Alice Munro – Con gấu trèo qua ngọn núi

Một câu chuyện nhọc nhằn. Hiểu theo nhiều nghĩa. Nguyên tác với quá nhiều đoạn hồi tưởng, tâm lý diễn ra theo những khúc ngoặt không đoán được, những miêu tả tỉ mỉ nhiều khi có cảm giác thừa thãi, hoặc cố làm cho mạch truyện trở nên chậm rãi và nhập nhằng. Nhưng thú vị. Tôi nghĩ bạn Tâm An đã có một trải nghiệm đáng kể khi bắt tay dịch truyện này để làm chất liệu cho khóa luận về đề tài “Sự thể hiện bệnh Alzheimer trong một số văn bản tự sự đương đại”.

Cả thầy trò chúng tôi đều không tự tin lắm vào bản dịch của mình. Nhưng tôi nghĩ Tâm An đã hiểu được những cắc cớ, éo le của con người khi rơi vào tình huống mà Alice Munro đã xây dựng trong tác phẩm này. Nếu được, rất mong nhận được sự góp ý của mọi người để bản dịch có thể hoàn thiện hơn.

Cuối cùng, tôi cũng cảm ơn cô học trò đã dám chấp nhận thách thức  khi làm khóa luận, nhất là trong điều kiện môi trường hầu như không khuyến khích sinh viên làm cái gì táo bạo hay gai góc.

Phim “Away from her” do Sarah Polley đạo diễn, sản xuất năm 2006, được chuyển thể từ truyện ngắn “The Bear Came Over the Mountain” của Alice Munro

*

Fiona sống trong ngôi nhà mà cha mẹ bà để lại, ở thị trấn nơi có trường đại học mà trước kia bà và Grant cùng học. Ngôi nhà khá lớn, cửa sổ xây lồi ra bên ngoài; trong mắt Grant, trông nó vừa xa hoa, vừa thiếu gọn gàng, với những miếng thảm trải xộc xệch trên sàn nhà và những vết ố của tách chén ăn vào lớp vec-ni trên mặt bàn. Mẹ bà là người Iceland – một phụ nữ mạnh mẽ, tóc xoăn trắng như bọt sóng, người cực kỳ định kiến với đường lối chính trị cực tả. Người cha là một bác sĩ tim mạch có tiếng, được trọng vọng ở bệnh viện nhưng lại rất nhũn nhặn khi ở nhà, nơi ông sẵn lòng lắng nghe đủ mọi lời kêu ca, chỉ trích của bà vợ với nụ cười lơ đãng. Đủ loại người, giàu lẫn nghèo, ai cũng kêu ca, chỉ trích, hết đến rồi đi, hết tranh cãi lại bàn luận, đôi khi bằng những phương ngữ xa lạ. Fiona có một chiếc xe hơi nhỏ của riêng mình và một đống áo len cashmere, nhưng bà chẳng gia nhập một hội nhóm sinh hoạt nào ở trường, nguyên nhân có lẽ vì quan điểm chính trị của bà mẹ.

Bà chẳng quan tâm. Những hội nhóm nữ sinh ở đại học chỉ là trò đùa với bà, chính trị cũng vậy – mặc dù bà rất thích nghe “The Four Insurgent Generals”[2] trên máy quay đĩa, và đôi khi mở “Quốc tế ca” thật lớn, nếu bà biết có vị khách nào mà mình có thể đuổi khéo người đó được bằng cách ấy. Đã từng có một anh chàng ngoại quốc tóc xoăn, mặt mũi lúc nào trông cũng ảm đạm có ý định theo đuổi bà – Fiona nói ông ta là người Visigoth – và cả đôi ba anh chàng bác sĩ thực tập nội trú rất đứng đắn và hay ngượng nữa. Fiona hay chế nhạo tất thảy bọn họ và ngay cả Grant. Bà thường giễu nhại lối nói tỉnh lẻ của ông. Grant đã tưởng rằng có lẽ bà chỉ đùa cợt khi cầu hôn ông, vào một ngày quang đãng và lạnh trên bãi biển ở Port Stanley. Cát bám vào mặt họ gây cảm giác ran rát và sóng xô đám sỏi vỡ dạt đến dưới chân họ.

“Anh nghĩ có thú vị không,” Fiona hét lên “Anh nghĩ có thú vị không nếu chúng mình lấy nhau?”

Grant nhấc bổng Fiona lên và hét lớn “đồng ý.” Grant không bao giờ muốn xa Fiona. Fiona mang trong mình tia lửa của sự sống.

***

Ngay trước khi họ ra khỏi nhà, Fiona phát hiện một vết bẩn trên sàn nhà bếp. Thủ phạm là đôi giày lười màu đen rẻ tiền mà bà đi vào buổi sáng.

“Em tưởng chúng sẽ không để lại vết bẩn nữa,” bà nói với một giọng khó chịu và đầy bối rối như thường lệ trong khi lau vết bẩn màu xám mà giờ trông nó cứ như do bút sáp dầu gây ra.

Bà nói bà sẽ không phải làm việc này bao giờ nữa, bởi từ giờ trở đi, bà sẽ không mang theo đôi giày đó.

“Chắc em phải ăn mặc chải chuốt cả ngày mất,” bà nói. “Hoặc ít nhất cũng phải nghiêm ngắn, chỉnh tề. Cứ như thể ở khách sạn vậy.”

Bà rũ sạch cái giẻ đã dùng và treo nó trên giá bên trong cánh cửa dưới bồn rửa. Sau đó, Fiona khoác chiếc áo trượt tuyết màu nâu vàng có lông cổ, bên trong bà mặc một chiếc áo len cao cổ màu trắng đi cùng với quần mặc thường ngày màu vàng nhạt. Bà là người dong dỏng cao, vai hẹp, một phụ nữ đã bảy mươi tuổi nhưng dáng vẫn thẳng và gọn gàng, với đôi chân và bàn chân dài, cổ tay với mắt cá chân thon gọn và đôi tai nhỏ xinh, trông có phần ngộ nghĩnh. Mái tóc bà nhẹ như sợi bông tơ, Grant chẳng hề nhận ra từ khi nào tóc vợ mình đã chuyển từ màu hoe vàng sang trắng, bà vẫn buông xõa xuống vai, giống như mẹ bà trước đây. (Chính điều này khiến mẹ của Grant – một góa phụ ở một thị trấn nhỏ, làm nhân viên trực phòng khám bệnh – cảm thấy không yên tâm. Mái tóc dài bạc trắng của mẹ Fiona, thậm chí hơn cả tình thế của ngôi nhà, đã nói với bà ta tất cả những gì cần biết về thái độ và quan điểm chính trị của mẹ Fiona).

Nhưng ngoài điều đó ra thì Fiona, với khung xương nhỏ và đôi mắt nhỏ màu ngọc xa-phia, không có gì giống với mẹ mình. Bà có khuôn miệng cong cong mà bà cố ý làm nổi bật bằng son môi đỏ, thường là việc cuối cùng bà ấy làm trước khi rời khỏi khỏi nhà. Hình ảnh của bà ngày hôm nay chính là hình ảnh thường trực của bà – vừa bộc trực vừa khó hiểu, vừa dịu dàng lại vừa có vẻ giễu cợt.

***

Hơn một năm trước, Grant đã bắt đầu nhận thấy rất nhiều những mẩu giấy ghi nhớ màu vàng dán khắp nhà. Đây không phải là chuyện mới mẻ. Fiona vẫn luôn ghi chép đủ mọi thứ – tựa một cuốn sách được nhắc đến trên các đài phát thanh, hoặc những việc bà muốn chắc chắn đã hoàn hoàn thành ngày hôm đó. Ngay cả thời gian biểu buổi sáng cũng được bà ghi lại. Grant cảm thấy điều này bí ẩn và ngạc nhiên vì độ chi ly của thời gian biểu ấy: “07:00 yoga. 7:30-7:45 vệ sinh cá nhân. 7:45-8:15 đi bộ. 08:15 Grant và bữa sáng.”

Những mẩu giấy nhắc việc mới đây lại khác hẳn. Dán đầy trên ngăn kéo bếp – “dao, kéo, khăn lau chén bát.” Chẳng nhẽ Fiona không thể mở ngăn kéo xem có những gì bên trong ư? Grant nhớ tới câu chuyện về những người lính Đức đi tuần tra biên giới Tiệp Khắc trong thời chiến. Một người Czech đã từng kể với Grant rằng mỗi con chó tuần tra được đeo một ký hiệu ghi chữ Hund. Người Séc hỏi “Vì sao?,” và người Đức trả lời, “Bởi vì đó là hund[3]”.

Ông định kể với Fiona, nhưng rồi ông nghĩ không kể thì tốt hơn. Vợ chồng họ luôn cười nhạo cùng một điều gì đó, nhưng nhỡ đâu lần này bà ấy không cười?

Những điều trầm trọng hơn rồi cũng tới. Bà vào phố và gọi điện cho Grant từ một buồng điện thoại hỏi ông làm thế nào để lái xe về nhà. Bà đi dạo ngang qua cánh đồng dẫn vào rừng và trở về nhà theo đường bờ rào – một đường vòng rất dài. Bà nói bà cứ nghĩ đường bờ rào luôn dẫn người ta đến một nơi nào đó.

Thật quá khó hiểu. Bà nói chuyện về hàng rào như thể đó là một chuyện cười, và bà chẳng gặp khó khăn gì khi nhớ số điện thoại.

“Em nghĩ không có gì phải lo lắng đâu,” bà nói. “Chắc em hơi đãng trí mà thôi.”

Ông hỏi bà có phải gần đây bà uống thuốc ngủ.

“Có uống thì em cũng không nhớ,” bà nói. Rồi bà xin lỗi vì đã thiếu nghiêm túc.

“Em chắc chắn em không uống bất cứ thuốc gì. Có lẽ đáng ra em nên uống. Vitamin chăng?”

Vitamin cũng chẳng có tác dụng. Bà vẫn đứng giữa lối cửa, cố gắng nhớ xem mình đang định đi đâu. Bà quên bật bếp để nấu món rau hoặc thêm nước vào máy pha cà phê. Bà còn hỏi Grant họ chuyển đến ngôi nhà này từ bao giờ.

“Năm ngoái hay năm trước nữa nhỉ?”

Ông trả lời: cách đây 12 năm.

Bà nói, “Thật không ngờ.”

“Thỉnh thoảng bà ấy lại như thế,” Grant kể với bác sĩ. “Có lần bà ấy bỏ quên chiếc áo khoác lông thú trong kho và cứ thế không nhớ gì đến nó. Đó là lần hai chúng tôi đi nghỉ đông, như mọi năm. Sau này bà ấy nói như thể một sự vô tình có lí do, giống như một tội lỗi mà bà muốn chôn giấu. Người ta khiến Fiona cảm tưởng như có lỗi khi khoác lên mình chiếc áo lông thú.”

Ông bối rối cố gắng hết sức để giải thích rõ thêm về một biểu hiện nghiêm trọng hơn – sự ngạc nhiên và những lời xin lỗi của Fiona mà giờ đây dường như đã trở thành một phép lịch sự hàng ngày, có vẻ không phải bà đang trêu đùa ông. Như thể bỗng nhiên bà bước vào một cuộc phiêu lưu không báo trước. Hoặc bắt đầu một trò chơi mà bà hy vọng ông sẽ bị cuốn theo vào. Vợ chồng ông vẫn thường tự tạo những trò chơi cho riêng mình – với những phương ngữ vô nghĩa, những nhân vật họ tưởng tượng ra. Đôi khi Fiona giả giọng thỏ thẻ hay nũng nịu (cái này ông không thể nói với bác sĩ) nghe rất giống những người phụ nữ Grant từng có quan hệ tình cảm, những người mà bà chưa từng gặp hay biết.

“Vâng,” bác sĩ nói. “Ban đầu có thể trí nhớ cũng tùy tiện. Chúng ta cũng chưa biết chắc phải không? Từ giờ đến khi có những triệu chứng suy thoái rõ rệt hơn, chúng tôi thực sự không thể chẩn đoán gì.”

Trong thời gian này việc tìm ra tên bệnh hay phân loại bệnh chính xác cũng không mấy quan trọng. Nhưng một hôm, Fiona – giờ đây đã không còn đi mua sắm một mình nữa – bỗng biến mất khỏi siêu thị khi Grant vừa quay lưng đi. Một cảnh sát đưa bà về khi thấy bà đang đi giữa lòng đường, cách siêu thị vài dãy nhà. Anh ta hỏi tên bà và bà trả lời một cách dễ dàng. Rồi anh hỏi bà tên của Thủ tướng.

“Nếu đến điều đó mà cậu còn không biết, thì cậu trẻ ạ, cậu thực sự không nên làm công việc đòi hỏi nhiều trách nhiệm như thế này.”

Anh cảnh sát bật cười. Nhưng rồi bà đã phạm sai lầm khi hỏi anh ta có thấy Boris và Natasha đâu không.

Đó là hai con chó săn sói giống Nga mà bà từng nhận nuôi giúp cho một người bạn nhiều năm trước đây, và rồi bà đã tận tâm chăm sóc đến khi chúng chết. Chuyện bà nhận nuôi chúng có lẽ ngẫu nhiên trùng hợp với thời điểm việc bà phát hiện ra rằng mình không có khả năng sinh con. Đại loại là tắc hay xoắn ống dẫn trứng, giờ thì Grant cũng không thể nhớ nổi nguyên nhân. Ông vốn luôn luôn lảng tránh ý nghĩ về cơ địa của phụ nữ. Hoặc có thể là kể từ khi mẹ của Fiona qua đời. Cặp chân dài của mấy con chó, bộ lông óng mượt, khuôn mặt hẹp, nhẹ nhõm mà ương bướng của chúng trông cực kì hợp với Fiona khi bà dắt chúng dạo bộ. Và ngay chuyện Grant kết hôn với Fiona, trong con mắt của một số người, chẳng qua cũng là sự lựa chọn ngẫu hứng của một tiểu thư vốn hay nảy sinh những ý nghĩ bất ngờ, lập dị. Rồi ông nhận được công việc đầu tiên ở trường đại học (trường này luôn sẵn sàng nhận tiền tài trợ của cha vợ ông, bất chấp quan điểm chính trị của ông cụ) cũng được xem như là ông gặp may nhờ vợ và gia đình nhà vợ, ông được vợ chăm chút, chiều chuộng, giúp đỡ. Mặc dù, may thay, ông không nhận thức được điều đó, cho đến mãi sau này.

***

Fiona nói với Grant, trong bữa tối cái hôm mà bà đi lạc khỏi siêu thị, “Anh biết phải làm gì với em rồi đúng không? Anh sẽ đưa em đến đó. Shallowlake thì phải?”

Grant đáp, “Meadowlake. Chưa đến mức đó đâu.”

“Shallowlake, Shillylake,” bà lại nói, như thể họ đang tham gia vào một trò chơi chữ vui vẻ. “Sillylake. Là Sillylake anh ạ.”

Ông chống khuỷu trên bàn, hai tay ôm lấy đầu. Ông nói rằng bác sĩ đã cân nhắc chuyện đó rồi, đó sẽ không phải là hình thức điều trị vĩnh viễn. Chỉ là thử nghiệm thôi. Na ná như kiểu chữa bệnh bằng cách thư giãn, nghỉ ngơi.

***

Viện Meadowlake đưa ra quy định không làm thủ tục nhập viện cho bất cứ ai trong tháng mười hai. Kỳ nghỉ lễ dễ tạo cho người ta những chấn động bất thường về cảm xúc. Vì vậy, Grant phải dời kế hoạch đưa Fiona nhập viện sang tháng Giêng, họ mất hai mươi phút lái xe từ nhà đến Meadowlake. Trước khi đến đường cao tốc, họ đi qua con đường làng hơi dốc bởi một vũng lầy nay đã hoàn toàn đóng băng. Những cây sồi đầm lầy và những cây phong hắt bóng xuống trông như những thanh dài trên nền tuyết trắng.

Fiona thốt lên: “Ôi, nhớ rồi!”

Grant nói: “Anh cũng đang nghĩ đến điều đó đấy.”

“Chỉ có điều là đêm ấy sáng trăng,” bà nói.

Bà đang nói về lần họ đi trượt tuyết vào đêm trăng đầy, trên nền tuyết trắng sọc đen, ở đây – chính ở nơi này, nơi người ta chỉ có thể đi vào được vào thời điểm lạnh nhất của mùa đông. Họ đã nghe những cành cây run rẩy như sắp gãy trong giá lạnh.

Nếu Fiona có thể nhớ điều đó sống động và chính xác đến thế thì liệu tình trạng của bà có thực sự nghiêm trọng?

Ông phải cố gắng lắm mới không quay xe chở bà về nhà.

***

Còn một quy tắc khác mà bác sĩ phụ trách giải thích cho Grant. Bệnh nhân mới không được tiếp người nhà trong vòng ba mươi ngày đầu. Hầu hết họ cần khoảng thời gian đó để ổn định tâm lý. Trước khi quy định này được đưa ra, người ta chứng kiến đủ những lời van xin, nước mắt và cơn giận dữ, thậm chí cả những bệnh nhân tự nguyện nhập viện cũng thế. Đến ngày thứ ba hoặc thứ tư, họ sẽ bắt đầu than thở và cầu xin được đưa về nhà. Vài người thân có thể sẽ mủi lòng, vì vậy sẽ có những người được chở về nhà, cho dù về đến nhà, họ chẳng chút nào tiến triển hơn khi mới đến. Sáu tháng hoặc có khi chỉ một vài tuần sau đó, toàn bộ tình trạng rắc rối rất phiền hà này lại tái diễn.

“Trong khi đó,” bác sĩ cho biết, “chúng tôi thấy nếu để họ lại một mình trong tháng đầu tiên, họ thường sớm thích nghi một cách vui vẻ hơn. Chúng tôi thậm chí còn phải lừa họ vào xe buýt để đưa họ đi một chuyến vào phố. Muốn họ về thăm nhà cũng phải thế. Đưa họ về nhà thăm một hai tiếng cũng không phiền gì – nhưng họ sẽ lo lắng về việc trở lại viện kịp giờ ăn tối. Khi đó thì Meadowlake đã là nhà của họ rồi. Tất nhiên, với những người trên tầng hai thì không phải như vậy, chúng tôi không thể để họ đi đâu hết. Việc đó quá khó, mà hơn nữa, họ còn không biết mình đang ở nơi nào.”

“Vợ tôi sẽ không ở tầng hai.” Grant nói.

“Không,” người quản lí từ tốn. “Tôi chỉ muốn nói rõ ràng ngay từ đầu mà thôi.”

***

Mấy năm trước đây, hai vợ chồng ông đã từng đến Meadowlake vài lần để thăm Farquar, ông lão nông dân không vợ từng là hàng xóm của họ. Ông sống một mình trong ngôi nhà gạch thông thống gió lùa vốn chẳng thay đổi gì kể từ những năm đầu thế kỷ, ngoại trừ việc trong nhà có thêm một cái tủ lạnh và một tivi. Trước, ông Farquar cũng hay ghé chơi nhà Grant và Fiona tuy không báo trước nhưng họ đều ngồi lại với nhau khá lâu, và cùng với những vấn đề địa phương, ông thích bàn luận về những cuốn sách mình đã đọc – về chiến tranh ở khu vực Crimea[4] hay những cuộc thám hiểm hai cực địa cầu hoặc lịch sử phát minh vũ khí. Nhưng sau khi đến Meadowlake, ông chỉ biết nói về công việc thường làm trong ngày ở đó, và vợ chồng Grant có cảm giác những cuộc viếng thăm của họ, dù rất thiện chí, lại làm cho Farquar thấy nặng nề nhiều hơn. Và riêng Fiona thì đặc biệt ghét mùi nước tiểu và thuốc tẩy váng vất ở đó, bà cũng ghét những bó hoa nhựa bày đặt một cách chiếu lệ trên hành lang có trần thấp và trông rất tối tăm.

Giờ đây, khu viện Meadowlake cũ đã không còn nữa, mặc dù nó cũng mới chỉ được xây từ thập niên 50. Cũng như căn nhà ông Farquar, nay đã bị thay thế bởi một công trình giống như một lâu đài rẻ tiền – nơi nghỉ dưỡng cuối tuần của mấy người ở Toronto. Viện Meadowlake mới là một tòa nhà có mái vòm, rộng rãi, không khí thoang thoảng mùi thông dễ chịu. Từ những bình sành khổng lồ, cây lá trổ ra lòa xòa và đều là những cây lá thật.

Tuy nhiên, trong suốt một tháng dài xa cách, Grant cứ luôn hình dung Fiona sống trong khung cảnh viện Meadowlake trước kia. Ông cảm thấy đây là tháng dài nhất trong đời mình, dài hơn cả cái tháng ông cùng mẹ đi thăm họ hàng ở Lanark County hồi ông mới mười ba tuổi, đằng đẵng hơn cả cái tháng mà Jacqui Adams đi nghỉ với gia đình cô ấy, khi Grant và Jacqui mới bắt đầu nhen nhóm tình cảm. Ngày nào ông cũng gọi đến viện Meadowlake và hy vọng gặp được cô y tá tên Kristy. Cô có vẻ buồn cười vì sự kiên trì của Grant, nhưng cô luôn thông tin cho ông đầy đủ hơn bất kỳ y tá nào khác mà ông từng gặp.

Fiona bị cảm lạnh trong tuần đầu tiên, song không phải là điều gì bất thường đối với những người mới nhập viện.

“Giống như trẻ con khi mới đi học thôi,” Kristy nói. “Môi trường mới có nhiều mầm bệnh mới mà chúng dễ tiếp xúc và trong một lúc, chúng dính đủ thứ.”

Rồi bệnh cảm cũng đỡ dần. Fiona không còn phải dùng thuốc kháng sinh và bà không còn lúng túng như khi mới vào viện. (Đây là lần đầu Grant biết vợ mình phải dùng thuốc kháng sinh và cả việc Fiona lúng túng trong môi trường mới.) Bà ăn ngon miệng và có vẻ thích ngồi trong phòng kính nhìn ra ngoài trời. Dường như Fiona rất thích xem TV.

Một trong những điều thực sự khó chịu đựng nổi ở viện Meadowlake ngày trước là chỗ nào cũng có TV, chúng át cả dòng suy nghĩ hay xen vào những cuộc trò chuyện ở bất cứ nơi đâu mà người ta chọn ngồi. Một số “tù nhân” (khi đó Grant và Fiona gọi họ như vậy, chứ không phải là “bệnh nhân”) căng mắt theo dõi, một số thì đáp lại lời ti-vi, nhưng phần đông chỉ ngồi ngoan ngoãn và chịu đựng sự tấn công của nó. Ở tòa nhà mới, theo như Grant nhớ, thì TV được đặt trong một phòng tách biệt, hoặc trong phòng ngủ. Người nào thích thì đến ngồi xem.

Vậy hẳn Fiona thấy thú vị khi xem ti-vi. Nhưng mà xem cái gì?

Trong những năm họ sống trong ngôi nhà này, Grant và Fiona xem khá nhiều chương trình truyền hình cùng nhau. Họ cùng chăm chú quan sát cuộc sống của những con thú, bò sát, côn trùng hay sinh vật biển mà máy quay ghi lại được, và họ cũng đã dõi theo những diễn biến tương tự như nhau của hàng chục cuốn tiểu thuyết hay của thế kỷ XIX được chuyển thể thành phim truyền hình. Họ nghiện xem một chương trình hài kịch dài tập về đời sống ở một cửa hàng bách hóa, xem đi xem lại đến mức họ thuộc lòng cả lời thoại. Họ buồn bã vì sự vắng mặt của những tài tử đã chết ngoài đời thực hoặc đã theo đuổi sự nghiệp khác, họ hân hoan với sự trở lại của những diễn viên ấy – đồng nghĩa với việc nhân vật của họ lại được tái sinh. Họ để ý đến cả chuyện tóc của người đóng vai nhân viên chào hàng ngả từ đen sang xám, rồi cuối cùng lại đen trở lại trong khi bối cảnh nghèo nàn chẳng bao giờ thay đổi. Nhưng rồi chương trình cũng mất sức sống, những bối cảnh và mái tóc đen đến nhức mắt cuối cùng cũng trở nên nhạt nhẽo, như thể bụi đường London cũng đã lọt dưới cửa thang máy, điều này làm cho Grant và Fiona buồn hơn bất kỳ vở bi kịch nào trong bộ Kiệt tác sân khấu, vì thế, họ đã bỏ dở chương trình này trước khi nó kết thúc.

Fiona đã bắt đầu làm quen với những người bạn mới, Kristy kể. Rõ ràng bà ấy đang thoát khỏi vỏ bọc của chính mình.

Vỏ bọc nào vậy? Grant định hỏi, nhưng rồi kiềm chế bản thân, để giữ hình tượng tốt đẹp trong mắt Kristy.

***

Grant để máy trả lời tự động phòng khi có ai gọi điện. Những người mà họ phải xã giao, thi thoảng không phải láng giềng ở gần kề mà là những người sống quanh vùng quê đó, những người đã nghỉ hưu giống như họ, thường xuyên đi xa mà chẳng cần thông báo. Những năm đầu khi họ đến sống ở đây, Grant và Fiona đã ở trong nhà suốt mùa đông. Mùa đông ở vùng quê quả là một trải nghiệm mới, họ có nhiều việc phải làm để tu sửa căn nhà. Và rồi, họ hiểu rằng họ cũng nên đi du lịch đâu đó khi có thể, họ đi Hy Lạp, Úc, đi Costa Rica. Mọi người cứ tưởng lúc này ông và Fiona cũng đang đi du lịch kiểu như vậy.

Grant trượt tuyết để rèn luyện thân thể, nhưng ông không bao giờ trượt đến tận vùng đầm lầy. Ông thường trượt tuyết khi mặt trời lặn dần để lại bầu trời nhuốm hồng bao phủ vùng quê, quanh cánh đồng sau nhà dường như bị viền quanh bởi lớp sóng băng anh ánh màu xanh lam. Ông đếm lại xem mình đã trượt quanh cánh đồng bao nhiêu lần, rồi trở về ngôi nhà phủ bóng tối của mình, bật chương trình thời sự trong khi chuẩn bị bữa tối. Ông bà vẫn thường cùng nhau nấu bữa tối. Một người pha đồ uống và một người lo nhóm lửa, họ trò chuyện về công việc của Grant (ông đang viết một công trình về hình tượng những con sói trong huyền thoại Bắc Âu và đặc biệt là con sói Fenrir khổng lồ, nuốt Odin nơi tận cùng thế giới[5]), về bất cứ cuốn sách nào Fiona đang đọc và những gì họ đã nghĩ trong một ngày họ sống bên cạnh nhau nhưng đồng thời mỗi người lại có những khoảng riêng của mình. Đó mới là thời điểm họ gần gũi nhau nhất, tất nhiên, ngoài ra vẫn có năm hay mười phút ngọt ngào, họ vuốt ve thân thể nhau trên giường – không hẳn là một ngày của họ sẽ kết thúc bằng ân ái, nhưng điều ấy cho thấy giữa hai người, ân ái vẫn còn như một ham muốn.

***

Đã có lần Grant mơ thấy mình đưa cho một đồng nghiệp – người ông coi là bạn hữu – xem một bức thư. Lá thư này từ người bạn cùng phòng với cô gái mà có một thời gian, ông không còn nghĩ đến. Lời lẽ cao đạo và thù địch, đe dọa theo kiểu của kẻ yếm thế – ông nghĩ người gửi thư này nhiều khả năng là một người đồng tính nữ. Còn chính cô gái, bạn của người viết lá thư này là người mà ông đã chia tay rất đàng hoàng và có vẻ như không phải người viết thư muốn gây chuyện ầm ĩ, chỉ là cô ta muốn tự tử, bức thư nói cho Grant biết điều đó theo một cách vừa rõ ràng mà cũng vừa rối rắm.

Tay đồng nghiệp ấy của Grant thuộc kiểu người chồng, người cha phóng túng, có thể quăng cà vạt, bỏ bê nhà cửa, đêm thì ngủ với cô bổ trẻ quyền rũ trên tấm nệm trải sàn nhà, sáng dậy đến cơ quan, đến trường, bộ dạng lôi thôi lếch thếch, người ám mùi chất gây nghiện và trầm hương. Nhưng giờ tay đồng nghiệp ấy lại tỏ ra bi quan khi nghe câu chuyện cắc cớ này của Grant và bỗng Grant nhớ ra rằng anh ta, trên thực tế, cũng đã kết hôn với một trong những cô bồ đó, và giờ cô ta phải lo chuẩn bị tiệc tối cho chồng và bận sinh con, như mọi người vợ khác.

“Tôi sẽ không cười đâu,” anh ta bảo với Grant dù ông không hề nghĩ anh ta sẽ cười. “Và nếu tôi là anh, tôi sẽ cố chuẩn bị tinh thần cho Fiona.”

Nghe vậy, Grant liền đi tìm Fiona ở Meadowlake – Meadowlake ngày xưa, nhưng rồi thay vào đó, ông lại đến một giảng đường. Ở đó mọi người đều đang chờ đợi ông đến dạy. Và ngồi ở hàng cuối cùng, cao nhất là một nhóm những phụ nữ trẻ tuổi với ánh mắt lạnh lùng, tất cả đều mặc áo choàng đen, mắt thâm tím, họ nhìn ông chằm chằm một cách sắc sói, họ thản nhiên không ghi chép hay để tâm đến bất cứ điều gì ông đang giảng.

Fiona ngồi ở hàng trên cùng, gương mặt bình thản. Bà biến cả giảng đường thành cái góc mà bà luôn tìm kiếm trong mỗi bữa tiệc, một vị trí cao ráo nơi bà nhâm nhi ly rượu với nước khoáng, hút loại thuốc lá thông thường và kể những chuyện hài hước về lũ chó. Bà ngồi ở đó, cùng với một vài người giống như bà, tách khỏi đám đông, xem những gì đang diễn ra ở những góc khác, trong phòng ngủ hay nơi hiên tối, chẳng hơn gì những hài kịch trẻ con. Cứ như thể lòng từ thiện chỉ là một thứ đạo đức thời thượng, sự trầm tĩnh, kiệm lời mới thực sự là một phẩm hạnh.

“Ôi dào,” Fiona nói. “Các cô tuổi này đi đâu chẳng rêu rao mình sẽ tự sát như thế nào.”

Nhưng điều mà Fiona nói vẫn không làm ông yên tâm – thực tế, lời nói ấy lại làm ông ớn lạnh. Ông sợ rằng Fiona đã nhầm, rằng điều gì đó khủng khiếp đã xảy ra, và ông có thể nhìn thấy những gì bà không thể thấy – đám phụ nữ áo đen như hóa thành một vòng tròn màu đen, mỗi lúc một dầy hơn, mỗi lúc một lớn hơn, nó bốc hơi bay lên, khắp trần nhà, đi vào khắp khí quản của ông gây ngạt thở.

***

Ông tự kéo mình ra khỏi giấc mơ và bắt đầu thử tách cái gì là thực từ cơn mộng mị ấy.

Đã từng có một bức thư, và mảng chữ “ĐỒ CHUỘT” viết bằng sơn đen ngòm xuất hiện trên cửa văn phòng Grant, và Fiona, khi được kể rằng có một cô gái phát cuồng vì chồng bà, đã đáp lại gần như chính xác những gì bà nói trong giấc mơ của ông. Còn những gì không có thật là sự hiện diện của người đồng nghiệp, những phụ nữ áo đen, và thực ra thì cũng chẳng ai tự tử. Grant không bị hư hại thanh danh, trên thực tế, ông đã tránh được chuyện rắc rối này khá dễ dàng. Giả dụ một vụ tai tiếng như thế này xảy ra vài năm sau đó, hằn những gì ông phải mất mát sẽ không nhỏ. Nhưng vẫn có những lời xì xào. Có người công khai bày tỏ sự lạnh nhạt đối với ông. Vợ chồng ông có rất ít lời mời dự tiệc Giáng sinh và đêm giao thừa, họ ngồi nhà, không có khách khứa nào cả. Grant say rượu, và dù không có điều gì thúc ép –cũng tạ ơn Chúa, lần này ông không phạm sai lầm bằng việc thú nhận – ông hứa với Fiona về một cuộc sống mới.

Sự xấu hổ ông cảm thấy khi đó là vì mình bị lừa, vì không nhận thấy sự thay đổi đang diễn ra. Và không có người phụ nữ nào giúp ông nhận thức được điều đó. Đã có sự thay đổi trong quá khứ khi đột nhiên rất nhiều phụ nữ dễ dãi mời mọc – hay chỉ là Grant thấy như vậy – và bây giờ với sự thay đổi mới này, khi họ nói rằng chuyện xảy ra không phải ý muốn của họ. Họ quan hệ chỉ vì khi đó họ thấy mình bất lực, hoang mang và lạc lối, họ bị tổn thương bởi tất cả chứ chẳng vui vẻ gì. Ngay cả khi họ đã chủ động thì họ làm vậy chỉ vì lá bài định mệnh cố ý làm hại họ.

Chưa thấy ở bất cứ đâu có chuyện một gã Don Juan (nếu đó là biệt danh Grant buộc phải tự gọi mình – mà thực tình thì những vụ chinh phục phụ nữ hay những mối dan díu mà ông vướng vào còn chưa bằng một nửa so với anh bạn đồng nghiệp đã trách móc ông trong giấc mơ) lại có những hành động tử tế, hào hiệp, lại còn cả đức hy sinh nữa. Không phải ngay từ đầu đã vậy, có lẽ thế, nhưng ít nhất khi câu chuyện diễn tiến thì đừng mơ đến những điều đó. Nhiều lần ông đã chiều lòng kiêu hãnh hay sự mong manh của phụ nữ bằng cách cố tỏ ra nhiều cảm xúc – hay tỏ ra say đắm lộ liễu – hơn cảm giác thật trong lòng ông. Chỉ thế thôi, vậy mà giờ ông cảm thấy mình như bị buộc tội vì đã gây tổn thương, lợi dụng và làm tan nát những người phụ nữ giàu tự trọng. Và là người đã lừa dối Fiona – tất nhiên rồi, ông đã lừa dối bà – nhưng có tốt hơn không nếu ông xử sự giống như những người đàn ông khác đối với vợ mình rồi ruồng bỏ bà?

Ông chưa từng nghĩ đến một việc tày trời như vậy. Ông vẫn làm tình với Fiona mặc kệ ở đâu đó có những mời mọc, những đề nghị dễ gây phân tâm. Ông chưa từng xa Fiona dù chỉ một đêm. Không bịa ra những câu chuyện lắt léo để qua đêm ở San Francisco, hay trong một ngôi lều trên đảo Manitoulin vào ngày cuối tuần. Ông đã hạn chế dùng chất gây nghiện và rượu bia, tiếp tục viết lách, nghiên cứu, tham gia vào các hội đồng, có những bước tiến trong trong sự nghiệp. Ông chưa bao giờ có ý định vứt bỏ sự nghiệp và hôn nhân, để rồi về quê làm mộc hay nuôi ong.

Nhưng điều tương tự cuối cùng cũng đã xảy ra. Ông xin nghỉ hưu sớm với lương hưu bị giảm trừ. Cha của Fiona qua đời, sau một thời gian bị lẫn, sống một phần đời khổ hạnh và cô đơn trong ngôi nhà rộng lớn. Fiona thừa hưởng toàn bộ tài sản và trang trại nơi người cha đã lớn lên ở vùng nông thôn gần Vịnh Georgia. Fiona cũng nghỉ việc tại bệnh viện, nơi bà làm điều phối viên cho dịch vụ tự nguyện (ở thế giới thường nhật ấy, như cách nói của bà, người ta thực sự gặp phải những rắc rối, phiền muộn không liên quan gì tới ma túy, tình dục hoặc những tranh cãi đau đầu). Một cuộc sống mới là một cuộc sống mới.

Boris và Natasha cũng chết vào khoảng thời gian ấy. Một con ốm và đi trước – Grant đã quên mất là con nào – rồi tiếp đến con còn lại, có lẽ vì thương tiếc con kia.

Grant và Fiona sửa sang lại căn nhà. Họ đi du lịch trượt tuyết. Họ không quá hòa đồng nhưng dần dần đã có một số bạn bè. Không còn nữa những trò tán tỉnh đong đưa. Không còn cảnh bà này dùng chân trần cọ vào ống quần ông kia trong bữa tiệc tối. Không còn nữa những cô vợ dễ dãi, phóng túng.

Thật đúng lúc, Grant đã nghĩ thế, khi cảm giác về sự bất công dần mòn đi. Các nhà nữ quyền, và có lẽ là cả cô nàng ngốc nghếch rầu rĩ ấy và những người tạm gọi là bạn bè rất hèn hạ ấy đã đẩy ông ra ngoài lề thật đúng lúc. Ra khỏi một đời sống mà thực ra ngày một phiền nhiễu hơn giá trị của nó. Và có thể cuối cùng cái đời sống ấy dễ khiến ông mất Fiona.

***

Vào sáng ngày ông định trở lại Meadowlake để thăm Fiona lần đầu sau một tháng xa cách, Grant dậy sớm. Trong ông đầy những hồi hộp của một người đang đứng trước một sự kiện trọng đại, y như thể buổi sáng lần đầu tiên ông hẹn hò với một người phụ nữ mới. Cảm giác đó chắc chắn không phải là cái rạo rực tình dục (sau này, khi những cuộc hẹn hò đã thành thói quen, thì đúng là như thế). Có mong muốn được khám phá, gần như một háo hức tinh thần. Cũng có cả nỗi rụt rè, ngại ngùng, lo âu.

Ông ra khỏi nhà quá sớm. Trước 2 giờ người nhà không được vào thăm. Grant không muốn phải ngồi ngoài bãi xe chờ đợi, nên ông quay xe đi theo một lối khác, lệch hẳn hướng.

Đã tan băng. Vẫn còn nhiều tuyết vương lại, nhưng phong cảnh lấp lóa, làm chói mắt trước đó của mùa đông đã tan biến. Những điểm tuyết tan lỗ rỗ dưới bầu trời xám trông giống như đống rác thải trên cánh đồng.

Đến một thị trấn gần Meadowlake, Grant tìm thấy một cửa hàng hoa và mua một bó hoa lớn. Ông chưa từng tặng hoa cho Fiona. Hay bất cứ ai khác. Ông bước vào tòa nhà với cảm giác như một người tình tuyệt vọng hay một người chồng tội lỗi trong các tranh biếm họa.

“Ồ. Hoa thủy tiên vào buổi sớm thế này,” Kristy nói. “Chắc cũng tốn kém đấy nhỉ”. Cô đi trước Grant dẫn đường dọc theo hành lang của phòng ăn lớn rồi đến một chạn bếp, bật đèn lên, tìm một chiếc bình. Cô là một phụ nữ trẻ đẫy đà, có vẻ như chẳng chăm chút gì cho ngoại hình, trừ mái tóc. Đó là mái tóc vàng, uốn từng lọn bồng bềnh theo phong cách diêm dúa của những cô tiếp viên cocktail hay vũ nữ thoát y, mái tóc kiểu cách ấy chẳng ăn nhập gì với một khuôn mặt và cơ thể rất bình thường, không có gì đặc biệt.

“Được rồi đó” cô nói, rồi ra hiệu cho ông đi xuống dưới phòng ăn lớn. “Tên bệnh nhân ở trên cửa ấy”.

Ra vậy, tên người bệnh viết trên một tấm biển, có họa tiết trang trí là những con chim sơn ca. Ông đắn đo liệu có nên gõ cửa, rồi ông gõ, mở cửa và gọi tên bà.

Fiona không có ở trong phòng. Cánh cửa tủ đóng, giường phẳng phiu. Không có gì trên bàn cạnh giường, ngoại trừ một hộp Kleenex và một ly nước. Không một bức tranh, ảnh, không một cuốn sách hay tạp chí. Có lẽ những thứ ấy phải cất trong tủ.

Ông trở lại bàn y tá, hay bàn lễ tân, hay gọi thế nào cũng được. Kristy hỏi, “Bà ấy không có trong phòng sao?,” giọng tỏ vẻ bất ngờ nhưng Grant thấy cứ như hỏi lấy lệ.

Ông ngập ngừng, tay vẫn giữ chặt bó hoa. Cô nói: “Được rồi, được rồi – ta cứ đặt bó hoa xuống đây đã”. Đoạn cô thở dài, cứ như Grant là đứa trẻ đi muộn vào ngày đầu tiên đến lớp, cô dẫn ông đi dọc theo hành lang khu vực phòng ăn lớn, tới một không gian trung tâm khá rộng đón nhiều ánh sáng từ những ô cửa trời rất lớn và trần nhà được làm theo phong cách thánh đường. Vài người đang ngồi dọc theo tường, trên những chiếc ghế thư giãn, những người khác ngồi quanh những chiếc bàn giữa phòng, sàn phòng được trải thảm. Không ai trông quá tiểu tụy. Có người trông đã rất già – một số đã phải dùng đến xe lăn – nhưng vẫn bặt thiệp. Hồi vợ chồng ông đến thăm Farquar, có một vài hình ảnh của bệnh nhân làm hai người đều thấy rất đáng sợ. Râu mọc trên cằm các bà già, có người một bên mắt lồi ra như một quả mận đã thối mục. Đi lại rờ rẫm, đầu lúc nào cũng lắc lư, nói năng luyên thuyên như điên dở. Giờ có vẻ như đã không còn những ca tồi tệ nhất. Hay thuốc thang, y học giờ đã tốt hơn, đã tìm ra được những cách giảm nhẹ sự biến dạng hình hài, cũng như sự mất kiểm soát ngôn ngữ và nhiều hành vi khác – những phương thức mà chỉ mấy năm trước cũng chưa từng có.

Tuy nhiên, có một người phụ nữ ngồi bên chiếc dương cầm trông rất sầu muộn, bấm từng phím đàn với một ngón tay và mãi chẳng tạo nên một giai điệu nào. Một người phụ nữ khác, ngồi sau bình hãm cà phê và một chồng cốc nhựa cứ đăm đăm nhìn ra ngoài, đờ đẫn như hóa đá. Nhưng chắc đó là một nhân viên của viện – chị ta mặc bộ đồ xanh lá nhạt giống hệt của Kristy.

“Thấy chưa?” Kristy nói khẽ. “Ông chỉ cần đi đến, chào và cố gắng đừng để bà ấy giật mình. Hãy nhớ rằng có thể bà ấy sẽ không … Mà thôi. Ông đi đi.”

Ông thấy Fiona đang nhìn nghiêng nghiêng, bà ngồi sát một trong những chiếc bàn chơi bài, nhưng không chơi. Mặt bà hơi bụ ra, gò má hơi xệ che lấp khóe miệng, điều này Grant chưa từng thấy trước đây. Fiona đang xem người đàn ông ngồi gần nhất chơi bài. Ông ta cố tình nghiêng nghiêng bài để bà có thể xem cùng. Khi Grant lại gần, bà ngước lên. Tất cả đều ngẩng nhìn với vẻ khó chịu. Rồi họ ngay lập tức nhìn xuống bài của mình, như để tránh bất cứ sự xâm phạm nào.

Nhưng Fiona mỉm cười – nụ cười méo mó, lúng túng, kín đáo và vì thế lại rất có duyên của bà – bà đẩy ghế lùi lại, đến gần bên Grant, đưa ngón tay lên miệng.

“Đang chơi bài bridge”, bà thầm thì. “Căng thẳng ra trò. Họ còn khờ lắm.” Bà dẫn Grant về phía bàn cà phê, trò chuyện. “Em nhớ hồi học đại học, có dạo bọn em cũng hay chơi bài bridge. Bọn em hay bùng tiết, ngồi trong phòng sinh hoạt chung, hút thuốc và chơi bài, cũng găng lắm. Một người trong đám bạn khi đó là Phoebe, những người còn lại thì em không nhớ.”

“Phoebe Hart,” Grant nói. Ông nhớ lại cô gái mắt đen, ngực hóp, người nhỏ thó, có lẽ giờ đã qua đời. Giữa không gian ám khói thuốc, Fiona, Phoebe và đám con gái ấy say sưa với những quân bài như những cô phù thủy.

“Anh cũng biết cô ấy à?” Fiona hỏi, giờ bà hướng nụ cười về phía người phụ nữ ngồi thừ như hóa đá khi nãy. “Anh uống gì nhỉ? Một tách trà nhé? Nhưng e cà phê ở đây không ngon lắm.”

Grant chưa từng uống trà.

Ông không thể vòng tay ôm bà. Có gì đó trong giọng nói và nụ cười ấy, vẫn thân thuộc như ngày nào, nhưng cách bà không muốn ông làm phiền hội chơi bài và ngay cả người phụ nữ ngồi sau bình cà phê kia – cũng như tránh cho ông khỏi sự khó chịu từ họ – khiến ông không thể ôm bà.

“Anh mang tặng em bó hoa,” ông nói. “Anh nghĩ chúng sẽ làm phòng em sáng sủa hơn. Anh đã vào phòng, nhưng em không ở đó.”

“Vâng”, bà nói. “Em ở đây cơ mà.”

Grant nói, “Em đã có bạn mới nhỉ.” Ông hất đầu về phía người đàn ông mà Fiona ngồi bên lúc nãy. Đúng lúc lão ta ngẩng lên nhìn Fiona và bà quay lại, không biết vì những gì Grant đang nói hay là bà đã cảm thấy cái nhìn từ phía sau bà.

“Đó là Aubrey,” bà nói. “Điều thú vị là em đã biết ông ấy từ lâu lắm rồi. Ông ấy từng làm việc trong cửa hàng. Cái cửa hàng kim khí mà ông của em hay ghé mua sắm. Aubrey và em cũng hay tán chuyện qua lại nhưng ông ấy chẳng đủ dũng khí ngỏ lời với em. Cho đến tận ngày cuối tuần cuối cùng, ông ấy rủ em đi xem một trận cầu. Nhưng khi trận đấu kết thúc thì ông của em xuất hiện và lái xe đưa em về nhà. Khi đó em đến nghỉ hè. Đến thăm ông bà – họ sống ở trang trại.”

“Fiona. Anh biết ông bà của em sống ở đâu mà. Đó là nơi chúng ta ở. Từng ở.”

“Thật không?” bà nói nhưng không chú ý lắm vì ông bạn chơi bài đang nhìn bà, cái nhìn không phải đang cầu khẩn mà là đang ra lệnh. Ông ta tầm tuổi Grant, có khi già hơn một chút. Bộ tóc trắng dày thô lòa xòa trên trán, da dẻ trông vẫn tốt nhưng nước da đã nhờn nhợt, trắng ngà ngà như cái găng tay cũ nát của trẻ con. Khuôn mặt dài của ông ta nghiêm nghị và u sầu, ông khiến người ta nghĩ đến một con ngựa già, từng rất mạnh mẽ nhưng nay đã xuống sức, mỏi mệt , thờ ơ. Nhưng Fiona đang để tâm ở đâu lại là điều ông không hề thờ ơ.

“Em phải trở lại chỗ cũ thôi,” Fiona nói, khuôn mặt mới đầy đặn hơn một chút của bà trông hơi ửng hồng. “Ông ấy nghĩ mình không thể chơi mà không có em ngồi cạnh. Thật ngớ ngẩn, mà em thì gần như chẳng biết chơi thế nào nữa. Cho em xin phép nhé.”

“Sẽ xong nhanh chứ?”

“Ồ, chắc là sắp hết ván rồi. Cũng còn tùy. Anh cứ ra hỏi cái bà trông nghiêm nghị kia thật nhẹ nhàng, bà ấy sẽ lấy cho anh một tách trà.”

“Không cần đâu,” Grant đáp.

“Vậy em đi nhé, anh biết cách tự giải khuây đúng không? Chắn chắn có nhiều lạ lẫm, nhưng rồi anh sẽ ngạc nhiên khi thấy mình làm quen rất nhanh chóng. Rồi ạnh sẽ biết hết mọi người ở đây. Ngoại trừ một số giống như ở trên mây ấy, anh biết mà – đừng mong đợi tất cả bọn họ biết anh là ai.”

Fiona nhanh chóng trở về ghế của mình, bà thì thầm gì đó vào tai của Aubrey. Bà gõ những ngón tay mình lên mu bàn tay của ông ta.

Grant đi tìm Kristy và gặp cô ở hành lang phòng ăn lớn. Cô đang đẩy một xe có bình nước táo và nước ép nho.

“Đợi tôi một chút nhé,” cô vừa nói với ông vừa ngó qua cửa phòng. “Có ai uống nước táo không? Nước nho? Bánh bích quy?”

Ông chờ đợi trong khi Kristy rót đầy hai cốc nhựa và mang vào phòng. Khi trở lại, cô lấy hai chiếc bánh bột dong cho mình và cho cả ông.

“Sao rồi?,” cô hỏi thăm. “Chắc ông cũng mừng khi thấy bà nhà rất hòa nhập?”

Grant nói, “Thực sự thì Fiona có nhận ra tôi là ai không?”

***

Ông không thể biết chính xác. Có thể bà ấy đang trêu đùa. Fiona là thế mà. Bà ấy đã đùa hơi quá ở phút cuối, khi vờ nói với Grant như thể bà nghĩ ông là bệnh nhân mới.

Cứ cho là bà ấy đang muốn diễn. Cứ cho đó là giả vờ.

Nhưng sao bà ấy không chạy theo và cười Grant sau khi đã lừa được ông? Bà ấy chắc chắn không thể trở lại bàn chơi bài và giả vờ quên ông được. Như thế thì thật quá đáng, thật tàn nhẫn.

Kristy nói, “Có thể ông gặp bà ấy không đúng thời điểm. Đang lúc chơi bài.”

“Khi đó bà ấy đâu có chơi,” ông nói.

“Vâng, nhưng bạn của bà ấy đang chơi. Aubrey ấy.”

“Thế Aubrey là ai?”

“Thì đó. Aubrey. Bạn của vợ ông. Ông muốn uống nước trái cây không?”

Grant lắc đầu.

“Ồ nhìn xem,” Kristy nói. “Họ quấn quýt nhau lắm. Cũng được khá lâu rồi. Kiểu như bạn thân nhất ấy. Chỉ một giai đoạn thôi.”

“Ý cô là bà ấy có thể thực sự không nhận ra tôi?”

“Có thể. Hôm nay thôi. Rồi ngày mai – người ta không biết trước được đúng không? Mọi thứ cứ thay đổi tới lui và ta chẳng thể làm gì được. Ông sẽ hiểu cái bệnh này nó thất thường như thế nào khi ông đến đây thường xuyên. Ông sẽ không nghiêm trọng hóa vấn đề nữa. Sẽ học chấp nhận điều đó dần mỗi ngày.”

***

Mỗi ngày. Nhưng mọi thứ thực sự chẳng hề thay đổi qua lại như thế, và Grant cũng không quen nổi với điều đó. Fiona mới là người dần quen với sự hiện diện của Grant, nhưng chỉ với tư cách một vị khách nhẫn nại có mối quan tâm đặc biệt đến bà. Thậm chí có khi như một kẻ quấy rầy mà bà muốn tránh mặt một cách lịch sự. Bà tiếp đãi ông rất lơ đễnh, thái độ tử tế xã giao, khiến Grant không tài nào hỏi bà vấn đề hiển nhiên, cần thiết nhất: liệu bà có còn nhớ ông – người chồng gần năm mươi năm của bà? Ông có ấn tượng rằng bà hẳn sẽ bối rối lắm trước một câu hỏi như vậy – không phải bối rối cho mình mà như ái ngại thay cho ông. Chắc bà ấy sẽ cười khúc khích và sẽ làm Grant xấu hổ bằng cả sự lịch thiệp và nỗi bối rối của mình, và theo cách nào đó, bà ấy sẽ không trả lời có hoặc không. Hoặc có thể bà sẽ chọn một trong hai câu trả lời mà dù thế nào cũng không thỏa mãn.

Kristy là y tá duy nhất Grant có thể trò chuyện. Một vài người khác coi mọi thứ như một trò đùa. Một y tá già, khá thô thiển khi cười và nói ông: “Aubrey và Fiona đó hả? Thắm thiết ra phết, phải không?”

Theo như Kristy kể lại, Aubrey từng làm đại lý cho một công ty bán thuốc diệt cỏ dại – “và tất cả những thứ như thế” – cho nông dân.

“Ông ấy là người đàng hoàng,” cô nói, và Grant không hiểu điều này có nghĩa Aubrey là người thật thà, rộng rãi và tử tế với mọi người, hay là ông ta là kẻ có khiếu ăn nói, mặc đẹp và lái xe xịn. Có lẽ cả hai nghĩa.

Và khi ông ta chưa già, thậm chí chưa nghỉ hưu, ông ấy đã trải qua một đận sức khỏe suy sụp một cách bất thường.

“Vợ Aubrey chăm nom ông ta, thường là ở nhà. Bà ta chỉ gửi ông ấy ở đây tạm thời để được nghỉ ngơi. Em gái muốn bà ta đến Florida. Đấy, bà ta cũng khổ sở lắm, ông sao có thể ngờ một người đàn ông như Aubrey – họ chỉ đi nghỉ đâu đó và ông ta đại loại là bị một con bọ đốt, làm cho sốt rất cao. Và ông ấy hôn mê rồi cứ thế như bây giờ.”

Grant hỏi cô về tình cảm giữa những bệnh nhân ở đây. Chúng có bao giờ đi quá giới hạn không? Giờ thì ông đã có thể giả vờ nói về chuyện này theo kiểu một kẻ hóng chuyện như thế, may ra ông khỏi phải nghe những bài giảng giải.

“Còn tùy thuộc vào ý ông muốn hỏi,” cô đáp. Cô tiếp tục ghi chép vào cuốn sổ theo dõi trong khi quyết định nên trả lời Grant ra sao. Khi viết xong, cô ngẩng lên nhìn ông với một nụ cười thẳng thắn.

“Vấn đề chúng ta đang phải đối mặt ở đây, buồn cười là ở chỗ, tình cảm thường xảy ra giữa những người trước đó chẳng thân thiện với nhau chút nào. Họ thậm chí có thể không biết gì về nhau, ngoài việc biết người kia là đàn ông hay đàn bà. Ta thường cho rằng các ông già luôn muốn mò đến giường các bà lão, nhưng ông biết không, tôi biết có đến 50% các trường hợp là diễn tiến theo chiều ngược lại. Các cụ bà thích gần gũi với các cụ ông. Có lẽ các bà ấy vẫn chưa quá mức già cỗi, tôi đoán vậy.”

Sau đó, cô không cười nữa, như thể vì sợ mình đã quá nhiều lời, hay nói quá vô tâm.

“Đừng hiểu sai ý tôi,” cô nói. ” Tôi không có ý nói đến Fiona. Fiona là một quý bà.”

Đúng, còn Aubrey thì nghĩ sao về bà? Grant muốn nói thế. Nhưng ông nhớ lại rằng Aubrey còn đang ngồi xe lăn.

“Fiona quả là một quý bà đích thực,” Kristy nói với một giọng quả quyết càng làm Grant thêm băn khoăn. Ông tưởng tượng trong đầu hình ảnh Fiona, mặc trên mình một trong những chiếc đầm ngủ thắt nơ xanh với viền ren, lần dở tấm trải giường của lão già nào đó đầy vẻ hí hửng.

“Vâng, tôi đôi khi cũng tự hỏi…,” ông ngập ngừng.

Kristy rành rọt, “Ông tự hỏi điều gì?”

“Tôi tự hỏi biết đâu bà ấy đang đóng kịch với tôi.”

“Hả, ông nói sao?”

***

Hầu như chiều nào cũng thấy hai người đó ở bàn chơi bài. Aubrey có bàn tay to và những ngón tay thô dày. Ông ta chật vật sắp xếp những quân bài. Fiona phải xáo và chia bài thay và đôi khi nhanh tay vuốt thẳng quân bài đang sắp tuột khỏi tay lão. Từ bên kia căn phòng, Grant dõi theo từng cử động như tên bắn và điệu cười hối lỗi chớp nhoáng của Fiona. Ông thấy được cái cau mày hay thường thấy ở những ông chồng khó tính của Aubrey mỗi khi một làn tóc của Fiona chạm vào má ông ta. Aubrey thích tỏ vẻ thờ ơ lạnh nhạt với Fiona khi bà ấy ở gần mình.

Nhưng ông ta cứ ngồi yên, khuôn mặt trầm trầm, nặng nề, nhìn Fiona mỉm cười chào Grant, rồi đẩy lùi chiếc ghế mình và tiến đến mời ông tách trà – điều này cho thấy bà đã chấp nhận quyền hiện diện của Grant ở đây. Rồi ông ta để mặc những quân bài tuột khỏi tay mình rơi xuống sàn nhà và thế là phá hỏng cả ván bài.

Và Fiona lại phải tất tả thu nhặt mọi thứ lại.

Nếu Fiona và Aubrey không ở bàn chơi bài, có thể họ đang dạo bộ dọc theo sảnh, Aubrey một tay bám vào thanh vịn, một tay nắm lấy cánh tay hoặc khoác vai Fiona. Các y tá thực sự cảm phục khi thấy Fiona làm cho lão rời khỏi cái xe lăn, cho dù nếu đi xa hơn – đến khu nhà trồng cây đầu bên này tòa nhà hoặc phòng TV đầu bên kia tòa nhà chẳng hạn – thì vẫn cần phải dùng đến.

Phòng xem TV có vẻ lúc nào cũng để kênh thể thao và Aubrey luôn chỉ xem môn thể thao h́nh như lão yêu thích nhất – golf. Grant không ngại ngồi xem cùng họ. Ông ngồi ở cách họ vài ghế. Trên màn hình lớn, những nhóm nhỏ khán giả và bình luận viên chạy theo sau các golf thủ quanh cái sân xanh yên ắng, và vào những lúc thích hợp thì vỗ tay rất nghi thức. Nhưng sẽ im bặt mỗi khi các tay golf thực hiện cú xoay người và quả bóng bay lên thật đơn độc xuyên qua màn trời. Aubrey, Fiona, Grant và có thể cũng có nhiều người khác ngồi xem, nín thở, sau đó Aubrey luôn là người lên trước tiên, thể hiện sự đắc ý hoặc thất vọng. Fiona sẽ hùa theo với cùng một ý đó chỉ vài giây sau.

Trong nhà kính trồng cây tĩnh lặng hơn nhiều. Bộ đôi hay chọn vị trí ngồi dưới vòm cây nhiệt đới xanh tươi, um tùm nhất, Grant đủ tự chủ để không xâm phạm không gian đó. Xen lẫn trong tiếng xào xạc của cây lá và tiếng nước tí tách là giọng nói dịu dàng và tiếng cười của Fiona.

Rồi đột nhiên có chuỗi âm thanh nghe như tiếng cười ngặt nghẽo. Là ai cười thế?

Mà có thể chẳng phải ai cười – có lẽ đó là tiếng của một trong những con chim sặc sỡ phá đám ở trong góc lồng kia.

Aubrey cũng nói, dù giọng của ông ta có thể không giống như trước đây. Lão dường như đang nói gì đó, thứ âm thanh nghe nặng trịch. Cẩn thận nhé. Hắn ta đang ở đây. Mình ạ.

Ở mặt đáy xanh dương của cái hồ dưới chân đài phun nước có vài đồng xu cầu nguyện. Grant chưa bao giờ thực sự chứng kiến người nào ném xu vào đó. Ông nhìn chăm chú vào những đồng 5, 10, 25 xu, tự hỏi rằng phải chăng người ta dán chúng vào gạch men lát đáy bể – một chi tiết trang trí khác của tòa nhà.

***

Đôi bạn tuổi hoa niên ở sân đấu bóng chày, họ ngồi hàng trên cùng của khán đài, tách khỏi đám bạn bè của cậu con trai. Giữa hai người chỉ có một thanh gỗ trơ mấy inch ngăn cách, bóng tối buông xuống, hơi lạnh của buổi chiều muộn cuối hạ nhanh chóng lan tỏa. Những bàn tay ngập ngừng, cơ thể hai người đều như bồn chồn, và mắt họ vẫn không rời trận bóng. Nếu đang mặc áo khoác, ông sẽ cởi ra, để choàng nó lên đôi vai hẹp của bà. Dưới lớp áo ấy, ông có thể kéo bà lại gần hơn, siết những ngón tay của mình vào cánh tay mềm mại của ấy.

Chứ không như bọn trẻ bây giờ, có thể quá trớn với nhau từ lần hẹn đầu tiên.

Cánh tay gầy và mềm mại của Fiona. Dục vọng tuổi trẻ làm Fiona ngỡ ngàng, nó truyền đi khắp cơ thể trinh nguyên dịu dàng của bà, khi bóng tối trở nên dày đặc hơn bên kia vùng ánh sáng phủ bụi trên sân bóng.

***

Ở Meadowlake có rất ít gương soi, nên Grant không phải bắt gặp cái cảnh đeo bám và rình mò của chính mình. Nhưng cũng có lúc ông nhận ra mình ngu ngốc, thảm hại thế nào, và hẳn trông ông điên rồ lắm khi cứ nhằng nhẵng bám theo sau Fiona và Aubrey. Và chẳng có cơ may nào để có thể đối đầu với bà, hoặc ông ta. Càng ngày ông lại càng không chắc chắn về quyền được hiện diện ở đó, nhưng lại không thể rút lui. Ngay cả ở nhà, khi ngồi bàn làm việc hay dọn dẹp, hay khi xúc tuyết khi cần thiết, trong đầu ông như có một cái máy gõ nhịp nhắc nhở về Meadowlake, về chuyến thăm tiếp theo của ông. Ðôi lúc ông tưởng mình như một anh chàng bướng bỉnh, cố đeo đuổi một mối tình vô vọng, có khi lại giống một gã khốn khổ thường bám đuôi những quý cô danh giá trên đường phố, cứ tin rằng rồi một ngày họ sẽ quay lại và nhận ra tấm chân tình.

Grant đã rất cố gắng, ông chỉ còn đến viện vào thứ tư và thứ bảy. Ngay cả khi ở đó, ông cũng để ý quan sát thêm về nơi này như là một vị khách bình thường hoặc một người làm công tác thanh tra hay nghiên cứu xã hội.

Thứ bảy là ngày lễ nên không khí ở viện vừa nhộn nhịp vừa căng thẳng. Các gia đình từng tốp kéo đến. Thường là các bà mẹ phải lo lắng mọi thứ, họ giống như những chú chó chăn cừu vừa vui vẻ vừa phải van xin những con cừu là các ông bố và lũ con nhỏ. Chỉ những đứa nhỏ nhất là không cần lo âu. Chúng ngay lập tức nhận thấy các ô gạch vuông màu trắng và xanh lá lát sàn ở sảnh là sân chơi của mình, chúng chọn một ô màu để đi, còn ô màu khác thì nhảy qua. Những đứa bạo hơn có thể chơi trò đu xe lăn. Một số đứa cứng đầu cứ tiếp tục những trò chơi đó bất chấp lời quát mắng, đến nỗi cuối cùng bị đưa ra xe hơi. Và những ông bố hay những đứa anh rất vui vẻ, sẵn sàng nhanh nhảu nhận làm nhiệm vụ này thay cho việc thăm hỏi.

Phụ nữ sẽ làm công việc chuyện trò. Những ông bố tỏ ra biết điều khi ở tình huống này, những đứa con mới lớn động một tí lại bị mắng mỏ. Những bệnh nhân có người nhà đến thăm ngồi trên chiếc xe lăn hoặc lập cập chống gậy đi lại, hoặc bước đi một cách khó khăn, không cần ai dìu, đi lên trước cả con cháu, như muốn chứng tỏ tình trạng được cải thiện của mình nhưng ánh mắt vẫn đờ đẫn, miệng lẩm bẩm tuyệt vọng vì áp lực căng thẳng. Bị vây quanh bởi những người “ở ngoài vào”, những người “sống ở trong” không còn trông giống như thường ngày ở viện nữa. Râu cứng trên cằm của các bà cụ có thể đã được cạo nhẵn, những đôi mắt xấu xí có thể đã được che đi sau cặp kính râm, những phát ngôn lung tung có thể được kiểm soát bằng thuốc, nhưng tất cả không giấu đi được vẻ đờ đẫn, sự cứng đơ như những bóng ma – có vẻ như con người ta bằng lòng khi trở thành ký ức của chính mình, họ hiện hữu như những bức ảnh cuối cùng của chính mình.

Giờ Grant đã hiểu rõ hơn cảm giác của ông Farquar. Những người ở đây, kể cả những người không tham gia bất cứ hoạt động nào mà chỉ ngồi nhìn những cánh cửa ra vào hay là trông ra ngoài cửa sổ – đang sống một cuộc đời bận rộn khác trong tâm tưởng của họ (chưa nói tới đời sống khác của cơ thể họ, những co thắt bất thường của đường ruột, những cảm giác nhói hay nhức ở khắp nơi trên cơ thể). Đó là một đời sống mà trong nhiều trường hợp, có thể sẽ rất khó mô tả hay ám chỉ về nó trước sự hiện diện của những vị khách. Tất cả những gì họ có thể làm là ngồi im trên xe lăn hoặc bằng cách nào đó đẩy mình loanh quanh với hy vọng sẽ nhớ ra thứ gì để khoe hay chủ đề gì đó để nói.

Có thể khoe về nhà kính trồng cây và cái TV màn ảnh rộng. Các ông bố sẽ nghĩ hẳn đó là những chuyện hay ho. Còn các bà mẹ sẽ khen đám dương xỉ tuyệt đẹp. Rồi cả nhà sẽ sớm ngồi xuống quanh cái bàn nhỏ và cùng ăn kem – mấy cô bé, cậu bé tuổi mới lớn hẳn sẽ chẳng thích gì chuyện ăn kem, chúng nghĩ cảnh cà nhà ăn kem là một cảnh tượng cực khó chịu. Những người phụ nữ lau những vết kem nhoe nhoét dây trên cái cằm run run của các cụ già còn đám đàn ông thì thường quay mặt đi.

Chắc cái nghi thức này hẳn cũng có thể đem đến một cảm giác hài lòng nào đó cho thành viên trong gia đình, và có lẽmột ngày nào đó, ngay cả đám trẻ mới lớn cũng thấy vui vẻ vì chúng đã đến đây. Grant không am hiểu lắm những vấn đề thuộc về gia đình.

Không có con cháu nào đến thăm Aubrey, và vì họ không có chỗ chơi bài nữa – bàn chơi bài đã bị lấy đi để phục vụ bữa tiệc kem – nên ông ta cùng Fiona thường tránh những buổi hội họp ngày thứ bảy. Khu nhà kính đã trở nên quá quen thuộc cho những cuộc trò chuyện thân mật giữa hai người.

Và dĩ nhiên, còn một nơi nữa để họ tâm tình: căn phòng đóng kín cửa của Fiona. Grant không thể nào gõ cửa, dù ông đứng đó khá lâu, nhìn chăm chăm vào cái biển tên được trang trí đậm chất Disney với cảm giác khó chịu cực độ.

Hoặc họ có thể ở trong phòng Aubrey. Nhưng Grant không biết phòng đó ở đâu. Càng thăm quan nhiều, ông càng khám phá ra nhiều hành lang và chỗ ngồi, đến nỗi khi đi lang thang quanh viện, có khi ông vẫn lạc đường. Ông phải lấy một bức tranh, hay một cái ghế để đánh dấu địa điểm, nhưng tuần sau khi quay lại, những vật ông chọn để đánh dấu lại bị chuyển đi chỗ nào khác rồi. Ông không kể chuyện đó với Kristy, sợ rằng cô sẽ nghĩ chính ông cũng đang mắc một chứng rối loạn tâm thần nào đó. Grant đoán người ta thay đổi vị trí hay sắp xếp lại đồ vật thường xuyên chính là vì bệnh nhân – để làm những cuộc dạo bộ hằng ngày của họ trở nên thú vị hơn.

Grant cũng không kể chuyện có lần ông nhìn thấy một phụ nữ từ đằng xa mà ông đoán là Fiona, nhưng rồi lại nghĩ chắc không phải, vì cách bà ta ăn mặc không giống như vợ ông. Đã bao giờ Fiona mặc những cái áo có hoa sáng màu với quần thường ngày màu xanh điện quang đâu? Vào một ngày thứ bảy, Grant nhìn ra cửa sổ và thấy Fiona – chắc chắn là bà ấy – đang đẩy xe lăn cho Aubrey trên con đường đã cào nhẵn băng tuyết. Bà ấy đội cái mũ len ngớ ngẩn, khoác cái áo có những xoáy xanh và tím -kiểu trang phục thường thấy phụ nữ vùng này mặc khi đi siêu thị.

Sự thực là ở đây người ta chẳng bận tâm phân loại quần áo của những bệnh nhân nữ mà nhìn chung đều có cùng khổ người như nhau. Và họ cũng nghĩ rằng người mặc dù sao cũng chẳng thể nhận ra quần áo họ.

Họ còn cắt tóc bà ấy nữa. Họ cắt mất cả quầng hào quang thiên thần trên mái tóc ấy. Vào một ngày thứ tý, khi mọi thứ trở về nhý bình thường, những ván bài lại diễn ra, mấy bà già trong phòng Thủ công lại làm hoa lụa và may quần áo búp bê mà chẳng có ai xung quanh quấy rầy hay trầm trồ khen ngợi, và khi Aubrey và Fiona lại ngồi ở đó, Grant có được cơ hội trò chuyện ngắn, vừa thân thiện, vừa bực bội với vợ mình, ông hỏi bà: “Sao họ có thể cắt mất mái tóc của em?” Fiona rờ tay lên đầu kiểm tra.

“Thì sao? – tôi không hề lưu luyến nó,” bà nói.

***

Grant nghĩ ông nên tìm hiểu chuyện gì đang diễn ra trên tầng hai, nơi ở của những bệnh nhân mà theo cách nói của Kristy là đã hoàn toàn mất trí. Những người đi đi lại lại dưới tầng một tự nói chuyện một mình hay buông ra những câu hỏi kì quặc cho ai đi ngang qua, thí dụ, “Có phải tôi để quên cái áo len ở nhà thờ không?” mới chỉ là những ca mất một phần trí nhớ.

Nhưng thế chưa đủ để đánh giá.

Có cầu thang dẫn lên, nhưng cửa đi vào trong chỉ nhân viên – những người có chìa khóa – mới vào được. Không thể vào thang máy được nếu nhân viên không ấn nút ở đằng sau bàn tiếp tân.

Người ta làm gì mỗi ngày, khi họ đã mất trí?

“Vài người chỉ ngồi vậy”, Kristy kể. “Có người ngồi khóc. Một số thì la hét. Ông không muốn nghe đâu”.

Cũng có khi họ nhớ lại được.

“Thế này nhé, chẳng hạn ông đến thăm họ liên tục một năm nhưng họ chẳng bao giờ phân biệt nổi ông với những ông khác. Rồi đến một ngày, họ tỏ ra hoan hỉ “Ồ, chào, bao giờ thì ta về nhà?”. Đột nhiên trở lại bình thường”.

Nhưng chẳng được lâu đâu.

“Người ta nghĩ, chà, mọi chuyện lại ổn rồi. Nhưng thoắt một cái, bệnh nhân lại quên hết ngay”. Kristy bật ngón tay đánh “tách” cái. “Nhanh thế đấy”.

***

Ở thị trấn nơi Grant từng dạy học có một hiệu sách mà vợ chồng ông vẫn ghé qua đôi lần một năm. Ông trở lại hiệu sách đó một mình. Ông không muốn mua gì, nhưng ông đã viết ra một danh sách, chọn ra vài quyển có trong danh sách đó và mua thêm mấy quyển khác mà ông tình cờ chú ý. Sách về Iceland. Một cuốn sách có tranh màu nước thế kỉ XIX của một nhà du hành nữ từng đặt chân đến Iceland.

Fiona chưa từng học tiếng mẹ đẻ và bà cũng chưa bao giờ tỏ ra có nhiều quan tâm đến những câu chuyện của vùng đất ấy – những huyền thoại mà chồng bà đã giảng dạy, nghiên cứu, và giờ vẫn tiếp tục nghiên cứu. Bà hay gọi những anh hùng trong truyện là “Njal xa xưa” hay “Snorri xa xưa”[6]. Nhưng vài năm gần đây, bà đã dần quan tâm đến đất nước này và tra cứu trong những cuốn sách du lịch. Bà đọc về chuyến đi của William Morris và Auden. Không phải là bà đã có kế hoạch du lịch đến Iceland. Bà nói, thời tiết nơi đó quá khủng khiếp. Thêm nữa – bà nói thêm – cũng có những nơi ta nên nghĩ đến nó, tìm hiểu về nó, chờ đợi được đến đó, dẫu rằng chuyến đi có thể chẳng bao giờ thực hiện được.

***

Hồi Grant bắt đầu dạy Văn học Anglo-Saxon và Bắc Âu, sinh viên lớp ông đa phần là những sinh viên bình thường. Nhưng sau vài năm, ông nhận ra một thay đổi. Những sinh viên nữ đã lập gia đình bắt đầu quay lại trường học. Không phải họ học vì bằng cấp, để có công ăn việc làm tốt hơn, mà đơn giản là để giữ cho mình suy nghĩ về điều gì đó thú vị hơn là việc nội trợ và những thú vui tầm thường. Để làm cuộc sống của mình thêm phong phú. Và như một hệ quả tự nhiên, những giảng viên nam dạy những điều thú vị cho họ trở thành một phần của cuộc sống phong phú ấy, khi mà đối với những học viên nữ này, hình tượng người thầy có nhiều bí ẩn và đáng khao khát hơn là những ông chồng mà hằng ngày họ phải phục vụ ăn uống và phải ngủ cùng.

Những ngành họ chọn học thường là Tâm lí học hoặc Lịch sử văn hóa hay Văn học Anh. Khảo cổ học và Ngôn ngữ học thỉnh thoảng cũng có người chọn, nhưng họ thường bỏ khi thấy mấy ngành đó quá nặng. Những người đăng ký học khóa của Grant có thể có xuất thân Scandinavia – giống như Fiona – hoặc họ có thể đã học về thần thoại Bắc Âu từ Wagner[7] hay các tiểu thuyết lịch sử. Cũng có vài người nghĩ rằng Grant sẽ dạy ngôn ngữ Celtic[8] và với họ mọi thứ liên quan đến Celtic đều có một sức quyến rũ huyền bí.

Tại văn phòng của mình, Grant đã nói với những kẻ khao khát ấy khá thẳng thừng.

“Nếu các bạn muốn học một ngoại ngữ hay, hãy học tiếng Tây Ban Nha. Bạn có thể sử dụng được khi đến Mexico.”

Một số đã nghe theo lời khuyên đó và chuyển lớp. Những người còn lại dường như rung động một cách rất riêng tư trước giọng điệu quyền uy ấy của ông thầy. Họ rất chịu khó học hành và mang tới cho văn phòng của Grant, cho đời sống vốn đã ổn định và viên mãn của ông, một ý thức phục tùng tự giác đến ngạc nhiên của những phụ nữ trưởng thành, họ phấp phỏng hy vọng nhận được tín hiệu chấp nhận từ phía ông thầy.

Grant đã “gật đầu” với một học viên tên Jacqui Adams. Cô ta là hình ảnh trái ngược hẳn với Fiona—thấp lùn, đậm người, mắt sẫm màu, một tip người bộc trực. Thật thà đến độ không biết đùa. Cuộc tình kéo dài quãng một năm, cho đến khi chồng cô ta phải chuyển công tác. Khi từ biệt trong xe hơi của Jacqui, bống nhiên chị ta không ngừng run lên. Như thể đột ngột bị hạ thân nhiệt vậy. Sau này có vài lần Jacqui viết thư cho Grant, nhưng ông thấy lời lẽ trong thư trau chuốt, gọt giũa quá đỗi, đến mức không biết nên hồi âm ra sao. Ông đành mặc kệ chuyện hồi âm, và cũng trong thời gian này, một cách bất ngờ và không thể hiểu nổi, ông lại có quan hệ tình cảm với một cô gái mà chỉ đáng tuổi con gái của Jacqui.

Trong khi Grant vẫn đang cặp với Jacqui thì ông còn rơi vào một cơn “say nắng” khác, quái quỷ hơn. Những cô gái trẻ tóc dài, đi xăng-đan đến văn phòng thầy, không ngại ngần tuyên bố mình sẵn sàng dâng hiến cho thầy. Những sự tiếp xúc thận trọng, những gợi ý nhẹ nhàng về cảm xúc mà ông cần ở Jacqui nay bị vứt ra ngoài cửa sổ. Grant như bị cuốn theo một cơn lốc xoáy, cũng như nhiều đồng nghiệp khác của ông, ước muốn biến thành hành động chóng vánh đến nỗi ông phải băn khoăn không biết có điều gì bị bỏ lỡ hay không. Nhưng ai có thì giờ hối tiếc chứ? Ông chỉ nghe tiếng gọi của những mối quan hệ xuất hiện đồng thời, những dục vọng, ham mê man dại và liều lĩnh. Điều tiếng lan truyền, với những câu chuyện được kịch tính hóa một cách lâm li, đau khổ, nhưng có cảm giác rằng như vậy còn tốt hơn. Có trả thù; có đuổi việc. Nhưng kẻ bị đuổi việc chuyển đến giảng dạy tại một trường nhỏ hơn, bao dung hơn, hoặc Trung tâm Giáo dục cộng đồng, những người vợ bị bỏ rơi đành cố vượt qua cú sốc, họ đổi cách ăn mặc và tỏ ra dễ dãi, lả lơi giống như các cô gái đã dụ dỗ chồng họ. Những buổi tiệc tùng ở trường đại học, vốn chẳng mấy khi có sự bất ngờ, hóa ra là một bãi mìn. Một trận dịch bùng phát, lây lan như cúm Tây Ban Nha. Chỉ có điều ở đây người ta chạy theo mầm bệnh, và hầu như rất ít kẻ từ 16 đến 60 tuổi sẵn lòng chấp nhận đứng ngoài cuộc.

Tuy nhiên, Fiona có vẻ như sẵn lòng đứng ngoài vùng dịch đam mê ấy. Mẹ của bà sắp qua đời, kinh nghiệm làm việc tại bệnh viện đã khiến Fiona chuyển từ công việc hàng ngày ở phòng đăng ký khám bệnh qua một công việc mới. Grant không ra nước ngoài, ít nhất là khác với những đồng nghiệp xung quanh ông. Ông không để cho người đàn bà nào khác gần gũi với ông như Jacqui trước đây. Điều ông cảm nhận thấy rõ nhất ở mình dạo đó là ông rất sung sức. Từ năm 12 tuổi, ông đã rất dễ lên cân, vậy mà thời gian ấy, cơ thể ông hầu như không trở nên nặng nề. Ông có thể leo cầu thang hai bậc một. Trước đó, ông chưa từng cảm nhận được nét rực rỡ của những vầng mây tan và ánh hoàng hôn mùa đông loang loáng khi nhìn từ cửa sổ phòng làm việc, ông chưa bao giờ bị thú hút bởi ánh sáng lòa nhòa của cây đèn cổ hắt qua những tấm rèm phòng khách của nhà láng giềng, ông ít khi chú ý đến tiếng trẻ khóc trong công viên lúc chiều muộn vì không muốn rời ngọn đồi nơi chúng chơi trượt băng. Sang đến mùa hạ, Grant học thuộc tên các loài hoa. Được mẹ vợ hướng dẫn – khi đó, bà gần như đã mất giọng, ông đã mạnh dạn đứng trước lớp diễn xướng và dịch bản tụng ca sử thi trang trọng và bạo liệt – bản Höfuðlausn, tác phẩm tôn vinh vua Eric “Rìu máu” được sáng tác bởi một nghệ nhân hát rong mà trước đó nhà vua đã định kết án tử hình. (Và nghệ nhân ấy sau đó đã giữ được mạng sống của mình, được thả tự do bởi nhà vua tha tội, và bởi chính sức mạnh của thơ ca). Cả lớp đều vỗ tay thích thú – ngay cả những học viên tính vốn nhu mì mà Grant vẫn thường tếu táo với họ, “Này, đợi ngoài hội trường nhé?”. Khi lái xe về nhà ngày hôm đó hay những hôm sau, tự nhiên ông thấy lởn vởn trong đầu mình một câu Kinh Thánh nhại rất vô nghĩa mà cũng có phần báng bổ:

Người càng thêm khôn ngoan, thân hình càng cao lớn, càng được đẹp lòng Ðức Chúa Trời và loài người [9].

Tự nhiên nó làm ông bối rối, khiến ông ớn lạnh như thể có linh cảm gì đó. Mà quả là có chuyện thật. Nhưng trước khi chuyện ấy xảy ra, mọi chuyện dường như không có gì là bất thường cả.

* * *

Ông mang theo quyển sách về Iceland ấy trong lần kế tiếp đến Meadowlake. Đó là một ngày thứ tư. Ông tìm Fiona ở bàn chơi bài nhưng không thấy.

Một người phụ nữ gọi với ra, “Bà ấy không ở đây đâu. Bà ấy bị ốm”. Giọng của bà ấy vừa tỏ ra như thể mình là người quan trọng ở đây lại vừa có cái gì đó vui vui – vui vì mình đã nhận ra ông trong khi ông thì chẳng biết gì về người phụ nữ này. Và có thể bà ấy thấy vui, thấy mình quan trọng cũng bởi nghĩ mình biết quá rõ về Fiona, về cuộc sống của vợ ông ở nơi đây, biết nhiều hơn chính ông nữa.

“Ông ấy cũng không có đây đâu,” bà nói thêm.

Grant đi tìm Kristy.

“Không có gì nghiêm trọng đâu,” cô nói, khi Grant hỏi về tình hình của Fiona. “Chỉ là buổi nay bà ấy muốn nằm nghỉ, hơi khó chịu một chút ấy mà.”

Fiona ngồi dựng người trên giường. Grant chưa từng để ý, ông không mấy khi vào hẳn căn phòng này, rằng đây là giường chuyên dụng của bệnh viện và nó có thể dựng lên cho bệnh nhân ngồi dựa vào. Fiona mặc một trong những chiếc áo cổ lọ màu trắng, khá trẻ so với tuổi của mình, gương mặt của bà nhợt nhạt, trắng bệch ra như bị phủ một lớp bột mì.

Aubrey – ngồi cạnh Fiona – trên chiếc xe lăn được đẩy sát tận mép giường. Thay vì mặc chiếc áo sơ mi không cài khuy cổ như mọi khi, hôm nay ông ta mặc áo khoác, thắt cà vạt. Chiếc mũ bằng vải tuýt lịch lãm của ông ta đặt ở trên giường. Trông ông ta như thể vừa mới ra ngoài để bàn một việc quan trọng.

Đề gặp luật sư của ông ta chăng? Hay giám đốc ngân hàng của mình? Hay có việc phải bàn với người tổ chức tổ chức tang lễ?

Nhưng dù là việc gì đi nữa, thì có lẽ nó chính là nguyên nhân khiến giờ đây ông ta trông rất mệt mỏi. Thần sắc xanh xám, ủ ê.

Cả hai ngẩng lên nhìn Grant chằm chằm với vẻ e sợ và đau khổ nhưng rồi họ như thở phào nhẹ nhõm, nếu không muốn nói là họ tự nhiên như không, khi nhận ra ông là ai.

Không phải là người họ tưởng.

Cả hai nắm chặt tay nhau và nhất quyết không buông rời.

Cái mũ trên giường. Áo khoác và cà vạt.

Aubrey không phải mới ra ngoài rồi trở về. Vấn đề không phải là ông vừa đến chỗ nào hay đã gặp gỡ ai. Mà là ông ta sắp đi đâu.

Grant để cuốn sách trên giường bên cạnh bàn tay còn lại của Fiona.

“Sách về Iceland,” ông giới thiệu. “Anh nghĩ em có thể muốn xem.”

“Gì cơ, ồ, cảm ơn ông,” Fiona đáp. Bà còn không buồn liếc nhìn nó. Ông đặt tay bà lên cuốn sách.

“Iceland,” Grant nhắc lại.

“Ice-land.” Fiona lẩm nhẩm. Âm đầu tiên nghe có phần như háo hức nhưng ngay âm tiết sau, giọng của bà lại trầm xuống, thờ ơ. Dù sao thì bà cũng cần phải quay lại quan tâm đến Aubrey, ông ta đang rút bàn tay dày cộp, to bè của mình ra khỏi tay bà.

“Sao thế?” bà ân cần. “Sao thế, mình ơi?”.

Trước đây Grant chưa từng thấy Fiona sử dụng cách xưng hô thắm thiết như vậy.

“À được rồi,” bà nói. “Của mình đây.” Và bà rút một xấp giấy ăn trongchiếc hộp đặt cạnh giường.

Aubrey bắt đầu khóc. Nước mũi chảy ròng ròng, ông ta lo lắng vì trở thành một cảnh tượng đáng thương hại, nhất là lại trước mặt Grant như thế này.

“Đây. Đây,” Fiona dỗ dành. Bà định lau nước mắt nước mũi cho Aubrey, và giá như chỉ có hai người họ bên nhau, ông đã để yên cho bà làm thế. Nhưng có Grant ở đây, Aubrey không cho phép điều đó. Ông cố nắm lấy xấp giấy rồi chấm nước mắt rất vụng về, may mắn là dẫu sao ông vẫn còn làm được việc đó.

Trong lúc đó, Fiona quay sang Grant.

“Liệu ông có giúp chúng tôi được không?” bà thì thào. “Tôi từng thấy ông nói chuyện với họ …”

Aubrey tạo một tiếng động tỏ ý phản đối, hoặc muốn nói ông rất mệt mỏi, hay ghê tởm. Rồi ông ta như muốn nhoài mình về phía trước để ngã vào vòng tay Fiona. Bà toài nửa người ra ngoài giường để đỡ lấy Aubrey và giữ chặt lấy lão. Thật trớ trêu nếu Grant lại giúp Fiona một tay. Kể ra nếu như Aubrey đổ nhào xuống sàn nhà, chắc Grant sẽ không ngại đỡ ông ta dậy.

“Suỵt,” Fiona an ủi. “Mình à, khẽ chứ. Rồi ta sẽ tìm gặp nhau. Phải thế chứ. Tôi sẽ đến tìm và gặp mình. Mình cũng đến tìm gặp tôi.”

Aubrey lại phát ra cái âm thanh khó chịu đó khi mặt lão dựa vào ngực Fiona, và Grant chẳng còn cử chỉ nào đứng đắn hơn là bỏ ra ngoài.

“Tôi chỉ mong vợ ông ấy nhanh chóng đến đây,” Kristy chia sẻ khi bắt gặp Grant. “Tôi ước bà ta đến mang ông ấy đi, chấm dứt cái cảnh bi lụy này. Chúng tôi chuẩn bị phải cho Fiona ăn tối rồi, làm sao bà ấy nuốt nổi khi lão cứ quấn lấy như thế?”

Grant hỏi, “Tôi nên ở lại không?”

“Để làm gì chứ? Ông cũng biết thừa là bà không ốm đâu gì mà.”

“Cho bà ấy có bạn thôi,” ông đáp.

Kristy lắc đầu.

“Họ phải tự mình vượt qua được những đau đớn này. Thường thì họ chỉ nhớ ngắn hạn thôi. Cũng không quá lâu đâu.”

Kristy không hẳn là lạnh lùng vô cảm. Trong thời gian quen biết cô, Grant biết thêm một vài điều về cuộc sống của cô y tá. Cô có bốn con nhỏ. Cô không biết chồng mình đang ở đâu nhưng cô nghĩ là Alberta. Đứa con trai nhỏ của cô mắc bệnh hen nặng đến mức nó có thể đã chết vào một đêm tháng Giêng nếu như cô không kịp đưa đi cấp cứu. Nó không dùng thuốc phiện, nhưng còn thằng anh nó thì Kristy cũng không chắc.

Đối với cô, Grant, Fiona và cả Aubrey nữa quá may mắn. Họ sống cuộc đời đến tuổi này rồi và chẳng có quá nhiều khó khăn. Những gì họ đang trải qua là vì họ đã già, mà điều đó thì tính làm gì.

Grant ra về mà không trở lại phòng Fiona nữa. Ông nhận thấy ngoài này gió rất ấm và bầy quạ đang kêu xáo xác náo động. Trong bãi xe, một phụ nữ mặc bộ đồ len kẻ ô vuông đang nhấc một chiếc xe lăn xếp ra khỏi cốp xe của mình.

***

Con phố mà Grant lái xe xuống được gọi là đường Chim Ưng Đen. Tất cả những con phố quanh đây đều được đặt làm tên cho các đội khúc côn cầu tranh giải Hockey nhà nghề cấp quốc gia trước đây. Đây là khu vực xa trung tâm nhất của thị trấn nằm gần Meadowlake này. Ngày trước, vợ chồng ông cũng hay mua sắm trong thị trấn, nhưng chưa hẳn quen thuộc với bất kỳ khu nào, ngoại trừ con phố chính.

Nhà cửa ở đây trông có vẻ như được xây dựng cùng thời kì, có lẽ 30-40 năm trước. Phố rộng rãi và quanh co, không có vỉa hè – gợi nhớ cái thời mà người ta dường như nghĩ trong tương lai sẽ chẳng có ai còn đi bộ nhiều nữa. Những người bạn của vợ chồng Grant đã chuyển đến sống ở nơi giống thế này khi họ bắt đầu có con. Ban đầu họ còn nuối tiếc về việc phải chuyển đi. Họ gọi việc chuyển nhà của mình là “đi về quê ăn thịt nướng”.

Những gia đình trẻ tiếp tục sống ở đây. Những nhà vành bóng rổ đóng trên cửa garage, và những chiếc xe đạp ba bánh dựng trên lối lái xe vào nhà. Nhưng có một vài ngôi nhà đang xuống cấp nhiều so với tình trạng ban đầu của chúng. Sân vườn hằn vết bánh xe, cửa sổ được phủ bằng giấy thiếc hoặc những lá cờ bạc màu.

Rồi những ngôi nhà được cho thuê. Người thuê là những gã trai trẻ độc thân, hay trở lại đời sống độc thân.

Một số đồ đạc dường như được những người chuyển đến từ lúc nhà mới xây giữ gìn hết sức có thể – đó là những người không có tiền hoặc không có nhu cầu chuyển tới nơi nào có điều kiện khá hơn. Những bụi cây đã mọc cao, lớp nhựa vynil trên ván gỗ ngoài giàn khung màu pastel đã gần như bị bợt hết do sơn lại quá nhiều. Những hàng rào hay bờ dậu được găm chặt là dấu hiệu cho biết những đứa trẻ ở đây đều đã trưởng thành và đi xa, các ông bố bà mẹ không còn thấy cần thiết phải giữ khoảng sân này làm chỗ chạy nhảy của bọn trẻ con nghịch ngợm của những nhà mới chuyển đến.

Ngôi nhà mà theo như danh bạ điện thoại là nhà vợ chồng Aubrey có đặc diểm y như thế. Sân trước nhà được lát bằng loại đá lát đường, viền xung quanh là khóm lan dạ hương đứng cứng queo, trông ngỡ như những bông hoa bằng sứ, màu hồng xen lẫn màu xanh dương.

***

Fiona vẫn không hết buồn bã. Bà liên tục bỏ bữa, dù bà vờ như vẫn ăn, bằng cách giấu thức ăn trong khăn ăn. Hai lần một ngày, bà được cho uống thêm ngoài bữa chính và có người ngồi bên theo dõi. Hàng ngày bà vẫn dậy, ra khỏi giừờng, tự mặc được quần áo, nhưng rồi chẳng muốn làm gì khác ngoài việc ngồi u uất trong phòng của mình. Bà sẽ không tập tành chút nào nếu như Kristy hay Grant trong giờ thăm của mình không dẫn bà dạo quanh hành lang hoặc đưa bà ra ngoài trời.

Trong ánh nắng mùa xuân, bà ngồi trên một băng ghế sát tường, khóc thút thít. Vẫn lịch thiệp như ngày nào – bà xin lỗi vì mình khóc, bà không bao giờ tranh cãi về bất kì đề nghị nào hay từ chối trả lời câu hỏi của ai đó. Nhưng bà vẫn cứ khóc. Khóc nhiều làm mắt bà không còn đường viền và mờ đi. Cái áo khoác len của Fiona – nếu đó thực sự là của bà – cài khuy lệch hàng. Bà chưa đến mức bỏ mặc mái tóc không chải hay để móng tay không sạch sẽ, nhưng có vẻ những điều đó rồi sẽ xảy ra.

Kristy nói rằng các cơ của Fiona đang yếu đi, và nếu bà không sớm cải thiện tình trạng này, họ sẽ buộc phải cho Fiona dùng dụng cụ tập đi.

“Nhưng ông biết đấy, một khi có dụng cụ đó, họ sẽ bắt đầu bị phụ thuộc, và rồi họ sẽ không bao giờ muốn đi lại nhiều nữa, chỉ đi đến nơi họ phải đến mà thôi”

“Ông phải sẽ phải vất vả hơn vì vợ mình đấy”, cô nói với Grant. “Hãy cố gắng động viên bà ấy.”

Nhưng Grant không có cơ hội nào để giúp đỡ Fiona. Bà có vẻ vẫn khó chịu với ông, cho dù bà cố che giấu điều đó. Có lẽ vì mỗi khi gặp Grant, bà như bị nhắc lại cái lần cuối bà ở bên Aubrey, khi mà bà đã đề nghị ông giúp đỡ và ông đã không giúp.

Grant thấy bây giờ việc đề cập đến chuyện hôn nhân của hai người chẳng còn ích gì nữa.

Fiona nhất định không xuống phòng ăn lớn, nơi hầu hết những người cũ vẫn đang chơi bài. Và bà cũng chẳng muốn vào phòng xem TV hay đến khu vườn nhà kính.

Bà bảo bà không thích màn hình rộng, nó làm bà đau mắt. Còn tiếng chim ở khu nhà kính rất khó chịu. Và bà cũng chỉ mong người ta sẽ tắt cái đài phun nước đi một thời gian.

Grant để ý thì thấy Fiona chưa một lần ngó đến cuốn sách về Iceland, hay bất kỳ cuốn nào khác trong số sách – ít một cách đáng ngạc nhiên – mà bà mang từ nhà đến. Bà hay ngồi nghỉ trong một pḥng đọc sách, Fiona chọn nó có lẽ cũng vì ít khi có ai ở đó, và nếu Grant lấy một cuốn sách ra khỏi kệ thì bà sẽ nghe ông đọc. Ông ngờ rằng bà ấy cho phép điều đó bởi nó làm cho sự có mặt của ông dễ chịu hơn – bà có thể nhắm mắt lại và lại chìm lắng trong nỗi đau riêng mình. Bởi nếu bà buông xuôi nỗi đau đó dù chỉ một phút thì rồi nó sẽ làm bà nhói buốt hơn khi trở lại. Và đôi khi Grant nghĩ, Fiona nhắm mắt lại để che giấu đi ánh nhìn tuyệt vọng hiển hiện vì sẽ không hay nếu để ông thấy được.

Vì vậy, ông chỉ biết ngồi đọc cho bà nghe một cuốn tiểu thuyết cũ về tình yêu trong sáng, về những chuyện may rủi đời người, loại sách có lẽ được được loại ra từ một thư viện làng ngày xưa hay thư viện của trường Chủ nhật. Rõ ràng sách vở ở phòng đọc sách này hầu như không được cập nhật như phần lớn những thứ khác ở viện.

Bìa các cuốn sách đều bọc da mềm như nhung, có họa tiết trang trí là hình ảnh những chiếc lá và hoa ép lên, khiến nhìn chúng giống như hộp đồ trang sức hay hộp sô cô la. Sách được bọc đẹp như thế để những độc giả nữ – Grant mặc định người mượn loại sách này ở thư viện là phụ nữ – có thể mang về như một món đồ quý.

***

Bác sĩ phụ trách gặp ông trong văn phòng. Cô trình bày việc Fiona không ăn uống được như họ mong muốn.

“Bà ấy đang sút cân, dù chúng tôi đã tăng cường bữa ăn bổ sung. Chúng tôi đang cố hết sức có thể”.

Grant nói ông biết bác sĩ và các nhân viên trong viện đã rất vất vả.

“Vấn đề ở đây là, tôi chắc là ông cũng biết, chúng tôi không thể để bệnh nhân nằm liệt giường ở tầng một. Chúng tôi tạm thời chấp nhận nếu như bệnh nhân thấy không khỏe, nhưng nếu họ đã quá yếu, không thể vận động, đi lại và tự xoay sở những nhu cầu tối thiểu, chúng tôi buộc phải tính đến việc chuyển họ lên tầng trên.”

Grant nói ông không nghĩ Fiona thường xuyên nằm lì trên giường đến mức đó.

“Không. Nhưng nếu bà ấy không giữ sức, bà ấy sẽ rơi vào tình trạng đó. Hiện giờ bà ấy đang ở ngấp nghé giai đoạn này rồi.”

Grant nói ông tưởng rằng tầng hai chỉ dành cho những ca có vấn đề về tâm thần.

“Cả những ca đó nữa” cô đáp.

***

Grant không nhớ gì đặc biệt về vợ Aubrey ngoại trừ bộ đồ len kẻ ô vuông mà ông thấy bà ta khoác ở bãi đỗ xe. Đuôi áo khoác xòe ra khi bà cúi xuống cốp xe. Ông hình dung đó là một phụ nữ với bờ eo thon cùng bộ hông nở nang.

Hôm nay, bà ta không mặc bộ hôm trước nữa. Quần nâu có thắt lưng và áo len hồng. Ông đoán đúng về phần eo thon – chiếc đai quần thít chặt đã khoe rõ. Nhưng sẽ đẹp hơn nếu không thắt đai vì nó lộ ra sự mất cân đối của phần trên và phần dưới eo.

Bà ta kém chồng khoảng 10-12 tuổi. Tóc ngắn, xoăn, nhuộm đỏ. Bà có đôi mắt xanh dương – không thẫm lại như màu mắt của Fiona – giống màu của trứng chim cổ đỏ, hay màu ngọc lam, xếch và hơi húp. Và vô cùng nhiều nếp nhăn. Chúng càng dễ được nhận ra bởi lớp phấn trang điểm màu gỗ óc chó mà bà ta dùng. Hoặc cũng có thể da bà ta rám nắng giống như dân Florida.

Grant nói ông không biết phải giới thiệu mình thế nào.

“Tôi từng gặp chồng bà ở Meadowlake. Tôi là khách thường xuyên đến thăm viện.”

“Vậy hả,” vợ Aubrey hất cằm đáp, dường như tỏ một thái độ không thân thiện

“Chồng của bà…ông ấy dạo này…khá chứ?”

Grant hơi ngập ngừng. Bình thường thì Grant chỉ hỏi một cách ngắn gọn “Chồng của bà khỏe không?”.

“Cũng ổn,” bà đáp.

“Vợ tôi và Aubrey khá thât thiết với nhau”

“Tôi có nghe nói.”

“Tôi có chuyện muốn nói với bà, nếu bà có thời gian.”

“Chồng tôi không hề có ý định gì với vợ ông cả, nếu ông muốn nói chuyện đó”, bà trả lời. “Aubrey không gạ gẫm vợ ông. Ông ấy không có khả năng đó và ông ấy cũng không bao giờ làm thế. Theo những gì tôi được nghe thì ngược lại, chuyện bắt đầu từ phía vợ ông mới đúng.”

Grant nói, “Không. Hoàn toàn không phải chuyện đó. Tôi không đến để than phiền về bất cứ điều gì cả.”

“Ồ, vậy ông thứ lỗi. Tôi cứ tưởng…”

Lời xin lỗi của bà ta chỉ cụt ngủn vậy đó. Và thậm chí nghe chẳng có vẻ gì là áy náy. Câu xin lỗi chỉ biểu lộ sự hẫng hụt và lúng túng.

“Thế ông vào nhà đã. Gió lạnh cứ lùa qua cửa ra vào thế này chán thế không biết. Nhìn trời hôm nay như vậy mà hóa ra lại không ấm.”

Được vào trong nhà này với Grant đã là một thắng lợi. Ông không hề nghĩ chuyện lại khó khăn đến thế. Ông vốn hình dung một kiểu người vợ khác. Một bà nội trợ bận rộn, vui vẻ vì có người đến thăm bất ngờ và thích được nghe người khác nịnh bằng một giọng thầm thì.

Bà vừa dẫn ông đi qua phòng khách, vừa nói, “Ta phải ngồi trong bếp thì tôi mới trông chừng Aubrey được”. Grant nhìn thấy cửa sổ trước được phủ hai lớp rèm, cả hai đều màu xanh dương, một tấm làm bằng vải mỏng tang và một tấm bằng lụa. Phòng khách một bộ sofa cùng màu xanh dương và một tấm thảm bạt màu cũ kỹ cùng nhiều gương và đồ trang trí sáng màu.

Fiona có một từ riêng để gọi loại rèm cửa rủ xuống đến tận sàn nhà như thế này – bà dùng từ đó với sắc thái bông đùa – đó không phải là từ bà nghĩ ra mà là học được từ những phụ nữ khác, dù trong cách nói của họ, đó là từ hoàn toàn nghiêm túc,. Căn phòng nào vào tay Fiona sửa sang đều nhiều không gian trống và sáng sủa. Hẳn bà sẽ ngạc nhiên lắm khi thấy cả đống đồ đạc bị dồn vào trong một không gian chật hẹp như thế này. Nhưng Grant không tài nào nhớ nổi đó là từ gì.

Từ một phòng cách căn bếp – kiểu phòng đón mặt trời, tuy mành rèm đã che hết ánh nắng chiều – Grant vẫn có thể nghe thấy tiếng TV.

Aubrey. Người mà Fiona mong mỏi chỉ ngồi cách đây vài bước chân, đang theo dõi gì đó nghe như âm thanh của một trận bóng. Vợ ông ta ghé vào kiểm tra. Bà hỏi, “Ông ổn chứ?” rồi khép hờ cánh cửa.

“Ông dùng một tách cà phê chứ?,” bà hỏi Grant. “Con trai tôi được nhận vào một kênh thể thao Giáng Sinh năm ngoái. Không thì chẳng biết chúng tôi sống sao.”

Trên bề mặt chỗ nấu ăn bày biện đủ các loại dụng cụ làm bếp, nhiều loại như là đồ tự chế – máy pha cà phê, máy chế biến thực phẩm, máy mài dao, và mấy thứ Grant không biết tên cũng như công dụng của chúng. Thứ nào thứ nấy đều mới và đắt tiền, cứ như là chúng mới được lấy ra từ bao bì đóng gói, hoặc ngày nào chúng cũng được chùi rửa đánh bóng.

Grant nghĩ ngắm nhìn các thứ máy móc ấy cũng hay hay. Ông khen cái máy pha cà phê mà bà ta đang dùng và nói vợ chồng ông luôn ao ước mua được một cái như thế. Nhưng điều đó hoàn toàn không đúng – Fiona vốn luôn yêu mến cái máy kì cục kiểu châu Âu trong nhà mình: nó chỉ pha được hai tách cà phê mỗi lần.

“Vợ chồng con trai tôi mua cho chúng tôi,” bà kể. “Chúng sống ở Kamloops. B.C. Chúng gửi về nhiều đồ đến mức tôi dùng không xuể. Nhưng có lẽ không đến nỗi đau lòng nếu như chúng dùng số tiền đó để về thăm bố mẹ…”

Grant bình thản, “Tôi nghĩ cô cậu ấy chắc bận bịu cuộc sống riêng của mình”

“Chúng vẫn thu xếp được để đi Hawaii mùa đông vừa rồi đấy thôi. Có thể thông cảm được nếu như chúng tôi còn có những người khác trong gia đình ở gần đây. Nhưng chúng tôi chỉ có mình đứa con trai ấy”

Cà phê pha xong, bà rót vào hai cốc sứ màu nâu-xanh lá mà bà lấy từ chiếc giá treo cốc bằng sứ có hình một thân cây tỏa nhánh được đặt trên bàn.

“Con người ai rồi cũng sẽ cô đơn”, Grant nói. Ông nghĩ đã có thể bắt vào câu chuyện của mình rồi. “Nếu họ không còn được gặp gỡ người mà họ quan tâm, họ sẽ rất buồn. Fiona chẳng hạn. Vợ tôi ấy.”

“Tôi tưởng ông bảo ông đi thăm bà ấy thường xuyên.”

“Vâng”, ông nói. “Nhưng vấn đề không phải ở chỗ đó.”

Rồi ông đánh liều, đi thẳng vào điều ông muốn đề nghị. Liệu bà ta có thể cân nhắc việc đưa Aubrey trở lại Meadowlake thăm Fiona, dù chỉ một lần mỗi tuần? Lái xe chỉ vài dặm là tới. Hoặc nếu bà ngại – trước đó Grant chưa hề nghĩ đến điều này và tự ông cũng thấy chẳng ra làm sao khi nghe chính mình nói ra – thì bản thân ông có thể đến đưa Aubrey đi, ông không nề hà gì hết. Ông đảm bảo mình có thể xoay xở được. Trong thời gian đó, bà có thể nghỉ ngơi.

Trong khi ông nói, đôi môi của bà mím chặt và cả cái lưỡi bên trong động đậy như đang cố gắng xác định một món gì không rõ vị. Bà mang sữa cho cà phê của Grant và một đĩa bánh quy gừng.

“Nhà làm đấy,” vừa nói bà vừa đặt đĩa xuống. Giọng điệu dường như đang thách thức chứ chẳng mấy thiện chí. Bà không nói gì thêm cho đến khi đã ngồi xuống, rót sữa vào và khuấy cốc cà phê của mình.

Rồi bà từ chối.

“Không. Tôi không thể. Và lý do là, tôi không muốn làm ông ấy bị xáo trộn”

“Vậy ư?” Grant hỏi rất chân thành.

“Vâng, đúng thế. Chẳng nên chút nào. Đưa ông ấy về nhà rồi lại trở lại đó. Đưa về nhà rồi lại trở lại đó, sẽ chỉ làm ông ấy lẫn lộn thêm”

“Nhưng chẳng nhẽ ông ấy sẽ không hiểu được rằng đó chỉ là một chuyến thăm sao? Ông ấy không quen dần được hay sao?”

“Cái gì ông ấy chả hiểu”. Bà ta đáp lại như thể Grant đã xúc phạm đến Aubrey. “Nhưng việc đó vẫn rất phiền hà. Rồi tôi lại phải chuẩn bị áo quần cho ông ấy, giúp ông ấy ngồi vào xe, ông ấy là một người to lớn, có dễ dàng xoay xở như ông nghĩ đâu. Tôi phải cho ông ấy ngồi vào xe và xếp cái xe lăn lên xe, tất cả những thứ đó, và rồi để làm gì? Nếu phải làm những việc lích kích ấy, tôi thà đưa ông ấy tới nơi nào đó hay ho hơn”.

“Ngay cả khi tôi sẵn lòng làm thay bà?” Grant hỏi, với một giọng điệu đặt nhiều hy vọng và cố thuyết phục. “Thật mà, bà không phải nhọc công đâu.”

“Không được,” bà thẳng thừng. “Ông không hiểu gì về chồng tôi. Ông không tự mình xoay xở nổi đâu. Ông ấy chắc chắn sẽ không chịu để ông làm gì cho mình. Tất cả những phiền nhiễu đó và rồi chồng tôi được cái gì? ”

Grant thấy mình không nên nhắc đến Fiona thêm nữa.

“Đưa ông ấy đến siêu thị còn có lí hơn,” bà nói. “Ông ấy có thể thấy lũ trẻ con và nhiều thứ khác. Nếu điều đó không làm ông ấy chua xót nhớ đến mấy đứa cháu nội mà ông ấy chẳng bao giờ được gặp. Hay là đưa ông ta ra hồ, thuyền trên hồ sắp bắt đầu hoạt động lại, ông ấy có thể nhớ lại chút gì khi nhìn thuyền chạy.”

Bà đứng dậy lấy thuốc lá và bật lửa trên bục cửa sổ phía trên bồn rửa.

“Ông hút thuốc không?”.

Ông từ chối và cảm ơn, dù ông cũng không biết có phải bà đang mời ông một điếu hay không.

“Ông không hút? Hay đã bỏ rồi?”

“Tôi bỏ rồi,” ông đáp.

“Lâu chưa vậy?”

Grant ngẫm nghĩ.

“Ba mươi năm. Từ đó thôi hẳn.”

Grant đã quyết định bỏ thuốc vào khoảng thời gian ông bắt đầu cặp với Jacqui. Nhưng ông không tài nào nhớ lại xem liệu ông cai thuốc trước, và nghĩ nếu cai được thì sẽ có một phần thưởng lớn, hay nghĩ rằng đã đến lúc phải cai thuốc, vì ông từ lâu đã quên việc này.

“Tôi đã bỏ việc bỏ thuốc, ” bà vừa nói vừa quẹt lửa. “Chỉ cần quyết tâm bỏ cái ý định muốn bỏ, thế thôi.”

Có lẽ đó là nguyên nhân của các nếp nhăn. Một phụ nữ nào đó đã nói với Grant rằng những phụ nữ hút thuốc sẽ có nếp nhăn trên mặt rất đặc biệt. Nhưng cũng có thể do ánh nắng mặt trời, hay đơn giản là do da bà vốn vậy – cổ bà ta cũng rất nhàu nhĩ. Cổ nhăn, bầu ngực thì vẫn căng tràn thanh xuân. Phụ nữ độ tuổi này thường có những đặc điểm mâu thuẫn như thế về ngoại hình. Những điểm xấu và tốt, những ưu điểm hay thiệt thòi do di truyền… tất cả đều xen lẫn với nhau. Rất ít người bảo lưu toàn vẹn vẻ đẹp của mình như Fiona, cho dù không còn rực rỡ như trước.

Và có khi điều đó cũng không đúng. Phải chăng Grant nghĩ thế chỉ vì ông biết Fiona từ khi bà còn trẻ. Có lẽ để có ấn tượng như thế về một người phụ nữ, người ta phải biết nàng từ khi nàng còn xuân sắc.

Vậy khi Aubrey nhìn vợ mình, ông ta có nhìn thấy một nữ sinh trung học khinh khỉnh, cục cằn, với cặp mí trên đôi mắt xanh màu trứng chim cổ đỏ, bờ môi khêu gợi phì phèo điếu thuốc lá vốn bị cấm?

“Vậy, vợ ông suy sụp lắm hả?” Vợ Aubrey hỏi. “Tên vợ ông là gì nhỉ? Tôi quên mất rồi”

“Là Fiona.”

“Fiona. Còn ông? Tôi không nhớ ông đã xưng danh.”

Grant đáp, “Tôi là Grant.”

Bà ta bất ngờ chìa tay ra.

“Xin chào, Grant. Tôi là Marian.”

“Giờ ta đã biết tên nhau,” bà nói, “không nói thẳng với ông suy nghĩ của mình cũng chẳng ích gì. Tôi không biết liệu ông ấy vẫn còn tha thiết muốn gặp vợ… gặp Fiona hay không. Tôi không hỏi và ông ấy cũng chẳng nói gì. Có thể chỉ là một tình cảm thoáng qua. Nhưng tôi cũng không muốn đưa ông ấy quay lại Meadowlake, nhỡ đâu lại có chuyện gì lớn hơn thế. Tôi không đủ sức để mạo hiểm. Tôi không muốn ông ấy ngày càng là gánh nặng. Tôi không muốn ông ấy buồn và tiếp tục như thế. Tôi đã vất vả vì ông ấy lắm rồi. Tôi chẳng có ai đỡ đần. Chỉ có mình tôi ở đây thôi. Một mình tôi.”

“Bà đã bao giờ cân nhắc… chắc chắn việc này rất khó cho bà”. Grant ngập ngừng một lát, “Nhưng bà đã bao giờ cân nhắc việc gửi ông nhà ở đó hẳn chưa?”

Grant đã cố hạ thấp giọng đến độ gần như nói thầm nhưng Marian dường như không thấy cần thiết phải hạ giọng mình xuống.

“Không,” bà đáp. “Tôi sẽ chăm ông ấy ở nhà.”

Grant nói, “Bà thật tử tế và đáng trọng.”

Ông hy vọng từ “đáng trọng” nghe không có vẻ mỉa mai. Ông thật lòng không có ý ấy.

“Ông nghĩ vậy à?,” Marion hỏi. “Đáng trọng không phải là điều tôi nghĩ đến.”

“Đúng thế mà. Việc bà đang làm đâu phải dễ dàng.”

“Vâng, không dễ. Nhưng với hoàn cảnh của tôi, tôi không có nhiều lựa chọn. Tôi không có tiền để cho Aubrey ở đó, trừ phi tôi bán nhà. Ngôi nhà này là tất cả những gì chúng tôi toàn quyền sở hữu. Tôi chẳng còn bất cứ thứ gì có giá trị. Năm tới, tôi sẽ được nhận lương hưu, tôi có tiền lương hưu của chồng và của mình, nhưng ngay cả như vậy thì tôi vẫn không đủ khả năng vừa chi trả cho ông ấy ở viện vừa giữ căn nhà. Và ngôi nhà có nghĩa rất lớn đối với tôi.”

“Ngôi nhà rất đẹp,” Grant nói.

“Vâng, đúng thế. Tôi đã đầu tư rất nhiều cho nó. Sửa chữa và duy trì.”

“Vâng. Tôi thấy rõ như thế.”

“Tôi không muốn đánh mất nó”.

“Vâng”

“Tôi sẽ không để mất nó”

“Tôi hiểu ý bà”.

“Công ty bỏ rơi chúng tôi” bà kể. “Tôi không biết lời lãi thế nào nhưng về cơ bản là Aubrey bị dính vào một vụ lùm xùm. Công ty quy kết Aubrey nợ tiền của họ và khi tôi cố gắng tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra thì ông ấy cứ bảo đấy không phải là việc của tôi. Tôi đoán là ông ấy đã làm một chuyện gì đó khá ngu ngốc. Nhưng tôi không được thắc mắc, nên tôi im lặng. Ông từng kết hôn. Đã kết hôn. Ông biết thế nào rồi đấy. Và giữa lúc tôi đang tìm hiểu sự tình thì chúng tôi có một chuyến đi không thể bỏ được với những người trong công ty. Và trong chuyến đó, ông ấy nhiễm một thứ virus chưa từng nghe nói đến và bị hôn mê. Trong cái rủi có cái may, ít ra ông ấy khỏi phải lo trả nợ.”

Grant nói, “Là chẳng may thôi mà”.

“Tôi không có ý nói rằng ông ấy cố tình mắc bệnh. Là tự nhiên thế thôi. Ông ấy không giận tôi nữa và tôi cũng không giận ông ấy. Ðời là thế.”

“Đúng thế”

“Làm sao thắng nổi cuộc đời?”.

Bà đánh lưỡi điệu nghệ như một cô mèo liếm những mẩu vụn bánh dính ở môi trên. “Tôi nói như triết gia ấy nhỉ? Họ kể với tôi rằng ông từng là giáo sư giảng dạy đại học”.

“Cũng khá lâu rồi,” Grant nói.

“Tôi không phải dân trí thức”, Marian nói.

“Chính tôi cũng không chắc mình có phải là trí thức không.”

“Nhưng tôi biết khi nào cần phải đưa ra quyết định. Và tôi đã quyết rồi. Tôi sẽ không để mất ngôi nhà này. Nghĩa là tôi sẽ giữ Aubrey ở đây, và tôi không muốn ông ấy bỗng dưng lại có ý nghĩ muốn chuyển đi đâu khác. Chuyện cho ông ấy vào viện để tôi được rảnh tay có thể là một sai lầm, nhưng tôi lấy đâu ra cơ hội nào khác, nên tôi quyết thế thôi. Thế. Giờ thì tôi hiểu chuyện hơn rồi.”

Bà ta lấy một điếu khác ra.

“Dám cá là tôi biết ông đang nghĩ gì,” bà nói. “Ông nghĩ tôi là loại người vụ lợi”

“Tôi không phán xét kiểu đó. Đó là cuộc sống của bà”

“Đúng quá rồi.”

Grant nghĩ cuộc trò chuyện nên kết thúc bằng điều gì đó trung tính hơn. Vì vậy, ông hỏi liệu có phải chồng bà đã từng làm cho một cửa hàng kim khí vào một mùa hè nào hay không, khi ông ta còn đang đi học.

“Tôi chưa từng nghe kể,” bà đáp. “Hồi nhỏ tôi không sống ở vùng này.”

***

Trên đường lái xe về nhà, Grant nhận ra cái đầm rỗng đã được lấp đầy tuyết từ bao giờ và bóng của những thân cây lúc này như sáng lên nhờ những bông hoa huệ tây hôi mọc quanh. Những chiếc lá tươi, trông như có thể ăn được của nó to ngang bằng những chiếc đĩa phẳng. Hoa mọc thẳng lên như những ngọn nến, xum xuê, với sắc vàng thuần khiết, chúng như hắt lên từ mặt đất một thứ ánh sáng trong một ngày nhiều mây như thế này. Fiona từng nói với ông rằng thứ hoa này còn tự sản sinh ra một lượng nhiệt của riêng nó. Lục tìm thông tin ở một bên túi, bà nói rằng người ta có thể đặt bàn tay mình vào bên trong cánh hoa cong cong và cảm nhận được hơi nóng. Bà kể rằng bà đã thử rồi, nhưng không chắc chắn là bà đang cảm giác hơi nóng thực sự của cây hoa hay là từ trí tưởng tượng của bà. Hơi nóng ấy thu hút những con côn trùng.

“Thiên nhiên không đánh lừa mọi thứ xung quanh, nó đâu phải chỉ để làm cảnh.”

Grant đã hoàn toàn thất bại với Marian, vợ Aubrey. Ông đã lường trước mình có thể thất bại, nhưng ông không hề lường trước được lí do bà ta từ chối. Ông đã lầm tưởng rằng ông sẽ phải đối mặt với sự ghen tuông tự nhiên của phụ nữ – hoặc nỗi oán giận, phần còn lại dai dẳng của sự ghen tuông ấy.

Ông đã không đoán được cái cách người đàn bà đó nhìn nhận sự việc. Nhưng đáng buồn thay, thực ra thì cuộc trò chuyện này chẳng xa lạ gì với ông …. Nó gợi nhắc Grant về những cuộc trò chuyện giữa ông với người thân của mình. Chú bác, họ hàng, có lẽ ngay cả mẹ ông, cũng nghĩ như Marian. Họ tin rằng những kẻ không nghĩ giống họ là những kẻ đang tự dối mình – những kẻ quá mơ mộng, hay ngốc nghếch, do có cuộc sống và nền tảng giáo dục thuận lợi và được bảo bọc. Những kẻ sống thiếu thực tế. Những kẻ có học, lắm chữ, giàu có – như gia đình bên vợ của Grant, những người theo chủ nghĩa xã hội – là những kẻ sông thiếu thực tế. Do một phúc phận không đáng được hưởng nào đó hay bẩm sinh đã ngu si. Grant ngờ rằng họ nghĩ ông thuộc cả hai trường hợp này.

Đó chắc chắn cũng là cách Marian nhìn nhận ông. Một kẻ ngớ ngẩn, toàn những kiến thức nhàm chán và nhờ ăn may mà không phải giáp mặt với hiện thực cuộc sống. Một kẻ chưa bao giờ phải đau đầu nghĩ cách giữ ngôi nhà của mình và có thể đi loanh quanh ngâm ngợi những ý nghĩ phức tạp. Tự do mơ mộng về những hoạch định tốt đẹp hào hiệp với lòng tin sẽ làm người khác hạnh phúc.

Thật là một gã ngốc, hẳn bà ta đang nghĩ vậy.

Đương đầu với một người như thế làm Grant cảm thấy vô vọng, bức bối, cuối cùng gần như buông xuôi. Tại sao? Bởi ông không chắc chắn rằng ông có thể tiếp tục nỗ lực đương đầu với những người như Marian ư? Hay bởi ông sợ rằng cuối cùng thì cách nghĩ của họ mới là chân lí? Fiona sẽ không cảm thấy bất kỳ mối nghi ngờ nào. Bà ấy luôn ngây thơ, chưa ai chèn ép, kiềm tỏa bà khi bà còn trẻ. Bà thấy cách giáo dục của nhà Grant có gì đó thật khôi hài, và có thể bà nghĩ những quan điểm thực tế khắc nghiệt ấy có phần kỳ lạ nữa..

Tương tự, họ cũng có quan điểm riêng của mình, những người ấy. (Grant nghe thấy chính mình đang phản biện ai đó. Fiona ư?) Sống thực tế cũng có cái hay. Nếu bị rơi vào khủng hoảng, một người thực tế như Marian có lẽ sẽ vẫn ổn. Bà ta sẽ sống sót được, dám trộm thức ăn và tái sử dụng đôi giày của một xác chết nào đó trên đường phố.

Cố gắng hiểu về Fiona luôn là vấn đề rất dễ nản lòng. Giống như theo đuổi một ảo ảnh nào đó. Không – là sống trong ảo ảnh thì chính xác hơn. Nhưng tiếp cận Marian lại nảy sinh một loại vấn đề khác. Giống như khi ta cắn vào một quả vải sấy khô vậy. Cùi vải mỏng mảnh. bao lấy cái hạt to đùng, cứng như đá nhưng lại có sự hấp dẫn nhân tạo, với mùi vị, hương thơm hóa học.

***

Grant rất có thể đã kết hôn với một người như Marian. Nghĩ thử xem. Ông có thể đã an bài với ai đó giống như thế. Nếu như ông cứ ở mãi nơi vùng quê ấy. Bà vợ ấy có thể cũng đủ ngon lành, với bộ ngực hấp dẫn. Một cô vợ thích được tán tỉnh. Cách mà bà ta nhúc nhích mông trên ghế, mim mím môi, tạo ra một sự khiêu khích có tính toán – có lẽ đó là tất cả những thủ thuật còn giữ lại được của một cô ả xuất thân từ tỉnh lẻ, thô kệch một cách hồn nhiên.

Marian hẳn cũng có một vài kỳ vọng khi chọn Aubrey làm chồng. Ngoại hình được, công việc của một nhân viên bán hàng cũng ổn, cũng có cơ hội thăng tiến . Bà hẳn đã tin tưởng rằng hậu vận sẽ phải khá hơn, không thể như hiện giờ. Và điều này cũng thường xảy ra với những người thực dụng kiểu đó. Bất chấp những tính toán, bất chấp bản năng sinh tồn của họ, họ đã không đạt được những gì mình mong đợi​​. Rõ ràng điều này có vẻ bất công.

Trong bếp, đồ vật đầu tiên mà Grant nhìn thấy là ánh sáng nhấp nháy trên máy trả lời tự động của ông. Như mọi khi, ông nghĩ ngay đến Fiona.

Ông nhấn nút, chưa kịp cởi áo khoác.

“Chào ông, Grant. Tôi hy vọng tôi gọi đúng số. Tôi mới nhớ ra chuyện này. Có một vũ hội trong thị trấn, ở Legion, dành riêng cho người độc thân vào tối thứ bảy này, và tôi ở trong ban chuẩn bị tiệc tối, nghĩa là tôi có thể mời thêm một khách nữa. Nên, tôi tự hỏi liệu ông có hứng tham dự không? Gọi cho tôi nếu ông đi được nhé.”

Giọng phụ nữ đọc một số điện thoại địa phương. Sau đó là một tiếng bíp và giọng nói vừa rồi lại tiếp tục.

“Giờ tôi mới nhận ra mình đã quên nói tên. Vâng, có thể ông đã nhận ra giọng tôi. Là Marian đây. Tôi vẫn chưa quen sử dụng mấy thứ máy móc này. Và tôi muốn nói rằng tôi biết ông không độc thân và tôi không có ý đó. Tôi cũng không phải độc thân, nhưng thỉnh thoảng đi chơi đây đó cũng chẳng mất gì. Dù sao thì, tôi cũng đã nói hết rồi, tôi thực sự mong tôi gọi đúng số của ông. Nghe đúng là giọng ông mà. Nếu ông có hứng thú thì cứ gọi cho tôi và nếu không thì cũng không phải bận tâm đâu. Tôi chỉ nghĩ ông có thể muốn có dịp đi đâu đó. Tôi là Marian. À mà tôi đã nói rồi nhỉ. O.K. Chào ông”.

Giọng Marian trên máy khác hẳn chất giọng mà Grant vừa nghe cách đây không lâu tại nhà bà ta. Ở lời nhắn đầu tiên thì có hơi khác một chút thôi, nhưng đến lời nhắn sau đó thì khác rất nhiều. Có một chút run run hồi hộp, cố giữ vẻ lãnh đạm, vội vã để được kết nối và rồi miễn cưỡng dập máy.

Điều gì đó đã xảy ra đối với Marian. Nhưng nó xảy ra từ lúc nào? Nếu là mới đây, thì bà ta đã che giấu thật khéo léo suốt khoảng thời gian ông ở đó. Nhiều khả năng là sau khi Grant ra về, những thay đổi ấy dần xuất hiện. Không hẳn là vì sức hút của ông. Chỉ là một nhận thức rằng ông là một khả năng bà ta có thể nghĩ đến, người đàn ông chỉ có một mình. Độc thân, không ít thì nhiều. Một khả năng mà bà nghĩ mình có thể chạm vào.

Nhưng chắc bà ta đã bồn chồn lắm khi chủ động trước. Bà thực sự đã đặt bản thân vào thế mạo hiểm. Đặt bao nhiêu phần trăm thì Grant chưa biết. Trong những thứ tình cảm như thế này, thì khả năng bị tổn thương của phụ nữ sẽ cao hơn khi câu chuyện tiến triển. Tất cả những gì ta có thể nói được ngay từ đầu là nếu như bây giờ câu chuyện đã manh nha những ham muốn thế này thì về sau, mọi thứ sẽ càng mãnh liệt hơn.

Điều này khiến ông thỏa mãn – việc gì phải chối? – vì ông đã đánh thức con người bên trong của Marian. Vì ông đã khơi gợi được một cái gì đó giống như một ánh sáng lung linh, mờ ảo hiển hiện lên trên bề mặt tính cách của bà. Vì đã nghe thấy một thỉnh cầu yếu đuối trong giọng điệu hay gắt gỏng và phát âm rất nặng của bà.

Grant lấy trứng và nấm để làm cho mình món trứng tráng. Rồi ông nghĩ có thể ông cũng uống chút rượu.

Điều gì cũng có thể xảy ra. Có thật không – rằng mọi thứ đều có thể? Ví dụ, nếu muốn, liệu ông có thể thuyết phục Marian, để bà ta đồng ý cho Aubrey trở lại thăm Fiona? Và không chỉ cho thăm, mà bà ấy sẽ để Aubrey ở nốt những ngày cuối đời bên Fiona. Cơn chấn động ấy sẽ đưa họ đi đến đâu? Đến sự xáo trộn, đến tận cùng bản năng tự phòng vệ của Marian? Hay đến hạnh phúc của Fiona?

Sẽ là một thử thách. Một thử thách và một kì tích vẻ vang. Đồng thời cũng là một trò đùa mà chẳng ai có thể tin nổi – rằng Grant đang làm một việc chẳng ra gì chỉ để đem lại điều tốt cho Fiona mà thôi.

Nhưng Grant không thể thực sự nghĩ về điều đó. Nếu nghĩ về nó, ông sẽ phải nghĩ xem sau khi ông đã đưa Aubrey về với Fiona, thì điều gì sẽ xảy đến với ông và Marian. Có thể chẳng được tích sự gì – ông không thể thấy được gì hơn những gì đã nhìn thấy trước, một mối toan tính vụ lợi thực ra khó trách được ở người phụ nữ có vẻ ngoài thô tháp này.

Làm sao chắc chắn được những chuyện như thế này sẽ diễn ra thế nào. Ta cứ tưởng như mình có thể biết, nhưng không bao giờ ta chắc chắn được.

Marian có lẽ cũng đang ngồi trong nhà, chờ đợi Grant gọi lại. Hoặc có thể không ngồi. Làm những việc lặt vặt để giữ cho mình bận rộn. Marian có vẻ là tuýp người luôn làm cho mình trở nên bận rộn. Cứ nhìn căn nhà của bà thì sẽ thấy bà luôn tay luôn chân chăm chút cho nó như thế nào. Và có Aubrey nữa – vẫn cứ phải tiếp tục chăm sóc ông ta như bình thường. Có thể Marian đã cho Aubrey ăn bữa tối sớm – cho ăn đúng như thời gian biểu ở Meadowlake để có thể cho ông đi ngủ sớm hơn, còn bà thì được nghỉ ngơi. (Không hiểu bà ta tính thế nào với Aubrey nếu như đi vũ hội? Cứ để ông ta một mình không hay bà ta sẽ thuê người trông? Liệu bà ta có nói với chồng rằng mình đi đâu và giới thiệu cả người bạn nhảy của mình? Liệu ông bạn nhảy đó có trả tiền trông Aubrey giùm bà không?)

Có thể Marian đã cho chồng ăn tối trong khi Grant mua nấm và lái xe về nhà. Có lẽ bà đang cho Aubrey đi ngủ. Nhưng suốt thời gian ấy, hẳn bà sẽ luôn nghe ngóng tiếng chuông điện thoại, sẽ bồn chồn vì sự im lặng của nó,. Có lẽ bà ấy đã tính xem mất bao lâu để Grant lái xe về đến nhà. Địa chỉ của ông trong danh bạ điện thoại có thể giúp bà đoán được nơi ông sống. Có thể bà đã tính xem đi mất bao lâu, rồi cộng cả thời gian mua đồ ăn tối (bà hình dung một người đàn ông dẫu ở một mình thì ngày nào cũng phải đi mua sắm). Sau đó là khoảng thời gian để ông nghe được lời nhắn của mình. Và sự im lặng kéo dài sẽ khiến bà tự bịa ra những lí do khác nữa. Những việc lặt vặt có thể Grant phải giải quyết trước khi về nhà. Hoặc có lẽ là ăn tối ở ngoài, một cuộc hẹn khiến ông không về nhà vào giờ ăn tối.

Có thể Marian sẽ đi ngủ muộn, lau chùi chạn bát, xem TV, tranh cãi với chính mình xem mình có cơ hội hay không.

Rồi ông thấy mình thật tự phụ khi suy diễn như thế. Trên hết Marian là một phụ nữ khôn ngoan. Bà ấy có thể đã đi ngủ như thường lệ, nghĩ rằng Grant trông không có vẻ gì là một người biết khiêu vũ. Một gã rất khô cứng, chắc chỉ biết đọc sách.

Grant ngồi gần điện thoại, xem tạp chí, nhưng khi điện thoại reo lần nữa, ông lại không nhấc máy lên.

“Grant. Tôi, Marian đây. Tôi vừa ở dưới tầng hầm cho đồ vào máy giặt thì nghe tiếng chuông điện thoại, khi tôi lên lầu thì người gọi đã dập máy rồi. Thế nên, tôi nghĩ là tôi nên nói rằng tôi vẫn ở nhà. Nếu là ông vừa gọi và nếu ông đang có nhà. Bởi vì rõ ràng là tôi không có máy trả lời, nên ông có thể không để lại lời nhắn được. Thế nên, tôi chỉ muốn. Báo cho ông biết.”

“Chào ông.”

Bây giờ là mười giờ hai nhăm.

Chào ông.

Ông có thể nói rằng ông vừa mới về đến nhà. Thật chẳng hay ho gì khi khiến Marian nghĩ rằng ông ngồi đây, so đo toan tính thiệt hơn.

Những tấm rèm. Đó có thể là cách Marian gọi những tấm màn xanh – rèm. Và sao lại không chứ? Ông nhớ những cái bánh quy gừng tròn trịa đến mức bà phải nói là bánh nhà làm, cái cốc cà phê sứ treo trên cái cây trang trí bằng sứ, tấm thảm phủ ở sảnh – Grant chắc chắn nó làm bằng nhựa. Ở ngôi nhà ấy, dường như mọi thứ đều chính xác và rất thiết thực – những phẩm chất mà mẹ Grant chưa bao giờ đạt đến và hẳn bà sẽ rất ngưỡng mộ những người như Marian. Nhưng hình như đó cũng chỉ là vẻ ngoài đánh lừa. Phải chăng vì thế tự nhiên ông cứ nhoi nhói cái cảm giác vừa tò mò, vừa ngờ ngợ không tin? Hay là do ông đã uống thêm hai ly rượu sau ly đầu tiên?

Làn da rám nắng màu nâu gỗ hồ đào – giờ thì ông dám chắc đó là rám nắng – ở vùng mặt và cổ của người phụ nữ ấy có khi còn lan xuống khe ngực bà ta cũng nên, vùng da nhăn nheo, có mùi thơm và nóng bỏng. Hình ảnh ấy hiện lên trong đầu Grant khi ông bấm số điện thoại mà ông đã ghi lại. Khe ngực và cái lưỡi mèo đầy nhục cảm của Marian. Và cả cặp mắt màu đá quý.

***

Fiona ở trong phòng mình, nhưng không nằm trên giường nữa. Bà ngồi bên ô cửa sổ mở, mặc một chiếc đầm hợp thời tiết nhưng ngắn và sáng màu một cách kỳ quặc. Một luồng hơi ấm nồng của hoa tử đinh hương đang nở rộ và phân bón vụ xuân trải khắp cánh đồng tràn vào pḥòng qua cửa sổ.

Có một cuốn sách đang mở để trên lòng bà.

Bà nói, “Nhìn cuốn sách xinh đẹp em tìm thấy này. Nó viết về Iceland. Anh tin được không, sao người ta lại để những cuốn sách quý thế này trong phòng. Những người sống ở đây có phải ai cũng thật thà đâu. Mà em nghĩ hình như họ đã cất nhầm quần áo. Em chưa bao giờ mặc màu vàng.”

“Fiona…”, Grant nói.

“Anh đi đâu lâu quá. Chúng ta chuẩn bị ra viện đúng không?”

“Fiona, anh mang đến cho em một bất ngờ. Em còn nhớ Aubrey chứ?”

Bà nhìn Grant chằm chằm một lúc, như thể hàng loạt đợt gió táp vào mặt bà. Vào mặt bà,, vào đầu bà, làm mọi thứ vụn vỡ, tả tơi. Tả tơi, lỏng lẻo và rời rạc.

“Những cái tên cứ trôi tuột trong em,” bà nói bằng một giọng cay đắng.

Nhưng ánh nhìn ấy cũng biến mất, khi bằng một cố gắng lớn, bà lấy lại được nét duyên dáng của một quý bà vốn thích bỡn đùa. Bà cẩn thận đặt cuốn sách xuống và đứng dậy, vòng tay ôm lấy Grant. Từ da hay hơi thở của bà phả ra một mùi khó chịu, Grant thấy giống như mùi của những cành hoa bị cắt và ngâm quá lâu trong nước.

“Thật mừng là em lại được gặp anh,” bà nói, và véo tai Grant.

“Em cứ nghĩ anh đã lái xe đi thẳng,” bà nói. “Cứ thế mà đi, chẳng cần bận tâm gì về thế giới và bỏ quên em. Bỏ mặc em. Bỏ rơi em.”[10]

Ông áp mặt mình vào làn tóc trắng, mảng da đầu hồng hồng, mái đầu thanh tú của bà.Ông nói, Không đời nào.

Nguyễn Đức Tâm An dịch

Nguồn: Alice Munro, “The Bear Came Over the Mountain”, Hateship, friendship, courtship, love ship, marriage (Vintage: 2002)


[1] “The Bear Came Over the Mountain” là bài hát dân gian nổi tiếng dành cho trẻ em thường được hát theo giai điệu của”For He’s a Jolly Good Fellow”. Lời bài hát này có nhiều di bản nhưng tứ của nó về cơ bản là giống nhau: con gấu trèo qua ngọn núi, và cái nó nhìn thấy khi đến nơi chỉ là một phía khác của ngọn núi mà thôi. Đây là một bài hát vui tươi, có sắc thái châm biếm nhẹ nhàng về sự vô nghĩa (có thể làm ta liên hệ đến những bài đồng dao.ca dao của Việt Nam nói về sự vô nghĩa như bài Con kiến mà leo cành đa …)

Rất nhiều người khi diễn giải tác phẩm đã thử tìm mối liên hệ giữa nhan đề và nội dung câu chuyện mà Alice Munro kể lại. Có ý kiến cho rằng sự vô nghĩa của bài ca dao cũng chính là ẩn dụ về sự vô nghĩa của thế giới tuổi già như là phía bên kia ngọn núi cuộc đời. Một ý kiến khác cho rằng “con gấu” ở đây chính là ẩn dụ về Grant, về sự không chung thủy của nhân vật, về nỗ lực vô ích của lòng cao thượng ở Grant khi ông cố gắng tìm cách để giúp đỡ Fiona khi bà đang bệnh nặng.

[2] Còn gọi là “Bài ca tôi trung Tây Ban Nha” nổi tiếng trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha 1936-1939, nói về những người trung thành thuộc phái Công hòa, chống lại phe Franco

[3] Hund tiếng Đức nghĩa là “chó”

[4] Chiến tranh Crimea (Crimean War) bắt đầu từ năm 1853 và chấm dứt năm 1856, giữa hai lực lượng quân sự châu Âu, phe đồng minh gồm Đế quốc Pháp, Đế quốc Anh, Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ và Sardegna chống lại Đế quốc Nga. Cuộc chiến tranh này còn được người đương thời gọi là Chiến tranh nước Nga

[5] Trong thần thoại Bắc Âu, Fenrir là một con sói khổng lồ. Fenrir được chứng thực trong thơ Edda, biên soạn vào thế kỷ 13 từ các nguồn truyền thống trước đó bởi Snorri Sturluson. Trong cả Thơ Edda và Truyện Edda, Fenrir là cha của những con sói Skoll và Hati Hródvitnisson, là con trai của Loki, và nuốt thần Odin trong sự kiện Ragnarök, nhưng sau này lại bị con trai của Odin là Vídarr giết.

[6] Njáll Þorgeirsson (Njáll con trai của Þorgeir) là một trong những nhân vật chính của Truyện Njáls , một tác phẩm Iceland thời trung cổ; Snorri Þorgrímsson hay Snorri Godi là một thủ lĩnh Tây Iceland, người hùng trong Truyện Eyrbyggja của Iceland.

[7] Richard Wagner (1813–1883) biên soạn nên Der Ring des Nibelungen (Chiếc nhẫn của người Nibelung) – một chùm các vở opera, dựa chủ yếu vào thần thoại Bắc Âu (giống thần thoại Đức), và bài ca của Nibelung (Nibelungenlied).

[8] Tiếng Celtic là một nhánh của hệ ngôn ngữ gia Ấn-châu Âu lớn hơn. Vào thời điểm những cư dân nói tiếng Celtic bắt đầu xuất hiện trong lịch sử khoảng năm 400 trước Công nguyên, họ đã được chia thành nhiều nhóm ngôn ngữ, và trải rộng trên toàn lục địa Tây Âu, bán đảo Iberia, Ireland và Anh.

[9] Nguyên văn tiếng Anh: “So he increased in wisdom and stature -/ And in favour with God and man.”. Câu này được phái sinh từ Kinh Thánh, Thiên Luke 2.52. Bản tiếng Anh (bản do King James chính thống hóa): “And Jesus increased in wisdom and stature, and in favour with God and man”. Thiên Luke kể về sự giáng sinh của chúa Jesus.

[10] Trong nguyên tác, Alice Munro viết: “You could have just driven away…Just driven away without a care in the world and forsook me. Forsooken me. Forsaken”. Lời của Fiona cho thấy nỗ lực của nhân vật muốn nhớ lại cách chia động từ cho đúng. Trong tiếng Việt, do phạm trù “thời” không rõ nên chúng tôi lựa chọn phương án dịch để nhân vật cố nhớ lại, cố tìm được từ thích hợp nhất mô tả cảm giác của mình.

Posted in Dịch thuật, Truyện, Tư liệu tham khảo, Văn học, Đọc-nghe-xem-nghĩ | Tagged , , , , , , , , | 1 phản hồi

Octavio Paz – Phá vỡ và hội tụ (Phần 2)

Phần 1

Delaunay_ChampDeMars

Tính hiện đại và tính tiền phong

Thế kỷ XIX có thể được xem là thời kỳ đỉnh cao của tính hiện đại. Những tư tưởng là con đẻ của tinh thần phê phán, và do đó mang tính khiêu khích ở thế kỷ XVIII như ý niệm dân chủ, việc tách Nhà thờ khỏi Nhà nước, việc chấm dứt những đặc quyền của Hoàng gia, tự do tôn giáo, tự do đưa ra các ý kiến và thành lập các hội nhóm… sang đến thế kỷ XIX đã trở thành những nguyên lý được hầu hết các quốc gia châu Âu và Hoa Kỳ chia sẻ. Phương Tây trải dài, mở rộng những biên giới và khẳng định bá quyền của mình. Song đến cuối thế kỷ trước, một nỗi bất ổn sâu sắc bắt đầu được cảm nhận rõ ở những trung tâm lớn của nền văn minh của chúng ta, một nỗi bất ổn ảnh hưởng đến những hệ thống xã hội, chính trị, kinh tế cũng như những niềm tin và giá trị. Chúng ta có thể gọi cái chu kỳ bao gồm sự khai sinh, giai đoạn đỉnh cao và sự khủng hoảng của tính hiện đại là thời Hiện đại. Giai đoạn cuối của nó, tức giai đoạn khủng hoảng, chính là thời kỳ Đương đại của chúng ta, nhưng độ dài của nó – đã kéo dài gần một thế kỷ – đã khiến tôi nghi ngờ về sự thỏa đáng của thuật ngữ này. Những từ ngữ luôn xuất hiện khi người ta đề cập đến chủ đề này như suy đồi, xuống dốc, hoàng hôn không phải bao giờ cũng phù hợp. Và từ khủng hoảng thì đã giảm đi nhiều sức nặng do bị lạm dụng. Nhưng cho dẫu ta gọi nó bằng cái tên nào đi nữa thì cái thời đại đặt mốc ngay từ đầu thế kỷ này có thể phân biệt với những thời đại khác bởi sự hồ nghi của nó đối với những giá trị và tư tưởng đã kiến tạo nên nền tảng của tính hiện đại. Những dấu hiệu đầu tiên của cuộc khủng hoảng phổ quát này xuất hiện vào cuối thế kỷ trước; đến năm 1910, chúng trở nên rõ ràng đến mức nghiệt ngã. Tôi không cần phải mô tả chúng. Suốt một thời gian dài, chúng đã là đề tài được ưa thích của các nhà xã hội học, chiêm tinh học, các giáo sĩ, các nhà kinh tế, nhà tiên tri, nhà phân tâm học, các nhà báo và những người muốn chữa trị bằng niềm tin cho những căn bệnh của xã hội chúng ta.

Sự khai sinh thời Hiện đại đồng thời cũng dẫn đến sự bùng nổ của một thứ tư tưởng gây nên biến động lớn và cả sai lầm lớn: chủ nghĩa dân tộc. Được chuyển hóa thành tôn giáo của nhà nước, chủ nghĩa dân tộc, ở thế kỷ trước, cần đến một sự tàn bạo khủng khiếp. Trong khi đó, những sự phê phán tiêu cực đối với nền dân chủ tư sản vốn bao hàm trong mình chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa thế giới (cosmopolitanism), chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa khoái lạc – lại gắn với nỗi hoài niệm về những xã hội tiền tư bản và “những mối quan hệ điền viên” của chúng, như Marx đã mô tả một cách mỉa mai. Trong những bài thuyết pháp về những tội lỗi của tiến bộ, người ta như nghe thấy vọng về nỗi sợ hãi quỷ Satan trong đạo Thiên Chúa xưa kia, con quỷ thông minh, hoài nghi ấy giờ đây là Đồng tiền, người tình của nền công nghiệp, của khoái lạc và nghệ thuật. Ở đầu bên kia của dải phổ chính trị, nhưng cùng mang một nỗi đam mê tương tự, là các nhà cách mạng – nổi bật nhất là những người theo thuyết vô chính phủ – chống lại bản chất áp chết của Nhà nước và các thiết chế xã hội: gia đình, tài sản, luật pháp. Ở chặng đầu tiên của cuộc khủng hoảng, chủ nghĩa xã hội mà Marx chủ trương mang tinh thần phê phán nhưng không ôm tham vọng lật đổ; Quốc tế thứ hai đã làm được nhiều thứ để cải thiện tình trạng của giai cấp công nhân nhưng nó vẫn giữ mối ràng buộc đối với những thiết chế đã định hình của các nước công nghệp.

Sang đến thập niên thứ hai của thế kỷ XX, sự khủng hoảng của các thiết chế xã hội trở thành sự khủng hoảng của chính trị quốc tế, dẫn đến sự bùng nổ Thế chiến I. Những cuộc cách mạng theo sau đó đã làm biến đổi diện mạo của hành tinh. Chủ nghĩa Marx – nói chính xác là những phiên bản toàn trị của nó, học thuyết Lenin – trở thành một quyền lực thế giới. Ở thập niên thứ ba, dưới nhiều tên gọi khác nhau và với nhiều ý thức hệ xung đột lẫn nhau, nó làm hiện hình một hiện thực lịch sử mới: Nhà nước quan liêu toàn trị. Quá trình này diễn ra ở khắp nơi trong suốt phần còn lại của thế kỷ. Ngay cả những nước duy trì hệ thống dân chủ cũng sao chép mô hình thống trị quan liêu này, dù dưới hình thức các consortium khổng lồ, các hội đoàn công nhân hay các nhà nước kỹ nghệ. Hồi đầu thế kỷ, rất ít người nghi ngờ những tư tưởng nhân đạo, tự do và cách mạng ngày đó, 50 năm sau, sẽ tha hóa thành môt thứ chủ nghĩa chuyên chế mới.

Sự khủng hoảng của đời sống xã hội cũng là sự khủng hoảng của lương tri. Đối tượng của sự là gia đình và sự thống trị của nam giới, là đạo đức tính dục, là trường học, nhà thờ và cùng với đó là những niềm tin, những giá trị. Bất chấp những lợi ích khổng lồ mà công nghệ đem lại, bắt đầu xuất hiện những hồ nghi về tiến bộ, nguyên tắc lớn thống trị phương Tây và huyền thoại tri thức quan trọng của nó. Trạng thái tinh thần phổ biến ở nửa đầu thế kỷ, với sự dao động dữ dội giữa tính thụ động và bạo lực, giữa chủ nghĩa hoài nghi triệt để và đức tin nơi bản năng. giữa chủ nghĩa trí thức cực đoan và niềm sùng bái sự hiến sinh bằng máu, đã được mô tả nhiều lần và không cần thiết phải lặp lại hình ảnh ấy ở đây. Tôi chỉ muốn chỉ ra những dao động này xuất hiện cùng lúc với một số khám phá đặc biệt quan trọng trong khoa học – những khám phá, với hình thức tương tự, đã đặt câu hỏi ngờ vực trước những sự tất định được xem là thiêng liêng. Hình học phi Euclide, thuyết lượng tử, thuyết tương đối, chiều thứ tư. Bổ sung thêm vào danh mục những phát kiến này, gần hơn, phải kể đến những bước tiến của sinh học phân tử và di truyền học. Nếu trí tuệ của thời đại cũ đã hóa hơi, trở thành một phản ứng hóa học không hơn thì tương tự, vật chất của thời đại cũ mất đi khối lượng của nó, trở thành một thứ năng lượng thuần túy trong thời gian-không gian, một thứ hiện thực không ngừng trương nở và không ngừng trở về lại chính nó. Nếu vật chất đã bị vỡ ra thành các nguyên tử, thành các hạt của hạt thì chúng ta có thể nói gì về ý thức? Ý thức thôi trở thành nền tảng của cá nhân. Đối với một số người, ý thức trở thành sân khấu nơi diễn ra cuộc chiến vì những thực thể mới – những thực thể có lẽ cũng không kém phần hão huyền như những thực thể của tâm lý học thời Phục hưng: tiềm thức, xung động bản năng, ẩn ức tình dục, siêu ngã. Đối với những người khác, suy nghĩ và cảm xúc giờ đây chỉ là sản phẩm những kết hợp sinh lý và hóa học không hơn. Gia đình bị biến thành nơi nuôi dưỡng những huyễn tưởng, và tội mà Oedipus mắc phải nhận lấy thứ giá trị phổ quát mà trước đó được gắn cho tội lỗi nguyên thủy: một dấu hiệu bản chất của loài người, một đặc điểm phân biệt nó với tất cả những giống loài khác.

Văn chương và nghệ thuật là sự tái hiện hiện thực. Những sự tái hiện này, tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh, cũng là những phát kiến: chúng mang tính tưởng tượng. Song bản thân hiện thực, ở thế kỷ này, cũng mang những phẩm chất của cái tưởng tượng; nó mang tính đe dọa, đang khinh rẻ, đầy mâu thuẫn và huyễn tưởng. Một cái ghế không còn là cái ghế mà ta nhìn thấy; giờ đây nó là kiến tạo của những lực, những nguyên tử, những hạt vô hình. Không chỉ vật lý mới đã làm xói mòn sự rắn chắc, kiên cố của các khách thể vật chất mà cả hình học phi Euclide cũng mở ra khả năng của những không gian khác, những không gian với những thuộc tính hoàn toàn khác. Một khái niệm mới được khai sinh, chủ đề được các nhà văn, các họa sĩ nghiền ngẫm không dứt, huyền thoại trung tâm của trào lưu tiền phong đầu tiên: thời gian-không gian. Chỉ đến sau này, ở thế hệ kế tiếp, với các nhà Siêu thực, phân tâm học mới ảnh hưởng đến các thi sĩ và họa sĩ. Kể từ đó, tưởng tượng về cái Tôi, về bản sắc của cái Tôi trải qua những biến đổi sâu sắc và cùng với điều này là thứ ngôn ngữ mà nghệ sĩ kiếm tìm để biểu đạt những sự đứt đoạn, ngắt quãng của ý thức và cảm giác.

Chủ nghĩa tượng trưng đã tự gắn nó với một thứ ngôn ngữ bí truyền. Một sự sùng bái cái bí ẩn của vũ trụ; một sự tôn thờ thi sĩ như linh mục cao nhất của một tôn giáo bí mật. Những thi sĩ mới chống lại thứ ngôn ngữ mỉa mai và mang tính văn xuôi. Chủ nghĩa tượng trưng đề cao phép tương phản sáng tối; nó là thứ nghệ thuật trong nhà, coi những vệt bóng hắt ra rất tinh vi của mình là giá trị tối thượng. Nghệ thuật mới bước ra ngoài phố: nó là thứ thơ ca của những tương phản sắc nét, những đối lập gay gắt. Chủ nghĩa tượng trưng thể hiện niềm hoài nhớ về cái bên kia, cái bên kia định vị trong một quá khứ bất khả hay một cõi-không-ở-đâu cũng bất khả không kém. Thứ thơ ca mới này tôn vinh khoảnh khắc, tôn vinh hiện tại: những gì mắt thấy, tay chạm. Thành phố của Baudelaire là khung cảnh đêm đô thị nơi ánh đèn khí và những hình ảnh của nó – cũng mơ hồ như chính ý thức con người – rọi chiếu những con phố mang thương tích, những công viên của gái điếm, tội phạm và nỗi tuyệt vọng đơn độc. Nhưng thành phố của các nhà thơ hiện đại là thành phố của những đám đông, với những biển quảng cáo sáng trưng, với hình ảnh của những chiếc ô tô, những rộn ràng xe cộ, một thành phố cứ mỗi đêm về lại từ biến mình thành một khu vườn náo động. Cái thành phố hiện đại ấy, tuy nhiên, cũng không kém khủng khiếp so với thành phố của Baudelaire:

Bây giờ mi đi bách bộ ở Paris và cô đơn chiếc bóng giữa thiên hạ người đời
Những đàn cừu ô tô buýt kêu rống chạy gần mi
Nỗi đau đớn ray rứt của tình yêu bóp cổ họng mi.

(Guillaume Apollinaire, “Vùng”, 1912, bản dịch của Phạm Công Thiện)

Nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn là một kẻ phiêu lưu, một tên cướp biển, một thi sĩ trở thành kẻ đấu tranh cho tự do, hay một hình tượng cô độc bên bờ hồ vắng vẻ, đằm chìm trong những suy tưởng cao cả. Nhân vật của Baudelaire là một thiên thần sa giáng xuống thành phố: y vận đồ đen, bộ đồ lịch lãm nhưng đã cũ sờn, đầy vết ố của rượu, của dầu và của bùn. Nhân vật của Apollinaire là một gã lang thang trên phố, gần như vô công rồi nghề, hắn lố bịch và gây thống cảm, hắn mất hút giữa đám đông. Đó chính là hình tượng sau này được hiện thân trong phim của Charlie Chaplin, trong trường ca Đám mây mặc quần của Mayakovski, trong Cửa hiệu thuốc lá của Fernando Pessoa. Một con quỷ khốn cùng được phú cho những quyền năng huyền bí, một tên hề và một vị đạo sĩ. Đó là những kiểu nhân vật mới nhưng cùng lúc đó, họ là những hậu duệ trực tiếp của chủ nghĩa lãng mạn.

Tuy cuộc phiêu lưu của con người – những đam mê, những sự điên rồ, những khoảnh khắc khải thị của hắn – vẫn tiếp tục được mở ra trong nền thơ ca mới, nhưng những kẻ phát ngôn thì đã khác. Thế giới tự nhiên cổ xưa giờ đã biến mất, cùng với đó là những cánh rừng, những thung lũng, những đại dương, những ngọn núi của nó, nơi những con quỷ, những vị thần, những quái vật và những thực thể hoang đường khác trú ngụ. Thế chỗ của nó giờ là thành phố trừu tượng và giữa những tượng đài cũ, những quảng trường công cộng thiêng liêng, xuất hiện những phương tiện cơ giới tối tân. Một sự đổi thay hiện thực, một sự đổi thay hệ huyền thoại. Trong quá khứ, con người nói với vũ trụ, hoặc họ nghĩ mình đã làm điều đó: nếu nó không đáp lời thì ít nhất vũ trụ ấy cũng là tấm gương của họ. Ở thế kỷ XX, những người phát ngôn bí ẩn và những giọng nói huyền hoặc đã biến mất. Mỗi con người là một thực thể lẻ loi trong thành phố khổng lồ, chia sẻ nỗi cô độc của mình với hành triệu nỗi cô độc khác. Nhân vật của thơ ca mới là kẻ đơn độc trong một đám đông gồm toàn những kẻ đơn độc. Hắn là người anh em của Joyce. Ta phát hiện ra ta cô đơn giữa vũ trụ – cô đơn giữa thế giới của máy móc. Những con quỷ cần mẫn của Milton xoa tay mình một cách hân hoan. Đó là khởi điểm của chủ nghĩa duy ngã vĩ đại.

Người xưa sùng bái những con ngựa và những chiếc thuyền buồm; thời đại mới tôn thờ tàu hỏa và tàu thủy. Bài thơ của Whitman ảnh hưởng nhiều nhất đến những người tiếp nối ông có lẽ là bài thơ dành tặng một đầu máy xe lửa. Valéry Larbaud viết một tụng ca đầy ấn tượng về Tàu tốc hành Viễn Đông, “con tàu của những triệu phú”. Tác phẩm gây ấn tượng mạnh không kém của Blaise Cendrars – “Văn xuôi về hành trình xuyên Siberia” là cuộc hôn phối đầu tiên giữa thơ ca và điện ảnh. Các nhà Vị lại xưng tụng ô tô, sau đó có vô số các bài thơ ngợi ca máy bay, tàu ngầm và những phương tiện giao thông hiện đại khác. Song không một văn bản bướng bỉnh nào trong số này có thể sánh với bài thơ khơi nguồn của Whitman. Tàu thủy xuyên Đại Tây Dương cũng thổi bùng trí tưởng tượng. Alvaro de Campos – bút danh de Campos không phải một dụ ngôn, cũng chẳng phải một biểu tượng của Fernando Pessoa, mà kẻ song trùng và cũng là kẻ thù của chiính ông – đã viết “Ode marítima” không phải chỉ trên những bến tàu ở Lisbon mà còn ở Liverpool, Singapore, Yokohama, Harbin. Trong thơ ca thời kỳ này, tàu thủy gắn với châu Á hơn là châu Mỹ. Hồi đầu tiên của vở Partage de midi của Claudel lấy bối cảnh trên một con tàu chạy bằng hơi nước băng băng không ngừng trên biển Ấn Độ dương. Thơ ca của biển cả là thơ ca của phía bên kia: không chỉ là những vùng biển và đất liền chưa được biết tới, mà còn là những nền văn minh khác: Ấn Độ của Kipling, châu Phi và Đông Nam Á của Conrad, vùng Viễn Đông của Claudel và Saint-John Perse.

Sự hiện diện của những cảnh quan này và những hình thức nghệ thuật có cội nguồn Phương Đông, châu Phi, châu Mỹ thời kỳ tiền Columbus là một đặc điểm của thơ ca và nghệ thuật những năm ấy. Các thi sĩ kế thừa thể haiku, sân khấu Noh ảnh hưởng đến Yeats và nhiều kịch tác gia khác. Ezra Pound dịch thơ Trung Hoa. Nói tóm lại, ba mươi năm đầu thế kỷ XX là thời kỳ cao trào của một quá trình dài khám phá những nền văn minh khác cùng những quan niệm đa dạng về hiện thực và con người của những nền văn minh ấy. Quá trình này vốn khởi sinh từ thế kỷ XVI với sự khám phá lục địa châu Mỹ, từ đó dẫn đến xu hướng tiếp nhận những hình thức nghệ thuật không những khác mà thậm chí còn đối lập với truyền thống chính mạch của phương Tây ở thời đại chúng ta. Một sự đổi thay sâu sắc, vẫn đang ảnh hưởng đến chúng ta và sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến nghệ thuật và cảm thức của thế hệ sau chúng ta. Nó là một hệ quả tự nhiên, một kết cục tất yếu của cuộc Cách mạng mỹ học bắt đầu từ Chủ nghĩa Lãng mạn; đó cũng là sự thay đổi cuối cùng, sự thay đổi của những thay đổi, chấm dứt một truyền thống bắt đầu từ thời Phục hưng. Những khuôn mẫu của truyền thống ấy là tác phẩm nghệ thuật của Hy-La cổ đại. Bằng việc phủ nhận chúng, nghệ thuật hiện đại đã phá vỡ tính liên tục của phương Tây. Bởi vậy sự thay đổi này vừa là một sự tự phủ nhận vừa là một sự biến dạng. Mục đích của tất cả những ý niệm về một thứ Tự nhiên được lý tưởng hóa, về phối cảnh, về thời đại hoàng kim, về khả năng tái trình hiện chỉ là để đem đến ảo ảnh của hiện thực.

Nhân tố quyết định ở đây không phải là sự thay thế những điển phạm truyền thống – bao gồm những biến thể của chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa ấn tượng – bằng những nền văn hóa, văn minh xa lạ, mà đúng hơn, đó là sự tìm kiếm những hình thức khác của cái đẹp. Bởi vậy, tôi đã nói đến sự thay đổi này không chi như một sự tự phủ nhận mà còn là một hình thức biến dạng. Sự thay đổi trong cảm thức thẩm mỹ diễn ra mạnh mẽ khôg kém những thay đổi trong cảm thức về hiện thực mà khoa học đem lại. Vật lý đã cho thấy thứ hiện thực hữu hình phụ thuộc vào một cấu trúc vốn là mạng quan hệ của những lực trong trạng thái cân bằng động. Tương tự, các nghệ sĩ cũng cố gắng tháo dỡ sự hữu hình của những sự vật trong đời sống thường ngày và trường phái Lập thể nói riêng đã quan niệm một bức trang là một hệ thống các phương trình. Có một tinh thần Tân Plato ở quan niệm này: cái mà họa sĩ muốn thể hiện là cấu trúc – cổ mẫu, ý niệm – của bình cà phê hay cái tẩu chứ không phải bản thân chiếc bình cà phê hay cái tẩu. Vì thế cần thiết phải vẽ cả phần bên ngoài lẫn bên trong của một sự vật. Ví dụ về những chiếc mặt nạ châu Phi, mà cả mặt trước lẫn mặt sau của nó đều nằm trên cùng một mặt phẳng chính là một gợi ý. Các nghệ sĩ Vị lai, về phần mình, lại muốn vẽ sự chuyển động, một điều mà nhiếp ảnh làm được tốt hơn nhiều so với hội họa. Ở thời kỳ ấy, thể loại nhiếp ảnh hoạt nghiệm (chronophotograph) rất phổ biến: một chuỗi những khoảnh khắc liên tiếp của một hình tượng đang chuyển động, một con ngựa đang chạy, một người phụ nữ bước đi nhịp nhàng, một người đưa xe đạp. Thể nghiệm ấn tượng nhất trong hội họa là tác phẩm Người khỏa thân đi xuống cầu thang của Marcel Duchamp.

Tất cả những thể nghiệm trên đều chịu ảnh hưởng bởi những kỹ thuật mới trong việc tái tạo hiện thực. Thứ có sức hấp dẫn lớn, đặc biệt đối với các nhà thơ, chính là nhiếp ảnh chuyển động, hay điện ảnh. Lý thuyết gia vĩ đại về thủ pháp mongtage, Sergei Eisenstein, đã ghi chú trong một tiểu luận của mình rằng sự thiếu vắng những quy tắc về cú pháp và dấu ngắt trong điện ảnh đã phát lộ cho ông thấy bản chất đích thực của nghệ thuật này: sự đặt cận kề nhau các yếu tố tương phản và sự đồng hiện. Hay nói cách khác, đó chính là sự phá vỡ bản chất tuyến tính của tự sự. Eisenstein đã phát hiện ra thủ pháp đồng hiện, trước đó, đã hiện hữu trong nghệ thuật của phương Đông: sân khấu Nhật Bản, chữ tượng hình của Trung Hoa. Sau đó nhiều năm, Jung, trong lời tựa cho ấn bản Kinh Dịch của Trung Hoa cổ đại, đã nhấn mạnh quy luật chi phối các quẻ không mang tính nhân quả mà mang tính hợp lưu. Tính nhân quả mặc định cái này nối sau cái kia, một sự kiện này là nguyên nhân của sự kiện khác. Kinh Dịch phụ thuộc và sự hiện diện đồng thời của một số các nguyên nhân. Jung gọi sự gặp gỡ ngẫu nhiên ấy là quy luật đồng đại (synchronicity), một sự nối kết các thời gian và cũng là các không gian. Nói tóm lại, ở thập niên thứ hai thế kỷ XX, đã xuất hiện trong hội họa, thơ ca và tiểu thuyết một hình thức nghệ thuật cho phép sự tiếp hợp thời gian tính và không gian tính, vừa làm tan rã, vừa đặt cận kề sự lưỡng phân giữa cái có trước và cái có sau, cái bên trong và cái bên ngoài. Hình thức nghệ thuật này có nhiều tên gọi, cái tên hay nhất, miêu tả rõ nét nhất có lẽ là chủ nghĩa Đồng hiện (Simultaneism).

Các họa sĩ đã đưa ra chủ trương một bức tranh nên là sự thể hiện đồng hiện nhiều mặt khác nhau của một khách thể. Một bức tranh lập thể cho thấy cả mặt bên trong và bên ngoài, phần trước và phần sau của hiện thực, trong khi một bức tranh theo trường phái Vị lai lại tái hiện đồng thời cái có trước và cái có sau: một con chó đang chạy, một chiếc xe điện chạy qua quảng trường. Hội họa là nghệ thuật không gian; con mắt cùng lúc có thể nhìn thấy một số biểu trưng và hình thức trên một mặt phẳng đơn nhất. Cái nhìn luôn mang tính đồng hiện. Sự sắp đặt cận kề các yếu tố tương phản làm nảy sinh một hệ thống những mối liên hệ thị giác. Nguyên lý chi phối hình thức tái hiện này là liên tưởng (contiguity): những thứ bên cạnh nhau được hình dung đồng thời. Trong các nghệ thuật thời gian, như âm nhạc và thơ ca, cái này nối tiếp cái kia. Âm thanh nối tiếp âm thanh, ngôn từ nối tiếp ngôn từ. Nguyên lý chi phố ở đây không phải là sự liên tưởng nữa mà là sự liên tiếp (sucession). Thế nhưng có một sự khác biệt quan trọng giữa âm nhạc và thơ ca. Trong âm nhạc, quy luật đồng đại mang tính liên tục: đối điểm, hài thanh, fugue. Thơ ca, tuy nhiên, lại được làm bằng ngôn từ – những âm thanh mang nghĩa. Mỗi âm thanh nhất thiên phải được nghe rõ, như thế người nghe mới hiểu được ý nghĩa của nó. Sự hài thanh, bản chất của âm nhạc, trong thơ ca chỉ tạo ra sự mơ hồ. Thơ ca không thể mang tính đồng thời mà không đi ngược lại chính bản chất của nó và khước từ quyền năng rất lớn của ngôn từ. Thế nhưng tính đồng hiện là một thủ pháp quan trọng trong những thành tố cơ bản của bài thơ. Các phép so sánh, ẩn dụ, nhịp điệu, vần, nhịp là những phép liên kết và lặp lại, tuân theo những quy luật tương tự như sự mô tả đồng hiện. Đây chính là thách thức đặt ra đối với các thi sĩ vào khoảng năm 1910: Làm thế nào để đưa tính đồng hiện không gian vào một thứ nghệ thuật vốn bị chi phối bởi sự tiếp nối về thời gian?

Năm 1911, trào lưu “Dramatism” ra đời tại Paris, sau đó nó được gọi là trào lưu Đồng hiện (Simultaneism). Cả tên gọi lẫn khái niệm này trước đó đã được các nhà Vị lai sử dụng qua, dù chưa thành một ý niệm đáng kể. Trào lưu này đề xuất một cách làm thơ mà quy trình của nó là bản thân sự đơn giản: các phần khác nhau của bài thơ được đọc đồng thanh ngay cùng một lúc. Giải pháp của các nhà Vị lai còn lộn xộn, hỗn loạn hơn: họ tổ chức các buổi “hòa nhạc”, trong đó, giọng nói con người được đơn giản hóa đến mức chỉ còn là những thành tố của âm thanh thuần khiết thành một dải âm thanh từ tiếng gào kêu đến những tiếng thì thầm và được trộn lung tung với những tiếng động của đời sống đô thi như tiếng lách cách của máy đánh chữ. Sau đó, ở Zurich, vào khoảng thời gian khi chiến tranh bùng nổ, nghệ sĩ Dada Hugo Ball đã khai thác lại nghệ thuật “nói tiếng lạ” (speak in tongues) của Thiên Chúa giáo thời kỳ đầu, của những người theo thuyết Ngộ đạo (Gnostics) và những tôn giáo khác. Ở Moscow và Saint Petersburg, gần như cùng thời điểm ấy, các nhà Vị lai Nga cũng đã triệt để thể nghiệm phép “nói tiếng lạ” mà ông gọi là “ngôn ngữ xuyên duy lý”. Song sự giảm thiểu ngôn từ đến mức chỉ còn là những hình thức tạo nhịp thuần túy, trong khi nó cho phép sự xếp đặt cận kề các đơn vị tương phản và sự đồng hiện, đồng thời cũng đã quy giản ý nghĩa đến mức cực thiểu. Đó là biểu hiện của sự nghèo nàn và gần như luôn là một sự què quặt.

Chủ nghĩa lập thể, mà hơn hết là Chủ nghĩa Lập thể huyền bí của Delaunay, đã khơi nguồn cảm hứng cho những thể nghiệm đầu tiên của Cendrars và Apollinaire, và bắt đầu từ họ, chủ nghĩa Đồng hiện thực sự hình thành. Đặc biệt ở Cendrars, ảnh hưởng của các kỹ thuật điện ảnh – montage, hồi tưởng (flashback) – có ý nghĩa quyết định. Việc sử dụng các thủ pháp điện ảnh đã phá vỡ cú pháp và bản chất tuyến tính, liên tục của thơ ca truyền thống.. Apollinaire thậm chí còn đi xa hơn: ông hầu như tỉnh lược hoàn toàn những phép liên kết và từ nối. – một quá trình gần như tương đồng với sự xóa bỏ phối cảnh trong hội họa – và áp dụng kỹ thuật cắt dán, kết hợp các câu văn bản, các khối từ ngữ được tìm thấy ngẫu nhiên thành một chính thể. Theo cách này, ông đã thành công trong việc tạo ra sự trộn lẫn thời gian và không gian trên một trang giấy. Không giống như hội họa lập thể, những bài thơ của Apollinaire chuyển động. Nói như thế không chỉ vì những bài thơ ấy có một mở đầu và một kết thúc, mà còn vì chúng trôi qua (elapse). Chủ nghĩa vị lai đã nỗ lực thể hiện sự vận động; thơ ca mới tự nó đã là sự vận động. Trong số những thi sĩ Pháp hưởng ứng Apollinaire theo hướng đi này, tôi đặc biệt muốn nghĩ đến trường hợp Pierre Reverdy.

Vài năm sau đó, Pound và Eliot đã tiếp thu chủ nghĩa Đồng hiện. Khi tiếp thu thi pháp của trào lưu này, họ đã biến đổi và mở rộng nó, tạo ra một hình thức mới của bài thơ trương nở (extensive poem) và mở ra địa hạt mà các nhà thơ Pháp chưa từng chạm đến: lịch sử tâm linh và xã hội của phương Tây. Ở Tây Ban Nha, chủ nghĩa Đồng hiện, với ngoại lệ là một bài thơ ngắn và hoàn hảo của José Juan Tablada, không được nhiều người theo đuổi cho đến khi thế hệ chúng tôi xuất hiện. Cũng đáng phải đưa ra lời phàn nàn ở đây, một lời phàn nàn mà trước đó tôi cũng đã có đôi lần đề cập đến: các nhà phê bình Mỹ, trừ Roger Shattuck, nhà thơ Kenneth Rexroth, và một vài người khác, chưa bao giờ nhắc đến cội nguồn Pháp của chủ nghĩa Đồng hiện: họ cứ nhắc đi nhắc lại khẳng định của Pound, theo đó, phương pháp triình bày (presentation) của ông – ông tự gọi thi pháp của mình như thế – bắt nguồn từ những bản dịch thơ Trung Hoa mà ông thực hiện và từ việc ông đọc Fenollosa. Tôi đã cố gắng, trong nhiều dịp khác nhau, đính chính lại sai lầm này, nhưng vì ảnh hưởng rất rộng lớn của văn hóa Anh-Mỹ, các nhà phê bình-trong đó có một bộ phận đáng kể các nhà phê bình ở Mỹ Latin và Pháp- đã tán thành phiên bản mang tính điển phạm này. Không ai muốn nghĩ Cantos Đất hoang lại là sản phẩm của Chủ nghĩa Đồng hiện vốn đã được giới thiệu từ trước đó mười năm qua tác phẩm của Apollinaire và Cendrars. Một sản phẩm, tất nhiên, cũng là một sáng tạo: không phải là một sự bắt chước mà như một thứ cây ghép, một loài thực vật mới, một thực thể mới rộng lớn hơn, phức tạp hơn và mạnh mẽ hơn nguyên bản.

Chủ nghĩa Đồng hiện, đôi khi còn được gọi là Chủ nghĩa Lập thể Thơ ca, còn là một tuyên ngôn khác, thường thô thiển nhưng gần như lúc nào cũng hiệu quả, về nguyên tắc cốt lõi của thơ Lãng mạn và Tượng trưng: loại suy. Bài thơ là một chỉnh thể được thúc đẩy, gây ép-phê bởi xung lực giữa sự cận kề và sự đối lập giữa các phần của bài thơ. Một chiến thắng của sự cận kề đối với sự liên tục. Hay, chính xác hơn, một sự trộn lẫn của cả hai, cả tính không gian và tính thời gian. Sau đó không lâu, ở một thái cực khác của thơ ca tiền phong – chủ nghĩa Siêu thực – cả phép loại suy lẫn sự hài hước đều tái xuất hiện theo một hình thức thậm chí còn công khai, trực diện hơn. Tất cả những đề tài thơ ca, dục tính, siêu hình của chủ nghĩa Lãng mạn đã được các nhà Siêu thực tiếp thu và đẩy đến giới hạn của chúng. Trục giao cắt của hai trào lưu thơ ca lớn của nửa đầu thế kỷ XX – Chủ nghĩa đồng hiện và chủ nghĩa lãng mạn – cũng giống như trục giao cắt của chủ nghĩa Lãng mạn: cảm quan về sự tương ứng vũ trụ và ý thức về một sự đổ vỡ, về cái chết. Mối quan hệ mơ hồ giữa chủ nghĩa Lãng mạn với các truyền thống tôn giáo phương Tây và các phong trào chính trị cách mạng cũng tái xuất hiện ở hầu hết các nhà thơ lớn ở thế kỷ chúng ta. Kể từ khi ra đời, thơ hiện đại đã cùng lúc vừa là một sự khẳng định, vừa là một sự phủ định tính hiện đại.

(Còn tiếp)

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Octavio Paz, “Breach and Convergence”, The Other Voices  – Essays on Modern Poetry, bản dịch Anh ngữ từ tiếng Tây Ban Nha của Helen Lane, A Harvest/HBJ Book: 1990, p 31-59.

P.S: Rất cảm ơn các bạn đã reblog một số bài trên blog của mình. Nhưng loạt bài của Octavio Paz này mình vẫn chưa dịch hết và làm các chú thích cần thiết, hơn nữa, nhiều chỗ dịch chưa ổn, mình vẫn đợi bạn bè góp ý và hiệu đính, vì vậy, mong các bạn chưa reblog vội. Mình sẽ post bản hoàn chỉnh trong thời gian gần sau khi đã nhận được những góp ý về cách dịch.

Posted in Dịch thuật, hội họa, Lý thuyết phê bình, Thơ, tiểu luận, Tư liệu tham khảo, Văn học, Điện ảnh | Tagged , , , , , , , , , , , , , | Để lại phản hồi

Octavio Paz – Phá vỡ và hội tụ (Phần 1)

Octavio Paz(Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Octavio Paz, 31/3/1914 – 19/4/1998)

Anh nói tôi đang lặp lại
Điều tôi đã nói trước đó
Tôi sẽ nói lại điều đó
Tôi sẽ nói lại điều đó?

T.S. Eliot

Tính hiện đại và chủ nghĩa lãng mạn

Chủ đề tôi muốn trình baỳ là thơ ca và tính hiện đại, mối quan hệ giữa chúng thực sự không hề rõ ràng. Thơ ca những năm cuối thế kỷ này kế thừa những trào lưu thi ca của tính hiện đại, từ Chủ nghĩa Lãng mạn đến những phong trào tiền phong hiện nay, nhưng đồng thời cũng là sự khước từ chúng. Nội hàm của khái niệm tính hiện đại cũng không hề rõ ràng chút nào. Khó khăn đầu tiên mà chúng ta phải đối mặt chính là bản chất khó nắm bắt và không ngừng biến thiên của bản thân từ này. Những gì “hiện đại” vốn dĩ luôn phù du, “đương đại” là một phẩm chất tan biến ngay ở khoảnh khắc ta gọi tên nó. Có nhiều tính hiện đại và tính cổ đại, cũng như có nhiều thời đại và xã hội; văn minh của người Aztec từng là hiện đại khi so với văn minh của người Olmecs, cũng như thời đại Alexander khi so với thời đại Amenhotep IV. Thơ ca hiện đại chủ nghĩa của Rubén Dario, đối với những thi sĩ theo trường phái Ultraism, là thứ thơ ca mang phong cách cổ, và chủ nghĩa Vị lai giờ đây đối với chúng ta giống như một di tích hơn là một mỹ học. Thời Hiện đại sẽ nhanh chóng trở thành thời cổ xưa của ngày mai. Nhưng tại thời điểm này, chúng ta vẫn phải chấp nhận thực tế rằng chúng ta đang sống ở thời Hiện đại, dù ta biết nhãn hiệu ấy vừa mơ hồ vừa mang tính tạm thời.

Song chúng ta muốn nói đến điều gì với từ “tính hiện đại”? Nó bắt đầu từ bao giờ? Một số người tin rằng nó bắt đầu từ thời Phục hưng, thời Cải cách tôn giáo và thời Châu Mỹ được phát hiện; một số khác khẳng định nó ra đời cùng với sự hình thành các nhà nước-dân tộc, sự thành lập ngành ngân hàng, sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản trọng thương, sự xuất hiện của tầng lớp tư sản; một số khác nữa lại nhấn mạnh đến các cuộc cách mạng khoa học và triết học ở thế kỷ XVII mà nếu không có chúng, chúng ta sẽ không có nền công nghệ cũng như công nghiệp. Mỗi quan điểm này đều có những điểm đáng chú ý. Nếu xét riêng lẻ, mỗi ý kiến này chỉ đúng một phần; đặt chúng bên cạnh nhau, chúng tạo thành một kiến giải mạch lạc. Vì lý do đó, có lẽ phần lớn các sử gia văn hóa có xu hướng chọn thế kỷ XVIII như là mốc của tính hiện đại: không chỉ vì thế kỷ đó kế thừa những biến đổi và cách tân mà ta vừa nói, đó còn là thế kỷ tự ý thức nhiều đặc điểm mà đến một ngày nào đó, chúng sẽ trở thành những đặc điểm của thời đại của chúng ta. Đó phải chăng là thời đại đã hình dung trước về thời đại mà hôm nay ta đang sống? Có và không. Sẽ chính xác hơn nếu nói rằng thời đại của chúng ta là thời đại của sự biến dạng những tư tưởng và ảo tưởng của thế kỷ vĩ đại ấy.

Tính hiện đại đã bắt đầu như là một sự phê phán đối với tôn giáo, triết học, luân lý, luật pháp, lịch sử, kinh tế và chính trị. Tính phê phán là một đặc điểm nổi bật, một dấu hiệu phân biệt của nó. Mọi thứ mà ta nhìn thấy ở thời Hiện đại đều là công việc của hoạt động phê phán, hiểu theo nghĩa đó là một phương pháp nghiên cứu, sáng tạo và hành động. Những khái niệm của thời Hiện đại – tiến bộ, tiến hóa, cách mạng, tự do, dân chủ, khoa học, kỹ nghệ – đều có cội nguồn từ sự phê phán. Ở thế kỷ XVIII, lý trí trở thành sự phê phán thế giới và phê phán chính bản thân nó, nhờ đó, làm biến đổi chủ nghĩa duy lý cổ điển và những mô hình hình học phi thời gian của nó một cách triệt để. Lý trí phê phán chính nó: lý trí từ chối những kiến tạo vĩ mô, khiến nó trở thành đồng nghĩa với Tồn tại, cái Thiện, hay Chân lý; nó không còn là Lâu đài của Ý niệm mà thay vào đó, trở thành một lối đi, một phương tiện để khám phá. Lý trí phê phán siêu hình học và những chân lý cách ly tuyệt đối với sự thay đổi: như ta thấy ở triết học của Hume và Kant. Nó phê phán thế giới, trong quá khứ và hiện tại; nó phê phán những cái tất định và những giá trị truyền thống; nó phê phán những thiết chế và tín ngưỡng, Ngai vàng và Ban thờ; nó phê phán những tập tục, những đam mê, cảm giác và tính dục, như ta thấy trong trước tác của Rousseau, Diderot, Choderlos de Laclos, Sade. Và chủ nghĩa phê phán lịch sử của Gibbon và Montesquieu: Sự phát hiện kẻ khác ở Trung Hoa, Ba Tư, ở cộng đồng da đỏ châu Mỹ. Sự thay đổi quan điểm trong thiên văn học, địa lý, vật lý, sinh học. Cuối cùng, sự phê phán hiện hình trong các sự kiện lịch sử: Cách mạng Mỹ, Cách mạng Pháp, phong trào đấu tranh đòi độc lập tại các thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. (Như tôi đã có lần bàn luận trong một số bài viết khác, có nhiều lý do khiến cuộc cách mạng đòi độc lập ở các nước châu Mỹ là thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thất bại trên cả phương diện chính trị và xã hội. Tính hiện đại của chúng ta còn dang dở – hay, chính xác hơn, nó là một thứ lai ghép mang tính lịch sử).

Không phải ngẫu nhiên những cuộc cách mạng vĩ đại này, những cội rễ của lịch sử hiện đại, lại được kích thích bởi ảnh hưởng của những tư tưởng ở thế kỷ XVIII. Đó là một thế kỷ đã sản sinh dồi dào những tư tưởng không tưởng và những dự phóng cải cách xã hội. Người ta đã từng nói rằng trong di sản của thế kỷ XVIII. những tư tưởng không tưởng này chính là thứ ít đem lại những điều tốt đẹp nhất. Song ta không thể phớt lờ hay chỉ kết án chúng: một mặt, quả là đã có nhiều điều kinh hoàng được gây ra nhân danh chúng nhưng mặt khác, ta cũng vẫn phải hàm ơn chúng vì gần như tất cả những hành vi nhân đạo và những giấc mơ của thời Hiện đại cũng được khơi dậy từ đó. Những không tưởng của thế kỷ XVIII là chất men tuyệt vời thúc đẩy lịch sử hai thế kỷ kế tiếp. Không tưởng là mặt trái của sự phê phán và chỉ một thời đại phê phán mới có thể phát kiên những giấc mơ như thế. Những không gian trống do sự phá hủy của tinh thần phê phán để lại hầu như luôn được lấp đầy bởi những kiến tạo không tưởng. Những không tưởng là giấc mơ của lý trí – những giấc mơ có thể chủ động biến thành những cuộc cách mạng, những phong trào canh tân. Tầm quan trọng của những không tưởng là một đặc trưng khác của thời Hiện đại. Mỗi thời đại có thể được nhận diện bởi nhãn quan của nó về thời gian, và trong thời đại của chúng ta, sự hiện hữu liên tục của những không tưởng mang tính cách mạng đã xác nhận vị thế đặc quyền mà chúng ta trao cho tương lai. Quá khứ không hề tốt đẹp hơn hiện tại, sự hoàn thiện không nằm ở phía sau chúng ta, mà ở trước mặt. Đó không phải là một thiên đàng bị ruồng bỏ; đó là một lãnh địa mà đến ngày nào đó, nhất định ta phải chiếm hữu được, một thành phố đến một ngày nào đó ta sẽ xây dựng được.

Thiên Chúa giáo đã thay thế nhãn quan về thời gian mang tính chu kỳ của thế giới Hy Lạp-La Mã cũ bằng một một thứ thời gian tuyến tính, tiếp nối, không thể đảo ngược, một thứ thời gian phải có khởi nguyên và chung cục, kéo dài từ thời khắc Adam và Eve sa giáng cho đến Ngày Phán xử cuối cùng. Đối lập với thứ thời gian hữu tử và mang tính lịch sử này là một thứ thời gian khác, siêu nhiên, không thể bị tổn thương bởi cái chết và sự biến thiên: Cái Vĩnh hằng. Chỉ có một thời điểm duy nhất thực sự có ý nghĩa quyết định đối với lịch sử trần gian này là khoảnh khắc Cứu thế. Sự giáng thế và hy sinh của Jesus Christ tượng trưng cho sự giao cắt của thời tính (temporality) với cái Vĩnh hằng, giữa thời gian liên tục, hữu tử với thời gian của thế giới bên kia vốn luôn đồng nhất với chính nó, không thay đổi, cũng chẳng trôi qua. Một mặt, thời gian hữu hạn của Thiên Chúa giáo, có khởi nguyên và chung cuộc, trở thành thứ thời gian gần như vô hạn của quá trình tiến hóa của tự nhiên và lịch sử, một thứ thời gian luôn mở về tương lai. Mặt khác, tính hiện đại làm suy giảm giá trị của cái Vĩnh hằng: sự hoàn thiện được gửi gắm vào một thứ tương lai không phải thuộc về thế giới kế tiếp mà ở ngay trong thế giới này. Trong hình ảnh nổi tiếng của Hegel, bông hồng của lý trí được đóng đanh vào thời hiện tại. Lịch sử, như ông nói, là ngọn đồi Calvary, nơi Chúa chịu đóng đanh vào cây thánh giá, là sự chuyển hóa cái thần bí của Thiên Chúa giáo thành hành động lịch sử. Con đường đến cái Tuyệt đối men theo thời gian; nó là thời gian. Sự thay đổi và cách mạng là hiện thân cho cuộc diễu hành của nhân loại tiến về phía tương lai và những thiên đường của nó.

Quan hệ giữa Chủ nghĩa lãng mạn và tính hiện đại cùng lúc vừa là mối quan hệ theo kiểu con cái, vừa là mối quan hệ gây nhiều tranh cãi. Chủ nghĩa lãng mạn là đứa con của Thời đại Phê phán, và sự thay đổi nhận trách nhiệm khai sinh nó, đồng thời là dấu hiệu bản sắc của nó. Không chỉ là sự thay đổi ở lãnh địa văn chương và nghệ thuật không thôi mà còn là sự thay đổi trong tưởng tượng, cảm giác, thị hiếu và tư tưởng. Chủ nghĩa lãng mạn là một thứ đạo lý, một chủ nghĩa dục tính, một thứ chính trị, là cách ăn mặc, cách sống và cách chết. Như một đứa con nổi loạn, Chủ nghĩa lãng mạn là sự phê phán đối với truyền thống phê phán của chủ nghĩa duy lý. Đối với thời gian lịch sử, nó thiên vị thứ thời gian khởi nguyên, có trước lịch sử; đối với tương lai không tưởng, nó ưu ái hơn sự hiện diện tức thời của những đam mê, tình yêu và xác thân. Chủ nghĩa lãng mạn là sự phủ định lớn đối với tính hiện đại như nó vốn được quan niệm ở thế kỷ XVIII bởi lý tính phê phán, không tưởng và cách mạng – nhưng đó là sự phủ định vẫn nằm bên trong tính hiện đại Chỉ có Thời đại Phê phán mới tạo ra một sự phê phán tổng thể như vậy.

Chủ nghĩa lãng mạn đã cùng tồn tại với tính hiện đại; không biết bao nhiêu lần, nó đã hòa kết với tính hiện đại chỉ để vi phạm nó. Những sự vi phạm này có nhiều hình thức nhưng lại chỉ tự biểu hiện bằng hai phương thức: loại suy (analogy) và mỉa mai (irony). Với phép loại suy, tôi muốn nói đến “một nhãn quan về vũ trụ như một hệ thống những sự tương ứng và một nhãn quan về ngôn ngữ như là sự nhân đôi vũ trụ”. Đó là một ý niệm rất cũ, nó được những người theo trường phái Tân Platon thời kỳ Phục Hưng phát triển lại, phức tạp hóa, rồi truyền sang nhiều khuynh hướng khác nhau của thuyết Hermes vốn thịnh hành ở thế kỷ XVI và XVII. Sau khi nuôi dưỡng những dòng phái triết học và tư tưởng phóng túng ở thế kỷ XVIII, nó được các nhà lãng mạn và những người hưởng ứng tiếp nhận và chuyển giao cho thời đại chúng ta. Đó là truyền thống trung tâm, tuy nhiên vẫn thuộc dòng ngầm, của thơ hiện đại, kể từ những thi sĩ lãng mạn đầu tiên đến Yeats, Rilke và các tác giả siêu thực. Khi nhãn quan về sự tương ứng của vũ trụ này xuất hiện, kẻ thù song sinh của nó cũng xuất hiện đồng thời: phép mỉa mai. Mỉa mai chính là vết rách trên tấm vải được dệt bởi những phép loại suy, là sự gián đoạn trong mạch liên kết các tương ứng. Nếu phép loại suy có thể ví như một cánh quạt mà khi mở ra, sẽ phát lộ những tương đồng giữa cái này và cái kia, giữa cái vi mô và vĩ mô, giữa các vì sao, những con người và những loài giun dế, thì phép mỉa mai lại xé vụn chiếc quạt này thành nhiều mảnh. Mỉa mai là sự nghịch tai phá vỡ bản đàn, biến nó thành âm thanh chói óc. Mỉa mai có nhiều tên gọi: cái dị thường, cái ngoại lệ, cái kỳ quái, như Baudelaire từng gọi. Và cái chết, nói tóm lại, là sự mỉa mai lớn nhất, cái ngẫu nhiên thảm khốc ấy.

Phép loại suy có một vị trí xác định, đóng vai trò không thể thiếu, trong huyền thoại: bản chất của nó là nhịp điệu, thời gian chu kỳ của những sự xuất hiện và biến mất, những cái chết và những sự phục sinh. Mỉa mai là sự xâm nhập của tư duy phê phán vào trong vương quốc của sự tưởng tượng và cảm giác: thời gian của nó là tuyến tính, dẫn đến cái chết – cái chết của cả con người lẫn những thượng đế. (Đề tài về cái chết của Thượng đế xuất hiện trong ý thức hiện đại cùng lúc với sự xuất hiện những văn bản đầu tiên của các nhà lãng mạn). Một hành vi vi phạm lẫn nhau: phép loại suy thay thế thời gian tuyến tính của lịch sử và điển phạm hóa tương lai không tưởng bằng thời gian chu kỳ của huyền thoại; phép mỉa mai, đến lượt nó, lại xé vụn thời gian huyền thoại để xác nhận sự rơi vào cái ngẫu nhiên, sự đa nguyên của thánh thần của các huyền thoại, cái chết của Thượng đế và những tạo vật của ông ta. Những mơ hồ song sinh của thơ lãng mạn. Đầu tiên, đó là thứ thơ ca mang tính cách mạng, nhưng nó ra đời không phải như là sự đồng hành mà như là sự bất chấp những cuộc cách mạng của thế kỷ. Thứ hai, thái độ mộ đạo của nó công nhiên chống lại tất cả những sự duy danh của Thiên Chúa giáo. Lịch sử của thơ hiện đại, từ chủ nghĩa lãng mạn đến chủ nghĩa tượng trưng, là lịch sử của những tuyên ngôn khác nhau về hai nguyên lý đã cấu thành nên nền thơ ca này ngay từ khi nó ra đời: phép loại suy và phép mỉa mai.

(Còn tiếp)

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Octavio Paz, “Breach and Convergence”, The Other Voices  – Essays on Modern Poetry, bản dịch Anh ngữ từ tiếng Tây Ban Nha của Helen Lane, A Harvest/HBJ Book: 1990, p 31-59.

Posted in Dịch thuật, Lý thuyết phê bình, Thơ, tiểu luận, Tư liệu tham khảo, Văn học | Tagged , , , , , , | 2 phản hồi

Caroline Levine – Ủng hộ Văn học Thế giới

Bài viết dưới đây thực chất là bài điểm ba cuốn chuyên luận về văn học thế giới xuất bản gần như cùng một thời điểm: Against World Literature: On the Politics of the Unstranslatability của Emily Apter, Distant Reading của Franco Moretti và On Literary Worlds của Eric Hayot – cả ba đều là những học giả hàng đầu của ngành văn học thế giới.

Tôi biết đến khái niệm “văn học thế giới” cách đây cũng mấy năm. Khi đó, trong đợt các giáo sư từ ĐH Harvard đến Viện Văn học làm việc, tôi đã được nghe GS David Damrosch thuyết trình về lĩnh vực này. Nhưng khi ấy tôi thực sự không hiểu ý nghĩa của lĩnh vực nghiên cứu này. Năm ngoái khi được tặng cuốn sách của Emily Apter, tôi cũng đã không thể đọc quá được chục trang vì không hiểu ngữ cảnh nghiên cứu, thậm chí, lúc đó, tôi đã nghĩ cuốn sách của Apter là cuốn sách chỉ gắn liền với những vấn đề của nước Mỹ và rất khó có thể tìm được sự móc nối nào với thực tế văn học Việt Nam.

Bài điểm sách này không dễ dịch, nhưng không quá khó hiểu. Chỉ đến bài điểm sách này thực sự tôi mới hiểu vì sao ngành văn học thế giới lại được khuyến khích. Nó đưa ra một đề nghị táo bạo: giải phóng nghiên cứu văn học ra khỏi thứ chủ nghĩa dân tộc chính trị, ra khỏi khung dân tộc, quốc gia như là cái khung tốt nhất, thậm chí duy nhất đồng thời giải phóng văn học ra khỏi những mưu toan của chủ nghĩa bá quyền văn hóa toàn cầu. Nghiên cứu văn học ở đây mang tính chính trị bởi nó chất vấn chính những mưu toan chính trị đang ràng buộc nó một cách tinh vi.

Caroline Levine không chỉ tổng thuật nội dung những tác phẩm trên. Bà đưa ra cả những suy tư đầy gợi mở của mình. Tôi thu hoạch ngay được một số điều: 1- ngay cả 1 văn bản đơn lẻ cũng luôn rộng hơn mọi hiểu biết, mọi tri thức mà một học giả đơn lẻ có được, nó luôn luôn có thể được đặt vào một mạng lưới liên văn bản mang tính thế giới. Ý nghĩa sâu xa của mọi văn bản là chúng góp phần kiến tạo nên những “thế giới” như những ý niệm tinh thần chi phối nhận thức và hành động của chúng ta; 2- chúng ta luôn sống trong hơn một thế giới, hơn một lịch sử, văn chương cũng có thể có hơn một lịch sử của mình. Lịch sử văn học dường như lộ ra câu chuyện thú vị của nó ở những đường vòng, ở những nối kết, những đụng độ, những va chạm bất ngờ. Vì thế nghiên cứu văn học không thể chỉ dừng lại ở đơn vị văn bản và xem đó là đơn vị tĩnh, ta cần nghiên cứu văn bản văn học như một thực thể du hành trên những không gian rất vật chất; 3- Đọc văn học thế giới để làm gì? Câu hỏi này làm tôi nhớ lại một tranh luận trên facebook của một người bạn, khi người bạn ấy than phiền một cách rất có lý về chương trình ngữ văn hiện nay. Khi đó, tôi đã hỏi bạn: nếu được viết sách, bạn sẽ chọn những tác phẩm như thế nào. Bạn nói, sẽ gia tăng phần văn học nước ngoài. Tôi không đồng ý khi đó vì vẫn nghĩ tìm hiểu văn học dân tộc luôn quan trọng hơn. Nhưng bài này Caroline Levine đưa ra một quan niệm khác: rất nên đọc những nền văn học, những tác phẩm có vẻ không thân thuộc, xa lạ vì chính chúng sẽ khiến ta phải nghĩ lại, tưởng tượng lại cái thế giới quen thuộc mà ta thừa nhận nó cứ như thể một điều tất nhiên.

Tôi nghĩ đó là những gợi mở hữu ích. Trước hết cho chính bản thân tôi. Chẳng hạn, qua bài này, tôi đã nghĩ đến việc thử nghiên cứu Truyện Kiều như chính những gợi ý của tác giả Eric Hayot. Vì thế, tôi dịch bài này.

*

World map attributed to Chinese Admiral Zheng He (1418; copy, 1763)Bản đồ thế giới được cho là của đô đốc Trung Hoa Zheng He công bố năm 1418

Có thể nói câu chuyện về ngành nghiên cứu văn học ở Hoa Kỳ là một quá trình mở rộng kéo dài. Trong suốt hàng trăm năm, người ta xem chỉ có Văn học cổ điển mới là đối tượng xứng đáng để giới hàn lâm chú ý nghiêm túc, kéo theo đó là những phản đối quyết liệt việc giới thiệu các khóa học về văn học hiện đại ở thế kỷ XIX. Trong khi văn chương Latin và Hy Lạp “xác lập rõ ràng một thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn và giàu chất nam tính, thì văn chương hiện đại… lại chỉ phá vỡ và làm nữ tính hóa tâm hồn”[1], Alexander Kinmont đã viết như thế vào năm 1834. Tuy nhiên, những người tìm cách giới hạn danh mục sách đọc ở trường đại học đã thua trong trận chiến đó, và họ vẫn tiếp tục thua. Chaucer, Spenser, Shakespeare, Milton, Dryden và Pope trở thành những đối tượng được nghiên cứu thường xuyên từ sau 1850; các chuyên đề về tiểu thuyết bắt đầu được mở vào khoảng năm 1900. Văn học Mỹ đấu tranh để đòi sự công nhận của giới hàn lâm từ sau Thế chiến thứ nhất và đến những năm 1960, xuất hiện những tiếng gọi đòi mở rộng các điển phạm sang văn chương của phụ nữ, văn chương cộng đồng người Mỹ gốc Phi, các nhà văn hậu thuộc địa, v.v…[2]

Trong câu chuyện về sự mở rộng không ngừng các điển phạm này, việc nghiên cứu văn học thế giới mới bắt đầu có ý nghĩa thực sự. Nó đơn giản là chương mới nhất trong một câu chuyện lớn hơn về sự mở rộng những chân trời của nghiên cứu văn học. Song văn học thế giới cũng dẫn đến nhiều lời kêu ca. Chẳng phải phi lý hay sao khi cố gắng nghiên cứu văn học của toàn thế giới này? Làm sao người ta có thể có hiểu biết về một đối tượng mênh mông, đồ sộ như thế? “Một ý tưởng điên rồ,” Claudio Guillén đã viết như thế, “một việc bất khả thi. Những biên tập viên liều lĩnh nhất cũng chưa bao giờ có tham vọng làm một việc như vậy.”[3] Thậm chí đáng lo hơn nữa, chính tham vọng nghiên cứu văn học thế giới, đối với một số nhà phê bình, chứng tỏ một thứ ý chí đoạt quyền lực mang bản chất đế quốc. Các học giả Hoa Kỳ, những người đang làm công việc tập hợp văn chương thế giới vào một chỉnh thể duy nhất, dễ nắm bắt được, dường như chính là những công cụ sẵn sàng cho một mưu toan bá quyền toàn cầu tham lam.

“Trong cuộc chạy đua của các trường đại học trên khắp thế giới để được cấp thương hiệu ‘toàn cầu’, người ta đã chộp lấy ngành Văn học Thế giới như một cái nhãn gây chú ý vì tính chất bao quát của nó để đặt cho những chương trình rất nông cạn ở các khoa nhân văn. Các chương trình này đều phớt lờ thay vì đào sâu tri thức địa phương.” Emily Apter đã viết như thế khi bà tổng thuật quan điểm của những nhà phê bình công kích mạnh mẽ nhất ý niệm về văn học thế giới. Quá bao la để đọc và để phân tích một cách không hời hợt, những nhà phê bình này nhận định, văn học thế giới sẽ nuốt chửng tất cả những sắc thái và khác biệt: hoặc là nó “củng cố lại những liên minh các thiết chế văn chương cũ mang tính chất quốc gia, khu vực, dân tộc”; hoặc là nó phóng chiếu một hình ảnh có kích thước của hành tinh, phi quốc gia, hoàn toàn không chú ý gì đến những cấu trúc bề sâu của những mối liên đới mang tính chất quốc gia, dân tộc và những lợi ích kinh tế bao quanh ngành công nghiệp văn hóa quốc tế.”

Theo mô tả của Apter, người ta không thể nào “tập hợp và xây dựng khung chương trình trên cơ sở những nguồn tài nguyên văn học thế giới” một cách hợp lý; bất cứ những nỗ lực muốn làm việc trên “chiếc cân Gargantua” sẽ buộc phải trở lại với những chiến lược quen thuộc và mang tính hình thức vốn chỉ củng cố thêm chủ nghĩa vị chủng (ethnocentrism), thí dụ như đọc qua bản dịch, phụ thuộc vào những phạm trù quen thuộc như quốc gia, vùng miền, dân tộc,  hoặc vượt qua sự đa dạng bằng cách phớt lờ hay khỏa lấp những khác biệt. Emily Apter không phải không có lý khi bận tâm về chủ nghĩa bá quyền của Mỹ, nhưng phải chăng chính bà cũng đang bào chữa cho điều này khi nêu ra cán cân văn học thế giới như một vấn đề đặc biệt? Đối tượng nghiên cứu của chúng ta giờ đây lần đầu tiên bị nghi ngờ: phải chăng nó quá lớn để có thể hiểu về nó?

Hai lý thuyết gia khác về văn học thế giới là Eric Hayot và Franco Moretti lại nhìn thấy một chiều sâu và sự phong phú mang tính phê phán đầy hứa hẹn hơn là một sự phẳng dẹt trong chiếc cân khổng lồ của văn học thế giới. Hai cuốn sách mới của họ, On Literary Worlds (Về những thế giới văn chương) và Distant Reading (Đọc xa), xuất hiện gần như đồng thời với công trình của Apter. Cả ba nhà phê bình này đã tham gia vào một cuộc tranh luận về văn học thế giới vốn đã và vẫn diễn ra sôi nổi từ hơn chục năm qua. Một bên là những học giả như David Damrosch, người xem văn học thế giới như một cách để giải phóng nghiên cứu văn học ra khỏi tính chất tỉnh lẻ, địa phương (de-provincializing) của nó. Damrosch đề nghị ta chú ý đến nhiều con đường mà các văn bản vượt qua các biên giới để tiếp cận những công chúng mới[4]. Phía bên kia là những nhà phê bình như Gayatri Spivak, người đã tích cực tranh cãi để phản đối ngành văn học thế giới vì cho rằng việc đọc qua bản dịch sẽ làm mất đi tính đặc thù trong các thành ngữ và phong cách, do đó, sẽ gộp văn chương thế giới vào trong một thứ tiếng Anh dễ hiểu nhưng cũng dễ đánh lừa[5].

Tên cuốn sách của Apter, Against World Literature (Chống lại văn học thế giới), cho thấy bà chủ định mở một vòng tranh luận mới về đề tài này, nhưng trên thực tế, không nhiều trang trong cuốn sách mới của bà quan tâm đến văn học thế giới. Bà tập trung chủ yếu vào những trường hợp đặc biệt về sự dịch nhầm, sự bất khả của dịch thuật và những con đường lạ lùng mà văn học đi qua. Moretti, về phần mình, lại nhiệt tình chào đón việc mở ra ngành văn học thế giới kể từ năm 2000 và một số tiểu luận quan trọng của ông về đề tài này như “Conjectures on World Literature” (Những ước đoán về văn học thế giới), “More Conjectures” (Thêm những ước đoán) và “Evolution, World Systems, Weltliteratur” (Sự tiến hóa, Những hệ thống thế giới, Văn học thế giới) đã được tập hợp lại trong cuốn sách mới của ông, Distant Reading. Hayot, một tiếng nói đáng chú ý của ngành văn học so sánh, lĩnh vực vốn thường được xem như là đối thủ của văn học thế giới, lại mang đến một sự đóng góp mới, thú vị cho cuộc tranh luận này.

Hayot và Moretti rất khác nhau song đối với cả hai ông, sự mênh mông của văn học thế giới mang đến một cơ hội hơn là sự mất mát. Đó chính là điều kích thích một cách đặt vấn đề lại, một sự nghĩ lại về những hoạt động cơ bản của nghiên cứu văn chương: làm thế nào chúng ta đọc các văn bản ở một lĩnh vực rộng hơn bất cứ tri thức của một học giả đơn lẻ? Làm thế nào một bàn cân mới có thể giúp tổ chức lại những đối tượng nghiên cứu của chúng ta? Những gì cấu thành một tri thức đầy đủ về văn học? Cái gì mất đi trong trật tự cũ của lĩnh vực, những loại tri thức nào chỉ có thể có được khi chúng ta chuyển sang bàn cân thế giới?

Hayot cho rằng tất cả những nỗ lực mở rộng lĩnh vực này trước đó đều cho phép chúng ta cứ kể mãi câu chuyện của văn chương như thể Châu Âu luôn là khởi điểm và phần còn lại của thế giới luôn xuất hiện sau và chỉ mô phỏng lại châu Âu mà thôi. Đó là vì các phạm trù phân kỳ truyền thống luôn được tổ chức xung quanh những cách tân của châu Âu, như sự “phát hiện Tân Thế giới” hay sự trỗi dậy của tiểu thuyết. Cái khung của văn học thế giới có thể xem là sự dịch chuyển trọng điểm đầu tiên để có thể làm lung lay thói quen này, làm chúng ta thôi nhét một cách dễ dãi các văn bản vào trong bảng niên đại lấy châu Âu làm trung tâm. Hayot đề xuất những khoảng thời gian không thật sự quen thuộc – chẳng hạn, độ dài của tính hiện đại, một thế kỷ từ 1850 đến 1950 – để xem điều gì xảy ra với tri thức về văn chương của chúng ta nếu ta phân kỳ thời gian theo những cách thức mới.

Lời đề nghị của Moretti, giờ trở nên nổi tiếng, về một lối “đọc xa”, còn muốn làm lung lay học thuật truyền thống theo một cách còn kịch tính hơn. Trước thực tế mênh mông của văn học thế giới, ông kêu gọi một hình thức hợp tác mới giữa các học giả làm việc trong lĩnh vực văn học quốc gia. Ông bắt đầu sử dụng những phương pháp định lượng – gắn thẻ văn bản (text tagging), khai thác dữ liệu (data mining), thiết lập bản đồ – để nắm bắt một trường đối tượng quá rộng đối với bất cứ những học giả đơn lẻ nào làm việc với những thủ pháp, kỹ thuật truyền thống của lối đọc gần. Ông trình bày những phương pháp hữu hình hóa thông tin thay thế cho những luận điểm diễn dịch đã thành quy phạm: phác ra bản đồ sự phân phối toàn cầu các bộ phim hành động và hài kịch, xây dựng sơ đồ hình cây để theo dõi sự phát triển của các thể loại. Khi phân tích sự thay đổi của văn chương thông qua thuyết tiến hóa và rút ra lịch sử kinh tế từ việc nghiên cứu những hệ thống thế giới, Moretti đã giới thiệu một loạt những cách tiếp cận còn xa lạ để tìm hiểu văn học trên bàn cân mới rất khổng lồ này.

Những mô hình của Moretti đã không thuyết phục được nhiều nhà phê bình văn chương theo xu hướng ứng dụng lý thuyết. Chúng có vẻ quá trừu tượng đối với Joe Cleary và Natalie Melas, chúng quá loay hoay trong kho dữ liệu lớn đối với James English và Kathleen Fitzpatrick, chúng quá lệ thuộc vào một mô hình sinh học để miêu tả lịch sử văn hóa đối với Christopher Prendergast[6]. Những một điều có ý nghĩa lớn hơn cả những mô hình khoa học mà Moretti đề cao: đó là câu hỏi về cái gì có thể biết. Chúng ta thường nghĩ rằng các thời kỳ và các quốc gia đã chia cắt trường văn học thành những đơn vị tri thức dễ sử dụng, dễ thao túng, giúp cho các chuyên gia có thể đi sâu vào từng mảnh nhỏ. Apter rõ ràng mong mỏi đến một lúc nào đó, chúng ta có thể đắm mình vào cái mang bản sắc, lịch sử địa phương với sự am hiểu sâu sắc. Nhưng sự chú ý của Moretti đến bàn cân đồ sộ của văn học thế giới cho phép chúng ta hiểu rằng đây thực sự là một sự tưởng tượng kỳ vĩ. Các học giả truyền thống chưa bao giờ chú ý đầy đủ đến thực tế rằng các văn bản của chúng ta luôn luôn quá rộng lớn để một độc giả đơn lẻ có thể hiểu về chúng đầy đủ: “có ba vạn tiểu thuyết ở thế kỷ XIX hiện còn đó, nhưng cũng có đến bốn mươi, năm mươi, sáu mươi vạn tiểu thuyết không ai thật sự biết đến, không ai từng đọc chúng và sẽ đọc chúng.” Những kỹ thuật truyền thống của lối đọc gần chỉ đem đến cho chúng ta tri thức về một mẩu vụn bạc của lịch sử văn học – chưa đến 1% tiểu thuyết được viết ra ở một đất nước trong một thế kỷ. Nói tóm lại, chúng ta đã và vẫn cứ là những độc giả “hời hợt”, để dùng lại chữ của Apter, chỉ lướt qua bề mặt của hoạt động sản xuất văn chương – chúng ta chỉ có một nhúm văn bản đại diện cho toàn bộ những nền văn hóa của chúng ta.

Nếu chúng ta sẵn sàng thừa nhận rằng luôn một sự không biết, không nhận thức đầy đủ luôn quấy nhiễu những đối tượng của chúng ta thì ý niệm văn học thế giới, ít nhất, có ưu điểm ở chỗ nó có thể giải phóng chúng ta, cho phép ta nghĩ đến những sự sắp đặt mới.. Theo những cách rất riêng nào đó, những sự sắp đặt cũ làm méo mó hiểu biết của chúng ta về văn học. Gầ như suốt thế kỷ XX, cái khung quen thuộc nhất của nghiên cứu văn học là quốc gia, nó thường xuyên làm mờ đi những cách mà các văn bản du hành qua các biên giới  vào nhào nặn lại các nền văn hóa mà chúng gặp gỡ. Thí dụ, nhà viết kịch người Nauy, Henrik Ibsen, gây hấn đồng thời thu hút khán giả trên toàn thế giới, dẫn đến sự hình thành một lối viết kịch hoàn toàn mới ở Trung Hoa[7]. Hồi đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Du, trong Truyện Kiều, đã  biến đổi truyện thơ Việt Nam bằng việc gắn nó với triết học và thi ca Trung Hoa. Và Toni Morrison đã viết cuốn tiểu thuyết Song of Solomon (1977) từ truyền thống nghệ thuật kể chuyện của châu Phi.[8] Như một quy ước, ta đọc Herman Meville và Emily Dickinson như là những nhà văn Mỹ quan trọng của thế kỷ XIX dù hầu như họ ít được biết đến đương thời, trong khi tác phẩm của Charles Dickens lại có được một lượng công chúng ở Mỹ nhiều hơn bất cứ tác giả Mỹ nào cùng thời[9]. Bertolt Brecht và Sergei Eisentein chắc sẽ đội mồ sống dậy nếu họ biết những kỹ thuật lạ hóa và montage của họ – vốn chủ ý được dùng để khích động cách mạng của giai cấp công nhân –  đã trở thành chiêu trò thường ngay trên sân khấu nhạc kịch Broadway và quảng cáo truyền hình một cách thành công như thế nào[10].

Những ví dụ đó khiến ta phải nghĩ lại về những truyền thống quốc gia, dân tộc. Chúng ta thường học văn học Pháp theo kiểu người ta có thể vạch một đường thẳng ngược từ Proust về Flaubert và Stendhal. Chúng ta học văn học Nga với quan niệm cho rằng sáng tác của Chekhov khởi nguồn từ Tolstoy và Pushkin. Chúng ta quên mất sự thực Proust đã đọc ngấu nghiến Dostovesky và Ruskin, Chekhov đã ngay lập tức say mê sân khấu khi ông xem trình diễn vở La Belle Hélène – vở operetta về Hy Lạp cổ đại được viết bằng tiếng Pháp của tác giả vốn sinh ra tại nước Đức, Jacques Offenbach[11].

Lối đọc và viết xuyên quốc gia xuất hiện như một quy tắc hơn là một ngoại lệ. Điều này không chỉ đúng đối với ý niệm tính hiện đại phương Tây. Các thi sĩ Ba Tư và Bengali tiếp nhận hình thức thơ ghazal của Arab thế kỷ XVI. Thể thơ này cuối cùng lại lan đến tận châu Âu và Bắc Mỹ, được Federico Garcia Lorca và Adrienne Rich, bên cạnh nhiều nhà thơ khác, tiếp thu[12]. Wai Chee Dimock đã biện luận cho một tập hợp những phương pháp mới trong nghiên cứu văn học mà theo bà, đó là những phương pháp hợp lý, công bằng đối với những hành trình xuyên quốc gia của văn chương. Bà đọc văn chương Mỹ “qua trục thời gian bề sâu” (across deep time), theo cách đọc ấy, nền văn học này mọc lên từ những lịch sử của sự viết đã có trước sự ra đời của quốc gia này từ rất lâu. Thí dụ,  bà đã theo dõi con đường mà tác phẩm viết bằng ngôn ngữ Sanskrit cổ đại – Bhagavad Gita – đã định hình nên Henry David Thoreau, để rồi những tiểu luận viết sau này của ông lại thôi thúc Mohandas Gandhi thời trẻ đọc lại Bhagavad Gita[13]. Ghandi sau này lại lập nên nhà xuất bản có thên Internation Printing Press, như Isabel Hofmeyr vừa cho ta biết thông tin, một nhà xuất bản đóng tại Nam Phi, khi đó, muốn vươn đến cộng đồng người đọc Ấn Độ trải khắp châu Phi, Ấn Độ, và vương quốc Anh. Nhà xuất bản này in những bản dịch và các sách in lại từ khắp nơi trên thế giới, trong đó gồm có các trích đoạn của Ruskin, Tolstoy và Thoreau; cuối cùng Ghandi lại có ảnh hưởng rất lớn đến Martin Luther King[14]. Sự ảnh hưởng, theo mô tả này, đã du hành từ Ấn Độ đến Hoa Kỳ, trở lại Ấn Độ, vòng quanh thế giới, rồi lại quay trở về Hoa Kỳ, để lại không chỉ một dấu ấn văn chương mà còn là một dấu ấn quan trọng về mặt địa chính trị trên đường đi.

Hãy nhớ rằng không một đối tượng nào của chúng ta – các nền văn hóa, các độc giả, các nhà văn – chỉ vừa vặn bên trong khung quốc gia, vậy thì tại sao chúng ta lại cứ luôn hình dung các quốc gia mới là những nguyên tắc tổ chức tốt nhất cho việc nghiên cứu văn học? Câu trả lời nhiều khả năng là bởi chủ nghĩa dân tộc về chính trị. Việc nghiên cứu văn học Anh, như Gauri Viswanathan đã đưa ra căn cứ, thực sự bắt đầu ở Ấn Độ như một cách nhằm đào tạo những người Ấn dưới thời thuộc địa của Anh trở thành những kẻ chấp nhận văn hóa Anh như là văn hóa thượng đẳng[15]. Tương tự, truyền thống văn chương Đức được thiết chế hóa ở thế kỷ XIX như là một cách giúp nước Đức cố kết lại trong một sự thống nhất về chính trị[16]. Đáp lại những luận điệu của Liên Xô những năm 1940-1950 khi cho rằng Hoa Kỳ là một quốc gia nông cạn và tôn thờ chủ nghĩa vật chất mà không có nền văn hóa nào thực sự là của mình, các nhà hoạch định chiến lược thời Chiến tranh lạnh đã tìm cách thiết lập nền văn hóa Mỹ như một vũ khí trong cuộc đấu tranh vì lương tâm và trí tuệ trên toàn thế giới[17].

Trước những nguy hiểm của chủ nghĩa dân tộc – mà sống động nhất chính là trường hợp nước Đức, hoàn toàn có lý khi ta nên chấm dứt sự ràng buộc của nghiên cứu văn chương vào những chương trình chính trị mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa. Song liệu chúng ta có thể tổ chức lại những đối tượng nghiên cứu của chúng ta để tránh nguy cơ rơi vào cơn ác mộng mà Apter lo ngại: chúng bị đồng hóa bởi chủ nghĩa bá quyền toàn cầu của Hoa Kỳ? Tôi nghĩ chúng ta có thể. Cuộc tranh luận giờ đây đang nổi lên giữa các học giả ngành văn học thế giới được bắt đầu với những câu hỏi về quyền lực chính trị toàn cầu, sự giàu có và bất bình đẳng; cuộc tranh luận ấy cứ liên tục phải trở lại vấn đề về những mối quan hệ của văn học với những điều kiện lịch sử vật chất – cách mà văn hóa được nhào nặn, định hình bởi các điều kiện chính trị, kinh tế như thế nào. Những học giả hào hứng đối với một ý niệm văn chương thế giới mở rộng, trương nở đã không ngừng đặt văn học trong mối liên hệ với hoạt động thương mại toàn cầu, họ chất vấn các cuốn sách thực chất đã dịch chuyển qua các biên giới như thế nào: chúng có lưu thông như những xe hàng chở kèm theo các loại gia vị, những nhà truyền giáo, những người nô lệ, hay thuốc phiện? Chúng được người ta mua, tái bản, mượn hay đánh cắp? Moretti đã lấy cái khung lịch sử kinh tế thế giới như là điểm xuất phát của mình và sử dụng các bản đồ kinh tế và địa chính trị để tổ chức công trình nghiên cứu văn học của mình. Những học giả khác quan tâm đến văn học thế giới, như B.Vekat Mani, tuy tránh xa lý thuyết về những hệ thống thế giới nhưng vẫn cố hướng sự chú ý của chúng ta đến những con đường vật chất mà văn học đi theo – những lối đi được hình thành bởi in ấn, buôn bán, lưu vong và xâm chiếm[18].

Hầu hết các học giả trong ngành văn học thế giới đều bắt đầu bằng việc từ chối tình toàn diện được mặc định là đúng đắn của quốc gia – một niềm tin dai dẳng rằng một nền văn hóa biểu đạt một dân tộc. Thay vào đó, họ đặt câu hỏi một văn bản cụ thể bắt đầu ở đâu, nó dịch chuyển thế nào, ai là người đã đọc nó. Họ đặt những câu hỏi về  những giá trị nào, những chương trình nghị sự nào đã thúc đẩy những quyết định dịch thuật những văn bản, đem chúng đến những công chúng mới. Và họ băn khoăn về việc những vận động văn hóa như thế bằng cách nào lại tạo ra hoặc củng cố sự bất bình đẳng toàn cầu đang ngày càng gia tăng. Không có động thái nào “củng cố lại những liên minh các thiết chế văn chương cũ mang tính chất quốc gia, khu vực, dân tộc” như Apter e sợ hay “không chú ý gì đến những cấu trúc bề sâu của những mối liên đới mang tính chất quốc gia, dân tộc và những lợi ích kinh tế bao quanh ngành công nghiệp văn hóa quốc tế”.

Một ngoại lệ thú vị trong cách đặt trọng điểm khi nghiên cứu các hành trình văn học là Hayot, người ít quan tâm đến việc theo dõi những sự dịch chuyển của các cuốn sách trên phạm vi toàn cầu hơn là những cách thức khác nhau, theo đó, văn học tưởng tượng, xác lập và lý thuyết hóa các thế giới. Điều này có vẻ như là sự rút đi tính chính trị nhưng thực ra Hayot đã đặt một câu hỏi có tính chất nền tảng, có khả năng làm thay đổi chính những thuật ngữ của bản thân cuộc tranh luận này. Ông nêu vấn đề, làm sao bất cứ ai trong chúng ta cũng nghĩ ngay đến “ý niệm thế giới”? On Literary Worlds mời gọi chúng ta đi vào tìm hiểu nhiều chiến lược đa dạng mà qua đó các văn bản văn chương tạo nên các thế giới: một số mang đến những thế giới xã hội dày đặc những chi tiết hiện thực, những quan hệ giữa các nhân vật, các hoạt động; một số khác lại những lãnh địa dư thừa và tách biệt một cách chủ ý, những lựa chọn khác thay cho bất kỳ thế giới quen thuộc nào.

Luận điểm của Hayot thú vị, giàu sức gợi mở và tôi muốn đẩy vấn đề đi xa hơn một bước, không bó hẹp trong phạm vi chặt chẽ của văn chương, để chú ý đến một loạt những cách mà các lý thuyết gia về văn học thế giới đã hình dung, tưởng tượng về “thế giới”. Đối với Apter, nghĩ đến một thế giới mênh mông, được liên kết lại thành một thực thể đơn nhất đồng nghĩa với việc muốn nuốt chửng sự đa nguyên vào một “nền văn hóa độc canh (monoculture) du hành khắp thế giới và thấm hút mọi sự khác biệt”, đối với Moretti, “thế giới” là một hệ thống kinh tế hành tinh, “vừa là duy nhất, vừa không bình đẳng”, được tổ chức xung quanh một hạt nhân, vùng ngoại biên và bán ngoại biên; đối với Dimock, quan sát những nẻo đường toàn cầu được tạo ra qua nhiều thế kỷ cho phép ta thấy được sự hẹp hòi và tư tưởng tỉnh lẻ trong cách hiểu thông thường của chúng ta về truyền thống văn hóa. Có nhiều cách khác nhau để tưởng tượng về cách thế giới và Hayot là lý thuyết gia có thể giúp chúng ta một cách tốt nhất để thấy được cách lý thuyết hàn lâm về thế giới cạnh tranh nhau thực sự đã vận hành như thế nào.

Phương pháp của Hayot cũng có thể dẫn chúng ta ngược trở lại với những con đường vật chất. Theo ví dụ của ông, chúng ta có thể so sánh “thế giới” của Truyện Kiều, được sáng tác ở Việt Nam vào khoảng năm 1815 với những thế giới được hình dung bởi tác phẩm cùng thời với nó, như Emma của Jane Austen, tiểu thuyết Kính hoa duyên của nhà văn Trung Hoa Lý Nhữ Trân, những bài thơ theo thể ghazal viết bằng ngôn ngữ Urdu của thi sĩ Ấn Độ Ghalib, tác phẩm “Thư Jamaica” (lời kêu gọi thống nhất các quốc gia châu Mỹ Latin) của Simón Bolívar, những chuyện kể về thần Anansi[19] được những người nô lệ mang từ Tây Phi sang Đại Tây Dương. Tất cả những văn bản này đều trình bày ảnh hưởng của biến động lịch sử, tất cả đều hàm chứa những suy tư về những môi quan hệ giữa quyền lực và sự bất bình đẳng; tất cả đều thể hiện mối quan tâm đến những chuẩn mực về giới tính, tất cả đều xác lập những giá trị luân lý; và tất cả đều du hành qua các biên giới. Chúng cùng cho ta thấy “thế giới” đang được tưởng tượng như thế nào trên khắp thế giới tại cùng thời điểm. Và chúng ta hoàn toàn có thể so sánh những văn bản này một cách hiệu quả, theo mô hình của Hayot, bằng cách khảo sát, nghiên cứu những phương pháp hình thức khác nhau nhằm trình hiện các thế giới cho chúng ta.

Những cách tiếp cận văn chương thế giới, do đó, có ưu điểm ở chỗ chúng cho phép chúng ta bỏ qua chủ nghĩa dân tộc mà vẫn không lấy đi sự chú ý đến chính những mối quan hệ quyền lực thực sự đã định hình việc tạo lập và phát tán văn hóa. Song Apter lo ngại những điều này vẫn khuyến khích chúng ta dành thời gian để đọc qua bản dịch mà việc này, như bà lập luận, có thể dẫn đến việc đồng nhất hóa các nền văn học qua thời gian và không gian,  khiến người ta không tích cực học ngoại ngữ và làm cho khối độc giả Anh ngữ tự cô lập mình trong vỏ kén độc ngữ (monolingual). Theo Apter, ngành văn học thế giới đã thành công khi ủi phẳng đi tất cả những khác biệt ngôn ngữ trên thế giới thành một thứ tiếng Anh dễ tiếp cận, điều này khiến chúng ta không bao giờ “phải nghi ngờ ý niệm về hiệu quả của dịch thuật, về sự chiến thắng của bản thế, về việc có một cái gì đó giờ đây có thể vừa khít ở vị trí của một cái gì khác.”

Thế nhưng, nếu chỉ đọc tác phẩm bằng ngôn ngữ nguyên tác cũng sẽ giới hạn chính con đường của văn học, sẽ chặn cửa phần lớn sáng tác của thế giới đến với mình. Tôi có thể đọc một cuốn sách bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Italia hay tiếng Đức, những ngôn ngữ được đưa vào khung chương trình mà tôi được đào tạo, nhưng nếu tôi từ chối đọc bản dịch, tôi sẽ hoàn toàn vô tri trước những nền văn học khác – văn học Arab, Trung Hoa, Tây Ban Nha, Việt Nam, Sanskrit, Hy Lạp cổ đại và hàng ngàn nền văn học bằng những ngôn ngữ khác. Và thậm chí ngay cả kẻ biết nhiều thứ tiếng nhất cũng chẳng bao giờ học được nhiều hơn một phân số cực nhỏ so với số lượng ngôn ngữ có trên thế giới.

Và cũng không thể quả quyết những tác phẩm đến những thời gian, không gian xa xôi sẽ dễ dàng đem đến cảm giác về sự thân quen qua bản dịch. Những văn bản không giống nhau điểm nào như Gilgamesh Vụ án (Franz Kafka), ít nhất, đối với tôi và các sinh viên của tôi,  giống như những mời mọc đến những thế giới xa xôi hấp dẫn, với những quy tắc, những mối quan hệ quyền lực và địa lý lạ lẫm. Phần lớn những sự tưởng tượng thế giới này, để dùng lại thuật ngữ của Hayot, hoàn toàn có thể sống khỏe qua bản dịch. Và những thế giới văn chương không quen thuộc chính là một trong số những cách thức hiệu quả nhất để va chạm, tiếp xúc với những giá trị và những mong đợi lạ lẫm, bất ngờ. Văn chương qua dịch thuật, do đó, có thể thôi thúc chúng ta nghĩ lại, tưởng tượng lại những thế giới quen thuộc mà ta cứ chấp nhận nó như thể tất nhiên.

Trở lại năm 1834, Alexander Kinmont muốn nâng cao gu thẩm mỹ của độc giả bằng việc giới hạn danh sách sách đọc của họ. Tôi muốn làm điều ngược lại. Tôi muốn mở rộng gu của mình và của sinh viên mình dạy, thông qua việc tạo ra những tiếp xúc, gặp gỡ, va chạm với những tác phẩm gây ngạc nhiên, phức tạp và ấn tượng. Vì chỉ có 3% sách bán ở Hoa Kỳ là sách dịch từ những ngôn ngữ khác, nên khó có thể nói chúng ta đang có một nền văn hóa muốn nhấn chìm những thế giới khác. Xét về ý nghĩa chính trị, chẳng phải sẽ tốt hơn nếu ta bắt đầu thèm khát sự đa bội văn hóa? Học những ngôn ngữ mới là việc tốn thời gian và tiền bạc, một dự án trên thực tế giời chỉ giới hạn cho một nhóm đặc tuyển ít ỏi. Phải mất nhiều năm học dài học hành mới có thể đọc được trôi chảy những văn bản văn chương phức tạp bằng nguyên bản và đa phần sinh viên Mỹ đã bỏ cuộc từ lâu trước khi họ cảm thấy có bất cứ hứng thú gì trong việc này. Đọc văn học thế giới qua bản dịch trở thành một sự khởi đầu thực tế hơn và hứa hẹn hơn. Apter gọi ngành “văn học thế giới” là ngành mắc chứng cuồng ăn. Tôi thì lại muốn liên tưởng nó như một món khai vị: nó không thay thế cho món ăn chính ngon miệng, nhưng nó kích thích những nụ vị giác và làm chúng ta sẵn sàng trước những món chính hấp dẫn sắp được dọn ra. Trước hết, hãy xem liệu ta có thể nào khiến độc giả yêu cả The Popol Vuh[20] lẫn The Pillow Book[21] được không. Rồi sau đó có lẽ độc giả sẽ tự tìm cách hình thành cho mình một nhu cầu muốn nềm thử tiếp những thứ khác.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Caroline Levine, “For World Literature”, http://www.publicbooks.org/fiction/for-world-literature


[1] Alexander Kinmont, “The Classics: Report on the Question, ‘Ought the Classics to Constitute a Part of Education,’” in Transactions of the Fourth Annual Meeting of the Western Literary Institute and College of Professional Teachers (Josiah Drake, 1835), p. 170.

[2] Gerald Graff, Professing Literature: An Institutional History (1987; University of Chicago Press, 2007), pp. 124, 211

[3] Claudio Guillén, The Challenge of Comparative Literature, translated by Cola Franzen (Harvard University Press, 1993), p. 38.

[4] David Damrosch, What is World Literature? (Princeton University Press, 2003).

[5] Gayatri Chakravorty Spivak, Death of a Discipline (Columbia University Press, 2003).

[6] Joe Cleary, “The World-Literary System: Atlas and Epitaph,” Field Day Review, vol. 2 (2006); Natalie Melas, All the Difference in the World: Postcoloniality and the Ends of Comparison (Stanford University Press, 2007), pp. 33–34; James F. English, “Morettian Picaresque,” and Kathleen Fitzpatrick, “The Ends of Big Data,” Los Angeles Review of Books, June 27, 2013; Christopher Prendergast, “Evolution and Literary History: A Response to Franco Moretti,” New Left Review, no. 34 (July–August 2005).

[7] Chengzhou He, Henrik Ibsen and Modern Chinese Drama (Trondheim: Akademika Publishing, 2004).

[8] Nguyen Du, The Tale of Kieu, translated by Huynh Sanh Thong (Yale University Press, 1983), p. xxii. Gay Wilentz, “Civilizations Underneath: African Heritage as Cultural Discourse in Toni Morrison’s Song of Solomon,” in Toni Morrison’s Fiction: Contemporary Criticism (Garland, 2000), p. 112–14.

[9] Robert F. Selcer, Civil War America, 1850 to 1875 (Facts on File, 2006), p. 327.

[10] Jeremy G. Butler, Television: Critical Methods and Applications (Lawrence Erlbaum, 2007), p. 414; Stephen Banfield, Sondheim’s Broadway Musicals (University of Michigan Press, 1993), p. 39.

[11] William C. Carter, Proust: A Life (Yale University Press, 2000), pp. 79, 281, 285, 294, 746; James N. Loehlin, The Cambridge Introduction to Chekhov (Cambridge University Press, 2010), p. 4.

[12] Shahid Ali Agha, ed., Ravishing DisUnities: Real Ghazals in English (Wesleyan University Press, 2000), pp. 1, 11; Erik Martiny, “The Ghazal in North America,” in A Companion to Poetic Genre, edited by Erik Martiny (Wiley-Blackwell, 2012).

[13] Wai Chee Dimock, Through Other Continents: American Literature across Deep Time (Princeton University Press, 2006), p. 21.

[14] Isabel Hofmeyr, Gandhi’s Printing Press (Harvard University Press, 2013), pp. 5, 94; Thomas Weber, Gandhi as Disciple and Mentor (Cambridge University Press, 2004), p. 169.

[15] Gauri Viswanathan, Masks of Conquest: Literary Study and British Rule in India (Columbia University Press, 1989).

[16] Lee M. Roberts, Literary Nationalism and Japanese Germanistik (Peter Lang, 2010), p. 2.

[17] Frances Stonor Saunders, The Cultural Cold War (New Press, 2001); Joel Whitney, “Exclusive: The Paris Review, the Cold War and the CIA,” Salon, May 27, 2012; Michael Berube, Rhetorical Occasions (University of North Carolina Press, 2006), p. 130.

[18] See, for example, B. Venkat Mani, “Borrowing Privileges,” MLQ, vol. 74, no. 2 (2013).

[19] Anansi là vị thần trong văn học dân gian Tây Phi. Ông thường mang hình hài của một con nhện và được xem là vị thần của tất cả tri thức vè các câu chuyện.

[20] The Popol Vuh là tập hợp những chuyện kể lịch sử-huyền thoại của vương quốc K’iche’ thời hậu Cổ đại. Dấu tích của vương quốc này nay còn ở miên cao nguyên Guatemala.

[21] The Pillow Book (Chẩm thảo tử) là tác phẩm của Sei Shonagon (Nhật Bản), một thị nữ đã hầu hạ Hoàng hậu Teishi / Hoàng hậu Sadako vào khoảng năm 1000 giữa thời Heian. Tác phẩm này là một tuyển tập những danh mục, những chuyện ngồi lê đôi mách, các bài thơ, những lời bình phẩm, những thở than và bất kỳ thứ gì khác mà bà thấy hứng thú trong những năm tháng của bà ở trong cung.

Posted in Dịch thuật, Góc của mình, Lý thuyết phê bình, tiểu luận, Tư liệu tham khảo, Văn học | Tagged , , , | Để lại phản hồi

Costica Bradatan – Tái sinh trong ngôn ngữ thứ hai

Tôi dịch tiểu luận này trước hết để góp bài cho chuyên đề nhỏ về nghiên cứu dịch thuật mà chúng tôi thực hiện trên blog này. Tuy cả bài viết này, chỉ có một lần tác giả nhắc đến trường hợp Beckett dịch các tác phẩm tiếng Pháp của ông sang tiếng Anh – ngôn ngữ vốn là tiếng mẹ đẻ của ông nhưng thiết nghĩ “dịch” chính là hành động tất yếu của những nhà văn đổi ngôn ngữ. Bài luận này có thể gợi ra những suy nghĩ xa hơn để nghiên cứu các hiện tượng văn chương lưu vong (diaspora), các hiện tượng đa văn hóa (multi-culturalism)…

Tác giả bài viết này qua email trao đổi với tôi cho biết chính ông cũng là một người phải đổi ngôn ngữ. Sinh ra và lớn lên tại Romania, Costica Bradatan chỉ thực sự bắt đầu học tiếng Anh khi hơn 20 tuổi. Bài luận vì thế hàm ẩn trong đó những trải nghiệm rất riêng tư của người viết, được biểu hiện ra bằng một lối viết thiên về trữ tình mà tôi thường thấy đồng cảm khi đọc các tác giả nước ngoài. Bài dịch này cũng làm tôi nghĩ đến một dự án nghiên cứu đã manh nha hình thành trong đầu tôi cách đây 5-6 năm, khi tôi cũng bắt đầu dịch những tác giả chỉ mới học và chuyển sang viết tiếng Anh từ lúc định cư ở Hoa Kỳ và đều xuất thân từ những nước có quá khứ cộng sản. Dự án cho đến bây giờ không thành hiện thực nhưng quả thực nó vẫn là một đề tài ám ảnh tôi.

Mặt khác, khi đọc bài viết này, thực ra, tôi thấy Costica Bradatan gợi những liên tưởng xa hơn về ngôn ngữ văn chương. Rằng ngay cả khi nhà văn không đổi ngôn ngữ, chỉ viết thứ tiếng mẹ đẻ của mình, thì sáng tạo văn chương vẫn đòi hỏi nhà văn có những lúc cần phải làm mình trở thành kẻ lạ trong chính ngôn ngữ thân thuộc ấy, phải dịch cái ngôn ngữ ấy thành một cái gì đó bất định hơn, vì nếu thiếu sự bất định ấy, ngôn ngữ văn chương sẽ trở nên xơ xác.

Costica Bradatan (ASU)*

Trong tác phẩm trình bày những suy ngẫm về đạo Thiên Chúa, “Bức thư gửi một linh mục” (Letter to a Priest) – tác phẩm được viết một năm trước khi tác giả qua đời vào năm 1943, Simone Weil đã đưa ra một nhận định đáng lưu ý “đối với bất kỳ người nào, việc đổi tôn giáo cũng là một điều nguy hiểm như việc đổi một ngôn ngữ đối với một nhà văn. Nó  có thể thành công song cũng có thể dẫn đến những hậu quả khốc hại.” Triết gia người Romani, Emil Cioran, người đồng thời cũng là một nhà văn, đã nói đến việc đổi ngôn ngữ như một sự kiện thảm họa trong tiểu sử của bất cứ tác giả nào. Và quả là đúng như thế.

Thế giới tự phát lộ chính nó theo một cách nào đấy đối với nhà văn Nhật Bản và theo một cách khác với một người viết bằng tiếng Phần Lan.

Khi bạn là nhà văn, bạn không làm việc trong sự trừu tượng mà luôn trong quan hệ với một ngôn ngữ nhất định. Viết tức là căm rễ vào trong ngôn ngữ ấy, càng trở thành nhà văn giỏi, cái rễ đó lại càng cắm sâu hơn. Những bậc thầy văn chương luôn cho thấy một khoái cảm khi được vùi sâu vào mảnh đất quen thuộc. Nói chung, nếu vì bất cứ lý do gì, nhà văn phải thay đổi ngôn ngữ, điều đó không khác nào việc anh ta bị đặt trước một mối đe dọa đối với chính sự sống của mình. Không chỉ là việc anh ta sẽ phải bắt đầu lại mọi thứ từ số không mà còn là ở chỗ anh không được làm những gì anh đã từng làm gần như trong suốt phần đời trước đó của mình. Việc đổi ngôn ngữ không dành cho những kẻ nhút nhát, cũng không dành cho những người thiếu kiên nhẫn.

Là một sự kiện đau đớn trong đời người, nếu nhìn một cách nghiêm ngặt, song kinh nghiệm này cũng có thể khơi gợi mạnh mẽ những suy tư triết học. Hiếm khi nào chúng ta lại có cơ hội quan sát một sự tái tạo bản ngã kịch tính hơn thế. Vì ngôn ngữ của một nhà văn, còn hơn cả một phương tiện biểu đạt đơn thuần, trên hết, là một phương thức tồn tại chủ quan và là một cách để trải nghiệm thế giới. Anh ta cần ngôn từ không chỉ để mô tả sự vật, mà để nhìn chúng. Thế giới tự phát lộ chính nó theo một cách nào đấy đối với nhà văn Nhật Bản và theo một cách khác với một người viết bằng tiếng Phần Lan. Ngôn ngữ của một nhà văn không chỉ là cái gì đó anh ta sử dụng mà là bộ phận cấu thành nên mà anh ta là. Đó là lý do tại sao việc phải bỏ rơi tiếng mẹ đẻ và chấp nhận một ngôn ngữ mới cũng có nghĩa là tự tháo dỡ bản thân, từng chút một, rồi sắp xếp lại bản ngã của mình trong một hình thức mới.

Đầu tiên, khi đổi ngôn ngữ, bạn phải chấp nhận đi xuống điểm không của sự tồn tại của chính mình. Thậm chí hẳn phải có một thời điểm, dẫu ngắn ngủi, bạn phải chấm dứt là chính bạn. Bạn vừa mới lìa bỏ thứ ngôn ngữ cũ và ngôn ngữ mới thì vẫn chưa chấp nhận bạn; giờ đây bạn ở trong tình trạng lấp lửng, giữa hai thế giới, chơi vơi trên vực thẳm. Sự thay đổi ngôn ngữ thường xảy ra khi nhà văn bị lưu đày hoặc tự lưu đày. Thế nhưng sự lưu đày trong không gian vật chất còn được nhân đôi trong những trường hợp mà chủ thể trải nghiệm sự lưu đày từ bản thể – sự tự cảm thấy mình ở bên mép rìa của đời sống. Cứ như thế, tại một thời điểm, nhà văn như đi giữa một sự trống rỗng – qua vết nứt hẹp giữa các ngôn ngữ, nới không có từ ngữ nào để nắm giữ và chẳng có gì có thể gọi được tên – bản ngã của nhà văn như không còn nữa. So sánh của Weil, ví trường hợp này với sự cải đạo, thực ra, hoàn toàn không cường điệu, vì cũng tương tự kẻ cải đạo, nhà văn đổi ngôn ngữ cũng phải trải qua kinh nghiệm của sự chết và tái sinh. Người ta chết đi và rồi trở lại như một con người mới. Nói như Cioran, “Khi tôi đổi ngôn ngữ, tôi xóa sổ quá khứ của mình, tôi biến đổi toàn bộ đời mình”.

Khi bắt đầu viết bằng thứ ngôn ngữ mới, thế giới như được khai sinh trước mắt nhà văn. Thế như sự tái sinh đặc biệt hơn cả chính là sự tái sinh của chính nhà văn. Đây là dự phóng kiến tạo lại tổng thể bản ngã, nơi không một hòn đá nào được ném trở lại, không có gì trông y nguyên như trước được nữa. Tiếng mẹ đẻ của ai – bản ngã trước kia của anh – dường như dần dần xa lạ với chính anh. Song điều này chẳng làm anh bận tâm nữa; trên thực tế, anh đợi đến lúc mình sẽ sử dụng nó như một thứ ngoại ngữ khác. Không lâu sau khi chuyển sang sử dụng tiếng Pháp, Beckett, một người Ai-len, đã than phiền về ngôn ngữ Anh, tiếng mẹ đẻ của ông: “Thứ ngôn ngữ khủng khiếp, mà giờ tôi vẫn còn biết về nó quá rõ.” Lời hứa hẹn về sự đổi mới toàn diện về bản thể đến cùng với một thứ ngôn ngữ mới không phải là điều thiếu chất kích thích.

Khi được tái sinh theo cách này, dường như nhiều khả năng được mở ra; anh được trao cho cơ hội để tái tạo lại mình theo bất kỳ hình dạng nào anh chọn. Anh là đấng sáng tạo của chính anh: nói theo cách nào đó, từ chỗ không gì cả, anh có thể trở thành mọi thứ. Năm 1954, khi được hỏi vì sao lại đổi ngôn ngữ, Beckett trả lời “vì muốn được trở kẻ thiếu trang bị” (need to be ill-equiped). Đó là một câu trả lời tinh quái vì nếu nghe thật chăm chú, ta sẽ nhận ra có một tham vọng hàm ẩn trong đó. Vì trong tiếng Pháp, ý muốn “trở thành kẻ thiếu trang bị” (d’être mal armé) nghe không khác lắm với ý muốn “trở thành một Mallarmé khác” (d’être Mallarmé). Bất cứ cái gì kém tầm hơn Mallarmé đều không đáng là tham vọng của một Beckett đang tìm kiếm một bản ngã mới. Cuối cùng, ông không trở thành Mallarmé, mà là Samuel Beckett, một tác giả Pháp ngữ với những tác phẩm như Molloy, Malone chết (Malone Dies) hay Chờ Godot (Waiting for Godot), điều đó có lẽ cũng thỏa mãn được tham vọng của ông. Nhưng cứ như thể vẫn chưa thấy mình hoàn toàn biến thành kẻ lạ khi đổi sang viết một ngôn ngữ mới, ông còn tự làm mình xa lạ hơn với chính bản thân ông bằng việc một lần nữa dịch tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của mình sang tiếng Anh. Ở đâu đó Beckett từng xác nhận rằng ông thích tiếng Pháp hơn vì nó cho phép ông viết “không cần phong cách”. Song viết “không cần phong cách” là một trong những phong cách viết khó theo đuổi nhất; thực sự người ta cần được trang bị đầy đủ.

Trở thành nhà văn viết bằng tiếng mẹ đẻ của mình có lẽ là một điều tự nhiên. Đạt đến trình độ tự ý thức trong ngôn ngữ ấy, đồng hóa bản ngã của mình vào tiếng mẹ đẻ, nhà văn có cảm giác mình được đặt vào một vị thể hưởng nhiều ưu tiên: anh ta chỉ cần hoàn thiện những gì mình đã được nhận về. Nhưng cứ cho là vậy, một sự rèn luyện nghiêm khắc, ý thức kỷ luật và sự bền bỉ vẫn cần thiết; rốt cục, nghệ thuật là sự đối lập với tự nhiên. Tuy nhiên, dù bạn nhìn vấn đề này thế nào đi nữa, vẫn có một cảm giác rất rõ về sự liên tục và sự tiến triển mang tính chất hữu cơ trong quỹ đạo của một nhà văn viết bằng tiếng mẹ đẻ.

Trở thành nhà văn viết bằng thứ ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ của mình là điều không thuận theo tự nhiên; không có gì mang tính hữu cơ ở quá trình này, đó là một quá trình nhân tạo. Không có “những bản năng” ngôn ngữ dẫn lối cho bạn, các thiên thần hộ vệ của ngôn ngữ hiếm khi thì thầm vào tai bạn; bạn thực sự đơn độc. Nói như Cioran: “Khi viết bằng tiếng Romania, từ ngữ không độc lập với tôi. Ngay khi tôi viết bằng tiếng Pháp, tôi phải ý thức chọn từng từ. Tôi thấy chúng ở trước tôi, bên ngoài tôi, mỗi từ đứng ở vị trí của mình. Và tôi chọn chúng: nào, giờ ta sẽ lấy mi, rồi đến mi.”

Nhiều người khi chuyển sang viết một ngôn ngữ thứ hai đã hình thành một sự nhạy bén đặc biệt về ngôn ngữ. Trong một bài trả lời phỏng vấn năm 1979, bảy năm sau khi chuyển từ nước Nga quê hương sang định cư tại Mỹ, Joseph Brodsky đã nói về “mối tình” đang tiến triển của ông với tiếng Anh. Ngôn ngữ là một sự hiện hữu gây choáng ngợp đối với những người lựa chọn như vậy đến nỗi nó dẫn đến việc họ cấu trúc nên những tiểu sử mới cho mình. “Tiếng Anh là thứ thú vị duy nhất còn lại trong đời tôi,” Brodsky nói. Ban đầu, nhu cầu tìm kiếm từ ngữ phù hợp nhất giống như một mối quan tâm, rồi điều đó chuyển thành một nỗi ám ảnh, và cuối cùng trở thành một cách sống. Những nhà văn này nổi trội trong cách ứng xử với điều vạn bất đắc dĩ này: từ nhu cầu muốn hiểu một ngôn ngữ mới, họ trở thành những kẻ bị ngôn ngữ ám; từ chỗ quan tâm đến việc nói sao cho đúng, họ bắt buộc trở thành những nhà ngữ pháp học.

Khi rời sang Pháp ở tuổi 26, thực sự Cioran chưa thực sự thành thạo ngôn ngữ này thế nhưng cuối cùng chính ông lại một trong những nhà phong cách học vĩ đại nhất của văn chương Pháp ngữ. Tương tự, Joseph Conrad học tiếng Anh tương đối muộn nhưng điều đó đã không thể ngăn ông trở thành một trong những đại diện tinh thế nhất của ngôn ngữ này. Vladimir Nabokov chắc chắn cũng là một đại diện tiêu biểu nữa, dù ông bắt đầu học tiếng Anh từ khá sớm. Vẫn là mô hình ấy lặp lại liên tục: mọi thứ hình thành từ không gì cả, từ tình trạng ngắc ngứ, không biết gì đến chỗ trở thành người sáng tạo nên một lối diễn đạt tinh tế nhất.

Đến đoạn kết tiểu thuyết Farenheit 451 của Ray Bradbury, độc giả bắt gặp một điều mà ý nghĩa của nó còn vượt quá khuôn khổ câu chuyện. Đó là cảnh nhân vật Montague gặp những “người sách”. Trong một thế giới nơi sách in bị cấm, họ dành cả đời mình để bảo tồn những “cuốn sách vĩ đại” của nhân loại, mỗi người từ ràng buộc ký ức của mình với một cuốn sách và cả cuộc đời, họ chỉ làm việc diễn ngâm cuốn sách ấy. Họ là những văn bản sống, là hiện thân của ngôn ngữ – những nhân vật ấy. Ngoài việc những kiệt tác đó trú ngụ trong họ, con người của họ không có ý nghĩa gì nhiều nữa. Thân thể của họ chỉ nhỏ bằng trang giấy in của cuốn sách. Nói theo cách nào đó, một nhà văn đổi ngôn ngữ cũng không khác nhiều lắm với những nhân vật này. Kết quả là, vì bắt buộc phải bận tâm vì độ chính xác của ngôn ngữ và sự hoàn thiện của phong cách, một quá trình giống như thuộc địa hóa đã xảy ra: ngôn ngữ thẩm thấu tất cả các chi tiết của cuộc đời nhà văn, nó thấm nhuần và nhào nặn lại cuộc đời ấy, nó khẳng định sự thống trị của mình lên cuộc đời của nhà văn – nó chiếm đoạt anh ta. Bản ngã của nhà văn giờ phải chịu sự chiếm giữ của một quyền lực xâm lấn: từ chính sự viết của anh ta trong một ngôn ngữ mới.

Hiểu theo nghĩa nhất định, cũng có thể cho rằng, rốt cục, anh đâu có thật sự thay đổi ngôn ngữ: mà chính là ngôn ngữ thay đổi anh. Ở một cấp độ sâu hơn, cá nhân hơn, viết văn bằng một ngôn ngữ khác có một phẩm chất biểu hành rất đặc thù: khi anh viết một điều gì đó xảy ra với mình thì ngôn ngữ đồng thời sẽ tác động lên anh. Cuốn sách anh viết cuối cùng sẽ viết lại chính anh. Kết quả này giống như một quá trình “biến thành ma” (ghostification). Vì đổi một ngôn ngữ, đối với nhà văn, cũng có nghĩa là trải qua một quá trình phi vật chất hóa: trước khi anh nhận ra điều này, anh chỉ có thể là ngôn ngữ, chứ không phải cái gì khác. Bỗng một ngày, một trực giác nào đó bắt đầu xuất hiện trong bạn, nói cụ thể hơn, nó nói với anh, rằng anh không còn được hình thành nên chủ yếu từ xương thịt nữa, mà từ những dòng, những vần, những thủ pháp tu từ, những mô thức tự sự. Cũng như những “người sách”, anh chẳng là gì hơn những văn bản trú ngụ trong anh. Thay vì là những người đàn ông, đàn bà bằng xương bằng thịt, giờ đây anh là phần da thịt của bản thân ngôn ngữ, là một dự phóng văn chương, rất giống với những cuốn sách mà anh viết. Nhà văn, người đổi ngôn ngữ, thực sự là một nhà văn “ma” – người duy nhất xứng đáng với cái tên ấy.

Trải qua những điều này, trải qua đớn đau của sự thay đổi ngôn ngữ, trải qua những nghi thức chết –tái sinh, đôi khi anh được trao cho – một thứ giống như phần thưởng – một khả năng thấu thị siêu hình về một cái đẹp lạ lùng, man dại. Chính ý niệm này khiến ta có thể nghĩ thế giới này chẳng là gì khác hơn một câu chuyện đang hình thành và chúng ta, những kẻ trú ngụ trong đó, chẳng là gì khác hơn những nhân vật của câu chuyện ấy. Những nhân vật đi tìm tác giả của mình. Quả đúng là thế đó.

Hải Ngọc dịch

Nguồn: Costica Bradatan, “Born Again in a Second Language”, http://opinionator.blogs.nytimes.com/2013/08/04/born-again-in-a-second-language/

Posted in Dịch thuật, Góc của mình, tiểu luận, Tư liệu tham khảo, Đọc-nghe-xem-nghĩ | Tagged , , , , , , , | Để lại phản hồi