” [Huizinga:12].

Khá bất ngờ khi phát hiện thú vị trên của Huizinga lại ít được nhắc đến trong những công trình nghiên cứu về trò chơi sau này nhưng theo chúng tôi, đây là luận điểm có khả năng gợi mở vấn đề lớn. Thứ nhất, trên thực tế, Huizinga đã chạm đến khía cạnh mà Bernard Suits không nhấn mạnh: tính chất quyền năng của luật chơi. Không phải ai cũng được tham dự vào trò chơi, sẽ luôn có những kẻ bị đặt ngoài cuộc. Thứ hai, sự đòi hỏi cao đối với việc giữ luật chơi cũng hàm ẩn rằng trò chơi thường trực phải đối mặt với nguy cơ bị phá luật. Sự phá luật, một mặt, là sự lật đổ, phá vỡ thế giới chơi cũ đồng thời làm giải thể cộng đồng gắn với trò chơi ấy, mặt khác bao giờ cũng mang tham vọng kiến tạo một thế giới chơi mới, với những luật lệ mới cùng một cộng đồng mới. Lịch sử nhân loại nói chung, tiến trình văn học nói riêng, xét đến cùng, cũng chính là sự giằng co, tranh chấp giữa một bên muốn duy trì trò chơi cũ với một bên muốn thiết lập một trò chơi mới.

Theo chúng tôi, hoàn toàn có thể “dịch” luận điểm trên Huizinga sang ngôn ngữ của giải cấu trúc luận, từ đó, có thể nhận thức rõ hơn về bản chất trò chơi của văn học. Nếu nhìn trò chơi như là một hệ thống nghĩa thì cái nghĩa đó để hiện hữu bao giờ cũng phải đẩy rất nhiều những cái khác ra phía sau, biến chúng thành cái vắng mặt, cái vô nghĩa, cái tàng hình. Văn hóa đồng nghĩa với trò chơi, như Jacques Ehrmann từng nói, vậy thì văn hóa cũng vận hành theo nguyên tắc dùng quyền năng để loại trừ, biến một số bộ phận trở thành ngoại vi, trở thành nhỏ/lẻ/phụ (minor), nhằm tạo nên và duy trì hình ảnh tưởng tượng của nó. Đối với bộ phận ngoại vi, đứng bên lề trò chơi của văn hóa này, chỉ bằng cách chơi, chơi như là hành vi vi phạm vào cái diễn ngôn trung tâm được xem như là ý nghĩa chung, phổ quát (common sense), phá những mã đã có, họ mới có thể hình thành nên diễn ngôn của mình, kiến tạo nên bản sắc của mình. Không phải ngẫu nhiên, sáng tác của những bộ phận ngoại vi, thiểu số trong văn học thế giới hiện nay như văn chương của phụ nữ, của giới đồng tính, da màu, dân thuộc địa cũ… thường hướng đến lối viết mang tính trò chơi với những thủ pháp điển hình như biếm phỏng (parody), nhại lại (pastiche), lai ghép, làm lệch chuẩn ngôn ngữ… Xét trong cấu trúc xã hội, khi văn học cũng đang là một thực thể ngoại biên thì diễn ngôn của văn học chính là diễn ngôn chơi: nó giải cấu trúc diễn ngôn trung tâm, diễn ngôn đại tự sự, giúp cất lên những tiếng nói vốn bị bắt phải câm lặng, làm hiện hình những gì vốn bị biến thành vô hình, khuất mặt. Đó có lẽ chính là ý nghĩa nhân bản của văn học ở thời đại này.

Trò chơi như một khuynh hướng thẩm mỹ chủ đạo của văn học hiện đại

Trong phần tóm lược tư tưởng của Huizinga trong cuốn Homo Ludens ở trên, chúng tôi đã nhấn mạnh ý kiến của ông, cho rằng yếu tố chơi đã bị suy thoái nghiêm trọng ở mọi hình thái ý thức của nền văn minh hiện đại, không loại trừ văn học. Nhưng theo chúng tôi, nhận định này của Huizinga cũng có thể xem xét lại. Dưới góc nhìn của Roy C. Caldwell, Jr., “người ta thậm chí có thể phải băn khoăn nếu thời đại của chúng ta sau này sẽ không được nhớ đến như là Kỷ nguyên Chơi, Thời đại Chơi” [Caldwell:547]. Sự bi quan ở Huizinga hay sự hứng khởi ở Caldwell đối với thời đại của mình xuất phát từ cách đặt vấn đề khác nhau về sự chơi. Nếu xem xét sự chơi trong cặp phản đề trò chơi-thực tại, trò chơi-nghiêm túc thì Huizinga hữu lý khi đưa ra nhận xét như vậy. Nhưng nếu ta đồng ý với Jacques Ehrmann rằng sự chơi, văn hóa, thực tại đồng hiện, đồng dạng, đồng nghĩa với nhau thì có lẽ ta sẽ chia sẻ với Caldwell. Trò chơi đã trở thành một khuynh hướng thẩm mỹ chủ đạo của văn học hiện đại/hậu hiện đại. Văn học đã lấy trò chơi làm chính lẽ tồn tại của nó.

Nếu như Huizinga cho rằng bắt đầu từ thế kỷ XIX, yếu tố chơi đã phai nhạt đi rất nhiều trong văn hóa nhân loại thì riêng đối với văn học, cũng trong thế kỷ này, ta lại chứng kiến những hiện tượng quyết liệt trả văn học về với sự chơi thuần khiết, mà hai gương mặt tiêu biểu, cũng là hai cột mốc báo hiệu kỷ nguyên mới của văn học là Gustave Flaubert và Stephane Mallarmé. Flaubert là người đầu tiên chối từ biến tiểu thuyết trở thành một tự sự về hiện thực theo kiểu Balzac, thay vào đó, ông biến tiểu thuyết trở thành tự sự về chính lối viết, với một tham vọng mà Milan Kundera đã diễn tả: “Tiểu thuyết sẵn sàng đảm nhận những đòi hỏi cao nhất của thơ” [Kundera:155]. Stephane Mallarme thể nghiệm hàng loạt trò chơi ngôn ngữ trên cả mặt hình ảnh và âm thanh, tìm tòi một thứ thơ thuần túy, nơi ngôn từ thể khôi phục lại sự mê hoặc, bí ẩn của chính nó. Thơ ca, với Mallarme, không chạy theo cái gì hết, kể cả xúc cảm, ngoại trừ chính thú vui ngôn ngữ. Hướng đến một thứ văn chương đòi quyền tự trị cho mình, theo đuổi những khoái cảm thẩm mỹ vô tư, phi vụ lợi, đấy chính là biểu hiện của thái độ không thỏa hiệp của nghệ sĩ với quá trình công nghiệp hóa, kỹ trị hóa, thương mại hóa, thực dụng hóa đang tăng tốc trong xã hội hiện đại.

Nhà văn hiện đại chủ nghĩa, nói như Nguyễn Hưng Quốc, là những kẻ theo đuổi “một thứ chủ nghĩa hình thức và một thứ chủ nghĩa duy mỹ”[Nguyễn Hưng Quốc:212]. Nỗi đam mê hình thức và chủ nghĩa duy mỹ thôi thúc người nghệ sĩ phát kiến nhiều hình thức trò chơi trên văn bản nghệ thuật. Việc thể nghiệm tính trò chơi này khiến nhà văn hiện đại chủ nghĩa phát hiện nhiều khả thể khác của thể loại, của ngôn ngữ, thậm chí của cả chính cách người ta có thể làm nghệ thuật. Những thực hành nghệ thuật của các nhà Dadaist có thể xem là ví dụ điển hình. Nghệ sĩ Dada chính là những kẻ phá luật ghê gớm nhất, đập vỡ những “ảo ảnh” mà nghệ thuật theo đuổi, vi phạm nghiêm trọng những định chế, quy phạm nghệ thuật nhưng cũng chính vì thế, họ lại được coi là những người khai phóng nhiều khả năng nhất cho nghệ thuật. Với Dada, nghệ thuật không chỉ mang tính chất trò chơi mà bản thân trò chơi có thể tồn tại như là nghệ thuật thực thụ. Những loại hình nghệ thuật mà Dada được xem là trào lưu mở đường như nghệ thuật sắp đặt (installation), nghệ thuật trình diễn (performance art), nghệ thuật thực địa (land-art), thơ cụ thể (concrete poetry), v.v…chính là những loại hình mà ranh giới giữa nghệ thuật và trò chơi được sáp nhập. Dada cũng là trào lưu đầu tiên lưu ý chúng ta đến tầm quan trọng của cái vô nghĩa qua những thể nghiệm của Tristan Tzara, Hugo Ball, Kurt Schwitter. Cái vô nghĩa ở đây thực chất không phải là cái nhảm nhí, điên loạn mà chính là nhân tố tạo sinh nên nghĩa, là chính cái giúp chúng ta nhận ra tính ước lệ, tạm thời, bất ổn của những cái được xem là có nghĩa, để giải phóng tư duy ra khỏi sự câu chấp vào ngôn ngữ.

Cuộc chơi của văn học hiện đại không chỉ là cuộc chơi của nhà văn. Đó còn là cuộc chơi mở, mang tính tương tác giữa nhà văn – độc giả-văn bản. Nếu văn học là trò chơi ngôn từ thì trò chơi đó, về bản chất, là trò chơi của cả sự viết và sự đọc, và qua trò chơi của cả sự đọc lẫn sự viết đó, ngôn ngữ không hề đứng yên, ý nghĩa được triển diễn đến vô tận. Tính tương tác của văn học càng được tăng cường khi nhân loại bước vào thời đại công nghệ thông tin, khi nhờ sự hỗ trợ của kỹ thuật, dưới ảnh hưởng của kỹ thuật, ý thức về sự “cùng chơi”, cùng tạo tác tác phẩm được hiện thực hóa thành những biện pháp, phương thức, mô hình sống động, mà những tác phẩm hypertext hay metafiction là ví dụ cho ta kiểm nghiệm điều này.

Chơi là cách để nghệ thuật tìm kiếm những khả thể cho mình. Nghệ thuật chỉ có thể vận động phát triển khi nó không ngừng khám phá những khả thể mới, khi nó có thể được tái định nghĩa liên tục. Nhưng chơi là còn là luân lý của chính nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng nữa. Bởi như ở trên đã nói đến, bằng cách chơi, văn học khuấy động, tháo dỡ những diễn ngôn trung tâm, khai phóng cho những gì bị đè nén, trấn áp, bị tước quyền hiện diện. Chơi là cách văn học kiến tạo và giải kiến tạo thế giới, bản ngã và cả chính bản thân nó nữa. Và đó chính là sự vận động đích thực của đời sống.

*
Có thể nói, với bài viết này, chúng tôi muốn tiếp tục làm công việc mà nhiều nhà nghiên cứu về trò chơi đã làm: đọc lại Homo Ludens của Johan Huizinga, để nhận thức lại những đặc trưng của văn học. Quá trình đọc lại của chúng tôi cũng chính là đối thoại, phản biện và diễn dịch lại cuốn sách, kết hợp tham chiếu những công trình, luận văn nghiên cứu sau này. Và cũng chính trong sự đọc này, chúng tôi cũng đã đối thoại, phản biện và diễn dịch lại những ý niệm mặc định cho văn học. Chúng tôi cũng hy vọng sự đọc của mình cũng tiếp tục bỏ ngỏ lại những khoảng trống đối thoại, điều mà chúng tôi đã bắt gặp trong công trình của Huizinga, cũng là điều khiến sự đọc của chúng tôi là một sự chơi đúng nghĩa.

TRẦN NGỌC HIẾU
(Bản in lần đầu trên tạp chí Nghiên cứu văn học 11-2011, trang 16-27. Bản đăng lại trên weblog này là bản đầy đủ)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Anchor, Robert. “History and Play: Johan Huizinga and His Critics”, History and Theory, Vol.17, No.1. (Feb., 1978), pp63-93
Cadwell, Roy C. (Jr). “The Robbe-Grillet Game”, The French Review, Vol.65, No.4. (March., 1992), pp 547-556.
Erhmann, Jacques. “Homo Ludens Revisted”, trans. by Cathy Lewis & Phil Lewis, Yale French Studies, No.41, Games, Play and Literature. (1968), pp. 31-57.
Fink, Eugen. “The Oasis of Happiness: Toward an Ontology of Play”, trans. by Ute Saine & Thomas Saine, Yale French Studies, No.41, Games, Play and Literature. (1968), pp. 19-30
Giordano, Enrique A. “Play and Playfulness in Garcia Marquez’ ‘One Hundred Years of Solitude’”, Rocky Mountain Review of Language and Literature, Vol.42, No.4. (1988), pp 217-229
Huizinga, Johan. Homo Ludens: A Study of The Play Element In Culture, Beacon Press 1955
Kundera, Milan. Tiểu luận, Nguyên Ngọc dịch, NXB Văn hoá thông tin & Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2001.
Paz, Octavio. “Ngôn ngữ và trừu tượng”, Minh Tự dịch, Báo Văn nghệ, số 21, năm 1993
Rodriguez H. Lydia. “A Theoretical View of Games in Literature: Julio Cortazar and Cristina Peri Rossi”, Hypertexto 10, Vernano 2009, pp. 82-89.
Nguyễn Hưng Quốc. Thơ, v.v và v.v, NXB Văn nghệ, Hoa Kỳ, 1996.
Suits, Bernard. The Grasshopper: Games, Life and Utopia, David R. Godine, Publisher, Boston 1990.
Waugh, Patricia & Rice, Philip. Modern Literary Theory: A Reader. Arnold Publishers 2001.

Cao Hành Kiện – Fiona Sze Lorrain – Điện ảnh cũng là văn học

(Trò chuyện với Cao Hành Kiện xung quanh bộ phim Cái bóng (Silhouette/Shadow) của ông)

Lời giới thiệu của người dịch:

Cao Hành Kiện là nhà văn gốc Trung Hoa nhận giải Nobel Văn học năm 2000. Không chỉ là một tiểu thuyết gia, một kịch tác gia, một nhà thơ với những tìm tòi nghệ thuật táo bạo, độc đáo, Cao Hành Kiện còn được biết đến với tư cách của một họa sĩ, một nhà làm phim. Năm 2006, bộ phim Cái bóng (Silhouette/Shadow) do Cao Hành Kiện viết kịch bản và trực tiếp chỉ đạo nghệ thuật đã được hoàn thành. Cuộc trò chuyện dưới đây giữa ông và Fiona Sze Lorrain – nữ nghệ sĩ đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu nghệ thuật người hiện đang sống ở Pháp – xung quanh bộ phim giúp chúng ta hiểu được phần nào hiểu được quan niệm điện ảnh độc đáo, giàu tính khai phá của Cao Hành Kiện, sự nhất quán giữa bộ phim với những tìm tòi nghệ thuật, tư tưởng mỹ học trong sáng tác văn chương của Cao Hành Kiện.
*
Fiona Sze Lorrain (FSL): Thưa nhà văn Cao Hành Kiện, điều gì đã thôi thúc ông, với tư cách của một tiểu thuyết gia, một nhà soạn kịch, một thi sĩ, một đạo diễn sân khấu và một họa sĩ, giờ đây lại hướng đến khám phá điện ảnh như một phương tiện nghệ thuật?
Cao Hành Kiện (CHK): Tôi vốn luôn có hứng thú làm phim, ngay từ khi tôi còn ở Trung Hoa, hồi đầu thập niên 1980. Vào thời đó, tôi đã xuất bản một truyện ngắn kèm theo kịch bản từ truyện ngắn đó, có tên là “Huadou” (1984), nhưng vì tôi trở thành một nhà văn bị treo bút thế nên tôi chưa bao giờ có cơ hội làm việc với một đạo diễn hay một đoàn làm phim nào để đưa “Huadou” lên màn hình. “Huadou” là nỗ lực đầu tiên của tôi để tạo ra một thứ kịch bản “multi-camera” (đa ống kính); tôi chia trang bản thảo ra làm ba khối: hình ảnh, âm thanh, âm nhạc cũng như ngôn ngữ. Mỗi một thành tố này có thể nối thông với thành tố kia theo những kết hợp khác nhau. Điều này đi lệch khỏi tương quan thông thường gồm hai phần hình ảnh, một phần âm thanh như trong hầu hết các bộ phim hiện nay. Truyện ngắn “Mua cần câu cho ông tôi” (1986), trên thực tế, ban đầu vốn là một kịch bản riêng biệt khi vài năm sau đó, một nhà làm phim độc lập người Đức đã tìm đến tôi, mời hợp tác trong một dự án điện ảnh. Nó trở thành một truyện ngắn chỉ vì dự án trên đã không thể trở thành hiện thực. Rồi vài năm sau đó nữa, tôi có một số cuộc gặp gỡ với một nhà sản xuất phim ở Paris, ông ta hứa sẽ đáp ứng mọi thứ tôi cần để làm một bộ phim. Song lại một lần nữa, kế hoạch này phải hủy bỏ vì tôi không muốn làm một bộ phim Trung Hoa mang chất phương Đông như họ mong muốn. Bởi vậy, kênh hình ảnh và văn bản mà tôi chuẩn bị cho dự án làm phim thứ ba này đã được tôi phát triển thành truyện ngắn tiếp theo, “Trong chớp mắt” (1991). Như bạn có thể thấy, cả ba văn bản văn chương mà tôi đã viết này đều được khơi nguồn từ điện ảnh.
FSL: Ông giới thiệu Cái bóng là một phim bất tuân mọi khung phân loại. Ông cũng tuyên bố đó không phải là một bộ phim hư cấu, cũng không phải thể loại tài liệu hay tự thuật. Vậy Cái bóng nói về điều gì?
CHK: Cái bóng là một phim có thời lượng gần một tiếng rưỡi. Nó bắt đầu bằng cảnh một người đàn ông lái xe và đi lang thang một mình trong một thành phố trống trải. Giữa những ký ức và cảnh quan xung quanh, anh ta cố gắng để hiểu về sự trống rỗng, về cuộc đời, cái chết, tình yêu và nhân tính. Toàn bộ bộ phim nói tiếng Pháp, ngoại trừ một số lời trong đoạn đối thoại ở phần kết, đặc biệt là những cảnh từ vở opera Tuyết tháng Tám là tiếng Trung. Trong bộ phim cũng có cả cảnh tôi làm việc với các diễn viên khi đang diễn tập cho vở kịch Người chất vấn Tử thần (Le Quêteur de la mort)
FSL: Cái bóng là một bộ phim mang tính thơ rất đậm nét. Một phần ba kịch bản của bộ phim này dựa trên bài thơ “Vô tư như chim trời”. “Nếu bạn là chim/Một con chim không hơn/Với hơi thở đầu tiên của gió trời/Bạn bay đi, bay đi…”. Hình ảnh cánh chim hải âu sải cánh bay trên bầu trời trở đi trở lại trong bộ phim cũng là mô tip chủ đạo của tác phẩm.
CHK: Vâng, khi bộ phim bắt đầu được bấm máy thì cũng là lúc tôi hoàn thành bài thơ “Vô tư như chim trời”. Đây là bài thơ tự do đầu tiên của tôi được viết bằng tiếng Pháp. Tư do là điều rất thiêng liêng đối với tôi, và dĩ nhiên, đối với tất cả mọi người nữa. Tôi đã phải chịu đựng nhiều nhọc nhằn trong những năm tháng tuổi trẻ và tôi tin toàn bộ cuộc đời mình là một tuyên ngôn về hành trình kiếm tìm và vươn đến sự tự do cá nhân. Một đề tài chính nữa trong bộ phim là cái chết: nỗi sợ hãi, sự đối mặt, sự trốn chạy cái chết… Vâng, Cái bóng tự bản thân nó là một bài thơ! Đấy là lý do tại sao tôi lại thích gọi bộ phim này là một thứ “điện ảnh thơ” hơn. Với tôi, điện ảnh, cũng như hội hoạ hay nhiếp ảnh, là thơ ca…. Điện ảnh cũng chính là văn học.
FSL: Và đấy cũng là lý do giải thích tại sao ông lại theo đuổi một cách tiếp cận mang tính văn chương trong việc làm phim?

CHK: Chính xác. Dĩ nhiên, điện ảnh trước tiên phải là vấn đề hình ảnh rồi, nhưng cách những hình ảnh vận động, trôi chảy, chuyển tiếp thế nào lại là vấn đề khác. Tôi tách ngôn từ khỏi hình ảnh và âm thanh trong phim của mình vì ngôn từ không hẳn là kênh thị giác hay âm thanh đơn thuần. Thay vào đó, ngôn từ là ý niệm, nó mang tính trừu tượng. Khi tôi nói “ngôn từ”, ý tôi muốn nói đến những cụm từ, câu, văn bản; tôi không bao hàm cả âm nhạc, âm thanh, hay thậm chí cả sự im lặng trong đó vì mỗi một thành tố này đều là những thành tố độc lập trong bản thân văn bản, vậy thì hãy để mỗi thành tố đó cũng được tồn tại độc lập trong bộ phim. Song khi tôi nói điện ảnh là văn học, tôi không hàm ý rằng điện ảnh dứt khoát là một ngôn ngữ. Cố nhiên, nó có thể là một ngôn ngữ nhưng cá nhân tôi cảm thấy sẽ hữu ích hơn, thú vị hơn nếu tư duy về điện ảnh không phải như một thứ ngôn ngữ mà như một phương tiện có khả năng soi sáng bất cứ thứ gì có thể hiểu được (intelligibilty), và đấy chính là điều kiện mà thông qua đó, ngôn ngữ có thể kiến tạo nên những chủ thể và khách thể của nó.
FSL: Trong trường hợp đó, những hình ảnh thị giác hay âm thanh thuần túy không thể phát triển thành hành động được sẽ trở thành một cách thức thông qua đó, tính thẩm mỹ thoát khỏi những hệ thống và cấu trúc mang tính quy định của ngôn ngữ học. Với cách thức như vậy, chúng ta có thể tri nhận hay tưởng tượng về thế giới khác đi.
CHK: Đúng là như vậy… Và đấy cũng là điều làm tôi cảm thấy đáng buồn nhất ở phần lớn các bộ phim mà chúng ta được xem hiện nay. Hầu hết các bộ phim thương mại chủ yếu đều xoay quanh hành động mà không bận tâm đến sự tri nhận hay vận động. Nói như thế không có nghĩa là tôi lên án các bộ phim hành động; không phải lúc nào đó và tất yếu đó là những bộ phim tệ hại. Nhưng tôi cảm thấy buồn, vì còn có nhiều những khả năng không giới hạn khác mà một chiếc máy quay phim có thể khơi gợi. Nhưng khán giả một khi bị cuốn theo sự hưng phấn của những cảnh đậm đặc cảm xúc hay những hành động với tốc độ chóng mặt sẽ không thấy được những khả thể đó.
FSL: Ông có một cách ứng xử với màu sắc khá đặc biệt. Với tư cách một họa sĩ, ông đã lao động miệt mài với màu sắc trong những tác phẩm sơn dầu của mình, cho đến cuối thập niên 1970, khi ông lần đầu đến Paris và có dịp chiêm ngưỡng những tác phẩm nguyên bản của Van Gogh và Monet tại các bảo tàng. Sau đó, trở về Trung Hoa, ông đã hoàn toàn từ bỏ sơn dầu; thay vào đó, ông dành trọn đam mê của mình cho tranh mực tàu. Qua mực tàu, ông khám phá ra những sắc thái của màu sắc được tạo nên bởi lộ trình từ đen sang trắng và ngược lại. Ông cũng đã thể nghiệm với cách đánh bóng nhạt dần theo lớp, sự tương phản ánh sáng và chiều sâu trong tranh. Ở một góc độ nhất đinh, tranh của ông dường như trở thành một thứ nghệ thuật tạo hình (plastic art). Trong bộ phim Cái bóng, có vẻ như ông cũng muốn tạo ra một thứ ngôn ngữ tạo hình bằng việc sử dụng một phương tiện có cấu trúc đặc biệt để đo và phân tích màu sắc. Ông có thể chia sẻ thêm về điều này?
CHK: Sự khải thị đầu tiên của tôi về màu sắc xuất hiện trong cuộc hành trình của tôi vào khoảng thời gian năm 1983-984, khi đó, tôi đã rời Bắc Kinh để đi đến những vùng núi và khu vực sông Dương Tử. Trong mười tháng đó, tôi đã trải nghiệm cảm giác về sự cô đơn tuyệt đối. Đó là những ngày tôi rong ruổi lang thang mà không gặp bất cứ ai hay có bất kỳ mối liên lạc nào với con người. Tôi nhớ đã nhìn thấy xuyên qua tán lá dày trên đầu mình, ánh hoàng hôn đã bắt đầu nhen lên như thế nào từ những góc trời xa. Đó là một hiện tượng không thể nào quên được. Tôi nhìn thấy ánh nắng xuyên qua những đám mây, khuếch tán một dải phổ màu tinh tế và chi tiết đến nỗi đó không còn là một cái gì đó hữu hình nữa, mà là cảm giác. Ánh sáng có chiều sâu và phối cảnh. Mặc dù tôi vẽ bằng mực tàu nhưng thực sự tôi đã suy tư rất nhiều về màu sắc. Chẳng hạn, tôi luôn băn khoăn chúng ta đã nhớ hay mơ về những sắc màu như thế nào. Trong Cái bóng, màu sắc là những thứ cực kỳ nhạy cảm với thời gian. Bởi vì đây là bộ phim xoay quanh ba “thực tại”: thực tại hiện hữu, thực tại tâm lý và thực tại tưởng tượng. Màu sắc biến đổi dần dần khi một thực tại này chuyển hóa thành thực tại kia. Theo cách này, màu sắc không chỉ là yếu tố thẩm mỹ nữa mà chúng hàm ẩn một ý nghĩa.
FSL: Về âm nhạc, ông đã chọn bản Thánh lễ cung Si thứ (Mass in B minor) của J.S. Bach và bản Khúc cầu nguyện cho một thi sĩ trẻ (Requiem for a Young Poet) của nhà soạn nhạc đương đại người Đức Bernd Alois Zimmerman làm nhạc phim. Bên cạnh đó, ông cũng mời Xu Shuya soạn nhạc cho những cảnh phim trong đó, ông bước qua mảng mực đen trên đôi chân trần. Âm nhạc của Xu Shuya cũng ngắt quãng, phá vỡ tính liên tục của những cận cảnh tập trung vào những bức tranh của ông, cho người xem cảm nhận được những chi tiết giàu cảm xúc của mực. Ông có thể nói rõ hơn về sự chọn lựa âm nhạc của ông?
CHK: Tôi cho rằng nhạc phim không chỉ có vai trò nhấn mạnh cảm xúc, nó cũng không chỉ đơn giản tạo ra một không khí tương ứng với hình ảnh. Như tôi đã nói, nó là một thành tố độc lập và đôi khi còn quan trọng hơn cả hình ảnh. Bach là nhà soạn nhạc mà tôi luôn yêu thích. Tôi thường nghe Bach khi vẽ. Tôi chọn những trích đoạn từ tác phẩm Khúc cầu nguyện cho một thi sĩ trẻ của Bernd Alois Zimmerman cho cảnh những toà nhà bị chiến tranh tàn phá và những hồi ức tuổi thơ về thời kỳ chiến tranh. Đây là một bản giao hưởng hiện đại, thể nghiệm sự kết hợp giữa tiếng nói con người và âm sắc của nhạc cụ. Những trích đoạn tôi chọn có cả trong đó những diễn văn khích động của những nhà lãnh đạo và chính trị gia cuồng tín cũng như cả những tiếng nói lắp bắp thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau cùng lúc đồng hiện gợi lên sự kết hợp mạnh mẽ của nhiều tiếng nói lồng trong những ký ức chiến tranh của một con người. Mặt khác, Xu Shuya là một người bạn thân của tôi. Mấy năm trước, ông đã giúp tôi soạn nhạc cho vở opera Tuyết tháng Tám. Trong bộ phim Cái bóng, tôi đã quay một số trích đoạn của vở kịch khi vở kịch được công diễn tại Nhà hát Marseille tháng giêng năm 2005 Phần nhạc phim mà XU Shuya soạn khá ám ảnh và giàu sức gợi, đặc biệt ở những đoạn dựng về những con đường nhỏ cô đơn và những nấm mộ. Âm nhạc của Xu Shuya khêu gợi hình ảnh nhưng nó có cấu trúc nhịp điệu riêng của nó.
FSL: Trong Cái bóng, ông đã thể nghiệm một phong cách tối giản rất rõ nét, trong đó, sự im lặng thống trị phần lớn bộ phim. Cũng có một vài cảnh quay dài, mô tả một cá nhân ở giữa một khung cảnh thiên nhiên mênh mông. Ví dụ như cảnh kết của bộ phim: ông (Cao Hành Kiện và vợ của ông cũng tham gia vào bộ phim trong tư cách diễn viên – N.D) xuất hiện với chiếc máy quay phim trên tay, đi về phía người vợ của mình trong cơn gió mạnh, trên nền hậu cảnh là những con sóng biển rì rào. Còn có những khoảnh khắc “trần trụi” khác nữa về bầu trời, những rặng núi, những đồng cỏ… Ông có đồng tình nếu tôi nói tình yêu tạo hóa có một ý nghĩa quan trọng trong bộ phim của ông?
CHK: Vâng, chính việc tôi vẫn còn đang hiện hữu tại đây đã là một ân sủng của tạo hóa. Cuộc đời của con người thật mong manh nếu so với thiên nhiên hiện hữu mọi nơi. Tôi có một niềm đồng cảm và trân trọng lớn lao đối với thiên nhiên; thiên nhiên ẩn chứa một sức mạnh không ngừng thu hút tôi. Cuốn tiểu thuyết Linh Sơn (1990) của tôi chính là bằng chứng cho sự tồn tại của tôi sau khi sống bên thiên nhiên, ngoài ra không có gì khác trong năm tháng trời. Giờ đây, tôi hiện hữu, cả về thể chất lẫn nội giới, giữa thiên nhiên và văn minh. Nhưng tôi nhận thấy giữa bản thân mình và thiên nhiên dường như là một mối giao tiếp hiền hòa, nhẹ nhàng hơn mối quan hệ giữa mình và văn minh.

FSL: Nói chung những phim như thế nào sẽ hấp dẫn ông? Có một thể loại phim nào ảnh hưởng đến nghệ thuật hiện tại ông đang theo đuổi không?
CHK: Phim của Ingmar Bergman, Sergei Mikhailovich Eisenstein, Federico Fellini, Pier Paolo Pasolini, Andreï Tarkovsky… Tôi có khuynh hướng hoài niệm những bộ phim đen trắng kể từ thời phim câm. Hồi còn trẻ, tôi có xem nhiều bộ phim của các đạo diễn thuộc trào lưu Làn sóng mới ở Pháp cũng như các phim Italia những năm 1960-70. Tuy vậy, không có một trường phái điện ảnh cụ thể nào ảnh hưởng đến tôi. Nói chung, xem phim là một đam mê lớn của tôi và tôi khá cởi mở với những khuynh hướng điện ảnh khác nhau.
FSL: Định nghĩa của ông về điện ảnh?
CHK: Điện ảnh là một hình thức của nghệ thuật tổng hợp. Nó hàm chứa tất cả.

Hải Ngọc lược dịch
Nguồn: Fiona Sze Lorrain – “Cinema, Too, is Literature”: Conversing with Gao Xingjian, MCLC Resource Center (Tháng 3 – 2008)

Phụ lục:

Cao Hành Kiện (nhà văn Trung Quốc, 1940- Giải Nobel Văn học 2000)
Vô tư như chim trời

1
Nếu là chim
Một con chim không hơn
Bạn cất cánh đón gió trời
Bạn bay liệng trên cao như bạn muốn

Với đôi mắt mở lớn
Bạn nhìn xuống thế gian phía dưới mình
Một khối khổng lồ hỗn loạn
Bạn bay qua những đầm lầy bùn nhão

Bay trên mọi nỗi ưu phiền
Thanh thản và vô tư
2
Bạn lượn vòng và nghe ngóng
Hay vun vút như thoi bay thẳng
Bạn bay đến nơi trái tim mình gọi
Cớ sao phải quay về nhặt lấy những điều vặt vãnh, nhỏ nhen
vương vãi trên mặt đất

Không có gì kéo bạn xuống
Không có gì phải bận tâm
Không còn nữa oán hờn hay tiếc nuối
Khi trút đi gánh nặng của sự cũ mòn
Bạn tung mình vào giữa khoảng trời
Nhẹ tênh và buông xả hết
3
Nặng nề và khó nhọc
Mặt đất xoay vần cùng bạn
Chân trời phía dưới kia
Xa lắc, dường như không thể tới
Vụt biến đi trong chớp mắt
Những cảnh tượng ngạc nhiên bất ngờ
Hiện ra lần lượt

Mặt hồ bỗng xoay tròn
Như những ý nghĩ trong đầu bạn
Chúng thơ thẩn lang thang
Giữa sa mạc bao la và biển cả
Nơi đêm – ngày cắt lối của nhau.

Một con mắt lớn hiền minh
Dẫn dắt bạn đi
Đến lãnh địa của những điều chưa biết
4
Một niềm háo hức bừng lên
Rỗng mà vẫn đầy
Hòa cái vĩnh cửu – cái nhất thời làm một

Thời gian trong suốt
Từ khoảng giữa những bóng mờ và những tiếng nứt vỡ
một sự lãng quên nào đột nhiên thức dậy
5
Tất cả những điều này bạn chưa bao giờ thấy
Không thể đoán biết được và không thể định hình
Chỉ chút lơ đễnh thôi
Chúng đã tan biến hết

Và bạn lại lang thang trong bóng tối
Với một điều duy nhất rõ ràng
Rốt cục bạn chẳng phải là chim
Bạn chẳng thể giải phóng chính mình
Chúng ở khắp mọi nơi
Như mạng nhện bùng nhùng, chúng giăng bẫy bạn
Ôi những điều vặt vãnh đời thường

6
Khi sự phù phiếm thức dậy
Bạn phải đi tìm một nơi trú ẩn
Để an ủi và vuốt ve tâm hồn bạn
Nếu như bạn còn có tâm hồn
Phải đi đến một nơi nào đấy
Chẳng phải địa ngục cũng không phải thiên đường
Để ký gửi sự nhẹ bồng này
Nhẹ như thể nó phi trọng lực
Hải Ngọc dịch
Nguồn: Gao Xingjian, “Carefree as a Bird”, Gilbert C.F.Fong dịch từ Trung văn, Tạp chí Michigan Quarterly Review, Spring 2008, Vol. 47, Iss. 2; pg. 218, 5 pgs

Thơ – Chùm thơ Tây Ban Nha

Một người bạn nhờ tôi dịch giúp mấy bài thơ Tây Ban Nha. Nhờ đó, mà tôi mới lục lại trong máy tính của mình những bài thơ mà tôi đã tập tọng dịch cách đây khá lâu và đã bỏ quên nó. Dịch thơ với tôi chỉ là dịch cho mình, cho những cảm giác của mình, và rất nhiều khi tôi ngại chia sẻ, vì việc dịch này thường trả lại tôi một cảm giác bất an bởi sự chênh vênh trong ngôn ngữ của mình.

Chiều nay đọc lại mấy bài thơ. Đặc biệt thích bài của Luis Cernuda. Tôi đã bần thần ngồi nhớ lại mình cũng đã từng có những khoảnh khắc bình yên như thế, “sống với toàn bộ sức mạnh dịu dàng” của bản thể và sẽ rất khó để tìm lại những khoảnh khắc ấy.

Bởi thế, nhớ và buồn

*

Federico García Lorca

Cà phê Flamenco[1]

Những ngọn đèn pha lê

và những tấm gương xanh

Trên sân khấu tối kia

Parrala vẫn đang đối thoại

cùng Tử thần

Nàng gọi Tử thần

nhưng Tử thần im lặng

và nàng lại gọi mãi, gọi mãi

Người khán giả ngồi xem

như nuốt cơn nức nở của nàng

và trong những tấm gương xanh kia

chiếc váy lụa của nàng

rung lên nhè nhẹ

Lời trăn trối

Khi tôi chết

Hãy chôn tôi với cây đàn guitar

dưới cát

Khi tôi chết

Hãy chôn tôi giữa những hàng cam

và bạc hà

Khi tôi chết

nếu thương tôi, xin hãy chôn

dưới một chiếc chong chóng gió[2]

Khi tôi chết.

Hải Ngọc dịch

Chuyển ngữ theo bản Anh văn “Café Flamenco” và “Memento”, trên tạp chí Ploughshares số Mùa đông 2005-2006.

Luis Cernuda

Cậu bé sau cửa kính


Ngày đã tắt. Vẩn vơ suy tư

Sau ô cửa sổ kia, cậu bé lặng nhìn

Mưa. Ánh sáng thắp lên

Từ ngọn đèn đường

Tương phản với màn mưa trắng

Tương phản với khoảng không gian đang phủ dần bóng tối

Căn phòng đơn độc

Tỏa toàn bộ hơi ấm ôm bọc lấy em

Và rèm cửa, rủ xuống

Tấm kính, như một đám mây

Thì thầm lời phù chú của mặt trăng

Ngôi trường trôi dạt đi. Giờ là lúc

Để giải lao, với cuốn truyện

Và những bức tranh

Dưới ngọn đèn, và đêm,

Và những giấc mơ, những khắc giờ vô tận

Em đang sống với tất cả sức mạnh dịu dàng của mình

Nhưng không ham muốn, không ký ức

Em không biết

ở ngoài kia thời gian vẫn đứng chờ

và cuộc đời đang rình rập

từ cái bóng của em, viên ngọc trai đang được tượng hình.

Hải Ngọc dịch

Dịch theo bản tiếng Anh của Stephen Kessler, “Child Behind Glass”, trên tạp chí The Threepenny Review, Số 5 (Số Mùa xuân 1981), trang 21.

[1] Flamenco: Là một thể loại nhạc gắn kèm với vũ đạo đặc trưng của miền Nam Tây Ban Nha. Nhân vật Parrala là một nữ nghệ sĩ chuyên biểu diễn thể loại này trong các quán bar Tây Ban Nha, người đã đem nguồn cảm hứng cho Federico Garcia Lorca để viết nên bài thơ này.

[2] Nguyên văn : weather vane, chong chóng gió. Trong kiến trúc phương Tây, đặc biệt là ở các nhà thờ, tháp canh…chong chóng gió được xem như một vật trang trí gắn ở đỉnh cao nhất của công trình.

Trò chuyện với Mario Vargas Llosa

Jorge Villanueva Chang – Jimena Pinilla Cisneros thực hiện

John J. Winters dịch sang tiếng Anh

Có lần ông đã kể một câu chuyện về Bill Gates, rằng khi rời một cuộc họp, ông ta đã hứa với các thành viên của Viện hàn lâm hoàng gia Tây Ban Nha sẽ không bỏ chữ ñ khỏi bàn phím máy tính của mình. Ông ta thú nhận muốn thực hiện một ý tưởng lớn hơn trước khi chết: làm cho tất cả các cuốn sách chỉ còn là cổ vật. Ông nghĩ thế nào về những điều mà người đàn ông giàu nhất thế giới hiện nay đã nói?

Ý tưởng của Bill Gates không phải là muốn kết liễu thứ văn học như ta hằng biết, song ông ta thật sự tin rằng máy tính có thể đảm nhiệm một cách hoàn hảo tất cả chức năng của một cuốn sách. Tôi tin điều đó đúng khi ta nói về thông tin, nhưng lại sai khi ta nói về văn học, vì việc đọc một tác phẩm văn học cần đến một góc riêng, một khoảng lặng thân thiết – điều đó sẽ không còn nữa khi chúng ta ngồi đối diện màn hình vi tính. Nếu sách biến mất, văn học sẽ được truyền qua màn hình máy tính, sự riêng tư, gần gũi, theo đó, sẽ bị mất mát ít nhiều. Thông tin sẽ nhiều hơn song sẽ tính sáng tạo lại ít hơn. Một thứ văn học như thế cũng sẽ phải chịu quá trình trở thành một cái gì đó chung chung, thiếu bản sắc – ở đây chưa nói đến sự xơ cứng, nghèo nàn – một căn bệnh đã lây nhiễm lên lĩnh vực truyền thông vốn dựa vào hình ảnh thị giác khi những hình ảnh này ngày càng được phổ biến. Nó sẽ không thể nào tạo ra được một César Vallejo, T.S Eliot hay André Breton bởi vì nó sẽ hoàn toàn thủ tiêu bất cứ những thể nghiệm sáng tạo nào đối với ngôn từ của văn bản. Tôi vẫn không tin rằng ý tưởng của Bill Gates đến một lúc nào đó có thể trở thành hiện thực được nhưng cuối cùng thì vẫn phải thấy sự thật này: những cuốn sách cứ dần dần trở nên ít thích đáng hơn cho đến khi thứ văn học được biểu đạt bằng những hình ảnh máy tính thấy ngán ngẩm trước tình trạng số đông công chúng của nó cứ tăng lên đều đặn. Trong một cảnh tượng tồi tệ nhất, công chúng của văn học có thể chỉ còn là bộ phận thiểu số mà bộ phận ấy cuối cùng sẽ giống như một thứ hội kín quan trọng của những “thầy hướng đạo văn chương” (literary catechists), những người sẽ duy trì đời sống văn học gần như một hoạt động dưới ngầm.

Borges đã từng có một thái độ xem thường tiểu thuyết đến mức ông có lần phát ngôn rằng cuốn Trăm năm cô đơn của Garcia Marquez đáng ra chỉ nên nói là năm mươi năm thôi. Ông nghĩ Borges sẽ cảm thấy thế nào khi giờ đây, các biên tập viên tỏ ra không mấy mặn mà với thể loại truyện ngắn? Ông có thấy truyện ngắn, một thể loại của thế kỷ XIX, nay đang đứng trên bờ tuyệt chủng trong thế kỷ XXI không?

Không, tôi nghĩ truyện ngắn vẫn đang sống, sống khoẻ nữa là đằng khác. Một số nhà văn viết truyện ngắn vẫn được đánh giá thuộc vào hàng những tác giả có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX và thực tế thì Borges chính là ví dụ tốt nhất về điều này xét trong văn chương Mỹ Latinh. Nhưng chúng ta còn có Cortázar, Rulfo và Onetti nữa. Tôi  cho rằng thái độ của Borges đối với tiểu thuyết là một thái độ xem thường hơn là phủ nhận sạch trơn vì ông luôn coi tiểu thuyết chỉ như một thể loại hạng hai. Xét trong phạm vi sáng tác của Borges, điều này hoàn toàn có thể hiểu được. Ông là một tác giả chỉ chấp nhận sự hoàn thiện và ở tiểu thuyết, sự hoàn thiện là bất khả bởi lẽ bản chất của nó gắn chặt với việc biểu hiện thân phận con người giữa những đảo lộn xã hội. Nó cho chúng ta thấy rõ chúng ta cách xa như thế nào với ước muốn đạt đến những lý tưởng tuyệt đối về sự mạch lạc, duy lý và sự hoàn thiện của kỹ thuật, điều mà, ở một chừng mực nào đó, ta có thể thấy được trong thơ và truyện ngắn. Borges muốn vươn đến cấp độ hoàn thiện ấy trong các truyện ngắn của ông, một sự hoàn thiện gần như mang tính hình học, tựa một đường tròn liền mạch. Tham vọng về sự hoàn thiện đó cấu thành nên mục đích của nghệ thuật thuần túy, không chút tì vết trong cấu trúc cốt truyện hay cách sử dụng ngôn từ. Mối ác cảm theo bản năng của Borges đối với tiểu thuyết nên được hiểu sâu sắc như là thái độ phủ nhận sự bất toàn.

Theo ông, trong số những cuốn tiểu thuyết của thế kỷ này được giới phê bình hoan nghênh nhiều nhất, những cuốn nào có thể sẽ bị kết án là thứ văn chương tối tăm, không thể nào hiểu được?

Tôi nghĩ sẽ dễ hơn nếu ta nói đến những cuốn tiểu thuyết đã vượt qua thử thách của thời gian và sẽ còn tiếp tục song hành cũng chúng ta trong tương lai. Chẳng hạn, Ulysses của Joyce luôn là một ví dụ thích đáng: nó giới thiệu một ngôn ngữ tự sự mới cho phép độc giả thăm dò những chiều sâu của ý thức con người. Đi tìm thời gian đã mất của Proust sẽ còn tồn tại lâu dài như một nhà thờ. Cũng có những tiểu thuyết gia như Faulkner, giờ đây đã trở nên đại chúng hơn so với thời kỳ khi ông bắt đầu viết những tiểu thuyết của mình: để xây dựng những thế giới khác nhau, ông đã sáng tạo nên một công cụ vừa mô phỏng hiện thực vừa tiếp tục đem đến một không gian rộng rãi cho phép mở ra các chiều sâu, khơi gợi sự mơ hồ, bí ẩn và tạo nên những trạng thái căng thẳng, mãnh liệt trong một tác phẩm hư cấu. Chúng ta cũng có những nhà văn mà ngay nay không còn được đọc nhiều, như Malraux: cuốn Thân phận con người của ông phải được xem là một trong những tiểu thuyết lớn nhất của thế kỷ này nhưng giờ đây nó không có nhiều độc giả như nó xứng đáng được nhận. Ở một chừng mực nào đó, con người chính trị của Malraulx đã chống lại con người nhà văn ở ông và điều đó đã khiến ông mất đi độc giả. Sartre là một ví dụ khác về một nhà văn đã từng được đọc rộng rãi nhưng khi thời gian qua đi, lại trở nên nhạt nhòa: những tiểu thuyết của ông giờ đây trở nên rất khó đọc, và bất cứ ai đọc chúng một cách kỹ lưỡng sẽ nhận ra ở đó không có gì thật sự sáng tạo, chúng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những nhà văn đi trước như Dos Passos. Đối với các nhà văn hiện nay, quan điểm của Sartre về văn chương dường như là một thứ quan điểm duy tâm và tự mãn. Hầu như chẳng có mấy người viết bây giờ chấp nhận với ý tưởng cho rằng văn chương có thể làm thay đổi lịch sử hay có một vai trò nào đó trong việc cải hóa đời sống chính trị.

Cái thường được coi là cái chết của ý hệ có liên quan phần nào đến điều ông vừa nói chăng?

Đúng vậy, và trong trường hợp của Sartre, điều đó tạo ra một hệ quả lớn, nhưng ngay cả sự thiếu nhất quán trong tác phẩm của ông cũng liên quan đến điều đó nữa. Điều mà Joseph Plà nói về Marcuse cũng đúng với Sartre: “Ông ấy đã góp phần tạo nên sự rối loạn của thời đại chúng ta. Sự đóng góp đó dường như không có ai trước có thể sánh được.” Sartre có thể khiến chúng ta tin vào mọi điều ông viết, bởi cách mà ông duy lý hóa sự vật có thể thuyết phục ta chấp nhận những thứ nghịch lý và mâu thuẫn nhất như là chức năng hợp lý hóa những khuynh hướng ý hệ vốn luôn thay đổi bất thường, song chính điều này đã khiến tác phẩm của ông ngày càng trở nên ít ý nghĩa đối với thế giới hiện nay. Điều này không xuất hiện ở Camus, người giàu tư chất nghệ sĩ hơn và là một nhà văn viết tốt hơn. Ở cả phạm vi văn chương lẫn công chúng, những ý tưởng của Camus vẫn còn nguyên sự thích đáng. Giờ đây, yêu cầu của ông muốn đạo đức phải chi phối chính trị dường như trở nên chính đáng hơn bao giờ hết. Mặt khác, chủ nghĩa thực dụng mà Sartre bảo vệ ngay cả khi nó xung đột với các giá trị luân lý có lẽ đối với chúng ta lại là tín điều cần phải phê phán vì nó đã trao cho những thiết chế độc tài tồi tệ nhất  lớp vỏ ngụy trang hợp pháp.

Ở thế kỷ XX, tiểu thuyết đã cách mạng hóa ngôn ngữ văn xuôi. Chúng ta nghĩ ngay đến ngôn từ trong Ulysses của Joyce, Paradiso của Lezama Lima hay Gran Serião: Veredas của Guimaraes Rosa. Tuy vậy, khi thế kỷ này lắng lại, tiểu thuyết lại có vẻ như muốn chiều theo gu đại chúng bao gồm những độc giả không chuyên, ưa sự đơn giản và những du khách văn học. Phải chăng có hiện tượng ấy đơn giản là vì các nhà văn đã mỏi mệt trong nỗ lực vươn đến một tác phẩm mang tính toàn thể (novela total) có thể giải thích và nhào nặn lại toàn bộ cái thế giới trong đó chúng ta sống và mang một ý nghĩa bất diệt?

Trong một thời đại được đặc trưng bởi chủ nghĩa tiêu dùng và biến đổi liên tục thế này, đời sống hình như chỉ xoay quanh thời khắc hiện tại mà thôi, và ý niệm về một tác phẩm toàn thể (novela total), một thứ nghệ thuật bất tử, có lẽ khó được chấp nhận. Trong quá khứ, nhà văn viết để đạt đến sự bất tử, để khi ông ta qua đời, thì tác phẩm vẫn còn lại và nhà văn sẽ tiếp tục sống qua tác phẩm. Tham vọng của nhà văn là được bất tử hóa nhờ một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo. Bây giờ còn có ai tin vào sự bất tử nữa? Một ý niệm như thế đang bị thay thế ở khắp mọi nơi bằng nỗi ám ảnh về khoảnh khắc hiện tại. Điều này đã dẫn đến sự ra đời của một thuật ngữ văn học mới  “Văn học nhẹ” (Literature Lite), một thứ văn học mang tính giải trí hơn là tham vọng đưa đến một sự đánh giá lại có tính chất đột phá các giá trị đạo đức hay cách mà con người quan niệm về mọi thứ. Chúng ta cũng không quên văn học được viết từ quan điểm của trường phái, khuynh hướng chuyên sâu (sectarian or group –specific point of view); vì nó hàm chứa những yếu tố thú vị phản ánh một tài năng lớn. Song người ta không viết dạng hư cấu này với chủ ý đập vỡ những biên giới nhất thời để sống vĩnh viễn, như là trong trường hợp các kiệt tác văn chương. Các tác giả ngày nay nghĩ rằng một mục đích cao cả như thế là cái gì đó rất ngạo nghễ, tự mãn và không tưởng. Ngày nay nhà văn hy vọng rằng bằng việc viết về hiện tại, họ có thể thâu nhận một lượng độc giả lớn hơn để thỏa mãn một tham vọng được thu nhỏ đi rất nhiều: danh vọng, tiền tài và thành công. Để thu hút công chúng đọc và mua sách ngay trước mắt. Ai quan tâm ngày mai sẽ ra sao?

Có phải Kafka là nhà văn biểu hiện tốt nhất những khía cạnh đáng sợ của cái tình thế mà con người hiện đại đang phải trực diện?

Là một nhà văn, Kafka không thể tách khỏi khái niệm hiện đại về sự thống khổ hiện sinh. Khi chúng ta đọc ông, chúng ta cảm nhận được nỗi trống rỗng từ sự ý thức được chính bản thể hữu hạn của mình, sự ngắn ngủi của đời sống hiện sinh của chúng ta khi so với cái vô cùng, ý thức được chúng ta bất lực như thế nào khi đối diện với cỗ máy khổng lồ là xã hội và bản thân đời sống. Kafka, cố nhiên, là một trong những nhà văn nắm bắt tốt nhất tình thế này theo một phương thức độc đáo, dựa trên những dụ ngôn, truyện kể và tình huống giàu sức thuyết phục đến mức phi thường vì chúng hiện ra trước mắt chúng ta trong một hình thức ngôn ngữ và cấu trúc hư cấu đặc biệt phù hợp với một cảm quan như thế về cuộc sống. Hơn thế, tác phẩm của ông có một sự tương thích xuyên qua các tình huống cụ thể, các thời đại và các nền văn hóa tưởng như không có điểm chung nào trên bề mặt. Thế giới của Kafka hiện diện ở Trung Quốc, Cuba, Peru và ở bất kỳ xứ sở nào, nơi vì những lý do nào đó, con người trở thành công cụ cho một bộ phận đặc tuyển quyền lực mà con người không cách nào kiểm soát được và hoàn toàn không được bảo vệ để chống chọi lại thứ quyền lực đó. Con người buộc phải trở thành những con rối của những thế lực giấu mặt. Những thế lực ấy có thể là chính trị, ý hệ, hay tôn giáo. Cùng với Joyce và Proust, chúng ta phải nhắc đến Kafka như là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của thế kỷ XX.

Các nhà văn thế kỷ XIX dường như trở nên rất nhàm chán đối với chúng ta hiện nay có lẽ là vì vào thời của họ chưa có ti vi, do đó, nhà văn phải miêu tả mọi thứ trong cuốn sách của mình. Nay, chúng ta lại lựa chọn một cực khác: thị trường khiến cho một cuốn sách rất khó có cơ may thành công trừ phi nó được viết với mục đích xác định là để chuyển thể thành phim. Theo ông thì những phát minh như phim ảnh đã làm thay đổi văn học như thế nào?

Một hệ quả có thể thấy ngay được đó là ý niệm thời gian trở nên phức tạp hơn, tinh vi hơn. Khác biệt lớn giữa văn học cổ điển và các tác phẩm hiện đại nằm ở chỗ trong các tác phẩm hiện đại, thời gian đi rất nhanh, trôi chảy liên tục, do đó không có đất cho những khoảng tạm nghỉ vô ích. Ảnh hưởng của một nền văn hóa dựa trên hình ảnh có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cách cảm nhận và biểu hiện thời gian như vậy.  Phim dạy cho chúng ta cách nhìn thời gian, một cách nhìn mà trước khi phim ra đời, con người không thể nào tưởng tượng ra. Chúng ta sống với một nhịp độ nhanh hơn, do đó, chúng ta viết những cuốn tiểu thuyết mà ở đó thời gian bị nhòa đi và cốt truyện vận động như trong một không gian cụ thể: chạy xuôi-chạy ngược, đến rồi đi. Trong quá khứ, mọi sự không xảy ra như thế bởi lẽ bản thân đời sống cũng không diễn tiến theo cách đó. Cũng không có một cuộc cách mạng trong việc biểu hiện hình ảnh dẫn đến sự thay đổi trong cách xử lý thời gian của văn học. Song thật ngây thơ khi nghĩ rằng những bước tiến về kỹ thuật cũng như thẩm mỹ của văn học hiện đại hoàn toàn không có liên hệ gì với thời kỳ cổ điển. Không giống như trong công nghiệp, nơi một sản phẩm mới khi xuất hiện thì đồng thời xóa sạch ký ức về cái cũ, hay như trong khoa học, nơi hóa học báo hiện giờ khai tử ngành giả kim, sự hiện diện của Proust không loại trừ được Montaigne cũng như Joyce không làm cho Cervantes trở thành phế tích của một thời tàn. Đấy là điều tuyệt vời của văn học.

Dostoevsky là một trong những hình mẫu văn chương có vấn đề không ổn nhất nếu xét trên phương diện kỹ thuật ở thế kỷ XIX nhưng trớ trêu thay, ông lại là một trong những tác gia lớn nhất  của thời đại đồng thời cũng là tác giả có sức sống mãnh liệt nhất. Trong số những tác giả của thế kỷ XX, theo ông, ai là người mà tầm vóc vĩ đại sẽ không suy giảm bất chấp những nhược điểm về kỹ thuật trong lối viết?

Trong trường hợp này, Pio Baroja có lẽ là cái tên đáng kể nhất trong nền văn học tiếng Tây Ban Nha. Ông là tác giả của một số lượng đáng kể các tác phẩm mà ở đó ta có thể bắt gặp nhiều ví dụ rõ nét cho thấy sự thiếu hoàn thiện về kỹ thuật, sự lỏng lẻo ở bình diện hình thức của lối viết. Điều tương tự cũng xảy ra đối với Balzac, người thường bị chê trách là viết vội và không chú ý nhiều đến hình thức. Tuy nhiên, sức mạnh của Balzac chính là ở chỗ tác phẩm của ông có sức sống bền bỉ. Đương nhiên, nếu người ta hoàn toàn thờ ơ đối với phương diện hình thức thì điều đó sẽ hủy hoại tác phẩm. Nhưng có những tác phẩm mang tham vọng tự sự, đi sâu khám phá bình diện nhân tính ở nhân vật, bối cảnh và những chuyện kể, cho phép chúng mang tính chỉnh thể tự thân, và điều đó dường như bù đắp phần nào cho những nhược điểm về hình thức văn xuôi. Về điểm này, Thomas Wolfe là một trường hợp thú vị và ta cũng có thể nhắc đến một nhà văn có lực viết sung mãn như Balzac.

Ông có xếp Louis – Ferdinand Céline vào trong nhóm này không?

Céline là một ví dụ lý thú cho thấy một tài năng nghệ thuật có thể khiến chúng ta khoan dung đối với một số vấn đề nhất định như thế nào, nghĩa là, khi ta quan sát những nghệ sĩ đó từ một khoảng cách, có thể ta sẽ phát bệnh bởi những sự oái oăm của họ: sự cố chấp khó chịu, chủ nghĩa Nazism, tinh thần bài Do Thái. Song một ai có thể phủ nhận Céline là một nhà văn vĩ đại. Thế giới của ông (như chúng ta nhận thấy trong Journey to the End of the Night[Hành trình đến tận cùng đêm tối) là một thế giới man dã, thống khổ, ghê tởm được thể hiện bằng một thứ văn xuôi cũng thống khổ, gây nôn không kém. Bất cứ một dạng thức tự sự nào khác cũng sẽ khiến cái thế giới ấy trở nên không thể chịu đựng nổi chính bởi sự thống khổ, đê tiện của nó, và bởi những định kiến phái sinh theo những dạng thức tự sự đó.

Sự bùng nổ của văn học Mỹ Latinh đã bị một số người cho rằng không còn là vấn đề đáng quan tâm, theo đó, nó nên được xem như là sự tính toán của một thị trường do các nhà xuất bản thống trị thì đúng hơn. Vậy đâu là đóng góp thực sự của khuynh hướng tiểu thuyết này đối với văn học đương đại?

Tôi không nghĩ tầm quan trọng của nó là phương diện xã hội học, lịch sử hay địa lý. Những tác gia như Borges, García Márquez, hay Cortázar được biết đến là vì họ là những nhà văn xuất chúng, đã viết nên những tác phẩm vừa giàu sức thuyết phục vừa đầy sức sống đúng vào lúc văn chương châu Âu đang lánh mình vào chủ nghĩa hình thức và thể nghiệm. Vào thời điểm ấy, văn chương Mỹ Latinh nhìn chung là một thứ văn chương bóng bẩy, giàu hình ảnh và nó chưa bao giờ có được công chúng bên ngoài khu vực. Hơn nữa, nền văn chương Mỹ Latinh mới này đã làm mới lại những mối quan tâm của bản thân văn học Mỹ Latinh. Tuy nhiên, thứ văn chương hư cấu này được biết đến rộng rãi, vượt ra ngoài phạm vi khu vực là vì nó độc đáo, giàu tính sáng tạo. Tôi không cho rằng nhà văn là cái có thể sản xuất được. Ở thời chúng ta, có một sự rẽ nhánh giữa những tác phẩm chất lượng cao, chỉ có một lượng độc giả hạn chế với một thứ văn học gắn với chủ nghĩa tiêu dùng mà phần lớn là chất lượng nghèo nàn, được sản xuất theo những xu hướng thời thượng, tuân theo những nguyên mẫu nhất định, nhắm đến một lượng công chúng rộng lớn. Đấy chính là tấn bi kịch xảy ra đối với nghệ thuật hư cấu. Một trong những điều tuyệt vời nhất của văn chương thế kỷ XIX là không có sự lưỡng phân như thế và những nhà văn lớn nhất của thời đại ấy như Dickens chẳng hạn, cũng được đọc rộng rãi và là một tác giả đại chúng. Văn học đỉnh cao và văn học bình dân, hướng đến đại chúng đều cùng là một. Những người bây giờ đọc John Grisham, nếu đặt họ vào thế kỷ XIX, có lẽ họ cũng là những độc giả của Victor Hugo. Điều xảy ra sau đó là nghệ thuật hư cấu tiếp tục tự đào luyện, đi vào thể nghiệm hình thức, không ngừng tìm kiếm những cách thức ngày càng phức tạp hơn để biểu hiện chính mình. Điều đó đã tạo khoảng cách giữa nó với công chúng mua sách, những người trước đây đã mở rộng vòng tay để đón nhận nó.

Thực sự thì các nhà văn thuộc trào lưu bùng nổ có cố gắng để tiếp cận gần hơn công chúng hay không?

Không phải tất cả. Có lẽ Trăm năm cô đơn nằm trong số những thành công lớn nhất, đó vừa là điển hình của thứ văn chương cao cấp vừa được công chúng đón nhận rộng rãi. Nó vừa nói được một điều gì cốt yếu đối với độc giả phổ thông đồng thời vừa có sự thông minh về kỹ thuật tiểu thuyết mà những độc giả tinh tế nhất thường yêu cầu đối với nghệ thuật hư cấu. Song ta không thể nói như vậy với trường hợp Rayuela [Hopscotch – Nhảy lò cò] hay Paradiso, đó là những cuốn sách yêu cầu rất nhiều đối với độc giả đến mức một độc giả trung bình sẽ không bao giờ có thể cảm thụ nổi tác phẩm. Có những cuốn tiểu thuyết khác trong khi phô diễn sự tinh vi của hình thức nghệ thuật thì đồng thời cũng cố gắng tạo ra một hư cấu nằm trong tầm đón nhận của độc giả đại chúng. Chúng ta vẫn có thể đọc Rulfo, vốn cần đến rất nhiều sự tinh tế, tri thức và cả việc chấp nhận những thách thức mà tác phẩm của ông đặt ra, nhưng cũng có thể lựa chọn làm một độc giả phổ thông, không cần chú ý nhiều lắm đến những điều trên, chỉ quan tâm đến những giai thoại ông kể mà thôi.

Ông có thể dẫn chứng một số trường hợp ngộ nhận bẽ bàng nhất mà giới phê bình mắc phải hay không?

Trường hợp rõ ràng nhất liên quan đến Proust. Gide đã phê phán nặng nề tập đầu tiên trong bộ Đi tìm thời gian đã mất, cho dù ông là độc giả mẫn cảm, sâu sắc bậc nhất của văn chương Pháp. Sự phê phán của Gide hoàn toàn không dựa trên bất cứ thành kiến nào chống lại Proust; đó đơn thuần chỉ là bệnh cận thị trong văn chương mà thôi. Một trường hợp xấu hổ khác liên quan đến cuốn El Gatopardo [Con báo] của Tomasi de Lampedusa. Tất cả các nhà xuất bản Italia, không có ngoại lệ nào, đã từ chối bản thảo của kiệt tác tuyệt vời này, một trong những cuốn sách thuộc hàng vĩ đại nhất, sáng tạo nhất, có khả năng làm hài lòng nhất, xứng đáng nhất của thế kỷ XX. Và những người chối từ cuốn sách này không hề là những người đọc tầm thường, trong đó có cả những nhà văn lớn như Elio Vittorini, một Sartre của nước Ý vào thời của ông. Ông đánh giá thấp tiểu thuyết của Lampedusa vì theo ông, nó đã vi phạm những quy luật của lịch sử, vì nó không thể hiện được một hình ảnh trọn vẹn, đúng đắn, hợp lý về xã hội. Chỉ một người đã cứu vãn được danh dự cho nền văn học Italia đấy là Giorgio Bassani, người khẳng định Con báo là một tuyệt tác, nhưng sự khẳng định đó chỉ được tuyên bố sau khi Lampedusa đã qua đời. Tác giả chưa bao giờ nhìn thấy tác phẩm của mình được xuất bản, và ông đã chết trong niềm tin rằng mình đã thất bại trong tư cách một nhà văn.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: World Literature Today, Winter 2002, p. 65-69

Previous Older Entries

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.